Thứ Năm, 10 tháng 6, 2021

Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá hiện nay

     Trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực và toàn cầu, là một tỉnh biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số và theo các tôn giáo; với cả thời cơ và thách thức đan xen, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” cùng những sơ hở, yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, do đó, phải chủ động phòng ngừa, dự báo chính xác tình hình để sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Để phòng, chống hiệu quả những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá hiện nay thiết nghĩ các cấp, các ngành cần thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào các dân tộc, tôn giáo.

Tập trung khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế, thế mạnh ở từng tiểu vùng, từng xã; phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo, nỗ lực vươn lên của cán bộ, đảng viên và Nhân dân ở cơ sở; thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, xã hội hóa để đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế - xã hội, nhất là hệ thống giao thông, thủy lợi, trường, trạm vừa giúp giảm bớt gánh nặng cho Nhà nước, vừa tạo ra một môi trường cạnh tranh lành mạnh để nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ; hỗ trợ, hướng dẫn đồng bào dân tộc thiểu số chuyển đổi cơ cấu kinh tế, đi vào sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập, xóa đói, giảm nghèo, định canh, định cư; xây dựng thôn, làng thành cộng đồng giàu về kinh tế, phát triển về văn hóa - xã hội, đoàn kết, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội; giải quyết tốt tình trạng tranh chấp đất đai, đẩy nhanh tiến độ giao đất, khoán rừng, giúp đồng bào an cư lạc nghiệp.

Tăng cường củng cố các thiết chế truyền thống của xã hội (như gia đình, các cộng đồng làng, xã; vị thế, uy tín của già làng, trưởng bản, những người có uy tín, kể cả với một số thầy cúng...), tạo ra “quyền uy vô hình” trong việc duy trì tín ngưỡng, văn hóa truyền thống và định hướng, phát huy các giá trị ấy theo chiều hướng tích cực nhằm tăng cường, củng cố khối đoàn kết của cộng đồng.

Hai là, đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, vận động Nhân dân hiểu rõ và nắm vững đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo.

Để đạt hiệu quả, cán bộ, đảng viên, nhất là ở cơ sở phải gần dân, sát dân, tìm hiểu và nắm tâm tư, nguyện vọng của dân. Phát huy vai trò của già làng, trưởng thôn, các nhân sĩ trí thức là người dân tộc thiểu số và các chức sắc, chức việc tôn giáo tiến bộ cùng vận động, thuyết phục đồng bào các dân tộc có đạo nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của địa phương. Chủ động phát hiện và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả tình trạng truyền đạo trái pháp luật, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị trên từng địa bàn.

Ba là, củng cố và xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh.

Trong bối cảnh nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào môi trường khu vực và toàn cầu, là một tỉnh biên giới có đông đồng bào dân tộc thiểu số và theo các tôn giáo; với cả thời cơ và thách thức đan xen, nhất là sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, lợi dụng các vấn đề về “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” cùng những sơ hở, yếu kém trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, do đó, phải chủ động phòng ngừa, dự báo chính xác tình hình để sớm triệt tiêu các nhân tố bất lợi có thể gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thực hiện nghiêm Quy chế Dân chủ cơ sở, tôn trọng và phát huy đầy đủ quyền làm chủ của Nhân dân; tập trung “Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân” như Văn kiện Đại hội Đảng XIII đã đề ra, làm cơ sở, chỗ dựa vững chắc cho đồng bào các dân tộc thiểu số và đồng bào có đạo đấu tranh có hiệu quả với âm mưu, thủ đoạn gây bạo loạn, ly khai của các thế lực thù địch.

Cùng với đẩy mạnh phát triển kinh tế, kết hợp với bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí; đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường minh bạch cho sự phát triển của địa phương; đồng thời, chủ động đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch cùng âm mưu, thủ đoạn lợi dụng những sơ hở, hạn chế trong quản lý, điều hành của chính quyền các cấp để gieo rắc hoài nghi, kích động tư tưởng chống đối, gây mất ổn định xã hội. Trong tình hình hiện nay, nếu mất cảnh giác, hữu khuynh, đấu tranh thiếu kiên quyết, triệt để với các biểu hiện, mầm mống gây đột biến, có thể dẫn đến hậu quả khôn lường. Điều đó đòi hỏi phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý, điều hành của chính quyền các cấp.

                                                                                                 T3

Một số giải pháp đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mặt trận báo chí, truyền thông và mạng xã hội của tỉnh trong thời gian tới

     Trong những năm qua, các thế lực thù địch đã tăng cường đẩy mạnh xâm nhập, tác động, hướng lái truyền thông Việt Nam theo ý đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì lĩnh vực này tác động lớn đến đời sống xã hội, lại khó kiểm soát, kiểm duyệt đối với các cơ quan quản lý nhà nước, nên là một trong những mục tiêu trọng điểm để các thế lực thù địch triệt để lợi dụng trong quá trình chống phá cách mạng nước ta; chúng tận dụng tối đa tiềm lực và sức mạnh của báo chí, truyền thông bên ngoài, mạng xã hội để “lấn át” báo chí, truyền thông trong nước; tiếp cận, mời chào, lôi kéo giới báo chí truyền thông Việt Nam, tác động “chuyển hóa” họ xa dần tôn chỉ, mục đích và định hướng báo chí của Đảng, chạy theo xu hướng thương mại.

Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, trên mặt trận báo chí, truyền thông và mạng xã hội, công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” không phải là bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Để tăng cường đấu tranh chống “Diễn biến hòa bình” trên mặt trận báo chí, truyền thông và mạng xã hội của tỉnh trong thời gian tới, cần tập trung làm tốt một số giải pháp sau:

Một là, làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, người lao động và của người dân trong tỉnh.

Các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể trong tỉnh phải thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, nâng cao ý thức tự giác, bản lĩnh chính trị, để mỗi cá nhân biết cách lựa chọn và tiếp nhận thông tin phù hợp, đặc biệt là thông tin trên mạng xã hội; tích cực thông tin, chia sẻ trên mạng xã hội của địa phương, đơn vị những gương người tốt, việc tốt, những hoạt động tích cực của ngành, đoàn thể, địa phương; đăng tải và chia sẻ các tin, bài, hình ảnh, video clip vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động. Xác định việc tuyên truyền nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân khi sử dụng mạng xã hội là giải pháp quan trọng để mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và người dân cùng chung tay với các cơ quan chức năng bảo đảm môi trường mạng lành mạnh, phản bác các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch  trên Internet và mạng xã hội.

Để mỗi cán bộ, đảng viên nói riêng, người dân nói chung không bị mắc bẫy, a dua phụ họa theo những thông tin xấu, độc thì trước tiên chúng ta phải kịp thời nhận diện, chỉ rõ các âm mưu, thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc của các thế lực thù địch. Chỉ rõ tính hai mặt của mạng xã hội, nhất là mặt tiêu cực, tránh tình trạng các cá nhân vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá, thậm chí có các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa trên mạng xã hội; xây dựng lối ứng xử văn minh trên mạng, không chạy theo và cổ súy cho những xu hướng lệch chuẩn, đi ngược lại truyền thống đạo lý và thuần phong mỹ tục của dân tộc; không tham gia bình luận, chia sẻ những thông tin xấu, độc; phải tự nâng cao hiểu biết, bảo vệ mình trước những nguy cơ bằng cách tránh chia sẻ thông tin riêng của cá nhân, biết sử dụng các công cụ mạng xã hội cung cấp để bảo vệ thông tin cũng như nội dung riêng tư của mình. Đặc biệt, đối với mỗi cán bộ, đảng viên, chỉ tuân thủ đúng pháp luật và đề cao trách nhiệm công dân là chưa đủ mà phải thể hiện rõ vai trò lãnh đạo, tính tiền phong gương mẫu của người đảng viên; chấp hành nghiêm túc các quy định của Đảng; tu dưỡng, rèn luyện về chính trị tư tưởng, kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; kiên quyết đấu tranh với các hiện tượng nghĩ trái, nói trái, làm trái nền tảng tư tưởng, chủ trương, nghị quyết của Đảng. Đặc biệt, cần hết sức cảnh giác khi tiếp cận những thông tin được đăng tải từ những trang không chính thống, giả mạo, có nguồn gốc từ nước ngoài, hoặc do cá nhân, phần tử xấu lập ra. Khi tiếp nhận được những thông tin tiêu cực trên mạng xã hội, hãy chủ động tìm kiếm từ các trang báo chí, thông tin chính thống để so sánh, đối chiếu. Nếu không xác định được nguồn gốc, động cơ, mục đích của thông tin và người chia sẻ thông tin, cần bình tĩnh, thận trọng khi bình luận, phát tán thông tin. Ngoài ra, cần xây dựng cho bản thân thái độ tích cực luôn tìm kiếm, chia sẻ những thông tin hay, bổ ích, hạn chế tìm đọc các thông tin tiêu cực, không rõ nguồn gốc.

Hai là, phát huy sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng; tăng cường phối hợp, kết hợp giữa các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”.

Do đặc thù của Internet là tốc độ truyền thông tin rất nhanh, do đó để kịp thời phát hiện các thông tin xấu, độc cần có sự phối hợp một cách hiệu quả giữa các cơ quan chức năng của tỉnh với các huyện, thành phố cũng như sự phối hợp của các cộng tác viên, của từng cá nhân ở các địa phương, đơn vị để có biện pháp đấu tranh phù hợp với tình hình và điều kiện cụ thể; chú trọng những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị, các ngày lễ, kỷ niệm của đất nước, của địa phương, những địa bàn trọng điểm. Huy động sự phối hợp đồng bộ trong công tác tuyên truyền, phản bác của các cơ quan báo chí, trang thông tin điện tử và của các trang mạng xã hội của các địa phương, đơn vị trong tỉnh.

Ba làlàm tốt công tác định hướng thông tin; đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về báo chí và tuyên truyền

Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá.

                                                                                                         T3

 

NHẬN DIỆN CÁC DẠNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Sau nhiều thập niên thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực thù địch đang thay đổi phương thức hoạt động. Mục tiêu nhất quán không thay đổi của chúng là chống phá tận gốc về tư tưởng chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội và lực lượng công an, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Vừa qua, các thế lực chống cộng sản, chống chủ nghĩa xã hội (CNXH) đã lợi dụng dịp kỷ niệm 100 năm Cách mạng Tháng Mười và 170 năm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - tác phẩm kiệt xuất của Mác và Ăngghen, tập trung vào việc phê phán, đả kích chủ nghĩa Mác hòng làm lung lay nền tảng tư tưởng của chúng ta. Các thế lực thù địch tung ra đủ thứ lý luận nhằm bác bỏ chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng tấn công vào đường lối của Đảng, tập trung đánh vào các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là vào nguyên tắc tập trung dân chủ. Chúng đối lập Đảng với Nhà nước, đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân. Cùng với phủ nhận sứ mạng lịch sử của giai cấp công nhân, chúng phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH ở nước ta, phê phán triệt để, bôi đen CNXH hiện thực, công khai ca ngợi con đường tư bản chủ nghĩa (TBCN). Mục tiêu của các thế lực thù địch là tập trung hướng vào nội bộ ta, tìm mọi hình thức, tinh vi hoặc trắng trợn, công khai hoặc bí mật, ráo riết làm cho nội bộ không ổn định, luôn luôn gieo rắc ngờ vực, nghi kỵ, giảm sút lòng tin hòng gây chia rẽ, lục đục nội bộ. Các chiến dịch tung tin thường tập trung vào các kỳ đại hội Đảng, kỳ bầu cử Quốc hội nhằm mục đích kích động, chia rẽ nội bộ. Xuất hiện nhiều luận điệu hết sức giản đơn nhưng thâm độc, nguy hiểm như “Phe thân Mỹ sẽ thắng và phe thân Trung Quốc sẽ thua” hay ngược lại…. Hoặc, hiện nay, công tác chống tham nhũng đang được Đảng và Nhà nước ta thực hiện một cách kiên quyết, công khai, minh bạch, được nhân dân đồng tình và tin tưởng, nhưng các thế lực thù địch lại xuyên tạc bóp méo, cho đó là cuộc đấu tranh thanh trừ nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích.

Một số giải pháp chống bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay

 

Tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh nhằm khắc phục những hạn chế, yếu kém trong cán bộ, đảng viên; trong đó cần đấu tranh khắc phục bệnh giáo điều theo cách phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Để việc học tập, rèn luyện theo phong cách thực tiễn của Người có hiệu quả cần thực hiện một số giải pháp sau:

Thứ nhất, cần thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận nhằm nâng cao trình độ tư duy lý luận, chống giáo điều về lý luận, tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận. 

Tăng tính thực tiễn là gắn các tri thức lý luận với thực tiễn công tác, thực tiễn đất nước, làm cho thống nhất giữa lý luận và thực tiễn nhằm tăng hiệu quả hoạt động thực tiễn công tác của mình. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phê phán việc học tập lý luận mà không gắn với thực tiễn của cán bộ, đảng viên, là coi việc học tập lý luận chỉ để gắn cái “mác”, để có cái “bằng”, học tập để nói cho “có vẻ” lý luận; học lý luận để biết “dăm câu ba chữ” dùng làm “trang sức” hoặc để lòe người khác, chứ không để nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trình độ tư duy lên tầm lý luận; giải thích và chỉ đạo, hướng dẫn thực tiễn bằng lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu chống và phê phán kiểu học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin, đó chính là cách “học sách vở Mác - Lênin nhưng không học tinh thần Mác - Lênin”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là “phải học tinh thần của chủ nghĩa Mác-Lênin, học tập lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng lập trường, quan điểm và phương pháp ấy mà giải quyết cho tốt những vấn đề thực tế trong công tác cách mạng của chúng ta”. Như vậy, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cần phải tăng tính thực tiễn trong học tập lý luận, nghĩa là học lý luận để phục vụ thực tiễn làm việc, từ đó khắc phục được bệnh giáo điều lý luận. Người chỉ ra: “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình, là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm”. Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin trước hết để biết, để làm người, rồi mới làm cán bộ và phụng sự Tổ quốc, nhân dân, giai cấp. Người cán bộ, đảng viên phải có thái độ đúng đắn mới có thể khắc phục được bệnh giáo điều trong nghiên cứu, học tập lý luận. Như vậy, thay đổi nhận thức về việc học tập lý luận là quán triệt quan điểm thực tiễn để chống bệnh giáo điều trong học tập lý luận.

Thứ hai, cần vận dụng lý luận một cách sáng tạo và hiệu quả vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả công tác.

Học tập lý luận cốt là vận dụng vào thực tiễn, phục vụ cải tạo thực tiễn, nếu không sẽ trở nên giáo điều về lý luận. Vận dụng ở đây không đơn giản là dùng những kiến thức lý luận đã học để áp dụng vào thực tế mà để phân tích, mổ xẻ thực tiễn. Phải đem những điều học được để phân tích và giải quyết các vấn đề thực tế trong công tác của bản thân mình và của Đảng, như vậy thì việc nghiên cứu, học tập, vận dụng lý luận mới có hiệu quả. Khi đem những kiến thức lý luận áp dụng vào thực tiễn phải phân tích những điều kiện cụ thể của thực tiễn để lựa chọn lý luận nào và kinh nghiệm thực tiễn nào vào cải tạo thực tiễn.

Người căn dặn cán bộ, đảng viên: khi nghiên cứu, học tập và vận dụng kinh nghiệm của các nước vào thực tiễn cách mạng nước ta phải căn cứ vào thực tiễn đất nước để tìm ra hướng đi riêng cho mình; biết lựa chọn kinh nghiệm nào cho phù hợp, nếu không sẽ phạm phải giáo điều khi vận dụng kinh nghiệm: “Không chú trọng đến đặc điểm của dân tộc mình trong khi học tập kinh nghiệm của các nước anh em, là sai lầm nghiêm trọng, là phạm chủ nghĩa giáo điều”. Vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu ngoài việc nâng cao nhận thức trong học tập lý luận, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nhấn mạnh nguyên tắc lý luận liên hệ với thực tế và tính lịch sử cụ thể khi vận dụng kinh nghiệm của các nước vào nước mình.

Thứ ba, thường xuyên tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận, làm giàu tri thức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải biết tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả công tác “… công việc gì bất kỳ thành công hoặc thất bại, chúng ta cần phải nghiên cứu đến cội rễ, phân tách thật rõ ràng rồi kết luận. Kết luận đó sẽ là cái thìa khoá phát triển công việc và để giúp cho cán bộ tiến tới”. Người nhấn mạnh: “… cần phải nghiên cứu kinh nghiệm cũ để giúp cho thực hành mới, lại đem thực hành mới để phát triển kinh nghiệm cũ, làm cho nó đầy đủ dồi dào thêm”. Đó chính là quá trình tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, đúc rút kinh nghiệm để bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận. Làm được như vậy có nghĩa là làm cho lý luận được “bổ sung bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn sinh động”. Đồng thời, thực tiễn mới sẽ được chỉ đạo, soi đường, dẫn dắt bởi lý luận mới. Đây là biểu hiện sinh động của việc quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, “tổng kết để làm cho nhận thức của chúng ta đối với các vấn đề đó được nâng cao hơn và công tác có kết quả hơn”.

Phong cách thực tiễn là một trong những nét nổi bật trong hệ thống phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phong cách thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dựa trên thực tiễn và xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn Việt Nam để tiếp thu chọn lọc những gì hợp lý, đúng đắn và định hướng cho quá trình tìm ra hệ thống lý luận cũng như phương pháp cách mạng để giải quyết những vấn đề của cách mạng Việt Nam. Đó là một phong cách hành động khoa học, lấy thực tiễn là cơ sở, điểm xuất phát của quá trình nhận thức chân lý. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, trong đó nghiên cứu và học tập phong cách thực tiễn của Người là rất cần thiết đối với mỗi người, bởi đó là phương thức góp phần loại bỏ căn bệnh giáo điều trong cán bộ, đảng viên hiện nay./.  T3.

Những quan điểm sai trái do các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn gây ra

Một số đối tượng lá mặt, lá trái, cơ hội chính trị, số phần tử bất mãn, cực đoan, quá khích đang sống, làm việc thụ hưởng những thành quả cách mạng do Đảng và nhân dân mang lại, nhưng lại bí mật cộng tác với những phần tử bất mãn, phản động nước ngoài để mưu cầu lợi ích cá nhân. Số đối tượng này tiếp nhận, tán phát tài liệu có nội dung xấu, móc nối viết bài nói xấu chế độ, chống phá Nhà nước Việt Nam. Những bài viết được tung lên internet có nội dung tuyên truyền những quan điểm phản động, cực đoan chống Đảng, Nhà nước, kích động tụ tập đông người, biểu tình gây áp lực với chính quyền, đòi thả tự do cho những kẻ vi phạm pháp luật mà chúng gọi là “tù nhân lương tâm”… Tư tưởng cơ hội hữu khuynh của những phần tử phản động thoái hóa, cơ hội chính trị không chỉ được xây dựng trên một cơ sở lý luận xét lại nào đó, mà còn là sự cóp nhặt hỗn tạp giữa trào lưu triết học, xã hội học tư sản hiện đại, song lại chưa thoát được căn bệnh giáo điều và bệnh thực dụng. Điều này thể hiện thái độ và lối sống cơ hội nhằm trục lợi cả chính trị và vật chất. Có không ít người cơ hội trước kia đã từng giáo điều trong việc nhận thức về “sự thối nát, giãy chết của CNTB”, thì bây giờ họ lại “đảo chiều”, quay sang tôn sùng CNTB. Các đối tượng còn phủ định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, công kích đường lối, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước ta, đặc biệt là định hướng XHCN. Trong phát triển kinh tế thị trường, tất cả các mũi tấn công đều nhằm vào phát triển mầm mống các nhân tố chống CNXH, thúc đẩy sự hình thành xã hội dân sự dưới tác động của hàng hóa, nguồn vốn phương Tây hòng hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân để lấn át kinh tế nhà nước, lôi kéo thêm lực lượng cán bộ, đảng viên yếu kém về nhận thức chính trị, có quan điểm sai trái. Cùng với việc tung ra luận điệu trong Đảng có phe cải cách và phe bảo thủ, chúng tìm mọi cách bịa đặt, nói xấu cán bộ Đảng và Nhà nước, phát tán những cuốn nhật ký, hồi ký kể lể chuyện “giật gân” trong sinh hoạt của các nhà lãnh đạo, đề cao người này, hạ thấp người kia, kích động, chia rẽ lãnh đạo cao cấp của Đảng, gây nghi ngờ để chia rẽ nhân dân với Đảng.

Những quan điểm sai trái hình thành do trình độ nhận thức chính trị kém

Do tác động nhiều mặt, trong xã hội đã xuất hiện nhiều hiện tượng như chạy theo lối sống sinh hoạt văn hóa lai căng, dung tục, xa rời văn hóa truyền thống. Một số tác phẩm văn hóa có tư tưởng phủ định lịch sử, nhận thức sai về văn học, nghệ thuật, cổ súy cho những hành vi sai trái, lệch lạc. Trong khi đó, một số cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài đưa các tin, bài vu cáo ta vi phạm nhân quyền, đàn áp tôn giáo; mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin sai trái, bịa đặt mà không ít cán bộ, đảng viên và một bộ phận quần chúng nhân dân đã đọc, nghe không phân biệt được đúng, sai… dẫn đến có những cán bộ đảng viên đã biểu hiện dao động, mất lòng tin và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, suy thoái tư tưởng về chính trị. Thực tế là, các thế lực thù địch luôn quan tâm lôi kéo tầng lớp trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh, sinh viên, coi đó là hướng hoạt động có tính chiến lược nhằm chuyển hóa tư tưởng của thế hệ điều hành đất nước trong tương lai. Do ảnh hưởng từ những chiêu bài dẫn dụ của các thế lực thù địch cùng với tác động của một số yếu tố khách quan, nên đã có những trí thức, sinh viên viết bài, bày tỏ cảm xúc cực đoan, tuyên truyền chống phá, nói xấu chế độ. Có một số cán bộ, đảng viên, trí thức cũng ngộ nhận, xoay chiều phê phán nguyên tắc tập trung dân chủ, thậm chí có người còn đòi xóa bỏ nguyên tắc này. Khi tình hình thế giới và trong nước với cả mặt thuận và mặt trái đều có thể ảnh hưởng qua nhiều cách, nhiều chiều, trên nhiều phương diện thì việc nghe, nhìn, cũng như suy nghĩ của mỗi người trong điều kiện mở rộng dân chủ bên trong, hội nhập với bên ngoài ngày càng trở nên phức tạp. Điều đó có tác động lớn đến công tác đấu tranh tư tưởng. “Cây muốn lặng, gió chẳng đừng”, Đảng ta, nhân dân ta luôn mong muốn một môi trường ổn định, hòa bình để xây dựng một đất nước ấm no, tự do, hạnh phúc nhưng các thế lực thù địch không để chúng ta yên. Chúng thường xuyên chống phá chúng ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi và xảo quyệt. Vì vậy, đấu tranh chống quan điểm sai trái luôn là nhiệm vụ tất yếu chúng ta phải làm. Để làm thật tốt, cùng với việc tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, chúng ta cần chủ động nắm chắc tình hình tư tưởng, tâm trạng xã hội; sớm phát hiện và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, nổi cộm mới phát sinh, những vấn đề bức xúc, không để các thế lực thù địch lợi dụng. Chủ động theo dõi và nắm bắt kịp thời các dạng quan điểm sai trái và những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, từ đó xác định những giải pháp đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả./.

Không để bảo thủ trở thành “sợi dây” trói buộc sự tiến bộ

 


Không chỉ ở Việt Nam mà với mọi quốc gia, dân tộc, tư tưởng bảo thủ được xem là một rào cản lớn, một “sợi dây” trói buộc sự vận động, phát triển của xã hội.

Tại Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Đảng ta cũng chỉ rõ “bảo thủ” là một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị. Hiện nay, các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương đã và đang tổng kết thực hiện nhiệm vụ năm 2019. Khi phân tích về nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế, nhiều đơn vị, địa phương cũng chỉ rõ đó là tình trạng chậm đổi mới cả trong tư duy và hành động, hay nói cách khác là căn bệnh bảo thủ còn khá nặng… Trước yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng, việc nhận diện những biểu hiện cụ thể, nguyên nhân và hậu quả của tư tưởng bảo thủ, trên cơ sở đó xác định và tiến hành các chủ trương, biện pháp đấu tranh hiệu quả, góp phần đưa đất nước phát triển là việc rất quan trọng.

Bảo thủ – “sợi dây cột chân cột tay người ta”

Theo Đại từ điển tiếng Việt, bảo thủ được hiểu là “duy trì cái cũ, cái hiện tồn, không muốn tiếp nhận cái mới”. Còn theo cách hiểu thông thường, bảo thủ là duy trì cái cũ, bảo vệ cái cũ, cái đã lỗi thời, lạc hậu; không chịu tiếp thu cái mới, cái hay, cái tiến bộ, chống lại những tư duy mới, hành động mới trong mọi lĩnh vực của đời sống chính trị, kinh tế-xã hội… Trên thực tế những biểu hiện của tư tưởng bảo thủ được thể hiện, bộc lộ dưới rất nhiều dạng, nhiều khía cạnh. Có những biểu hiện chỉ thoáng qua người ta đã biết, nhưng có những biểu hiện không phải ai cũng dễ nhận ra, do đó việc nhận diện đúng tư tưởng bảo thủ để đấu tranh khắc phục là việc làm cần thiết.

Danh ngôn có câu: “Một trí óc bảo thủ là một trí óc đang chết dần”. Tác hại mà tư tưởng bảo thủ gây ra với mỗi tập thể, mỗi xã hội là rất rõ ràng. Tác hại của tư tưởng bảo thủ sẽ càng lớn khi nó được áp đặt vào người khác, áp đặt vào tập thể. Do đó sẽ rất nguy hại nếu người mang tư tưởng bảo thủ giữ chức vụ cao, nhất là những người giữ vai trò chủ trì, chủ chốt ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Chuyện kể rằng có một công ty nọ chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu, công ty phát triển khá nhanh do thường xuyên đầu tư hiện đại máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, đổi mới mẫu sản phẩm, ký được nhiều hợp đồng với nhiều nước trên thế giới… Sau những thành công ấy, giám đốc công ty hả hê và càng ngày càng cảm thấy thoã mãn với sự nghiệp của mình. Ông ta cho rằng mẫu mã trước đây đã khẳng định được vị trí, tìm được chỗ đứng trong khách hàng nên không cần phải thay đổi nữa, chỉ cần duy trì mẫu mã cũ cũng đủ sức phát triển… Thực chất đó chính là biểu hiện của tư tưởng bảo thủ và hệ quả đã thấy rõ, công ty của ông ta dần dần bị tụt hậu, không theo kịp sự phát triển của thời đại, hàng hóa của công ty trở thành lỗi thời, lạc hậu, không ký được hợp đồng, khách hàng cũng mất dần; các đối thủ cạnh tranh vượt lên. Chẳng bao lâu công ty may mặc của ông giám đốc nọ đã bị phá sản…

Từ câu chuyện trên, suy rộng ra cho chúng ta thấy tính chất nguy hại của tư tưởng bảo thủ đối với sự phát triển của xã hội. Nhận thức rõ những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng bảo thủ, trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đặc biệt đến việc đấu tranh ngăn chặn tư tưởng bảo thủ. Trong Thư gửi đồng bào và cán bộ xã Nam Liên (nay là xã Kim Liên, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An), ngày 13-2-1962, khi đề cập đến công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Tư tưởng bảo thủ là như những sợi dây cột chân cột tay người ta, phải vất nó đi. Muốn tiến bộ thì phải có tinh thần mạnh dạn, dám nghĩ dám làm”. Trong nhiều bài viết, bài nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phân tích rõ tác hại của tư tưởng bảo thủ. Người ví nó như sợ dây trói buộc, ngăn cản sự tiến bộ của con người, ngăn cản sự phát triển của tập thể.

Đổi mới là đòi hỏi tất yếu       

Trên thực tế vẫn có rất nhiều người đang cố thủ trong các vỏ bao bọc của lề thói cũ, tư duy và chủ nghĩa kinh nghiệm. Vấn đề này cũng đã được Đảng ta chỉ rõ trong nhiều văn kiện. Ngoài những yếu tố khách quan như tàn dư của chế độ phong kiến, thực dân; ảnh hưởng của cơ chế quan liêu bao cấp một thời; là sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên… chúng ta cần phải thấy một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến căn bệnh bảo thủ là do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Do chưa nhận thức rõ vấn đề và những đòi hỏi từ thực tế nên chúng ta đã chậm đổi mới trong cả tư duy và hành động; giáo dục và đào tạo không bắt kịp với xu thế phát triển của thời đại… Từ thực trạng tình hình, Đảng ta đã nhận rõ đổi mới tư duy là quy luật tất yếu của cách mạng, của công cuộc đổi mới. Trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta khẳng định rằng: “Chỉ có đổi mới tư duy thì mới thấy đúng và thấy hết sự thật, thấy hết những nhân tố mới để phát huy, những sai lầm để sửa chữa”… Chính sự quyết tâm đấu tranh với tư tưởng bảo thủ, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện đất nước mà chúng ta có được những bước tiến dài như ngày hôm nay. Có thể khẳng định, hơn ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Trước những đòi hỏi mới của tình hình, nhất là ở thời Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, cái mới, cái tiến bộ không ngừng nảy sinh phủ định cái cũ, cái lạc hậu và chính sự ra đời của cái mới, sự triệt tiêu của cái cũ giúp cuộc sống của chúng ta không ngừng vận động, phát triển, thì cuộc đấu tranh ngăn chặn và đẩy lùi tư tưởng bảo thủ, không ngừng đổi mới, sáng tạo càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ rõ: “Phải biết rằng tình hình khách quan thay đổi hàng giờ hàng phút, một chủ trương của ta hôm nay đúng, hôm sau đã không hợp thời, nếu ta không tỉnh táo kiểm điểm những tư tưởng hành vi của ta để bỏ đi những cái quá thời, sai hỏng, nhất định ta sẽ không theo kịp tình hình, ta sẽ bị bỏ rơi, bị các bạn tỉnh táo nhanh nhẹn hơn vượt đi trước… Không chịu tự phê bình, không chỉ trích thì không bao giờ tấn tới được”(*). Tuy nhiên, đổi mới không có nghĩa là chúng ta phủ định sạch trơn cái ra đời trước, kinh nghiệm của những người đi trước. Nhưng nếu chúng ta cứ bình chân nằm ôm khư khư đống kinh nghiệm ấy mà không tìm tòi, đổi mới, sáng tạo thì nhất định chúng ta sẽ tụt hậu, đặc biệt trong xã hội hiện đại, khoa học, công nghệ phát triển như vũ bão, tri thức mới không ngừng ra đời như hiện nay.

Kiên trì đấu tranh bằng nhiều giải pháp

Bảo thủ là một tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ, trở thành thuộc tính cố hữu trong cách nghĩ, cách làm và tư duy của cán bộ, đảng viên và người dân. Mặt khác, phản ứng lại sự tấn công của cái mới, cái tiến bộ vốn là thuộc tính của tư tưởng bảo thủ. Để bảo vệ mình, người mang tư tưởng bảo thủ luôn tìm ra đủ phương cách. Do đó đấu tranh khắc phục tư tưởng bảo thủ không phải là công việc đơn giản và dễ thực hiện trong một sớm một chiều. Muốn chữa trị căn bệnh bảo thủ, chúng ta phải có quyết tâm cao, kiên trì tiến hành đồng bộ, thường xuyên, liên tục, bằng nhiều giải pháp.

Thực tế cho thấy tình trạng mang nặng tư tưởng bảo thủ, trì trệ, không mạnh dạn dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên đang là lực cản lớn đối với quá trình phát triển của đất nước ta. Để khắc phục tình trạng ấy, chúng ta cần phải đặc biệt coi trọng công tác tuyên truyền, giáo dục. Thực tế đã chứng minh tuyên truyền, giáo dục là một trong những giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi căn bệnh bảo thủ. Để làm được điều đó, trước hết chúng ta phải tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong các cơ quan, đơn vị, trường học; nêu cao tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là của cơ quan cấp trên, cán bộ chủ trì các cơ quan, đơn vị, bởi những người này mang nặng tư tưởng bảo thủ thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tập thể. Cùng với đó, chúng ta phải bảo vệ nhân tố mới, cổ vũ tư tưởng đổi mới, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tính linh hoạt, sáng tạo cả trong tư duy và hành động. Việc tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức để chống tư tưởng bảo thủ phải được xác định là việc làm thường xuyên, liên tục, ở mọi cấp, mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, mọi lứa tuổi, đối tượng… Đối với từng nhóm đối tượng phải lựa chọn nội dung, hình thức và biện pháp tuyên truyền sao cho phù hợp, hiệu quả, trong đó cần nêu cao vai trò của báo chí, truyền thông.

Mặt khác, như đã nêu ở trên, một trong những nguyên nhân dẫn đến tư tưởng bảo thủ là do trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên và nhân dân còn hạn chế. Thực tế cho thấy, với bất cứ một nền kinh tế-xã hội nào muốn duy trì sự tồn tại và phát triển cần phải có một nguồn lực nhất định, trong đó nguồn lực quan trọng và quyết định nhất là con người. Do vậy, để đẩy lùi căn bệnh bảo thủ, chúng ta cần nâng cao trình độ dân trí. Muốn nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao dân trí thì không có cách nào khác là phải đầu tư cho giáo dục và đào tạo, hay nói cách khác là đầu tư cho con người. Trình độ nhận thức của cán bộ, đảng viên, trình độ dân trí được nâng cao, sẽ giúp chúng ta từng bước hạn chế và đi đến xóa bỏ được tư tưởng bảo thủ, trì trệ cả trong tư duy và hành động. Comment

                                                                                                        T3

Thiếu trung thực, mầm mống của sự thoái hóa

Một trong những giá trị cơ bản làm nên phẩm chất, tư cách của cán bộ, đảng viên là đức tính trung thực. Thiếu trung thực, cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) không chỉ làm mất đi vẻ đẹp nhân nghĩa, trong sáng của mình mà còn vô hình trung hạ thấp tư cách bản thân trong quan hệ ứng xử với nhân dân, với đồng chí, đồng đội, với tổ chức, cơ quan, đơn vị. Không chỉ vậy, thiếu trung thực còn là mầm mống nuôi dưỡng sự thoái hóa nhân cách cán bộ, đảng viên. Đối với những người đảng viên cộng sản, đức tính trung thực là tiêu chí hàng đầu để đánh giá, kiểm nghiệm tư cách đạo đức và phẩm chất chính trị. Sức mạnh, uy tín, danh dự của Đảng Cộng sản trước hết thể hiện ở lòng trung thành, tinh thần trung kiên, đức tính trung thực của đội ngũ đảng viên. Trong hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, một điều dễ nhận thấy là hầu hết CB, ĐV không những thể hiện phẩm chất trung thành với Đảng, ý chí trung kiên với cách mạng mà luôn có ý thức trung thực với tổ chức, với nhân dân và với bản thân mình. Vì vậy, nói đến đảng viên là nói đến đức hy sinh, lòng trung thành, tính trung thực và đảng viên trở thành một hình mẫu, một biểu tượng nhân cách cao đẹp trong lòng nhân dân. Tuy nhiên, những năm qua, trước sự tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường, cùng với sự thiếu tu dưỡng, rèn luyện của cá nhân, một bộ phận không nhỏ CB, ĐV đang tự bào mòn nhân cách vì không giữ gìn, thể hiện được đức tính trung thực trong cuộc sống, sinh hoạt và công tác. Sự thiếu trung thực biểu hiện dưới muôn hình vạn trạng. Nào là khai man lý lịch, bằng cấp, trình độ học vấn; kê khai tài sản không đúng với số lượng hiện có; nào là “dối trên, lừa dưới” bằng việc khai vống kết quả, tô hồng thành tích, giấu nhẹm khuyết điểm của tổ chức và cá nhân. Trên đăng đàn, trong hội nghị, trước tập thể, lúc đương chức thì nói một đằng nhưng khi ra ngoài, lúc “trà dư tửu hậu” hay khi về hưu thì lại nói kiểu khác. Trong sinh hoạt, ứng xử, bên ngoài thì tỏ vẻ cởi mở, chan hòa, “anh anh chú chú”, nhưng bên trong thì “bằng mặt mà không bằng lòng”, ngấm ngầm giữ miếng, nghi kỵ, thậm chí tìm cách hãm hại lẫn nhau. Tinh vi hơn, sự thiếu trung thực của một số người còn thể hiện ở “vỏ bọc” hào hoa, phong nhã nhưng thâm tâm lại chứa đựng bao điều nhỏ nhen, vị kỷ. Biểu hiện nổi cộm nhất của sự thiếu trung thực là ở thái độ tiền hậu bất nhất, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, hứa nhiều làm chẳng đáng bao nhiêu, thậm chí nói nói đúng, làm sai, chỉ đạo và yêu cầu cấp dưới phải “làm thế này”, nhưng bản thân làm ngược lại chính những điều mình đã nói. Thời gian qua, những hành vi tham ô, hối lộ, lãng phí, bè phái, cục bộ, lợi ích nhóm của hầu hết các CB, ĐV vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật và truy cứu trách nhiệm hình sự, đều có nguyên nhân vừa sâu xa, vừa trực tiếp do thiếu trung thực. Nếu sống trung thực với mình, với tổ chức, với Đảng, với nhân dân, có lẽ nhiều cán bộ cấp cao không phải mất quyền, mất chức, mất uy tín, mất danh dự; thậm chí sa vào vòng lao lý để rồi mất cả quyền công dân như trường hợp các ông Đinh La Thăng, Trần Văn Minh, Phan Văn Vĩnh, Phan Hữu Tuấn, Nguyễn Thanh Hóa… Cũng chỉ vì thiếu trung thực mà một số cán bộ lãnh đạo dối gian với cả cấp ủy, tổ chức để “đánh bóng” lý lịch, trình độ học vấn con em mình rồi bổ nhiệm “thần tốc” người thân vào những chức vụ dễ “sinh lợi, kiếm lộc” khiến tổ chức, cơ quan, địa phương cũng bị “mang tiếng” lây. Đáng nói hơn, thời gian qua, sự thiếu trung thực không dừng lại ở một vài cá nhân, mà lan sang cả tập thể. Vì nếu đề cao, coi trọng và thể hiện thái độ thẳng thắn, trung thực trong việc tự phê bình và phê bình, có lẽ một số tập thể thường vụ cấp ủy ở Vĩnh Phúc, Đà Nẵng… không đến mức phải bị xử lý kỷ luật kéo theo hàng loạt cán bộ cấp tỉnh cùng phải chịu liên đới trách nhiệm! Cần thường xuyên rèn luyện, đề cao tính trung thực ở mọi lúc, mọi nơi Trung thực trái với gian dối, man trá. Trung thực cũng có nghĩa là trái với sự thiếu thành tâm, thiếu công tâm với đồng chí, đồng đội, với tổ chức, tập thể. Thế nên, một nhân cách đàng hoàng không thể không lấy đức tính trung thực làm đầu. Một CB, ĐV chân chính không thể không coi trọng, đề cao lòng chính trực, chân thật của bản thân trong đối nhân xử thế. Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII của Đảng đã xác định, trung thực là một trong những đức tính cao đẹp của người Việt Nam trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 33-NQ/TW của Đảng cũng chỉ rõ: Trung thực cùng với các đặc tính: Yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, cần cù, sáng tạo là những giá trị cơ bản làm nên nhân cách chuẩn mực của con người Việt Nam trong thời đại mới. Một trong những nhiệm vụ cơ bản của đảng viên đã được quy định trong Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam là: Đảng viên phải trung thực với Đảng. Như vậy, đức tính trung thực của đảng viên lúc này không chỉ là một yêu cầu về phẩm chất đạo đức cần có như một người công dân bình thường mà đó còn là trách nhiệm, nghĩa vụ, bổn phận của người cộng sản đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, bởi đảng viên là đại diện tiêu biểu về trí tuệ, lương tâm và danh dự của giai cấp và dân tộc. Trung thực là một trong những đức tính đáng quý nhất của con người. Người có đức tính trung thực trước hết phải trung thực với chính mình, không tự dối bản thân và càng không thể dối với đồng chí, đồng đội, với tập thể. Trung thực là sống có trước, có sau, có tình, có nghĩa, thấy điều lợi thì làm, thấy điều hại thì tránh. Sống trung thực phải biết phân biệt đúng-sai, nhận rõ phải-trái, phân minh thiện-ác và hiểu được đâu là niềm tin chân chính, đâu là trò huyễn hoặc dối trá, bịp bợm để phòng ngừa, tránh xa. Để giữ gìn được phẩm giá trung thực, mỗi CB, ĐV phải luôn nghĩ, nói và làm những điều hay lẽ phải, hợp lòng người, tuân theo đạo lý và chuẩn mực tốt đẹp của cộng đồng và những quy ước của xã hội. Đảng viên trung thực khi thấy cái tốt, cái đúng, cái đẹp thì giữ gìn, bảo vệ và cổ vũ, khích lệ để phát huy; thấy cái sai, cái xấu, cái ác thì phê phán, đấu tranh để ngăn ngừa, hạn chế. Luôn sống thư thái, ung dung, đàng hoàng, phong cách trung thực của cán bộ, đảng viên hoàn toàn trái với kiểu sống ra luồn vào cúi hay nịnh nọt, ton hót người khác để cầu mong hưởng lợi lộc, công danh phú quý cho bản thân. Trong ba yếu tố “chân- thiện- mỹ” thì cái thật, cái đúng của con người luôn được đặt ở nấc thang giá trị hàng đầu. Vì cái chân, cái thật luôn là tiền đề, cơ sở để xây dựng cái tốt, cái đẹp. Mặt khác, bản chất cái tốt, cái đẹp luôn hàm chứa trong nó cái chân thật xác đáng. Lòng tự trọng, tự tôn của mỗi đảng viên chân chính đều có xuất phát điểm từ đức tính trung thực. Xã hội nào cũng vậy, khi đức tính trung thực được coi trọng và đề cao thì đó là nhân tố góp phần làm lành mạnh các quan hệ xã hội và trở thành nền tảng của một xã hội công bằng, bình đẳng, bác ái. Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, nâng cao đức tính trung thực của cán bộ, đảng viên sẽ góp phần hạn chế lòng tham lam, tính ích kỷ và sự bon chen, cạnh tranh gay gắt về lợi nhuận, đồng thời góp phần điều tiết lợi ích cho các thành viên trong xã hội bảo đảm hài hòa, nhân đạo hơn.

Mối quan hệ và tác động của “diễn biến hòa bình” với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

Thuật ngữ “diễn biến hòa bình” xuất hiện lần đầu trong đời sống chính trị thế giới vào năm 1949. Ngoại trưởng Mỹ lúc đó là Dean Akison, trong một bức thư gửi Tổng thống Truman đã sử dụng khái niệm “diễn biến hòa bình” để chỉ sự chuyển hóa các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) thành tư bản chủ nghĩa. “Diễn biến hòa bình” do các nhà hoạch định chiến lược phương Tây soạn thảo từ cuối những năm 40 của thế kỷ 20, sau đó tiếp tục được bổ sung và hoàn chỉnh thành chiến lược vào cuối thập niên 80 của thế kỷ 20. “Diễn biến hòa bình” là chiến lược của chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) và các thế lực phản động quốc tế thực hiện dưới một phương thức mới, thủ đoạn mới, phi quân sự để chống phá, đẩy lùi và đi tới xóa bỏ chủ nghĩa xã hội. Chủ thể của “diễn biến hòa bình” không chỉ là các thế lực thù địch (TLTĐ), các nước đế quốc chủ nghĩa mà còn cả các nước theo chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, bành trướng và bá quyền. Theo đó, động cơ chính trị của “diễn biến hòa bình” đã chuyển từ đấu tranh ý thức hệ là chính sang đấu tranh vì lợi ích dân tộc cục bộ là chính. Phương thức hoạt động của “diễn biến hòa bình” tập trung vào gây sức ép về kinh tế - tài chính và tấn công mạng thông tin; chuyển trọng tâm từ bên ngoài tác động vào trong các nước sang thúc đẩy các hoạt động chống đối ngay bên trong nội địa, trong nội bộ và tại chỗ là chính. “Diễn biến hòa bình” đã phát triển đến đỉnh cao, đến mức có thể coi là một “công nghệ”, đó là “công nghệ lật đổ”. Triệt để sử dụng các trang mạng xã hội trên internet và vai trò của các tổ chức phi chính phủ để gieo mầm, thúc đẩy “xã hội dân sự”, khởi động sự phản kháng của các phần tử chống đối ở trong nước biểu tình phản đối để lật đổ chế độ. Mục tiêu chủ yếu của “diễn biến hòa bình” là làm thay đổi tính chất quốc gia, dân tộc của chế độ chính trị của các nước theo hướng có lợi cho CNĐQ và cường quyền về lợi ích địa - chính trị và địa - kinh tế thay vì mục tiêu chính trị cực đoan. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” xuất hiện lần đầu trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng (năm 2011): “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của chủ nghĩa xã hội; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp”. Đại hội XII, Đảng ta nhận định: “những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí diễn biến phức tạp”. “Tự diễn biến” được hiểu theo nghĩa là sự suy đồi ngay từ nội bộ, sự thay đổi theo chiều hướng xấu, chiều hướng tiêu cực. “Tự diễn biến” xảy ra ở hai phạm vi: đối với cá nhân và tổ chức. “Tự diễn biến” đối với cá nhân là sự thay đổi về nhận thức chính trị - xã hội, thay đổi về quan điểm, tư tưởng theo chiều hướng tiêu cực, xấu đi, nhận thức và hành động xa rời, nhận thức đi ngược lại chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. “Tự diễn biến” đối với tổ chức là có những thay đổi ở tầm vĩ mô về đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật, làm thay đổi bản chất chính trị, thậm chí làm suy yếu và tan rã tổ chức đó. “Tự diễn biến” của cá nhân có thể dẫn đến sự thay đổi của tập thể, tổ chức. “Tự diễn biến” của tổ chức chi phối, áp đặt, điều khiển đối với cá nhân trong tổ chức đó. “Tự chuyển hóa” là hậu quả tất yếu của quá trình “tự diễn biến”, nếu không được phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Nghị quyết T.Ư 4 khóa XII đã chỉ ra những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó đáng chú ý nhất là các biểu hiện sau: (1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”. (2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ XHCN, Nhà nước pháp quyền XHCN; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. (3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước. (4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. (5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an. (6) Móc nối, cấu kết với các TLTĐ, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước. “Diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”có mối quan hệ khăng khít, không thể tách rời và tác động lẫn nhau. Đó là mối quan hệ giữa khách quan và chủ quan, giữa nhân tố bên ngoài và bên trong. “Diễn biến hòa bình” thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đến lượt nó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, trong đó “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là nhân tố bên trong quan trọng nhất. Sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu đã khẳng định điều đó. Các TLTĐ thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Liên Xô và các nước XHCN. Sau khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai, giới hiếu chiến trong ban lãnh đạo Mỹ đã có kế hoạch chống phá toàn diện Liên Xô. Nhiều trung tâm Xô Viết học ra đời tại Mỹ và các nước Tây Âu khác về thực chất là những cơ quan tình báo nghiên cứu, soạn thảo chính sách chống Liên Xô và các nước XHCN khác. Các Chính phủ Mỹ thời Rigân, Bush, Clintơn đã ra nhiều chỉ lệnh chống phá Liên Xô và các nước XHCN trên tất cả các lĩnh vực. Thông qua các chiêu bài viện trợ nhân đạo để cung cấp tài chính cho các tổ chức đối lập: Công đoàn đoàn kết của Ba Lan, Luận bàn dân chủ của Hungary, Luận đàm mới của Cộng hòa dân chủ Đức, Luận đàm công dân ở Tiệp Khắc, Tính công khai của Bungary, v.v. Nhưng quan trọng nhất là sự suy thoái của Đảng Cộng sản Liên Xô diễn ra trước hết và chủ yếu ở các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các cấp. Goócbachốp sau đó đã từng thừa nhận: mục tiêu của toàn bộ cuộc đời tôi là tiêu diệt chủ nghĩa cộng sản. Đây là nguyên nhân chủ quan chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu. Sau khi thua Việt Nam bằng súng đạn, Mỹ đã thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam. Hội nghị giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng đã xác định “diễn biến hòa bình” của các TLTĐ là một trong bốn nguy cơ. Từ Đại hội VIII đến nay, nghị quyết các đại hội và nhiều nghị quyết Trung ương đã nhấn mạnh phải kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong đó đề cao ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: “Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; chủ động ngăn chặn, phản bác các thông tin, quan điểm xuyên tạc, sai trái, thù địch”. Nói tóm lại “diễn biến hòa bình” và “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, đó là mối quan hệ giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan, trong đó nhân tố chủ quan là quan trọng nhất. Phải tăng cường đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đồng thời phải đẩy mạnh đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”. Làm tốt cuộc đấu tranh này, chúng ta sẽ bảo vệ được Đảng, được chế độ, đưa đất nước vững bước trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Cây gỗ nghiến 1.000 tuổi trong rừng Cốc Sâm bị đổ gục

 Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Hà (tỉnh Lào Cai) cho biết, vào ngày 8/6, cây gỗ nghiến 1.000 tuổi (Cây di sản Việt Nam) trong rừng Cốc Sâm đã bị đổ gãy do rỗng ruột.

Cây gỗ nghiến này có số hiệu 285, ở tiểu khu 164, lô 15 thuộc thôn Cốc Sâm, xã Cốc Ly, Bắc Hà, Lào Cai. Cây gỗ nghiến 1.000 tuổi đã già cỗi, rỗng ruột, cụt ngọn từ trước, khi gặp gió lớn thì bị đổ gãy.

Tháng 11/2014, cây gỗ nghiến này được Hội bảo vệ thiên nhiên Việt Nam công nhận là Cây di sản Việt Nam. Cây gỗ nghiến có chu vi thân là 9,6 m, đường kính 3,1 m, chiều cao khoảng 45 m.

Bằng phương pháp khoan tăng trưởng, đồng thời sử dụng phương pháp đối chứng thực tế, các nhà khoa học đã xác định cây gỗ nghiến này khoảng 1.000 năm tuổi.

Vào thời điểm đó, cây gỗ nghiến 1.000 năm tuổi là Cây di sản thứ 4 được công nhận trên địa bàn tỉnh Lào Cai, sau cây đa tại Đền Thượng (thành phố Lào Cai), hai nhóm cây vân sam và cây đỗ quyên rừng trên Vườn Quốc gia Hoàng Liên (huyện Sa Pa).

Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ tịch Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam cho biết, cây gỗ nghiến tại thôn Cốc Sâm là cây gỗ nghiến lớn nhất Việt Nam, có nguồn gen quý hiếm thuộc nhóm IIA.


Rớt nước mắt cậu bé 5 tuổi khẩn cầu sự sống cho mẹ giữa đại ngàn Tây Nguyên

 Căn nhà lụp xụp của gia đình chị nằm lọt thỏm giữa tán rừng cao su của đại ngàn Tây Nguyên. Trong ngôi nhà ấy, cậu bé 5 tuổi nắm chặt tay mẹ, cậu bé khẩn thiết cầu xin sự sống.

"Con mong mẹ khỏe để gia đình mình ở bên nhau"

Căn nhà gỗ rộng chừng 30 m2 của chị Phạm Thị Huê (sinh năm 1990, phó Bí thư Đoàn xã Đắk Wil, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông), nằm lọt thỏm dưới tán rừng cao su ở vùng đất biên giới của đại ngàn Tây Nguyên. Từ đầu đường, mùi hương muỗi đã thoang thoảng, càng khiến không gian âm u, lạnh lẽo đến xót xa.

Thời điểm chúng tôi có mặt, mẹ và chồng Huê vừa đi thu hoạch mủ cao su về, còn Huê nằm bất động trên giường, đưa ánh mắt mất hồn như mong chờ sự giúp đỡ của người thân.

Sáng sớm nay, cơn đau bất ngờ kéo đến khi không có ai ở nhà, Huê nằm một mình trên giường, cắn răng chịu đựng.

Tiếng người phụ nữ 31 tuổi không thể thoát ra khỏi cổ họng, bởi căn bệnh ung thư đáy lưỡi ác tính.

Người phụ nữ trẻ đưa đôi mắt vô hồn nhìn về chồng, cơn đau lại kéo đến, cô cắn chặt răng vì không thể thét lên. Anh Quyết phải mất 30 phút xoa bóp mới làm dịu cơn đau của vợ.

Huê thì thào nói mà nước mắt chảy ướt đẫm: "Em đau như không thể sống nổi, giá như có một cách nào đó giải thoát cho em thì mẹ em, chồng con em đỡ khổ. Nhưng nhìn đứa con em đang còn ngây dại thế kia, em không nỡ rời xa con".

Thấy mẹ đau đớn, cậu bé Bùi Đức Quân (5 tuổi) đến bên cạnh, cầm chắc tay mẹ như để động viên mẹ. Cậu bé không hiểu được căn bệnh mà mẹ đang mắc phải, nhưng chứng kiến những cơn đau quằn quại ấy, cậu bé buồn so.

"Con mong mẹ khỏe để gia đình mình ở bên nhau. Mẹ Huê nhanh khỏi để đưa con đi chơi, con không đòi mua bánh kẹo, mua đồ chơi đâu, con chỉ cần đi công viên thôi", Quân nói rồi gục mặt trong vòng tay gầy guộc của mẹ.

TPHCM đợt bùng phát dịch thứ 4: Những nỗi lo ngày càng rõ nét

 Xuất hiện ca mắc Covid-19 tại bệnh viện, khu vực sản xuất, kinh doanh và những trường hợp chưa rõ nguồn lây, ngành y và các cấp chính quyền TPHCM đang đối mặt với nhiều thách thức trong việc kìm chế sự lây lan của dịch bệnh trong 2 tuần giãn cách xã hội.

Ngày 31/5 là một ngày đặc biệt của người dân TPHCM. Một lần nữa, thành phố đông dân nhất cả nước bước vào 2 tuần giãn cách xã hội để phòng dịch Covid-19. Cuối ngày hôm ấy, hàng loạt tờ báo, trang thông tin và mạng xã hội cùng đăng tải thông tin thành phố không có ca mắc mới trong cộng đồng trong ngày đầu tiên thực hiện giãn cách toàn thành phố theo Chỉ thị 15 và một số khu vực theo Chỉ thị 16.

Tuy nhiên, con số "0" ấy không mang lại niềm vui trọn vẹn. Từ trưa cùng ngày, thông tin về điểm cách ly phong tỏa, chính quyền tìm kiếm người liên quan đến các ca nghi nhiễm, khiến người dân cùng các cấp chính quyền băn khoăn về diễn biến dịch bệnh trong những ngày sắp tới.

Kết thúc tuần đầu tiên của "khoảng thời gian vàng" chống dịch, lãnh đạo TPHCM có lý khi nói dịch Covid-19 trên địa bàn đã giảm dần và chững lại. Tuy nhiên, qua những dấu hiệu mới manh nha xuất hiện, nỗi lo lắng về một đợt bùng phát dịch khó kiểm soát cũng dần thành hình.Cảnh báo trước với khu công nghiệp

Tại buổi họp khẩn với Ban Chỉ đạo phòng, chống Covid-19 chiều 2/6, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã lưu ý ngành y và các cấp chính quyền đặc biệt quan tâm đến kiểm soát dịch tại khu công nghiệp, khu chế xuất và khu vực tập trung đông người lao động.

"Thành phố cần đặc biệt lưu ý đến nguy cơ lây nhiễm của chuỗi này tới các khu công nghiệp, khu chế xuất. Với số lượng công nhân, người lao động đông, nếu để xảy ra lây nhiễm tại khu vực này, ngành y rất dễ trở tay không kịp", Phó Thủ tướng cảnh báo.

Trong thực tế, dấu hiệu của dịch bệnh tại khu vực sản xuất đã được TPHCM đón nhận từ trước khi thực hiện giãn cách xã hội. Chiều 30/5, một ca nghi nhiễm SARS-CoV-2 được ghi nhận tại kho hàng thuộc xã Bà Điểm, thuộc Khu Công nghiệp Vĩnh Lộc (huyện Hóc Môn).

Ca lây nhiễm được ngành y phát hiện trong quá trình lấy mẫu tầm soát toàn bộ người dân cư trú tại phường 15, quận Gò Vấp, nơi có liên quan trực tiếp đến các ca lây nhiễm của điểm nhóm truyền giáo Phục Hưng. Điều tích cực là vụ việc chỉ ảnh hưởng trên quy mô nhỏ, chỉ một kho hàng phải phong tỏa tạm thời và khoảng 27 người phải cách ly tập trung.

Ca mắc Covid-19 có liên quan đến khu công nghiệp, chế xuất tiếp theo được phát hiện ngày 7/6. Người này làm việc bên trong khu chế xuất Tân Thuận (quận 7, TPHCM).

Mẫu thử lần đầu tiên của bệnh nhân cho kết quả âm tính với SARS-CoV-2 vào ngày 31/5. Tuy nhiên, trong lần lấy mẫu thứ 2, lực lượng y tế đã xác định người này mắc Covid-19.

145 người tiếp xúc gần bên trong khu chế xuất được xác định là F1. Tất cả đã cho kết quả xét nghiệm âm tính. Điều đáng lo ngại, lực lượng chức năng cùng ngành y chưa tìm ra nguồn lây nhiễm của trường hợp này.

Sau đó chỉ một ngày, Công ty PouYuen ghi nhận một ca mắc Covid-19 khác làm việc tại phân xưởng. Chồng của bệnh nhân đã được công bố nhiễm SARS-CoV-2 trước đó.

CHIẾN LƯỢC PHÒNG CHỐNG DỊCH HIỆU QUẢ

 


Không phải bàn cãi nhiều, cứ nhìn vào thực tế chống dịch theo tinh thần “chống dịch như chống giặc” ở nước ta có thể thấy Đảng, Nhà nước đã huy động sự vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị cùng tham gia phòng, chống dịch bệnh có hiệu quả (xem tỷ lệ người mắc Covid-19/ dân số của các nước trong khu vực thì sẽ rõ thôi). Các đợt dịch từng bước được khống chế, kiểm soát, qua đó đã giúp giảm thiểu những tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid-19 đối với đời sống và sức khỏe của người dân.

Cùng với các biện pháp cấp bách nhằm ngăn chặn, kiểm soát và đẩy lùi các đợt dịch, chúng ta cũng đã rất tích cực, khẩn trương, chủ động, tìm mọi cách để có thể nhanh chóng tiếp cận, tìm nguồn, nhập về vaccine phòng Covid-19 và triển khai tiêm cho nhân dân, trước hết là lực lượng trên tuyến đầu chống dịch, các đối tượng ưu tiên. Việt Nam vì thế đã được WHO đánh giá rất cao về những biện pháp phòng, chống dịch mang tính lâu dài, hiệu quả.

Đồng thời với việc tìm kiếm, nhập vaccine phòng Covid-19 từ nhiều nguồn để đa dạng và tránh bị động về nguồn cung, chúng ta cũng đẩy mạnh nghiên cứu, phát triển vaccine Covid-19 trong nước. Đây là chiến lược đúng đắn, khẳng định tầm nhìn chiến lược cũng như tâm nguyện luôn chăm lo cho dân, luôn vì dân.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng ta đã nêu rõ “Tập trung kiểm soát đại dịch Covid-19, tiêm chủng đại trà vaccine Covid-19 cho cộng đồng...”. Với quyết định này, Đảng, Nhà nước đã đưa Việt Nam vào danh sách không nhiều quốc gia trên thế giới sớm có chủ trương tiêm vaccine Covid-19 đại trà cho toàn dân. Chính phủ, trong đó cơ quan quản lý Nhà nước cao nhất trong lĩnh vực y tế là Bộ Y tế đã ban hành Quyết định về việc phê duyệt kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối, sử dụng vaccine phòng Covid-19 trong giai đoạn 2021-2022 do COVAX Facility (Giải pháp tiếp cận vaccine phòng Covid-19 toàn cầu) hỗ trợ.

Bộ Y tế cũng đã cho biết, đến nay Việt Nam đã đặt hàng 170 triệu liều vaccine phòng Covid-19 từ nhiều nguồn, nhiều nhà cung cấp trong năm 2021 này để tiêm 2 mũi cho khoảng 70% số dân, là những người đủ 18 tuổi trở lên. Đây cũng là tỷ lệ tiêm vaccine ngừa Covid-19 để đạt được miễn dịch cộng đồng.

Biện pháp và chiến lược phòng chống dịch Covid-19 đúng đắn, hiệu quả của Việt Nam tiếp tục được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Trong bài trả lời phỏng vấn BBC ngày 2 tháng 6 vừa qua, nhà báo David Hutt đã nhận định tích cực về phản ứng nhanh và đồng bộ của Chính phủ Việt Nam trong ứng phó với đại dịch Covid-19, đặc biệt là đợt bùng phát mới hiện nay. Cây bút chuyên bình luận về Đông Nam Á này đánh giá, Việt Nam là một trong những nước tại Đông Nam Á chủ động nhất và thành công nhất trong phòng chống dịch Covid-19 khi quyết liệt hơn, chú trọng tới nhiệm vụ kinh tế đặt trong bối cảnh chiến dịch tiêm vaccine đã được triển khai và những kinh nghiệm thực hiện giãn cách trong 18 tháng qua.

Dư luận quốc tế cho rằng, tiêm vaccine phòng Covid-19 đại trà cho toàn dân là một “vũ khí” hiệu quả, song vẫn rất cần những biện pháp phòng, tránh khác. Vì thế, “Chiến lược 5K + Vaccine” của Việt Nam cho đến nay là một chiến lược đúng đắn, hiệu quả và căn cơ để đẩy lùi đại dịch Covid-19, đưa mọi hoạt động kinh tế-xã hội trở lại trạng thái bình thường mới./.

NHẬN DIỆN THÔNG TIN SAI TRÁI, XUYÊN TẠC

 


Trong khi cả nước đang căng mình ứng phó với đợt dịch Covid-19 thứ tư kể từ khi xuất hiện ca bệnh đầu tiên hồi tháng 1 năm 2020 tới nay. Đây được xem là đợt dịch lây lan nhanh, diễn biến phức tạp và khó lường nhất.

Bên cạnh việc triển khai những biện pháp quyết liệt, mạnh mẽ, kịp thời và hiệu quả, chúng ta cũng thực thi những biện pháp căn cơ, chiến lược để vừa sớm nhất có thể dập đợt dịch thứ tư này vừa đẩy lùi đại dịch một cách lâu dài. Theo thông tin mới nhất, những tâm dịch phức tạp đã cơ bản được kiểm soát với số ca mắc mới đang chững lại như khẳng định của lãnh đạo TP.HCM, thành phố đã cơ bản quản lý, kiểm soát các nguồn lây lan các ca bệnh; trong khi lãnh đạo tỉnh Bắc Giang cho biết phấn đấu trong vòng 7-10 ngày tới kiểm soát số ca F0 phát sinh ở các khu cách ly, từ 10-14 ngày nữa sẽ cơ bản dập xong dịch bệnh.

Điều đó khẳng định các biện pháp, chiến lược chống dịch Covid-19 của nước ta đến nay là đúng đắn, hiệu quả. Thế nhưng, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước trong chiến lược diễn biến hòa bình xuyên suốt đã không từ bỏ bất cứ thủ đoạn nào, từ bỏ bất cứ dịp nào, luôn tìm mọi cách để nhằm chống phá Việt Nam và trong lúc cả nước đang tập trung mọi nỗ lực chống dịch Covid-19 này cũng vậy.

Chúng bất chấp thực tế (tỷ lệ người mắc Covid-19 của Việt Nam/ dân số, là thấp nhất đối với các nước trong khu vực), đã tung ra những thông tin bịa đặt, bóp méo, luận điệu xuyên tạc, thậm chí dựng đứng, vu cáo trắng trợn nỗ lực phòng, chống Covid-19 tại nước ta. Mục đích của chúng là nhằm liên tục phát tán các luận điệu xuyên tạc, thù địch về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam, phủ nhận nỗ lực chống dịch của Chính phủ, công kích lãnh đạo Đảng, Nhà nước nhằm gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong dư luận xã hội, tạo sự hoài nghi về công tác phòng, chống dịch… để từ đó có điều kiện gây bất ổn chính trị-xã hội trong nước.

Có thể thấy, trong “dàn đồng ca” xuyên tạc, bóp méo tình hình dịch bệnh cũng như cuộc chiến “chống dịch như chống giặc” ở nước ta gồm đủ các thành phần, từ các tổ chức phản động lưu vong như: Việt Tân, Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời, Hội anh em dân chủ… cho đến các phần tử phản động, cơ hội chính trị, bất mãn trong nước. Chúng cố “mũ ni che tai” để cấu kết, a dua, “tung hứng” các thông tin, luận điệu sai trái nhằm phủ nhận những thành quả bước đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong việc ngăn chặn, kiểm soát dịch bệnh đi đôi với đảm bảo phát triển sản xuất kinh doanh, đảm bảo đời sống xã hội, an sinh của người dân được Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Gần đây, trước thông tin một số nước rục rịch mở cửa nền kinh tế, mở cửa cho du khách quốc tế nhờ tiêm chủng vaccine ngừa Covid-19 để đạt được miễn dịch cộng đồng, các thế lực thù địch trong và ngoài nước liền thừa cơ, núp bóng cái gọi là “góp ý với cách chống dịch của Việt Nam” nhằm đưa ra những thông tin, luận điệu sai trái hòng gây phân tâm, nhiễu loạn. Thậm chí, có những kẻ còn muốn phủ nhận sạch trơn mọi nỗ lực và thành quả chống dịch của nước ta khi dấy lên luận điệu thâm độc rằng “ngộ nhận về hình mẫu chống dịch Covid-19”, rằng “Việt Nam chậm trễ, bị động; Đảng, Nhà nước thiếu trách nhiệm trong việc bảo đảm vaccine Covid-19”.

Chúng ta luôn trân trọng lắng nghe, nghiêm túc tiếp thu những ý kiến, đóng góp giá trị, khoa học, khách quan, mang tính xây dựng trong phòng, chống dịch bệnh Covid-19 nhưng cũng rất tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh, phản bác những thông tin sai trái, luận điệu xuyên tạc với dụng ý chống phá xấu xa, đen tối của các thế lực thù địch, những người cơ hội về chính trị hoặc “nổ cho xướng miệng” thiếu khách quan.../.

NIỀM VUI CỦA NGƯỜI TRỰC TIẾP CHỐNG DỊCH

 


Nhóm hai bác sĩ và hai điều dưỡng của khoa ICU Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương, tự thực hiện nội soi phế quản cho hai người bệnh Covid-19 nguy kịch, trong đó có một bệnh nhân ECMO, vào ngày 9/6.

Đây là kỹ thuật điều trị Covid-19 từng được thực hiện tại khoa Chẩn đoán hình ảnh của bệnh viện thời gian trước. Nay, khoa ICU có thể tự thực hiện mà không cần chuyển bệnh nhân ra khỏi cơ sở. Kỹ thuật này giúp hút đờm dãi ứ đọng trong phế quản của bệnh nhân viêm phổi nặng, chạy ECMO, giải phóng phế quản tránh viêm nhiễm và giúp phổi thông khí.

Niềm vui lộ rõ trên khuôn mặt bác sĩ khi anh ấy nhìn thấy rõ hình ảnh từng nhánh phế quản, phế nang của bệnh nhân, nơi nCoV đang tập trung như bãi chiến trường. Không ít 'chú nCoV' hôm nay sẽ phải khóc ròng vì bị cuốn theo dòng hút của máy nội soi. Những vất vả của y bác sĩ ICU chỉ là một góc nhỏ trong sự gian khổ chung để chống Covid-19, họ chỉ biết làm hết sức, dốc lòng cứu những ca bệnh nguy kịch và đã thực hiện được. Theo họ, đó là điều ý nghĩa nhất cho cuộc đời này.

NHÂN VIÊN Y TẾ CHỐNG DỊCH

 


Theo chị Thường (chị 36 tuổi, nữ điều dưỡng, mô tả về tình hình của khoa ICU, Bệnh viện Bệnh nhiệt đới Trung ương), số trường hợp tử vong chưa đến 1% trong tổng số ca nhiễm, các bác sĩ đã nỗ lực hết sức để cứu sống người bệnh. Song, họ vẫn cảm thấy xuống tinh thần, thêm áp lực. Chị nói: “Mắt tôi nhòa đi, muốn ôm anh ấy mà khóc. Đại dịch quá khốc liệt”; “Chưa bao giờ chúng tôi phải làm nhiều như thế. Áp lực khủng khiếp. Bác sĩ thức trắng nhiều đêm liên tục”. So sánh với các đợt dịch vào năm 2020, chị Thường nhận định cường độ công việc đã tăng lên gấp 5-6 lần. Cùng thời gian này năm ngoái, khoa ICU chỉ có tối đa 6 bệnh nhân, trong đó có một ca ECMO. “Đây có lẽ là khoảng thời gian đáng nhớ nhất trong đời tôi”.

Chị nhớ mãi không quên những lần đồng nghiệp nữ rơi nước mắt. “Ai có thể cầm lòng khi nghĩ về đứa con thơ đang gào khóc suốt đêm vì khát bầu sữa mẹ. Ai có thể không xót ruột khi cả bố và mẹ xông pha nơi tiền tuyến, bỏ lại con nhỏ ngơ ngác. Ai có thể an lòng khi cả nhà đi chống dịch, để mẹ già bệnh tật một mình trong nhà trọ 12m2... ?”;  những đồng nghiệp của chị chỉ nặng trung bình dưới 50 kg, cao không đến 1m60, cảm thấy mệt mỏi vì áp lực đè nặng. Nhưng họ vẫn chiến đấu bằng tình yêu nghề nghiệp, nghĩa vụ và trách nhiệm, niềm tin, bất chấp môi trường đầy nguy cơ nhiễm virus, nữ điều dưỡng chia sẻ. Đúng là vì trách nhiệm, họ đã khắc phục khó khăn hy sinh cho cộng đồng./.

HỌC SINH LỚP 3 CÙNG MẸ KHÂU TAI GIẢ TẶNG BÁC SĨ

 


Thấy y bác sĩ ở Bắc Giang đeo khẩu trang suốt ngày khiến tai và mặt hằn lên vết đỏ, Hoàng Phi Yến đã làm những chiếc tai giả có tác giảm đau.

Gần 12h trưa, bên chiếc bàn bày chun, cúc, kéo và hộp kim chỉ may vá ở nhà, Hoàng Phi Yến, lớp 3A6, trường Phổ thông Liên cấp Alfred Nobel, Hà Nội, vẫn miệt mài xâu kim, đơm cúc. Em đang cố gắng hoàn thành càng nhiều càng tốt tai giả để gửi tặng các y bác sĩ ở Bắc Giang. Chiếc tai giả này sẽ được nối vào dây khẩu trang, giúp nhân viên y tế không bị đau vì dây thít vào hai bên tai.

Trước đó, Yến được mẹ cho xem những hình ảnh nhân viên y tế ở tâm dịch Bắc Giang mặc đồ bảo hộ, làm việc dưới nắng nóng gay gắt, em đã rất thương. "Con thích tự tay làm những tai giả này, mong các y bác sĩ không phải làm việc dưới điều kiện nóng bức như vậy", Yến nói.