Thứ Năm, 3 tháng 6, 2021

Phát triển kinh tế biển để tận dụng nguồn lợi tuyệt vời từ biển mang lại cho nền kinh tế, đồng thời khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam

 

 Phát triển kinh tế biển để tận dụng nguồn lợi tuyệt vời từ biển mang lại cho nền kinh tế, đồng thời khẳng định chủ quyền biển, đảo Việt Nam

Trao đổi với Đất Việt, TS. Đào Mạnh Tiến - Chủ tịch Hội địa chất biển, nguyên Liên đoàn trưởng - Liên đoàn Địa chất biển đã có chia sẻ về vấn đề phát triển kinh tế biển ở Việt Nam.

Vị  chuyên gia nhận định, Việt Nam có một tiềm năng biển to lớn và cũng đã đặt các mục tiêu lớn cho phát triển kinh tế biển tập trung vào các lĩnh vực chính: Giao thông vận tải biển, Dầu khí, Nuôi trồng và khai thác Thủy Hải sản, Khai thác năng lượng tái tạo: năng lượng mặt trời, năng lượng gió, năng lượng dòng chảy và thủy triều.

Ở mỗi một ngành, một lĩnh vực đều tập trung với kế hoạch phát triển riêng có mục tiêu đến năm 2030, tầm nhìn đến 2045 về phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

Song cần phải nhìn nhận một cách thực chất vào sự phát triển này. Các lĩnh vực cần phải có sự phát triển liên ngành, liên vùng mới có thể hoàn thiện một chiến lược tổng thể, đảm bảo phát triển một cách tối đa và bền vững.

Ông Tiến nêu ví dụ, hiện nay ở Việt Nam đang bắt đầu phát triển năng lượng tái tạo như năng lượng gió, năng lượng mặt trời nhưng mỗi nơi đều phát triển riêng mà chưa thể kết hợp lại.

Ví như năng lượng gió và năng lượng mặt trời có "đầu vào" khác nhau nhưng cùng có "đầu ra" là điện. Hoặc năng lượng thủy triều và năng lượng dòng chảy kết hợp cũng rất phù hợp để triển khai trên biển và đảo, những nơi có nhiều tiềm năng này.

"Nếu phát triển cả năng lượng điện và gió ở đảo như ở Quần đảo Trường Sa thì nguồn năng lượng có thể dư thừa trong khi đó nhu cầu về nước ngọt lại hạn chế. Nếu chúng ta có được công nghệ lọc nước mặn thành nước ngọt và sử dụng năng lượng tái tạo cho phục vụ công nghệ đó thì sẽ giải được các bài toán phục vụ nhu cầu dân sinh bằng nguồn tài nguyên từ biển mang lại" - ông Tiến nhận xét.

"Công nghệ lọc nước biển thành nước ngọt ở quy mô lớn nếu chúng ta chưa có thì phải nghiên cứu, học hỏi. Đây là nhiệm vụ của Bộ Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công thương và cơ quan chịu trách nhiệm phát triển các ngành công nghiệp của Việt Nam" - vị chuyên gia nhấn mạnh.

Theo vị chuyên gia, có thể chúng ta thấy nhiều dự án phát triển năng lượng tái tạo nhưng mới chỉ ở một địa phương, với mục tiêu hòa vào lưới điện quốc gia, đạt tỷ trọng bao nhiêu trong tổng khối lượng sản xuất điện của cả nước... Tuy  nhiên, những điều đó không thực sự quan trọng bằng việc chúng ta phải thúc đẩy các sáng kiến về liên kết các ngành kinh tế để vừa tận dụng được lợi thế của biển mang lại phục vụ trước hết là đời sống mà sau đó còn là đảm bảo an ninh trên biển của Việt Nam.

Bên cạnh khai thác năng lượng từ biển thì khai thác thủy, hải sản từ biển của Việt Nam cũng cần phải phát triển gắn với công nghệ, phát triển ngành công nghiệp chế biến là phát triển theo hướng hiện đại hóa hơn của ngành này.

"Đừng để tình trạng như nông nghiệp, hơi có khó khăn thì chúng ta giải cứu. Tôi nhớ một cựu lãnh đạo ngành Nông nghiệp từng nói rằng sẽ phát triển công nghệ chế biến thực phẩm, phát triển ngành công nghiệp chế biến bằng cách lập ra các viện nhưng khi ông ấy về hưu, tôi vẫn chỉ nghe thấy giải cứu và giải cứu. Các thực phẩm tươi ngon của Việt Nam chỉ qua 3, 5 ngày là thối hỏng vứt bỏ, quá lãng phí trong khi chúng ta hoàn toàn có thể sử dụng công nghệ chế biến để xuất khẩu"- ông Tiến nhận định.

Theo vị chuyên gia, không chỉ ngành kinh tế biển mà ở bất cứ ngành nào cũng đều cần nhất là yếu tố con người.

"Tôi đã từng đặt câu hỏi cho các lãnh đạo Bộ về việc vì sao chúng ta không thể phát triển được công nghiệp, không thể đóng tàu thủy, không thể có đội tàu mạnh để ra khơi... họ đều phẩy tay và nói rằng không hề đơn giản?" - ông Tiến trăn trở.

Vị chuyên gia nhấn mạnh, tiềm lực về con người là một lợi thế mạnh của Việt Nam mà giới lãnh đạo chưa biết tận dụng. Giới tri thức Việt Nam đâu đâu cũng được giới học giả nước ngoài kính trọng, được mời hướng dẫn và đi đầu. Người Việt chúng ta không hề kém thông minh hơn các quốc gia nước ngoài, tuy nhiên, chúng ta đang thua Hàn Quốc, Malaysia, Singapore...

"Vấn đề nằm ở công tác cán bộ của chúng ta. Cả đời tôi nghiên cứu khoa học biển, làm chủ nhiệm rất nhiều đề án, dự án khoa học và nhận thấy rằng ngay cả các nhân viên kế toán là những người sẽ thanh toán tiền nghiên cứu công trình khoa học của chúng tôi, có quyền uy hơn tất thảy.

Các hạng mục tiến hành nghiên cứu là cần thiết, thậm chí mang tính chất cốt lõi của đề tài nhưng nếu chứa từ ngữ không thuộc các mục trong quy định thì họ kiên quyết không thanh toán, không trình bày. Qua đó, tôi mới nhận thấy rằng, một đề tài khoa học có thể gian dối để lấy tiền trong khi không cần đạt được mục tiêu cụ thể đặt ra.

Như vậy, không những đồng tiền bỏ ra không được sử dụng đúng mà các công trình nghiên cứu khoa học chân chính không được sử dụng vào kinh tế-xã hội, không mang lại lợi ích gì cho đất nước. Khi giới trí thức không có điều kiện đóng góp tối đa thì con đường phát triển của đất nước sẽ khó khăn hơn. Do vậy, điều tôi muốn nhấn mạnh là công tác cán bộ của chúng ta cần phải xem xét lại, tổ chức lại" - TS. Đào Mạnh Tiến nhận định.

 

NGUỴ BIỆN CỦA NGUỴ SỬ ĐỂ RỬA MẶT CHO NGUỴ QUÂN NGUỴ QUYỀN


1. Nguỵ biện thứ nhất: đòi công nhận chính danh cho chế độ nguỵ quyền Sài Gòn vì "họ cũng có công giữ gìn, bảo vệ lãnh thổ", thậm chí đòi vinh danh lính nguỵ vì "họ cũng là con dân Việt Nam, họ cũng yêu nước" và dẫn cả lời Bác Hồ rằng "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" để bảo vệ cho đòi hỏi đó.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế nguỵ quyền giữ lãnh thổ cho Mỹ, lính nguỵ chết ở Hoàng Sa là do bị bán đứng. Đồng thời lờ đi ý nghĩa lời Bác nói là khẳng định chỉ có một nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, và chính Bác luôn gọi rõ tên nguỵ quyền nguỵ quân, Bác cũng luôn chỉ rõ Việt gian thì cần phải trừng trị!

2. Nguỵ biện thứ hai: đòi thay thế từ "nguỵ" bằng "Việt Nam cộng hoà" là để hoà hợp hoà giải.

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi việc ta đã thực hiện hoà hợp hoà giải ngay trong quá trình giải phóng cho đến ngày nay, bằng thực tâm và các giải pháp toàn diện. Còn theo ý họ "bỏ từ nguỵ" thì chỉ hoà hợp hoà giải với một nhúm nguỵ cực đoan, kết quả đâu chưa thấy, đã thấy xã hội chia rẽ vì nhiều người cảm giác bị phản bội, lũ nguỵ được đằng chân lân đằng đầu càng chống phá điên cuồng hơn, trong khi hàng triệu CCB và gia đình TBLS thì đau đớn, nổi giận.

3. Nguỵ biện thứ ba: cho rằng dùng từ "nguỵ" là miệt thị, và từ đó ngôn ngữ quốc tế không có!

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi nghĩa của từ "nguỵ quân nguỵ quyền" là danh từ để chỉ một chế độ không chính danh, một đội quân không chính nghĩa chứ không phải chỉ là tính từ biểu cảm. Và tiếng quốc tế có đủ để dịch (nếu họ đọc), ví như trong tiêng Anh có "Government mandate - Chính phủ uỷ nhiệm", "puppet government - chính quyền bù nhìn", "Fictional state - nhà nước hư cấu", hoặc đơn giản nhất là "fake government - chính phủ giả hiệu"!

4. Nguỵ biện thứ tư: đòi "công nhận chế độ Việt Nam cộng hoà là để có thể kế thừa các thành tựu kinh tế - văn hoá - giáo dục,...".

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế rằng chính người Mỹ (TNS Fulbright và nhiều chính khách khác) đã nhận xét thẳng thừng: "chỉ có 5% dân số ủng hộ VNCH, 10% trung lập, còn lại tất cả đều theo Việt Cộng", "VNCH chỉ kiểm soát được 20% lãnh thổ, 80% nằm trong tay Việt Cộng"! Và 20 % lãnh thổ đó thì "Sài Gòn chỉ là cái động đĩ của Mỹ" với "một nền kinh tế dựa trên chợ đen, ma tuý và đĩ điếm", đó là chưa nói đến việc hoàn toàn dựa vào viện trợ Mỹ và do Hoa kiều (Ba Tàu) kiểm soát, thao túng hầu hết!

5. Nguỵ biện thứ năm: đòi "công nhận VNCH là cơ sở pháp lý để đòi Hoàng Sa"!

* Nguỵ biện ở đây là: lờ đi thực tế năm 1977 nước CHXHCN Việt Nam đã được LHQ công nhận là quốc gia thành viên LHQ, nghĩa là kế thừa tất cả quyền lợi và nghĩa vụ của mọi thể chế trước đó, và trong Hiệp định Paris ta đã công nhận "VNCH là một thực thể chính trị được tồn tại hoà bình", không đồng nghĩa với công nhận "quốc gia VNCH" nhưng cũng quá đủ để kế thừa các lãnh thổ do VNCH kiểm soát, quản lý trước đó. Mặt khác, cả hai Hiệp định Geneve và Paris đều khẳng định tính toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, nghĩa là CHXHCN Việt Nam có quyền kế thừa đầy đủ tất cả! Giờ đòi "công nhận VNCH" thì họp lại để sửa tất cả các Hiệp định, đồng thời sửa hết cả các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam DCCH trước kia? Công pháp quốc tế không phải trò trẻ con như thế!

Vv và vv, mọi người có thể bổ sung, rất nhiều những nguỵ biện khác.

Tóm lại: tất cả những diễn giải của đám nguỵ sử và của cả một vài vị nọ vị kia chỉ là nguỵ biện, phục vụ cho âm mưu đào bới, xét lại lịch sử, rửa mặt và phục dựng thây ma cờ vàng nhằm chia rẽ nhân tâm, phá hoại sự thống nhất "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" hòng đánh đổ từ bên trong chế độ ưu việt Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều mà thực dân, đế quốc và bành trướng không thể thực hiện được.

Kết luận: Thế giới không ai cấm Việt Nam gọi đúng tên "nguỵ quân nguỵ quyền". Việt Nam cũng không ai cấm gọi "chính quyền, quân đội VNCH" cả. Cách gọi là tuỳ theo ngữ cảnh, nhưng những gì thuộc về lịch sử thì phải viết đúng theo lịch sử. Nhân dân ta, chiến sỹ ta không chống việc "bỏ từ nguỵ" mà là CHỐNG QUAN ĐIỂM BỎ TỪ NGUỴ ĐỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ, CHẠY TỘI CHO NGUỴ!

Nguỵ muôn đời là nguỵ! Vấn đề là: ai nuôi dưỡng nguỵ?

MINH TIẾN st

Trung Quốc lần đầu đưa tiêm kích hạm đến căn cứ gần Biển Đông

 

Trung Quốc lần đầu đưa tiêm kích hạm đến căn cứ gần Biển Đông

Hải quân Trung Quốc lần đầu điều nhóm tiêm kích hạm J-15 tới căn cứ trên đảo Hải Nam để huấn luyện bay trên khu vực phía bắc Biển Đông.

Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV) hôm 27/5 công bố video cho thấy ít nhất hai tiêm kích hạm J-15 cất cánh từ một căn cứ trên đảo Hải Nam, sau đó tham gia huấn luyện bay biển và tiếp liệu trên không rồi quay về nơi xuất phát. Căn cứ này thuộc Bộ Tư lệnh Chiến khu phía Nam của quân đội Trung Quốc.

Các chuyên gia quân sự của tạp chí Jane’s ngày 1/6 nhận định các tiêm kích J-15 trên xuất phát từ căn cứ không quân Lăng Thủy trên đảo Hải Nam, phía bắc Biển Đông.

"Đây là lần đầu tiên kể từ giai đoạn 2018-2019 tiêm kích đa năng J-15, do Tập đoàn Máy bay Thẩm Dương sản xuất, xuất hiện tại căn cứ Lăng Thủy, nơi sư đoàn không quân hải quân số 3 đóng quân", các chuyên gia viết.

Diễn biến này cho thấy Trung Quốc đang nỗ lực huấn luyện, xây dựng không đoàn trên hạm để phục vụ tham vọng thành lập các nhóm tác chiến tàu sân bay của hải quân nước này.

Ảnh vệ tinh chụp ngày 27/1 cho thấy Trung Quốc xây dựng một bãi đáp mô phỏng sàn tàu sân bay ở cuối đường băng phía đông nam của căn cứ Lăng Thủy. Bãi đáp này là nơi cho phi công hải quân Trung Quốc thực hành phương pháp tiếp cận và hạ cánh trên tàu sân bay tại căn cứ trên đất liền.

Bãi đáp mô phỏng được sơn từ tháng 11/2020 và hoàn thiện hồi tháng 1, dài khoảng 206 m và rộng 26 m, tương đương tàu sân bay Sơn Đông. Vị trí hạ cánh của trực thăng, cáp buộc và vị trí dây hãm đà cùng các yếu tố liên quan khác được bố trí giống trên tàu sân bay nội địa Trung Quốc.

Tiêm kích hạm J-15 được Trung Quốc sao chép từ Su-33 của Liên Xô, sau khi nước này mua nguyên mẫu chưa hoàn thiện mang tên mã T-10K-3 từ Ukraine vào năm 2001. J-15 được trang bị hệ thống điện tử, radar, động cơ và vũ khí do Bắc Kinh tự phát triển, nhưng chất lượng của chúng bị nghi ngờ ngay từ đầu.

Phi đội J-15 của Trung Quốc gặp ít nhất 5 tai nạn nghiêm trọng, được cho do vấn đề kỹ thuật, khiến ba phi công thiệt mạng và nhiều người bị thương. Tuy nhiên, chỉ hai vụ được công bố cụ thể trên truyền thông Trung Quốc.

J-15 cũng nằm trong nhóm tiêm kích hạm nặng nề nhất thế giới, với khối lượng rỗng gần 18 tấn và khối lượng cất cánh tối đa 33 tấn. Vấn đề này càng gây khó khăn cho hoạt động tác chiến của tàu sân bay Trung Quốc, khi những chiếc J-15 phải hạn chế số lượng vũ khí và nhiên liệu để tránh làm quá tải hệ thống cáp hãm đà.

 

 

NHẬN DIỆN, BÁC BỎ NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ ĐẤU TRANH GIAI CẤP - GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG


 Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, mặc dù trong mỗi thời kì lịch sử, mỗi giai đoạn phát triển, cuộc đấu tranh giai cấp có những biểu hiện khác nhau, nhưng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp vẫn là vấn đề tất yếu, có tính quy luật của phát triển xã hội. Vì vậy, kiên định với lập trường giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, nhận diện khách quan những đặc điểm trong cuộc đấu tranh giai cấp hiện nay có ý nghĩa quan trọng đối với sự thành công của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhận thức đúng về cuộc đấu tranh giai cấp trong tình hình hiện nay là cơ sở quan trọng để củng cố lập trường, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, trên những phương diện khác nhau đã xuất hiện không ít những quan điểm sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, trong đó có nội dung bác bỏ quan điểm về  giai cấp và đấu tranh giai cấp.

Thứ nhất, các thế lực thù địch cho rằng, chủ nghĩa Mác-Lênin khẳng định đấu tranh giai cấp là động lực trực tiếp của sự phát triển lịch sử, là tuyệt đối hóa vai trò của đấu tranh giai cấp.  

Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp thì đấu tranh giai cấp giữa giai cấp thống trị và giai cấp bị trị là một tất yếu lịch sử. Chủ nghĩa Mác-Lênin không coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội nói chung như một số người quan niệm, mà chỉ là một động lực phát triển của xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp mà thôi. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy chưa có giai cấp, nên chưa có đấu tranh giai cấp, và trong tương lai khi xã hội không còn phân chia giai cấp thì không còn đấu tranh giai cấp. Nghĩa là như C.Mác đã khẳng định, đấu tranh giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn lịch sử nhất định của sự phát triển xã hội.

Theo C.Mác, trong xã hội có giai cấp, giai cấp thống trị chiếm đoạt lao động của giai cấp bị trị. Giai cấp bị trị không những bị chiếm đoạt kết quả lao động mà họ còn bị áp bức về chính trị, tư tưởng và tinh thần. Bởi sự hình thành giai cấp cũng là sự hình thành các lợi ích khác nhau. Lợi ích giai cấp không phải do ý thức giai cấp quy định mà do địa vị kinh tế - xã hội của giai cấp ấy tạo nên một cách khách quan. Giai cấp thống trị bao giờ cũng dùng mọi biện pháp và phương tiện bảo vệ địa vị giai cấp của họ, duy trì củng cố chế độ kinh tế, xã hội cho phép họ được hưởng những đặc quyền, đặc lợi giai cấp. Lợi ích căn bản của giai cấp bị trị đối lập với lợi ích cơ bản của giai cấp thống trị - đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới đấu tranh giai cấp. Vì thế, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” (năm 1848), C.Mác và Ph.Ăngghen đã viết: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả phường hội và thợ bạn, nói tóm lại là những kẻ áp bức và những người bị áp búc, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành cuộc đấu tranh không ngừng, lúc công khai, lúc ngấm ngầm, một cuộc đấu tranh bao giờ cũng kết thúc bằng một cuộc cải tạo cách mạng toàn bộ xã hội, hoặc bằng sự diệt vong của hai giai cấp đấu tranh với nhau” [1, tr.596 - 597].

Theo C. Mác, đấu tranh giai cấp mà đỉnh cao là cách mạng xã hội chỉ có thể nổ ra trên cơ sở lực lượng sản xuất phát triển tới mức mâu thuẫn không thể giải quyết với quan hệ sản xuất đã lỗi thời trong lòng xã hội cũ. C.Mác gọi đây là “tiền đề thực tiễn tuyệt đối cần thiết, vì không có nó thì tất cả sẽ chỉ là sự nghèo nàn sẽ trở thành phổ biến; mà với sự thiếu thốn tột độ thì ắt sẽ bắt đầu trở lại một cuộc đấu tranh để giành những cái cần thiết, thế là người ta lại không tránh khỏi rơi vào cũng sự ti tiện trước đây” [2,tr. 49]. Đây là nguyên nhân sâu xa dẫn tới đấu tranh giai cấp, trong “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích nguyên nhân cuộc đấu tranh giai cấp dẫn đến sự sụp đổ của chế độ phong kiến để hình thành nên xã hội tư bản: “... chúng ta đã thấy rằng, những tư liệu sản xuất và trao đổi, làm cơ sở cho giai cấp tư sản hình thành, đã được tạo ra trong lòng xã hội phong kiến. Những tư liệu sản xuất và trao đổi ấy, phát triển tới một trình độ nhất định nào đó thì... tất cả những cái đó đều biến thành xiềng xích. Phải đập tan những xiềng xích ấy... Thay vào đó là sự cạnh tranh tự do, với một chế độ xã hội và chính trị thích ứng, với sự thống trị kinh tế và chính trị của giai cấp tư sản” [1, tr.603 - 604].

          Như vậy, sự ra đời của phương thức sản xuất tư bản là tất yếu khách quan và là bước tiến vĩ đại trong tiến trình phát triển lịch sử - xã hội. Mặc dù quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã giải phóng lực lượng sản xuất, thực ra đó chỉ là sự thay thế chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp địa chủ, bằng chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất của giai cấp tư sản, thay thế phận làm thuê, làm mướn của người nông nô cho địa chủ bằng cuộc đời làm thuê của giai cấp công nhân cho giai cấp tư sản. Mâu thuẫn về lợi ích giữa giai cấp tư sản và vô sản tiếp tục diễn ra trong lòng xã hội tư bản chủ nghĩa, mâu thuẫn này không thể giải quyết trong xã hội tư bản mà trở thành nguyên nhân của cuộc đấu tranh giữa giai cấp tư sản và vô sản. Chính vì vậy: “những vũ khí mà giai cấp tư sản đã dùng để đánh đổ chế độ phong kiến thì ngày nay quay lại đập vào chính ngay giai cấp tư sản” [1, tr.605 ]. Nghĩa là, lịch sử đã tạo ra chủ nghĩa tư bản hiện đại và đến lượt nó lại trở thành vật cản của văn minh nhân loại.  

Xét đến cùng, sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất để đáp ứng mọi nhu cầu của con người là nguyên nhân của thay đổi quan hệ sản xuất và chế độ xã hội. Có thể nói, con người phát triển lực lượng sản xuất là động lực vĩnh cửu của lịch sử. Nhưng chế độ xã hội lỗi thời không tự nó tan rã, giai cấp thống trị không tự nguyện rút khỏi vũ đài, mặc dù nó đã hết vai trò lịch sử. Để phát triển, lịch sử cần đến một động lực khác nữa, động lực đó là đấu tranh giai cấp, cách mạng xã hội. Không có đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân thì chủ nghĩa tư bản, dù đã hết vai trò lịch sử, cũng không tự động chuyển biến thành chủ nghĩa xã hội.

Quan điểm khoa học về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin không phải là áp đặt mà phản ánh một thực tế khách quan trong xã hội có phân chia giai cấp, đó là sự đối kháng giữa các giai cấp: bóc lột và bị bóc lột, thống trị và bị trị, áp bức và bị áp bức. Do đó, đấu tranh giai cấp trong các xã hội này là tất yếu khách quan, góp phần thúc đẩy cho xã hội vận động, phát triển lên những hình thái cao hơn. Chủ nghĩa Mác-Lênin không bao giờ coi đấu tranh giai cấp là động lực duy nhất trong xã hội có giai cấp. C.Mác chỉ ra, ngoài đấu tranh giai cấp ra còn nhiều động lực khác như: đạo đức, tư tưởng, văn hóa, giáo dục… vị trí, vai trò của mỗi động lực là khác nhau. Nhận thức được điều này sẽ giúp chúng ta sẽ tránh được tư tưởng tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp.

Thứ hai, có quan điểm cho rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin coi bạo lực  cách mạng là “bà đỡ” cho sự ra đời xã hội mới, là cổ vũ cho bạo lực, cho chiến tranh, không thể thúc đẩy xã hội phát triển.

Chủ nghĩa Mác-Lênin tuyệt đối không sùng bái bạo lực mà coi bạo lực cách mạng chỉ là một trong những phương thức để thể hiện sức mạnh của quần chúng, là “bà đỡ” để đưa xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) ra đời trong lòng xã hội cũ (chủ nghĩa tư bản). Còn xã hội mới (xã hội chủ nghĩa) trưởng thành, phát triển như thế nào thì chủ yếu là vấn đề xây dựng. Trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản, sở dĩ dùng bạo lực cách mạng là để chống lại bạo lực phản cách mạng của giai cấp tư sản cầm quyền. Chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đề cập đến khả năng dùng biện pháp hòa bình nếu giai cấp tư sản cầm quyền tự nguyện rút lui khỏi vũ đài chính trị, nhưng khả năng này rất hiếm.

Nói đấu tranh giai cấp mà không nói đến bạo lực cách mạng là không đúng với thực tế lịch sử.  Ở thế kỷ XIX, nhân loại đã chứng kiến các điển hình về bạo lực cách mạng có tính giai cấp như vào các năm 1848,1870, giai cấp tư sản Pháp đã dìm hai cuộc khởi nghĩa của công nhân Pari trong biển máu. Giai cấp thống trị tư bản nhiều nước nắm những phương tiện bạo lực, sẵn sàng sử dụng chúng để đàn áp phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chính vì vậy, cuộc đấu tranh giai cấp để giải phóng khỏi áp bức bóc lột của giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động nếu diễn ra trong hòa bình mà không cần đến bạo lực cách mạng là điều rất khó xảy ra. Bởi vì, chỉ  có dùng bạo lực cách mạng thì giai cấp bị trị mới có thể thắng được bạo lực phản cách mạng của giai cấp thống trị, song bạo lực cách mạng là phương án lựa chọn cuối cùng.

Thứ ba, có một số ý kiến cho rằng, vận dụng quan điểm đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là không phù hợp.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lêninviệc nhận thức và giải quyết vấn đề đấu tranh giai cấp phải phù hợp với tình hình thực tiễn, điều kiện lịch sử - cụ thể của mỗi quốc gia, dân tộc và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Ðảng Cộng sản Việt Nam vẫn giữ vững lập trường cách mạng, trung thành với quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác - Lênin. Đảng ta luôn xác định rằng, hiện nay và trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, ở nước ta vẫn còn giai cấp và đấu tranh giai cấp. Đó là một thực tế khách quan. Song quan niệm đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay diễn ra trong điều kiện mới, nội dung và hình thức mới.

Trong điều kiện mới hiện nay, không được cường điệu cuộc đấu tranh giai cấp, dẫn đến sự rụt rè, không dám đổi mới; đồng thời, không được coi nhẹ, xem thường đấu tranh giai cấp, dẫn đến mơ hồ, mất cảnh giác. Điều kiện quốc tế đã có nhiều thay đổi, chủ nghĩa xã hội lâm vào thoái trào, Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới, vận mệnh dân tộc đứng trước những thời cơ mới và thách thức mới. Điều kiện trong nước, từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, các thành phần kinh tế bình đẳng không bị hạn chế về cơ hội phát triển, nhằm tạo điều kiện để mọi giai cấp, mọi tầng lớp trong xã hội có thể phát huy hết tiềm năng của mình, góp phần làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đã hình thành một cơ cấu xã hội - giai cấp mới đa dạng, phức tạp, gồm nhiều giai cấp, tầng lớp. Đáng chú ý là thành phần kinh tế tư bản tư nhân trở thành một thành phần kinh tế lớn mạnh, được khuyến khích phát triển, không giới hạn về ngành nghề, quy mô, tốc độ.

Đấu tranh giai cấp ở nước ta hiện nay, chủ yếu là đấu tranh để chiến thắng những thế lực cản trở việc thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Hình thức đấu tranh giai cấp và xử lý quan hệ xã hội - giai cấp đa dạng, phong phú. Trong đó nổi bật lên những mối liên hệ sau: trong mối quan hệ giữa trấn áp và tổ chức xây dựng thì bạo lực trấn áp là cần thiết, tất yếu, song tổ chức xây dựng là chính, là quyết định; quan hệ giữa cưỡng chế với thuyết phục, giáo dục thì thuyết phục, giáo dục được đặt lên hàng đầu; quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh thì đoàn kết là chính, đấu tranh là cần thiết, song không phải để làm tăng thêm sự khác biệt mà là để giữ vững khối đại đoàn kết dân tộc; quan hệ giữa phát triển kinh tế với thực hiện công bằng xã hội cần xem cả hai đều là mục tiêu chiến lược.

Về đấu tranh giai cấp, Ðại hội IX của Ðảng nhận định, cùng với những biến đổi to lớn về kinh tế, xã hội thì cơ cấu, tính chất, vị trí của các giai cấp trong xã hội ta đã thay đổi nhiều. Mối quan hệ giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội là quan hệ hợp tác và đấu tranh trong nội bộ nhân dân, đoàn kết và hợp tác lâu dài trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc dưới sự lãnh đạo của Ðảng. Ðại hội IX của Ðảng khẳng định: “Nội dung chủ yếu của đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục tình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức, bất công; đấu tranh ngăn chặn và khắc phục những tư tưởng và hành động tiêu cực; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch; bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh, nhân dân hạnh phúc” [3, tr.86 ].

Tóm lại, trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay, đấu tranh giai cấp không những không mất đi mà còn diễn ra rất phức tạp, đòi hỏi mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có khả năng tư duy lý luận tốt, có khả năng phân tích, đánh giá tình hình nắm bắt quy luật vận động, củng cố lập trường giai cấp công nhân, có niềm tin khoa học, kiên quyết và sáng suốt đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Quan điểm về đấu tranh giai cấp trong lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin phản ánh đúng quy luật khách quan và vẫn giữ nguyên giá trị. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần nhận thức rõ tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp. Để bổ sung, phát triển một cách sáng tạo đúng đắn và khoa học quan điểm về đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác-Lênin, mỗi thế hệ kế tiếp nhau sẽ dùng phương pháp biện chứng duy vật để không ngừng phát triển nó lên một trình độ cao hơn, yêu cầu đặt ra là cần phải nghiên cứu cẩn thận, nghiêm túc những tác phẩm của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin và quan điểm của Đảng ta, tránh rơi vào sai lầm khi xem thường, xóa nhòa đấu tranh giai cấp đi đến mơ hồ, mất cảnh giác, mắc vào âm mưu diễn biến hòa bình của các thế lực phản động trên thế giới đang tìm cách lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây chính là cách tốt nhất để tăng cường sức sống và sức hấp dẫn của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên đầy biến động và năng động hiện nay. ST

Trung Quốc sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông: Những lo ngại đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam

 

Trung Quốc sẽ khai thác khí ngoài Biển Đông: Những lo ngại đối với các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam

Thời báo Hoàn Cầu mới đây dẫn nguồn từ Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc (CNOOC) cho biết, giàn khai thác "Biển sâu số 1" nặng hơn 100.000 tấn do công ty này sản xuất sẽ được kéo ra Biển Đông để khai thác khí tự nhiên ngay trong tháng 6 này.

Khu vực dự tính đặt giàn khoan là khu vực Lăng Thủy gồm các lô dầu khí Lăng Thủy 17-2, Lăng Thủy 25-1, Lăng Thủy 18-1 và Lăng Thủy 18-2, nằm cách đảo Hải Nam khoảng 150km.

 PGS.TS Nguyễn Chu Hồi, nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Biển và Hải đảo (Bộ Tài nguyên và Môi trường) đã có bài viết nêu quan điểm riêng của mình về vấn đề này và cho rằng: Trung Quốc là một nước lớn nhìn cả từ cấp độ phát triển và cả về dân số, kéo theo là nhu cầu tiêu thụ tài nguyên thiên nhiên, lương thực, thực phẩm và năng lượng,... Họ đều đứng đầu thế giới.

Trong kỷ nguyên của hội nhập quốc tế với việc gia tăng sử dụng công nghệ cao thì nhu cầu về năng lượng lại ngày càng lớn. Vì thế, Trung Quốc đã hình thành chiến lược để giải quyết vấn đề này và chưa bao giờ có ý định lùi bước trước cuộc chiến chống lại cuộc khủng hoảng năng lượng toàn cầu kéo dài. Thậm chí, Trung Quốc còn tận dụng các cơ hội và giải pháp thúc đẩy hơn nữa miễn sao giành được nhiều nguồn năng lượng về mình.

Biển Đông là một mặt trận để Trung Quốc thực hiện ý đồ đó trong khuôn khổ của mục tiêu “kép”: tiếp cận tài nguyên biển và mở rộng tham vọng chủ quyền biển đảo. Cho nên, động thái tuyên bố sẽ chính thức đưa giàn khoan "Biển Sâu số 1" tự sản xuất đi vào hoạt động ngoài Biển Đông từ tháng 6 năm 2021, của Tổng công ty dầu khí Hải Dương Trung Quốc lần này cũng không nằm ngoài ý đồ bao trùm nói trên.

Ngay từ năm 2014, khi Trung Quốc hạ đặt trái phép giàn khoan HD-981 ở vùng thềm lục địa và đặc quyền kinh tế của Việt Nam, thì Chủ tịch CNOOC khi đó đã ngang nhiên tuyên bố, các giàn khoan nổi/cố định của Trung Quốc không chỉ để hút dầu mà còn như một cái gọi là “cột mốc chủ quyền” trên biển của họ.

Và cần nhắc lại rằng, khu vực biển Lăng Thủy này cũng nằm trong vùng chồng lấn gây tranh cãi từ năm 2014, và lần này lặp lại, Trung Quốc không thể che đậy được ý đồ “độc quyền khai thác tài nguyên” trước khi “độc chiếm Biển Đông” mà họ đã định vị bằng “đường chín đoạn” (đường lưỡi bò) phi lý. Các thách thức về an ninh khu vực Biển Đông liên quan đến giàn khoan này sẽ có thể gia tăng căng thẳng, khiến cho tình hình Biển Đông lại một lần nữa rơi vào thế bất ổn.

Mặt khác, Trung Quốc đã chuẩn bị kịch bản cho một “chiến lược hướng nam” ở Biển Đông bằng các bước đi cụ thể hòng độc quyền khai thác tài nguyên, tiến lới độc chiếm khu vực biển quan trọng này như nói trên.

Họ đã đơn phương thực hiện các bước đi chiến lược, có thể tóm gọn, như: “Pháp lý hóa Biển Đông” bằng cách công bố “đường lưỡi bò” phi lý ra Liên hiệp quốc (2009); “Hành chính hóa/Dân sự hóa” Biển Đông bằng việc công bố cái gọi là “thành phố Tam Sa” (2012), và yêu sách “Tứ Sa” (2017); “Quân sự hóa” (2016) Biển Đông trên nền tảng các đảo nhân tạo xây dựng trái phép trên các bãi cạn rạn san hô ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa của Việt Nam. Phục vụ triển khai các bước đi chiến lược đó, Trung Quốc đã chuẩn bị khá tốt các giải pháp công nghệ tương ứng, và thực tế họ đã dùng công nghệ can thiệp xử lý kỹ thuật thành công đối với các trường hợp mà trước đây dự báo là không dễ dàng...

Dĩ nhiên, thời gian qua, các bước đi chiến lược nói trên của Trung Quốc đã vấp phải sự phản đối quyết liệt của các quốc gia trong khu vực Biển Đông, trong đó có Việt Nam và thậm chí cả các quốc gia liên quan ngoài khu vực. Không có quốc gia nào chấp nhận trước những điều vô lý, trái với thông lệ luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hiệp quốc về Luật biển 1982 (UNCLOS-1982), và cũng không có quốc gia nào nhượng bộ về chủ quyền quốc gia, dân tộc. Không ai bỏ mất các quyền và lợi ích chính đáng của quốc gia mình,...

Hơn lúc nào hết, các quốc gia trong khu vực phải duy trì nhận thức chung, đặc biệt là các cường quyền chính trị nước lớn phải kiềm chế, thể hiện thiện chí, gương mẫu và biết tôn trọng các quốc gia khác, tôn trọng luật pháp quốc tế. Lúc này cần sự đoàn kết giữa các nước trong khu vực, đặc biệt là ASEAN để khẳng định vai trò trung tâm trong cấu trúc khu vực, bao gồm Biển Đông.

Thời gian qua, Việt Nam đã chủ động có những đóng góp quan trọng trong giải quyết các thách thức trong khu vực Biển Đông, trong đó có những thách thức an ninh. Chúng ta cũng đã chứng minh được với bạn bè quốc tế về cuộc đấu tranh chính nghĩa của mình và giải quyết nhiều vấn đề trên biển cả ở cấp độ đa phương và song phương. Việt Nam có quyền tự hào về những đóng góp của mình cho nền hòa bình khu vực, cho sự thịnh vượng của đất nước và cho cuộc sống yên bình của nhân dân, đặc biệt trong chống lại đại dịch Covid-19, bảo đảm mục tiêu kép.

Việt Nam xác định lợi ích quốc gia, dân tộc luôn là điều tối thượng. Trước sau như một, người Việt luôn thủy chung với bạn bè, hữu nghị với láng giềng; kiên trì, kiên định và tin tưởng vào đường lối đối ngoại và tiếp cận giải quyết hòa bình các vấn đề trên biển liên quan, nhưng kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổ quốc. Sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, tự cường dân tộc, độc lập tự chủ, đa phương hóa quan hệ ngoại giao, khôn khéo, linh hoạt trong từng trường hợp sẽ vẫn là những bài học giúp Việt Nam vượt qua khó khăn, thách thức. Lần này cũng sẽ vậy.