Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

Không thể xuyên tạc, bóp méo thắng lợi vĩ đại của dân tộc Việt Nam

Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975. Trong thế kỷ XX, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, dân tộc ta đã viết nên những trang sử hào hùng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước. Trong những trang lịch sử rực rỡ đó có thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đúng như Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV đã viết: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc” [1]. Lịch sử không thể thay đổi. Người ta chỉ có thể thay đổi cách nhìn nhận về lịch sử tùy theo quan điểm và lợi ích chính trị của mình mà thôi. Vì những lý do khác nhau, trong thời gian qua, không ít kẻ đã cố tình xuyên tạc, bóp méo lịch sử dân tộc ta, trong đó có ngày Chiến thắng 30-4-1975. Có kẻ nói rằng, cuộc kháng chiến chống Mỹ là “nồi da, nấu thịt”, là ‘Cuộc chiến tranh của Hà Nội”, “Ngày 30-4-1975 không phải là ngày giải phóng miền Nam vì quân đội Mỹ đã rút”… Thậm chí gần đây có kẻ còn nói: “Người Mỹ không thua vì tổng số thương vong, người Mỹ bị thiệt hại ít hơn hẳn đối phương”; hay: “Cuộc chiến tranh này với mục tiêu ngăn chặn làn sóng Cộng sản ở Đông Nam Á nên không thể nói là chính phủ Mỹ thất bại”(!). Lịch sử dân tộc ta từng ghi nhận nhiều chiến công hiển hách, đã từng đánh bại nhiều đội quân xâm lược hùng mạnh bậc nhất thế giới, nhưng chưa bao giờ dân tộc ta lại phải đương đầu với một lực lượng xâm lược ở một trình độ phát triển cao hơn mình về nhiều phương diện đến thế. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đương nhiên không phải là một thắng lợi dễ dàng mà đây còn là cuộc đối đầu về ý chí, bản lĩnh và trí tuệ của hai bộ máy lãnh đạo chiến tranh. Để đi đến thắng lợi 30-4-1975, quân dân ta đã đánh bại 3 chiến lược chiến tranh của Mỹ và với 5 đời tổng thống Mỹ. Vì vậy, thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta đã được bè bạn quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Trong điện chúc mừng thắng lợi của nhân dân ta, ngày 30-4-1975, các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Trung Quốc viết: “Thắng lợi của nhân dân Việt Nam một lần nữa chứng minh hùng hồn rằng, nhân dân một nước, dù là nhân dân một nước nhỏ, miễn là dám vùng dậy đấu tranh, dám cầm vũ khí, lấy chiến tranh chính nghĩa chống lại chiến tranh phi nghĩa, thì nhất định có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào… nhằm bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc, giải phóng dân tộc” [2]. Trong điện mừng của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Cu-ba, có đoạn viết: “Trong hơn 20 năm qua, toàn thể nhân dân Việt Nam ở miền Bắc cũng như ở miền Nam, với chủ nghĩa anh hùng tuyệt vời đã chiến đấu chống lại những hình thức xâm lược đế quốc tàn bạo nhất… Thắng lợi của nhân dân Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới cho nhân dân Việt Nam” [3]. Còn từ phía bên kia, trong cuốn hồi ký với tiêu đề “Nhìn lại quá khứ- Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, Robert S.McNamara, từng là Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không chỉ thừa nhận thất bại của Mỹ, coi đó là “một thảm kịch”, mà còn thừa nhận đây là cuộc chiến tranh do Hoa Kỳ gây ra do những sai lầm về chính trị của nhiều đời tổng thống! Trong những sai lầm đó có những sai lầm về: “Đánh giá sai những chủ đích địa chính trị của các đối thủ, đã phóng đại những mối nguy hại của họ đối với nước Mỹ”; rồi: “Chúng ta đánh giá thấp sức mạnh tinh thần dân tộc của họ”; và: “Cách nhìn nhận của chúng ta về bạn và thù phản ánh sự dốt nát sâu sắc của chúng ta về lịch sử, văn hóa và chính trị của nhân dân Việt Nam”.[4] Ý nghĩa và tầm vóc vĩ đại của Chiến thắng 30-4-1975 đã được lịch sử kiểm chứng sáng tỏ, rõ ràng như vậy. Nhưng thời gian gần đây, vẫn có những kẻ hoặc là thiển cận về chính trị, hoặc vì “đầu óc nô lệ” đã không thể, không muốn thừa nhận thắng lợi vĩ đại đó của dân tộc ta. Thế nên, họ cố tình lập luận một cách phi lý rằng: Những cuộc xuống đường của nhân dân Mỹ và sự nhân nhượng của Chính phủ Mỹ đâu phải là “thắng lợi của Việt Nam”(!), hay như: Thất bại của chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (sau khi Mỹ rút dần quân đội ở chiến trường) đâu phải là trách nhiệm của quân đội Hoa Kỳ(!). Trên thực tế, những kẻ xuyên tạc cuộc chiến tranh chống xâm lược của dân tộc ta không biết một điều căn bản rằng, cách nhìn nhận một cuộc chiến tranh trước hết phải bắt đầu xem xét tính chất của cuộc chiến tranh đó, tức bên nào là chính nghĩa, bên nào là phi nghĩa. Trong cuộc chiến tranh này không chỉ là cuộc chiến tranh giữa hai quốc gia mà còn là cuộc đấu tranh giữa hai phía: Chính nghĩa và phi nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Chính trị, cuộc kháng chiến của dân tộc ta đã làm rõ ý nghĩa, giá trị của chính nghĩa trong việc huy động sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại như thế nào. Bởi vậy, không phải là không có lý khi nhiều nhà nghiên cứu chiến tranh Việt Nam đã thừa nhận rằng, lực lượng hiếu chiến, chống cộng Mỹ “đã thua Việt Nam ngay trên đất nước mình”. Còn ông Nguyễn Cao Kỳ, cựu Thủ tướng chính quyền Sài Gòn sau 30 năm chiến tranh kết thúc, năm 2004, lần đầu tiên trở về quê hương đã nhìn nhận về chính quyền cũ như sau: “Quân đội miền Nam không có ai đáng giá cả, kể từ ông Nguyễn Văn Thiệu, Tổng thống kiêm Tổng tư lệnh trở xuống. Trong số những vị cùng vai với tôi, cứ mười ông thì đến mười một ông tham sống sợ chết!”. [5] Tôn trọng tính chân thực của lịch sử ngày nay không chỉ vì bảo vệ các giá trị của dân tộc mà còn để bảo đảm sự công bằng đối với các thế hệ đi trước. Đồng thời còn giúp cho các thế hệ sau nắm bắt được những bài học quý báu của thế hệ cha anh. Tôn trọng lịch sử không chỉ là vấn đề chính trị mà còn là vấn đề đạo đức. Vì vậy chúng ta không cho phép bất cứ ai xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược vì đó là sự xúc phạm đến danh dự, phẩm giá chính nghĩa của cả một dân tộc anh hùng, xúc phạm đến anh linh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh anh dũng vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
 CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU THỨC LỪA TRÊN MẠNG VỀ TÌNH HÌNH COVID-19
 
Thời gian gần đây, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều đối tượng đã rao bán các thiết bị test (kiểm tra) nhanh Covid-19 trên in-tơ-nét và các trang mạng xã hội gây hoang mang dư luận. Hiện, nhiều loại kit thử Covid-19 với mức giá dao động từ 700.000 - 800.000 đồng/sản phẩm đang được rao bán khá nhiều trên mạng xã hội. Kèm theo lời quảng cáo, các đối tượng làm vi-đi-ô hướng dẫn sử dụng sản phẩm. Cụ thể, một bộ kit gồm có thiết bị kiểm tra, tăm bông vô trùng, lọ đựng dung dịch, giấy hướng dẫn. Tại nhiều nơi, để "tạo niềm tin", các đối tượng yêu cầu người mua phải chuyển tiền trước đặt cọc và chờ mấy ngày, vì đây là hàng nhập hoặc xách tay từ nước ngoài về cho nên chưa có ngay. Công an còn cảnh báo người dân về tình trạng có đối tượng giả nhân viên y tế đến nhà hỏi thăm sức khỏe người dân rồi lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản.
Cả nước đang khẩn trương quyết liệt dập dịch thì hiện tượng trưng bán các sản phẩm, thiết bị, công cụ xét nghiệm, vắc-xin giả chưa được kiểm chứng của ngành y tế sẽ khiến người dân thêm lo lắng. Các sản phẩm này xuất hiện và lưu thông trên thị trường sẽ khiến hiệu quả của công tác khống chế và đẩy lùi dịch bệnh mà các địa phương thực hiện thời gian qua giảm sút, gây hoang mang dư luận. Trước tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến khó lường và phức tạp, bên cạnh việc tự phòng tránh cho mình bằng thông điệp 5K của Bộ Y tế, người dân cần hết sức cảnh giác trước những thông tin quảng cáo để tránh "tiền mất tật mang". Các chuyên gia y tế nhận định: Kit xét nghiệm nhanh Covid-19 rao bán tràn lan có thể là giả, khi thử có thể cho kết quả không đúng hoặc không chính xác. Hệ lụy là không phát hiện ra bệnh mà có nguy cơ phát tán, lây lan dịch bệnh ra cộng đồng.
Theo quy định, các kit xét nghiệm Covid-19 lưu hành tại Việt Nam phải được hội đồng chuyên môn của Bộ Y tế thẩm định và cấp phép. Bộ Y tế từ lâu đã khuyến cáo người dân hết sức cảnh giác với các kit xét nghiệm rao bán trên mạng, bởi sản phẩm chưa được các cơ quan chức năng Việt Nam kiểm định cũng như được cấp phép lưu hành. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên kiểm tra, xử lý các cá nhân bán kit test nhanh Covid-19 trên mạng. Trước bất cứ thông tin nào liên quan đến Covid-19 chưa được kiểm chứng, xác nhận thông tin từ các cơ quan chức năng, người dân cần hết sức bình tĩnh, tìm hiểu bằng cách xác minh qua các nguồn chính thống để tránh bị lợi dụng, gây hoang mang dư luận.
 Là người cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta hãy tỉnh táo trước các thông tin trên mạng về Covid-19 để cùng hệ thống chính trị quyết tâm khống chế và sớm đẩy lùi dịch bệnh./. Thành Nguyễn
 
 

 

Văn hóa trung tâm và ngoại vi với một số vấn đề xã hội

Trên thực tế, sự khác nhau trong văn hóa giữa các cộng đồng đưa tới kết quả là làm nên tính đa dạng, phong phú của văn hóa ở mỗi quốc gia, và rộng hơn là văn hóa nhân loại. Tuy nhiên, sự khác nhau trong văn hóa cũng có thể là cái cớ dẫn đến nguy cơ xung đột, làm nhiễu loạn tiến trình phát triển xã hội - con người. Vì thế, sự kết hợp hài hòa giữa việc bảo vệ và làm đậm đà bản sắc dân tộc với việc mở rộng "biên giới" văn hóa sẽ không chỉ giúp ngăn ngừa xung đột xã hội, mà còn có ý nghĩa phát triển quyền con người. Trong cuốn sách Chiến tranh và chống chiến tranh: sự sống còn của loài người ở buổi bình minh của thế kỷ XXI, Alvin Toffler và Heidi Toffler viết: "Trong 2.340 tuần kể từ năm 1945 đến 1990, thế giới chỉ có ba tuần là thật sự không có chiến tranh". Ở đây, khi nhắc đến "chiến tranh", hai tác giả muốn nói đến và bao hàm cả các cuộc "xung đột" dưới những hình thức khác nhau, trong đó có xung đột văn hóa. Từ đó thiết nghĩ, nhận xét của hai ông vẫn có ý nghĩa đối với chúng ta. Thông thường, xung đột xã hội xuất hiện chủ yếu khi có mâu thuẫn giữa các quyền lợi. Tuy nhiên, trong sự tồn tại của mỗi quốc gia, xung đột lại thường xảy ra giữa các tộc người, cụ thể là giữa các tộc người thiểu số với các tộc người đa số, giữa khu vực văn hóa ngoại vi với khu vực văn hóa trung tâm. Việt Nam là một quốc gia đa tộc người, có tính đa dạng văn hóa, cho nên xung đột xã hội và xung đột văn hóa đôi khi khó tránh khỏi. Ngoài ra, với tư cách là một nước đang chuyển sang cơ chế thị trường, vấn đề quyền lợi rất dễ làm nảy sinh mâu thuẫn giữa trung tâm và ngoại vi. Vì thế, vấn đề xung đột đòi hỏi chúng ta phải nhận thức rõ ràng để có giải pháp ngăn chặn. Xét đến cùng, giải quyết vấn đề xung đột là giải quyết mâu thuẫn về quyền lợi, khắc phục tình trạng thiếu dân chủ. Và mặc dù xung đột văn hóa có thể được quy giản thành xung đột kinh tế, nhưng giải quyết xung đột kinh tế lại cần dựa vào giải pháp văn hóa và chính trị. Vì thế, những giải pháp quan trọng nhất cho vấn đề xung đột chính là các giải pháp văn hóa và chính trị. Quyền tự do văn hóa là một trong những khía cạnh quan trọng của sự phát triển con người. Việc tôn trọng quyền con người được coi là điều kiện quan trọng nhất để bảo đảm cho một nền hòa bình bền vững. Và quyền văn hóa chốt lại có lẽ chỉ là quyền tự do văn hóa. Tự do văn hóa được thể hiện ở các quyền: không bị can thiệp trong việc hưởng thụ văn hóa, tự do sáng tạo và đóng góp cho văn hóa, tự do lựa chọn nền văn hóa nào và đời sống văn hóa nào để tham gia, tự do hợp tác quốc tế và tự do tham gia vào việc hoạch định, thực hiện các chính sách về văn hóa. Rõ ràng, tự do văn hóa là một trong những giá trị tối cao của con người, trở thành một trong những phương diện nghĩa của khái niệm văn hóa. Theo quan điểm của Báo cáo phát triển con người 2004 của UNDP, tự do văn hóa có nghĩa là mọi người dân phải được quyền tự do trở thành chính mình, được lựa chọn bản sắc văn hóa cho mình, được người khác tôn trọng, được sống theo đúng chân giá trị của mình. Mọi người đều có quyền được thực hiện các lựa chọn văn hóa mà không bị trừng phạt, không bị loại trừ khỏi những sự lựa chọn khác, được quyền lựa chọn nhiều bản sắc chứ không phải chỉ một bản sắc (hdr.undp.org - 2004). Công nhận tự do văn hóa của người dân tức là phải mở rộng các khả năng lựa chọn của họ. Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, người ta còn nói đến một tư cách "công dân thế giới". Tư cách là công dân của một quốc gia với tư cách là công dân của thế giới đang có sự xích lại gần nhau. Hiện tại người ta đang chú ý đến đa dạng văn hóa với tư cách là kết quả của quyền được khác biệt của mọi người dân, của tự do văn hóa, song việc xích lại gần nhau của các "công dân thế giới" như vừa nói trên đây lại làm nảy sinh quan niệm về một cái quyền mới cũng không kém phần quan trọng so với quyền được khác biệt, thậm chí có khi còn quan trọng hơn: đó là quyền được giống nhau. Dù con người có nhiều sự lựa chọn hơn, nhưng họ lại có xu hướng lựa chọn những sự vật giống nhau. Ðây là xu hướng hướng tâm, tham gia vào trung tâm để phát triển, tiến tới thu hẹp sự khác biệt giữa trung tâm và ngoại vi để giảm thiểu nguy cơ xung đột. Ðể tránh nguy cơ xung đột, ngoài việc xác định quan niệm đúng đắn về tự do văn hóa ở cấp quốc gia và quốc tế, các quốc gia cần đề ra và thực thi những chính sách văn hóa cụ thể. Giới khoa học trên thế giới nhận xét rằng, trước đây, các nhà hoạch định chính sách văn hóa thường khá quan tâm đến việc khuyến khích nghệ thuật, bảo vệ di sản văn hóa, hơn là đến việc khuyến khích tự do văn hóa. Ngay cả ngày nay, các cuộc tranh luận chủ chốt vẫn cơ bản tập trung vào việc bảo vệ di sản văn hóa. Người ta đã coi trọng vấn đề di sản mà gần như lãng quên vấn đề tự do văn hóa. Ðể bảo đảm tự do văn hóa, các quốc gia cần ban hành chính sách đa văn hóa trong chiến lược phát triển con người, xã hội. Ðó cũng là chính sách quan tâm đến ngoại vi. Làm như thế, có thể sẽ tránh được nguy cơ xung đột trong nước và xung đột quốc tế. Với tinh thần này, hiện nay các nước trên thế giới đang phải đương đầu với một thách thức to lớn là họ phải soạn thảo các chính sách đặc thù của đất nước để cho phép mở rộng những sự lựa chọn chứ không phải là thu hẹp chúng, bằng cách bảo vệ và phát triển bản sắc dân tộc, trong khi vẫn mở rộng cửa biên giới. Các chính sách đa văn hóa có mục tiêu là bảo vệ các bản sắc của người dân và đa dạng văn hóa, khuyến khích tự do văn hóa và hội nhập quốc tế, nhằm mục đích cuối cùng là phát triển con người với đầy đủ phẩm chất của nó. Ngoài ra, chính sách đa văn hóa không thể có hiệu quả nếu không được kết hợp với các chính sách kinh tế và xã hội, nhằm bảo đảm cho mọi người dân, kể cả những người nhập cư, có được cơ hội tham gia vào các hoạt động kinh tế, chính trị và xã hội, có được quyền dân chủ, được đối xử công bằng và bình đẳng. Trong số những đề xuất của UNDP về các chính sách đa văn hóa, cần đặc biệt chú ý đến hai loại chính sách: - Chính sách về tôn giáo và về việc thực hành tôn giáo; - Chính sách về việc sử dụng nhiều ngôn ngữ (hay còn gọi là chính sách đa ngôn ngữ). Hiện nay trên thế giới, nhiều cộng đồng thiểu số về tôn giáo đang phải chịu nhiều hình thức loại trừ khác nhau. Vì tôn giáo có tầm quan trọng sâu sắc đối với các bản sắc của người dân, cho nên không có gì ngạc nhiên là các cộng đồng thiểu số tôn giáo thường huy động lực lượng để chống lại những loại trừ đó. Nếu không được kiểm soát một cách đúng đắn, thì các chiến dịch huy động này có thể biến thành bạo lực. Cho nên, vấn đề sống còn đối với các quốc gia là cần học cách kiểm soát được các hoạt động tôn giáo. Ở Việt Nam, tuân thủ nguyên tắc tự do tôn giáo, Hiến pháp cho phép mọi người dân có cả quyền tự do tín ngưỡng lẫn quyền tự do không tín ngưỡng, các tôn giáo đều được phép tự do hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Từ thực tế của vấn đề, có thể khẳng định ở Việt Nam chúng ta đã thật sự có tự do tôn giáo. Ðối với các chính sách về việc sử dụng nhiều ngôn ngữ, cái mà các nước đa ngôn ngữ cần là công thức ba ngôn ngữ (như UNDP đề xuất), cho phép công khai công nhận việc sử dụng ba loại ngôn ngữ: 1. Một ngôn ngữ quốc tế: Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa như hiện nay, tất cả các nước cần phải thành thạo một ngôn ngữ có vị trí quốc tế để tham gia vào nền kinh tế và các mạng toàn cầu; 2. Một ngôn ngữ chung cho một khu vực; 3. Tiếng mẹ đẻ (UNDP, đd). Ở nước ta, công thức này đang được cụ thể hóa thành ba loại ngôn ngữ như sau: 1. Tiếng Anh (hay Pháp, Nga, Trung Quốc); 2. Tiếng Việt - là tiếng phổ thông cho cả nước; 3. Tiếng mẹ đẻ của các dân tộc thiểu số. Rất nhiều dân tộc thiểu số từ chỗ chưa có chữ viết nay đã có chữ viết riêng. Ðài phát thanh và truyền hình ở nước ta cũng đã có các chương trình phát bằng một số tiếng dân tộc thiểu số chủ chốt phục vụ các dân tộc thiểu số. Có thể nói, chúng ta đang hành động đúng với phương hướng đa văn hóa của UNDP. Ðây là một phương hướng nhằm thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa trung tâm và ngoại vi nhằm tránh nguy cơ xung đột xã hội. Tuy nhiên trong một số trường hợp, giải pháp văn hóa không có khả năng giải quyết vấn đề xung đột. Vì thế cần có những giải pháp quyết liệt và căn cơ hơn, nhất là giải pháp chính trị. Rất nhiều khi, xung đột xảy ra như là hậu quả của tham nhũng, lạm dụng quyền lực, trong các trường hợp nghiêm trọng nhất, tham nhũng và lạm dụng quyền lực thường xuất hiện trong lĩnh vực quy hoạch đất đai, quy hoạch đô thị. Trong quá trình phát triển, đất nước cần tái cơ cấu đô thị và nông thôn, và thế là trong quá trình quy hoạch đô thị và nông thôn, một số quan chức đã lạm dụng quyền lực để mưu cầu lợi ích cá nhân, dẫn đến xung đột xã hội, đôi khi dẫn đến bạo lực. Ðể tránh xung đột, bộ máy chính trị và pháp luật cần trong sạch, liêm chính. Luật pháp cần khoa học, hợp lý, dân chủ, cần được tôn trọng, áp dụng nghiêm. Người dân cần có quyền được phản biện và giám sát bộ máy hành pháp của Nhà nước. Ðây chính là mục tiêu chính của nền dân chủ mà Việt Nam cần theo đuổi. Nói tóm lại, pháp quyền là mục tiêu tối cao, là cơ sở chủ yếu của nền dân chủ của nước ta. Ðây chính là điểm mấu chốt của việc giải quyết vấn đề xung đột xã hội. Như vậy, nhận thức được bản chất của vấn đề xung đột là rất quan trọng, từ đó có thể rút ra các giải pháp thích hợp và hiệu quả, trong đó giải pháp văn hóa là một trong những giải pháp góp phần chủ yếu và có ý nghĩa lâu dài để ngăn ngừa xung đột./.

 

CHIÊU THỨC CHỐNG PHÁ MỚI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG, VĂN HÓA

Thời gian qua, bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa của dân tộc nhưng không mang lại kết quả, các thế lực thù địch đang có sự điều chỉnh thủ đoạn chống phá hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt lõi nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ XHCN. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo quan điểm của chúng.

Như vậy, mục tiêu tiến công trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch không hề thay đổi. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đó, chúng đã và đang sử dụng những chiêu thức mới, tiếp cận theo hướng quan hệ “mềm dẻo”, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Trước hết, cần nhận rõ chiêu thức mới của các thế lực thù địch là: Chủ động thâm nhập, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua con đường quan hệ hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kinh tế, đối ngoại, giáo dục và đào tạo. Đây là những lĩnh vực được Đảng, Nhà nước ta quan tâm, mở rộng trong quá trình hội nhập quốc tế.

Trên lĩnh vực kinh tế, chúng âm mưu thông qua hoạt động hợp tác, đầu tư để làm cho nền kinh tế phát triển chệch hướng XHCN, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam; từ đó, tạo ra nền tảng vật chất, xã hội thuận lợi, hình thành nền “chính trị dân chủ” và “xã hội dân sự” kiểu phương Tây. Đây chính là môi trường, điều kiện thuận lợi cho các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện, công khai chống Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội; làm mất phương hướng, niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN, gây bất ổn về tư tưởng, xuất hiện tình thế mới về chính trị.

Cùng với âm mưu, thủ đoạn thâm nhập vào lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch đẩy mạnh “tiến công” trên lĩnh vực đối ngoại. Chúng chủ trương, một mặt, thông qua hoạt động ngoại giao chính thức, “ngoại giao thân thiện”, tăng cường giao lưu, trao đổi, đối thoại với Việt Nam trên nhiều lĩnh vực nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong. Mặt khác, chúng đa dạng các kênh quan hệ để tìm kiếm cơ hội, tiếp cận sâu hơn, dùng vật chất, tiền bạc mua chuộc, làm suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên.

Bên cạnh đó, vấn đề hợp tác, giao lưu về giáo dục và đào tạo, nhất là việc đi học tập, đào tạo tại các nước tư bản của thế hệ trẻ được chúng hết sức quan tâm, bởi đây là “con đường” ngắn nhất, thuận lợi nhất để xâm nhập, tác động, chuyển hóa tư tưởng ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc học tập ở nước ngoài, chúng truyền bá các quan điểm, giá trị dân chủ tư sản, làm cho thế hệ trẻ có tư tưởng sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, chỉ coi trọng giá trị vật chất, bàng quan về chính trị,... tạo mầm mống thúc đẩy dân chủ, nhân quyền tư sản, tiến tới xóa bỏ nền dân chủ và chế độ XHCN ở nước ta.

Những năm qua, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước ta.

Trên đây là những con đường mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách, bằng nhiều biện pháp tiến hành thường xuyên hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để giữ vững môi trường hòa bình phát triển đất nước, không để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá./. Thành Nguyễn

 

 

 

 

 

 

 


Cảnh giác và tỉnh táo trước thủ đoạn dựng chuyện!

Về bản chất, dựng chuyện là cách biến vụ việc nhỏ thành sự kiện lớn, phức tạp, hoặc công bố tư liệu, bằng chứng giả gây hoang mang trong dư luận, gây bất ổn chính trị, từ đó tạo cớ để can thiệp công việc nội bộ của quốc gia khác. "Nếu không có chuyện thì chúng ta dựng chuyện" (If it not happen then make it happen), đó là câu nói mà mỗi khi cần tác động tiêu cực, thậm chí làm thay đổi chế độ xã hội ở một quốc gia, mà một số thế lực nước ngoài, đặc biệt là cơ quan tình báo, thường hiện thực hóa thông qua rất nhiều thủ đoạn. Về bản chất, dựng chuyện là cách biến vụ việc nhỏ thành sự kiện lớn, phức tạp, hoặc công bố tư liệu, bằng chứng giả gây hoang mang trong dư luận, gây bất ổn chính trị, từ đó tạo cớ để can thiệp công việc nội bộ của quốc gia khác. So với thủ đoạn của chiến tranh tâm lý trước đây, ngày nay thủ đoạn dựng chuyện vẫn không có gì khác, nhưng lại phát triển lên một bước mới tinh vi, nhờ sự hỗ trợ của phương tiện thông tin đại chúng và internet có tốc độ lan truyền cao hơn nhiều. Như Bộ Quốc phòng một nước lớn đã xác định chiến tranh tâm lý là "dùng tuyên truyền, các hoạt động tâm lý có kế hoạch với mục đích chính là gây ảnh hưởng đến ý kiến, cảm xúc, thái độ, hành vi của các nhóm thù địch nước ngoài, coi đó là một cách để hỗ trợ cho việc đạt được các mục tiêu quốc gia". Mấy chục năm qua, nhân loại được chứng kiến nhiều sự kiện liên quan tới thủ đoạn dựng chuyện, như: dựng chuyện ở Vịnh Bắc Bộ vào tháng 8-1965 để Chính phủ Mỹ có cớ leo thang chiến tranh, ném bom miền Bắc Việt Nam; hoặc ở Iraq, năm 2003, bằng thủ đoạn dựng chuyện vũ khí hóa học, để Mỹ và đồng minh phối hợp tấn công quốc gia này. Năm 2011 tại Ai Cập, dựng chuyện đã được nâng lên tới mức "nghệ thuật". Khi khủng hoảng nổ ra, các tổ chức truyền thông xã hội đã cung cấp thông tin cập nhật đến từng phút. Ðài Al-Jazeera làm một chương trình truyền hình trực tiếp bằng tiếng Anh, kèm theo có các mốc thời gian, hình ảnh gây lo ngại ở Ai Cập. Kênh CitizenTube của YouTube đăng tải rất nhiều hình ảnh người Ai Cập nổi dậy kèm theo các câu chữ bình luận như đổ thêm dầu vào lửa. Facebook cũng có trang dành riêng cho cuộc nổi dậy ở Ai Cập. Và hàng nghìn "tín đồ" Facebook đã lên mạng kêu gọi biểu tình chống chính phủ để phản đối tham nhũng, chi phí sinh hoạt đắt đỏ, bất công xã hội và nạn thất nghiệp. Twitter cũng không bỏ lỡ cơ hội này, cập nhật thông tin sát sao thời gian thực để truyền tin cho những người "đứng sau internet bị chặn". Những câu chuyện như vậy được thổi phồng để kích động dân chúng và gây mất ổn định xã hội. Hiện nay, dường như thủ đoạn dựng chuyện đang được áp dụng vào trường hợp Syria. Người ta lan truyền tin tức rằng, để giải quyết hàng chục vụ việc, quân đội chính phủ Syria đã sử dụng vũ khí hóa học, đồng thời tuyên bố phe đối lập không sử dụng vũ khí này. Tuy nhiên, có lẽ vì chiêu thức đó đã quá nhàm, dư luận đã bị lừa dối nhiều lần nên thông tin do các đài phương Tây đưa ra đã không mấy thuyết phục, thậm chí còn bị nhiều quốc gia phản bác. Gần đây, màn dựng chuyện lan sang Thổ Nhĩ Kỳ, gây ra rất nhiều phiền phức cho quốc gia này. Thủ tướng Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan hết sức tức giận với sự lan truyền thông tin sai trái và gọi Twitter là "mối đe dọa tồi tệ nhất đối với xã hội" vì có hàng triệu tin nhắn trên mạng này kêu gọi biểu tình chống chính phủ. Ông công khai nói trước truyền thông rằng, các thế lực nước ngoài, các nhà đầu cơ tài chính và khủng bố âm mưu lật đổ chính phủ của ông bằng cách tạo ra sự hỗn loạn trên đường phố. Ông hét to trong bài phát biểu trước những người ủng hộ AKP - đảng cầm quyền ở Thổ Nhĩ Kỳ: "CNN International, các người sẵn sàng cho việc này chưa?". Ông chỉ thẳng ra BBC, CNN và Reuters: "Các người bịa đặt tin tức hết ngày này đến ngày khác. Các người miêu tả Thổ Nhĩ Kỳ khác với thế giới. Các người chỉ còn lại với sự dối trá của các người. Ðất nước này không phải như các người đã xuyên tạc"! Nếu các cơ quan tình báo của Anh tỏ ra giỏi giang trong việc "phát hiện vũ khí hóa học ở Iraq" thì một số công dân nước này cũng rất giỏi thủ đoạn "tam sao thất bản" dẫn đến các cuộc bạo loạn ở quốc đảo này vào năm 2011. Ban đầu chỉ là thông tin về một vụ nổ súng trong cuộc biểu tình hòa bình, sau đó là tin một cô gái bị cảnh sát đánh. Thế rồi, không rõ thực hư thế nào, tin đồn lan rộng qua mạng xã hội và điện thoại di động. Ðến khi thấy thông tin trên mạng Twitter về tình trạng cướp bóc ở London thì hàng loạt cửa hàng ở các thành phố khác cũng đã đóng cửa. Tốc độ truyền tin nhanh đến mức bà Aleks Krotoski - một nhà tâm lý học xã hội, đã phải than rằng, tin đồn thất thiệt quá phổ biến, di chuyển quá nhanh khiến đội ngũ biên tập viên không hoạt động hiệu quả. "Người gác cổng" các trang web không có đủ thời gian để kiểm duyệt và biên tập chính xác. Một số chính phủ phương Tây vốn đánh giá cao tác dụng của truyền thông xã hội và internet như là phương tiện để "cải cách chính trị", "mở rộng dân chủ", nhưng khi sự việc xảy ra trên chính đất nước họ, thì họ lại bó tay và đổ lỗi cho mạng xã hội là "công cụ của bạo loạn". Tuy nhiên thủ đoạn dựng chuyện như "con dao hai lưỡi", thậm chí còn gây hiệu ứng ngược với chính người tạo ra nó. Bản thân vụ Edward Snowden đã là một sự kiện không cần thêm chất kích thích để tạo ra hoặc thổi phồng. Các trang mạng chỉ việc thực hiện lệnh copy và paste để sau ba mươi giây truyền thông tin rò rỉ từ tài liệu mật đi khắp thế giới. Không gì ngăn được "cơn sóng thần" này, từ Trung Quốc, đến EU, Liên hợp quốc đều bị theo dõi và phẫn nộ. Như vậy là internet đang làm tốt nhiệm vụ của nó và dường như đã kết liễu chương trình do thám điện thoại, internet (PRISM) của Chính phủ Mỹ. Ðiều thú vị là những cái loa ca ngợi nền tự do, dân chủ ở Mỹ của các phần tử chống cộng, thù địch hầu như đều im bặt sau khi vụ Snowden xảy ra. Họ chẳng còn gì để tâng bốc, khi mà chính họ cũng có thể đang là đối tượng bị theo dõi. Với Việt Nam, bằng thủ đoạn dựng chuyện, các thế lực thù địch với Việt Nam và một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí cũng ra sức biến không thành có, thổi phồng vụ việc, dựng lên những câu chuyện bịa đặt nhằm gây hoang mang trong dư luận. Hình ảnh đất nước Việt Nam được miêu tả qua những trang web hay blog của các đối tượng chống hoặc bất mãn với chế độ chẳng khác gì đang trong cơn nước sôi lửa bỏng, xã hội rối ren, người dân chả thiết làm ăn chỉ lo chống chế độ, đời sống nhân dân cơ cực trăm bề...! Như trang sbtn.net từng giật tít "Hà Nội, Sài Gòn sôi sục lời kêu gọi biểu tình" nhưng nội dung chỉ đưa tin "42 người ký tên vào một lá thơ đề nghị tổ chức cuộc biểu tình tuần hành phản đối", đúng là đầu voi đuôi chuột! Không ai dám chắc con số 42 chữ ký đó là thật hay giả. Nếu con số đó là thật thì cũng không có gì đáng gọi là "sôi sục". Còn trang thegioinguoiviet.net thì toàn copy các bài viết về các vụ án hình sự trên báo chí trong nước rồi kết luận "xã hội Việt Nam sắp loạn"! Kiểu dựng chuyện như thế chỉ càng khiến cho cộng đồng quốc tế chê cười sự thiếu hiểu biết mà thôi. Một tổ chức và cá nhân lên mạng dựng chuyện, ngoài việc bịa ra các sự kiện, họ còn triệt để khai thác các vấn đề mà họ thấy có lợi, có thể dựa vào đó để vu cáo Nhà nước Việt Nam. Như vụ Cù Huy Hà Vũ "tuyệt thực trong tù" đã được một số trang mạng chộp lấy rồi thổi phồng quá cỡ, đến mức tất cả đều bẽ bàng khi sự thật được phanh phui. Giờ đây, càng thấy khôi hài khi đọc lại những dòng của blogger Nguyễn Ngọc Già trên RFA: "Cuộc tuyệt thực của Tiến sĩ luật Cù Huy Hà Vũ cho đến nay là 21 ngày, tức trọn 3 tuần lễ. Quan điểm cá nhân của tôi qua việc tuyệt thực này: tôi cảm thấy rất xúc động khi ngày hôm qua tôi biết tin ông bị phỏng thân thể do bưng một thau nước nóng. Ðiều thứ hai gây cho tôi một sự ngạc nhiên và xúc động hơn là ngày hôm nay tôi biết trên mạng có 46 người đồng hành tuyệt thực cùng ông cho công cuộc đấu tranh trong dân chủ - nhân quyền Việt Nam". Không biết 46 người đó là ai, họ làm thế để chứng tỏ điều gì, và ai là người có thể chứng minh vụ "tuyệt thực trên mạng" kỳ quặc này? Rõ ràng, các đối tượng thù địch đã bí đề tài, họ bám lấy bất cứ thứ gì có thể bám được, rồi thêm thắt, thổi phồng. Mục đích của họ là làm biến dạng các thông tin chưa được kiểm chứng để dựng chuyện. Ðến hôm nay, hàng trăm website, blog đã tự động dỡ bài về chuyện Cù Huy Hà Vũ tuyệt thực ba tuần "gày trơ xương" tuy đầu mục trên google thì vẫn còn lưu! Thật trớ trêu, trong khi tờ DeMorgen của Bỉ ca ngợi Việt Nam là "điểm du lịch an toàn nhất thế giới"; dựa trên các chỉ số an toàn và an ninh, tờ Diplomat của Anh xếp Việt Nam là một trong 10 điểm đến an toàn nhất ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương; hay gần đây theo bảng xếp hạng Chỉ số hòa bình toàn cầu (GPI) 2013 do Viện kinh tế và hòa bình công bố, Việt Nam đứng thứ 41 trong 162 nước được khảo sát và đứng thứ tư trong các nước thành viên ASEAN,... thì trên YouTube và một số trang web lại nhan nhản chuyện bịa đặt nói xấu Ðảng, Nhà nước Việt Nam, nói xấu lãnh đạo, bôi đen xã hội. Ðánh giá của dư luận quốc tế, của người nước ngoài đang sinh sống hoặc đã đến Việt Nam được tận mắt chứng kiến sự phát triển, trực tiếp tiếp xúc với sự ổn định chính trị và các thành tựu kinh tế - văn hóa chính là thước đo khách quan, chính xác nhất, chỉ có các đầu óc không cần tới lẽ phải mới có tâm địa bác bỏ. Giờ đây, sau khi nhiều "sự kiện, tài liệu" được dàn dựng y như thật trên internet bị phanh phui, những người nhẹ dạ, cả tin đã nhận ra sự tốt - xấu, đúng - sai,... Họ không tin vào một số website, blog cá nhân lấy dựng chuyện làm cách sinh tồn, mà còn tự giác tham gia bóc trần thủ đoạn dựng chuyện. Họ đặt niềm tin vào báo chí chính thống, bởi chỉ ở đó mới giúp họ biết sự thật. Tuy nhiên, trong bối cảnh thủ đoạn dựng chuyện vẫn được một số thế lực, cá nhân sử dụng làm công cụ chống phá, chúng ta cần tỉnh táo, có bản lĩnh để bảo vệ lẽ phải, không để kẻ xấu tác động gây tổn hại đến sự phát triển, tới hòa bình, ổn định của đất nước./.

Sinh viên quốc tế đầu tiên giành học bổng của ĐH Bách khoa Hà Nội

Từng sốc vì chỉ hiểu 40% bài giảng, năm đầu đại học bị xếp loại học lực trung bình, Vun Liem, quốc tịch Campuchia, chưa từng nghĩ có thể giành học bổng. Được nghỉ học nhưng không thể về Campuchia thăm gia đình do ảnh hưởng của Covid-19, Vun Liem (24 tuổi, tỉnh Banteaymeanchey) không đi khỏi ký túc xá. Ông nội mất cách đây hơn một tháng, mẹ đang nằm viện khiến Vun Liem lo lắng. Nỗi buồn chỉ vơi bớt khi nam sinh trở thành sinh viên quốc tế đầu tiên từ trước đến nay giành học bổng khuyến khích học tập của trường Bách khoa Hà Nội. "Em chưa từng nghĩ có thể đạt được học bổng này", Vun Liem nói. Là con út trong gia đình có 5 anh chị em ở tỉnh biên giới giáp Thái Lan, cách thủ đô Phnom Penh khoảng 400 km, Vun Liem may mắn được gia đình cho học cao, sau khi bốn anh chị đi trước đều chỉ học hết cấp 2, cấp 3. Luôn đạt danh hiệu học sinh giỏi, thậm chí có thành tích học tập xuất sắc từ lớp 10 đến 12, Vun Liem khiến bố mẹ hài lòng. Năm 2015, nam sinh thi đại học và trúng tuyển vào Viện Khoa học và Công nghệ Campuchia - trường kỹ thuật tốt nhất ở Campuchia. Lên thủ đô Phnom Penh học, cơ sở vật chất, môi trường học tập đều tốt hơn ở quê khiến em thêm động lực. Cũng ở đây, Vun Liem biết về các loại học bổng du học và nuôi ước mơ ra nước ngoài học để được hưởng môi trường tốt hơn. Năm đó, Bộ Giáo dục, Thanh niên và Thể thao Campuchia thông báo tuyển chọn sinh viên du học Nhật Bản và Việt Nam. Vun Liem đăng ký cả hai. Trượt học bổng du học Nhật, Vun Liem lại giành được học bổng toàn phần, bao gồm cả chi phí ăn ở của Chính phủ Việt Nam để học đại học tại Việt Nam. Đang học ngành Cơ khí ở trường hàng đầu của Campuchia với mức học bổng 50% do xin được từ nhà tài trợ bên ngoài trường, Vun Liem quyết bỏ ngang, sang Việt Nam học tập. "Đây là mong muốn của em, đặc biệt sau khi đã phải vượt qua kỳ thi với sự tham gia của 600 bạn khác để giành suất học bổng này", nam sinh nói. Vun Liem được cho một danh sách trường có thể theo học và có hai tuần để chọn trường. Được một người anh đang học tại Việt Nam tư vấn, Vun Liem quyết định đăng ký học ngành Kỹ thuật cơ điện tử của Đại học Bách khoa Hà Nội vì "đây là trường kỹ thuật tốt nhất Việt Nam". Sang Việt Nam từ tháng 9/2016, Vun Liem có một năm học tiếng Việt ở trường Hữu nghị 80 ở Sơn Tây (Hà Nội). Đó là giai đoạn đầy khó khăn với 9X Campuchia. "Tiếng Campuchia không có dấu còn tiếng Việt có tới 6 dấu. Tiếng Campuchia nói dễ viết khó còn tiếng Việt ngược lại", Vun Liem liên tục nhấn mạnh. Chàng trai phải mất tới 2 tháng mới phân biệt được dấu. Sau khoảng thời gian đó, em có thể đi chợ mua đồ, biết mặc cả và giao tiếp đơn giản rồi dần dần đọc viết thành thạo. Kết thúc một năm, em được hiệu trường trường Hữu nghị 80 trao danh hiệu sinh viên giỏi tiếng Việt. Trở về trường Bách khoa Hà Nội học tập với sự tự tin rất cao về khả năng nói và viết tiếng Việt, Vun Liem vấp phải cú sốc đầu tiên. Buổi học đầu tiên ở trường, nghe thầy giảng bài, Vun Liem chỉ hiểu được khoảng 40%. Danh hiệu sinh viên giỏi tiếng Việt mà không thể hiểu được một nửa những gì thầy nói khiến nam sinh thất vọng. Dần dần em hiểu ra, sinh viên nước ngoài hay nói theo cách viết, nhưng người bản xứ không nói như cách họ viết mà khi nói thường không đúng ngữ pháp thông thường, thiếu chủ ngữ hay một phần của câu chuẩn. Hơn thế, khi học tiếng Việt, Vun Liem tập trung ngữ pháp và chính tả chứ chưa được học nhiều từ chuyên ngành. Cũng vì điều này, cùng với việc phải học nhiều môn gắn liền với Việt Nam như Pháp luật đại cương, Vun Liem chỉ đạt 2.14/4.0 trong năm đầu. Đây cũng là lần đầu tiên trong đời em bị xếp loại học lực trung bình. Dưới sự hỗ trợ của bạn bè và thầy cô, Vun Liem dần tiến bộ. Em tìm được phương pháp học tập phù hợp, biết phân bổ thời gian tùy vào độ khó của từng môn, thậm chí biết lên chiến thuật không đăng ký môn khó học vào ngày đầu tuần bởi nếu khởi đầu một tuần bằng môn khó thì sẽ áp lực và chán học cả tuần. Nhờ đó, năm hai và năm ba, Vun Liem lên được loại khá. Đến kỳ II năm bốn, em đạt 3.84/4.0, cùng điểm rèn luyện 84/100, Vun Liem giành được học bổng khuyến khích học tập mức B (loại giỏi) của trường, điều mà ngay cả nhiều sinh viên giỏi, thậm chí thủ khoa đầu ra của trường cũng chưa đạt được. PGS Đinh Văn Hải, Trưởng phòng Công tác sinh viên, Đại học Bách khoa Hà Nội, cho rằng việc Vun Liem đạt 84/100 điểm rèn luyện là rất đặc biệt vì điểm này đánh giá dựa trên nhiều tiêu chí về sự tham gia của sinh viên trong các hoạt động xã hội, trách nhiệm cộng đồng, sự tuân thủ pháp luật. "Các tiêu chí này không có sự phân biệt giữa sinh viên quốc tế hay Việt Nam. Điều này cho thấy Vun Liem hòa nhập rất sâu rộng vào môi trường học tập, xã hội ở trường Bách khoa nói riêng và ở Việt Nam nói chung", ông Hải nói và cho biết Vun Liem hiện là trưởng đoàn sinh viên Campuchia tại trường, thường xuyên gia sư, hướng dẫn ôn tập cho các bạn Campuchia, đồng thời là sinh viên tình nguyện chương trình STEM. Sắp bước vào năm cuối cùng ở trường Bách khoa, Vun Liem đánh giá việc học ở Việt Nam và Campuchia có nhiều điểm khác, đặc biệt cùng một ngành học, môn học nhưng khối lượng học tập ở Việt Nam lớn hơn rất nhiều. Em cũng ấn tượng với sự nhiệt tình của giảng viên. Là sinh viên quốc tế, em luôn được thầy cô hỗ trợ. Có cô giáo thường xuyên tâm sự mỗi giờ ra chơi, hỏi thăm xem có hiểu bài không, thậm chí cho em chia sẻ kinh nghiệm học tập với các bạn Việt Nam khi đạt điểm cao khiến em tự tin và có động lực học tập hơn. Mục tiêu tiếp theo của Vun Liem là tốt nghiệp sớm một kỳ, vào khoảng tháng 2/2022 để được về nước sớm và đón cái Tết đầu tiên sau hơn 5 năm không được ăn Tết ở quê. "Lần cuối em về thăm nhà là tháng 2/2019. Các dịp Tết (gần giữa tháng 4) đều không thể về do trùng với lịch thi giữa kỳ. Nhà em đang có nhiều chuyện nên em cũng muốn sớm hoàn thành việc học để về hỗ trợ gia đình và sớm ổn định công việc", Vun Liem nói.

 Bộ đội phải kính trọng dân, giúp đỡ dân. Dân phải thương yêu bộ đội, ủng hộ bộ đội. Quân và dân phải luôn luôn đoàn kết nhất trí

Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong thư “Gửi toàn thể cán bộ và chiến sĩ Đường số 4 cùng dân quân du kích và đồng bào trong miền Đường số 4”, đăng trên Báo Cứu quốc, số 1411, ra ngày 02 tháng 12 năm 1949.

Là người trực tiếp tổ chức thành lập, giáo dục và rèn luyện quân đội ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm chăm lo xây dựng quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Trong đó, giữ gìn mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được Người quan tâm đặc biệt, thường xuyên nhắc nhở, rèn luyện cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Lời căn dặn của Bác ngắn gọn nhưng sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần về trách nhiệm, nghĩa vụ và tình cảm của quân đội đối với nhân dân. Thấm nhuần lời căn dặn của Hồ Chủ tịch, hơn 60 năm qua, những thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã kế tiếp chăm lo xây dựng, giữ gìn mối quan hệ tốt đẹp, đoàn kết quân dân; gắn bó máu thịt với nhân dân, hết lòng thương yêu dân, quý trọng dân, giúp đỡ dân, bảo vệ dân; ngược lại, nhân dân cũng hết lòng yêu thương, đùm bọc, chăm sóc, giúp đỡ quân đội. Trong thời chiến cũng như trong thời bình, trong khó khăn cũng như hoạn nạn, mối quan hệ quân dân “cá - nước”, đoàn kết gắn bó keo sơn đó đã phát huy được sức mạnh hiệu quả của nó, làm cho tình đoàn kết giữa nhân dân và quân đội ngày càng thêm bền vững.

Hiện nay, trước sự tác động của tình hình thế giới, khu vực, trong nước, trước những tác động của điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là những tác động từ mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, của quá trình hội nhập quốc tế, cũng như sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch bằng chiến lược “diễn biến hòa bình” với những thủ đoạn, biện pháp hết sức thâm độc nhằm chia rẽ quân đội với nhân dân, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và phẩm chất cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân, tiến tới làm suy yếu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội. Lời căn dặn của Bác vẫn giữ nguyên giá trị, góp phần quan trọng định hướng nhận thức, tư tưởng và hành động của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết với nhân dân.

Thực hiện tốt lời dạy của Bác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải luôn có ý thức sâu sắc về nghĩa vụ, trách nhiệm và tình cảm đối với nhân dân; tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua rèn luyện phẩm chất cao đẹp “Bộ đội cụ Hồ” trong thời kỳ mới. Ra sức thực hiện lời dạy của Bác về “Dân vận khéo”, tích cực tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt đường lối, chủ trương của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước. Quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ, chính quyền, nhân dân địa phương nơi đóng quân, tăng cường các hoạt động giao lưu, kết nghĩa giữa đơn vị quân đội với địa phương; tích cực giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, xây dựng đời sống văn hóa mới; đặc biệt, luôn chủ động, dũng cảm, kịp thời giúp dân phòng, chống thiên tai, bão lũ, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn...

Việt Nam sẽ làm hết sức mình để đóng góp cho công cuộc bảo vệ hòa bình

 

Tại Phiên toàn thể thứ hai của Hội nghị An ninh quốc tế Moscow lần thứ 9 diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, chiều 23-6, Thượng tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng đoàn Việt Nam đã có phát biểu quan trọng. Báo Quân đội nhân dân Điện tử trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu này.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

Ngày 24/6/1960

“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải lao động tốt. Muốn lao động tốt thì phải có sức khỏe. Muốn có sức khỏe thì phải giữ gìn vệ sinh”.
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết: “Phải đẩy mạnh hơn nữa công việc vệ sinh”, với bút danh T.L; đăng trên Báo Nhân dân, số 2288, ngày 24 tháng 6 năm 1960. Đây là thời điểm công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc đã đem lại những thành công bước đầu, góp phần quan trọng cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sinh thời, Bác Hồ luôn đề cao giá trị của lao động đối với quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và vai trò quan trọng của sức khỏe, của việc giữ gìn vệ sinh đối với sức khỏe của xã hội, cộng đồng và mỗi con người; đồng thời, còn là lời động viên, khích lệ, nhắc nhở mọi người phải yêu quý lao động, tích cực rèn luyện sức khỏe, giữ gìn vệ sinh, phòng chống bệnh tật. Thực hiện lời dạy của Bác, nhân dân ta từ miền xuôi cho đến miền núi, thành thị cho đến nông thôn trong khắp cả nước đã tích cực thi đua lao động sản xuất, rèn luyện thể lực, chăm sóc sức khỏe, bảo vệ môi trường, phòng chống bệnh tật, đóng góp công sức, tài trí cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc.
Ngày nay, đất nước ta đang đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vấn đề môi trường, lao động và sức khỏe con người đang đặt ra những thách thức mới; do đó, việc học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy có ý nghĩa thực tiễn to lớn, đồng thời là cơ sở để Đảng ta nghiên cứu, vận dụng trong xác định chủ trương, đường lối xây dựng lực lượng sản xuất xã hội chủi nghĩa; quan tâm bảo đảm môi trường và điều kiện để phát triển con người Việt nam toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hoạt động quân sự là lao động đặc biệt, cần phải có sức khỏe tốt để đáp ứng yêu cầu cao trong thực hiện nhiệm vụ. Quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, mỗi quân nhân trong quân đội phải ra sức học tập, huấn luyện, rèn luyện, không ngừng nâng cao thể lực, trình độ, năng lực, đi đôi với cải thiện đời sống vật chất, tinh thần; tích cực tham gia giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường; xây dựng doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp; tích cực xây dựng cơ quan, đơn vị có môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú... hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.


LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

“Người cán bộ cách mạng phải có đạo đức cách mạng. Phải giữ vững đạo đức cách mạng mới là người cán bộ cách mạng chân chính. Đạo đức cách mạng có thể nói tóm tắt là: Nhận rõ phải, trái. Giữ vững lập trường. Tận trung với nước. Tận hiếu với dân. Mọi việc thành hay là bại, chủ chốt là do cán bộ có thấm nhuần đạo đức cách mạng, hay là không”.

Đây là tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng của người cán bộ cách mạng. Người chỉ rõ những thắng lợi chúng ta đã giành được tuy rất to, nhưng mới chỉ là thắng lợi bước đầu trên đường đi lâu dài, gian khổ. Cho nên, chúng ta quyết không nên vì thắng mà kiêu, phải nhận thấy còn nhiều khó khăn để khắc phục, chứ không phải thấy khó khăn mà sợ hãi, nản chí. Người cán bộ cách mạng phải mạnh dạn, phải có quyết tâm, phải có chí khí tiến lên mãi, tiến lên không ngừng. Trong hoàn cảnh hòa bình, số đông cán bộ ta vẫn giữ vững truyền thống cách mạng tốt đẹp, cần cù chất phác, bền bỉ đấu tranh, làm tròn nhiệm vụ. Song, có một số cán bộ lầm tưởng hòa bình là thái bình, thờ ơ với đạo đức cách mạng, còn bởi tư tưởng cá nhân chủ nghĩa trước đây chi phối mà không nhận rõ phải, trái, không giữ vững lập trường, phạm những sai lầm khuyết điểm.

Thanh xuân và chứng chỉ

Trần Anh Tú Trần Anh TúQuan tâm“Quan tâm” để nhận thông báo khi tác giả có bài viết mới×Thứ năm, 24/6/2021, 05:05 (GMT+7) Đã lưu Các loại chứng chỉ vừa là đích vươn tới của mỗi công chức, nhưng có thể là hàng rào được đặt ra nhằm “phân luồng giao thông”. "Tao cũng chẳng biết tại sao có thể sống sót qua ngần đấy kỳ thi, 14 chứng chỉ bắt buộc còn hai tấm bằng sau đại học là tự chọn", anh tôi lắc lắc đầu, "nhưng chú biết đấy, ở nhà nước, chỉ có bằng cử nhân thì khó lắm, khó lắm". Tôi hiểu hàm ý đằng sau cụm từ "khó lắm". Sự nghiệp sưu tầm văn bằng chứng chỉ gian nan thế nào, chỉ ai là công chức, viên chức mới thấm. Anh tôi, vụ trưởng cơ quan làng nhàng thuộc bộ, sau khi lẩm nhẩm còn cho biết, sau 23 năm "làm nhà nước", anh đã có 16 văn bằng chứng chỉ đều thuộc loại tối cần thiết - tức là tiêu chuẩn cứng khi bổ nhiệm. Kèm theo đó là 18 lần thi mà lần nào cũng căng thẳng như đánh trận. Trong vô vàn chứng chỉ cần có đối với mỗi công chức, viên chức, tựu trung chia thành hai loại: loại do cơ quan cử và loại tự đi học. Nếu được cơ quan cử, thời gian và học phí do cơ quan trang trải, còn tự học thì tự túc. Tôi biết nhiều công chức, viên chức sẵn sàng tự trả học phí để đi học, nhưng ở cơ quan nhà nước "hiếu học" chưa chắc được nhìn nhận là ưu điểm. Ngay cả việc nâng cao trình độ cũng phải lần lượt theo danh sách mà chỉ có thủ trưởng mới biết thứ tự. Còn nhớ ở cơ quan cũ của tôi, trong cuộc họp, khi ông phó hỏi về việc cử đi học chính trị, ông thủ trưởng kiêm bí thư chi bộ chỉ ban ra một câu xanh rờn: "Cơ quan hết kinh phí". "Hết kinh phí" thực ra là lối nói tránh của "chưa đến lượt". Và cái gọi là "lượt" đó thể hiện quy hoạch trong đầu ông thủ trưởng: Ai được đi học sẽ chắc suất vươn lên nhanh hơn những người mà chứng chỉ bắt buộc còn thiếu. Đó là một thực tế đang ảnh hưởng tới hàng triệu công chức, viên chức tại Việt Nam. Bộ máy quan liêu trọng chứng (chỉ) chứ không trọng chuyên (môn) không chỉ làm những cán bộ mới choáng váng mà kể cả người đã "vượt vũ môn" cũng thấy nản. Gần 30 năm qua, hệ thống chứng chỉ bắt buộc có xu hướng càng ngày càng cồng kềnh với việc ra đời hàng loạt thông tư liên tịch giữa Bộ Nội vụ và bộ quản lý chuyên ngành về tiêu chuẩn công chức, viên chức. Trong đó, "tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng" thường đứng sau phần "nhiệm vụ". Tức là, tư duy của các nhà quản lý vẫn coi những tấm giấy A4 lạnh lùng quan trọng hơn năng lực chuyên môn nghiệp vụ. Khi tiêu chuẩn về trình độ hay nói cách khác là số lượng chứng chỉ quan trọng hơn "năng lực", kết quả tất yếu, các cán bộ nhà nước mải mê "sưu tầm" chứng chỉ. Các trường, lớp chứng chỉ mọc ra khắp nơi và trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ "bận rộn" suốt năm trong guồng quay giảng dạy cũng như thai nghén về những chứng chỉ mới. Tôi hy vọng những kêu than về rừng chứng được lắng nghe. Bộ Nội vụ vài ngày trước vừa bãi bỏ tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ về chứng chỉ ngoại ngữ và tin học từ tháng 8/2021. Quyết định được cho là đã tiết kiệm hàng nghìn tỷ đồng. Nhưng chứng chỉ ngoại ngữ, tin học chỉ là hai trong số vài chục chứng chỉ đang tồn tại. Còn nhiều loại chứng chỉ "đặc thù nghề nghiệp" khó bị loại bỏ vì những lý do rất hợp lý. "Đảm bảo chất lượng công chức, viên chức" chẳng hạn. Năm ngoái, tôi phải tham gia một lớp đào tạo chứng chỉ bắt buộc trong 16 buổi, học phí bốn triệu đồng. Một số môn khá gần với chuyên môn của tôi, chỉ có điều hàm lượng kiến thức không bằng 1/5 nội dung tôi vừa học xong ở bậc thạc sĩ. Tôi hỏi cán bộ tổ chức, có thể lấy bằng thạc sĩ thay cho chứng chỉ chuyên môn kia không, câu trả lời là cái lắc đầu. Chưa có tiền lệ quy đổi như vậy. Tôi bắt buộc phải học hết các môn và thi hết khóa, tất nhiên bớt chuyên tâm cho công việc chính, để có chứng chỉ đáp ứng yêu cầu của cơ quan chủ quản. Độc giả sẽ hỏi "tại sao chưa cắt hết chứng chỉ vô bổ, lãng phí?". Đã vô số công chức, viên chức đặt vấn đề như vậy. Nhưng nếu bỏ chứng chỉ thì hàng loạt trường bồi dưỡng cán bộ sẽ làm gì, bao nhiêu giảng viên sẽ đi đâu? Câu hỏi lớn hơn, căn cứ vào đâu để bộ máy "định lượng" công chức, viên chức? Và nếu, nếu thôi nhé, cải cách có xảy ra cũng còn đếm bằng năm. Quy trình ban hành một văn bản quy phạm pháp luật kiểu này không thể hoàn thành trong vài tuần. Khi mà bộ máy chưa tìm ra phương cách đánh giá chính xác năng lực, đóng góp của mỗi công chức, viên chức, có lẽ việc dựng lên hàng rào chứng chỉ vẫn là một giải pháp có lý. Sẽ dễ hơn nhiều nếu người ta tổng kết với nhau: đạt được ngần này chứng chỉ tức là cán bộ có ngần kia kiến thức, năng lực chuyên môn. "Giải pháp chứng chỉ" tồn tại quá lâu cùng với thang, bảng lương khiến người ta quên mất, thế giới đã có nhiều bộ đánh giá kết quả công việc rất hữu dụng như KPI, BSC hay OKR. Với chiếc thang "sống lâu lên lão làng" kèm theo rừng chứng chỉ, theo cách nói của vụ trưởng ở trên, thiên tài vào biên chế cũng chỉ có lương ở bậc 2,34 nếu có bằng đại học. Còn không có bằng đại học thì đương nhiên không thể hưởng lương chuyên viên kể cả là thiên tài. Ở khu vực quốc doanh, tài năng là thứ gì đó rất khó xác định. Khó hơn nhiều việc đếm chứng chỉ. Và khi tài năng còn là một định mức mơ hồ, sẽ còn những người dành cả thanh xuân để sưu tầm chứng chỉ.

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ

CÔNG TÁC PHÒNG, CHỐNG ĐẠI DỊCH COVID - 19

 

Hiện nay, trước bối cảnh đại dịch Covid - 19 đã tác động nghiêm trọng đến an ninh phi truyền thống của nước nhà, Đảng, Nhà nước ta đã xác định chủ trương tiêm vaccine miễn phí cho toàn dân từ rất sớm và coi đó là một giải pháp chiến lược để đẩy lùi dịch bệnh. Đó là một quyết định đúng đắn, mang tính lịch sử và đầy trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện kinh tế đất nước còn khó khăn, nguồn lực hạn chế. Với những biến chủng mới của virus Corona, đợt bùng phát dịch lần này trên thế giới và ở Việt Nam, dịch Covid - 19 diễn ra nhanh hơn, trên phạm vi rộng hơn, với mức độ nguy hiểm hơn và khó kiểm soát hơn. Vì vậy, Chính phủ xác định đẩy nhanh tiến độ tiêm chủng cho toàn dân.

Để đạt được miễn dịch cộng đồng, Việt Nam cần một khoản tài chính lớn cho việc mua vacxine và tiêm chủng, tuy nhiên, ngân sách Nhà nước cũng rất cần được sử dụng tổng lực, linh hoạt cho tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy sản xuất phát triển chứ không chỉ tập trung cho chống dịch. Hơn nữa, với hậu quả nặng nề của dịch Covid - 19, nền kinh tế Việt Nam đang gặp rất nhiều khó khăn. Vì vậy, Chính phủ đã kêu gọi các nguồn tài trợ, hỗ trợ, đóng tự nguyện bằng tiền, vaccine của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước và các nguồn vốn hợp pháp khác cho hoạt động mua, nhập khẩu vaccine, nghiên cứu, sản xuất vaccine trong nước và sử dụng vaccine phòng Covid - 19 cho người dân, thể hiện sự đồng thuận của toàn dân, sự chung sức, đồng lòng, truyền thống, đạo lý thương yêu, đùm bọc, chở che cho nhau có từ ngàn năm văn hiến của dân tộc ta.

Nhưng đối lập với sự đồng thuận của toàn dân, trên các diễn đàn mạng xã hội lại xuất hiện những tiếng nói lạc lõng, trơ trẽn như trang facebook “Việt Tân”,  “BBC Tiếng Việt”, … cho rằng: “Chính phủ kêu gọi người dân ủng hộ quỹ mua vaccine là để lừa gạt dư luận, dùng tiền vào mục đích bất chính”, “Đảng, Chính phủ hằng năm đều thu tiền thuế của dân nên vacccine phải được mua từ tiền thuế, Chính phủ không được kêu gọi người dân góp tiền”. Từ đó chúng kích động, kêu gọi người dân phản đối, không góp vào quỹ này.  Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, đi ngược lại với truyền thống, đạo lý của dân tộc ta.

Họ đã lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật về dịch Covid - 19 ở trong nước, xuyên tạc tình hình dịch bệnh, tung tin về số lượng người bị nhiễm, tử vong do dịch bệnh tại các địa phương, hướng dẫn cách tự điều trị, chẩn đoán tại nhà. Họ cũng cho rằng, tại các địa phương vẫn còn che giấu thông tin, thiếu minh bạch trong công bố số ca nhiễm, tử vong. Họ còn quy kết Việt Nam chậm trễ trong việc tiêm phòng. Họ phủ nhận tính minh bạch, trung thực của hệ thống truyền thông chính thống của ta, đồng thời “chứng minh” tính khách quan, tin cậy của mạng lưới “Truyền thông lề trái”.

Việt Nam là Quốc gia có đường biên giới tiếp giáp với nước bạn, trải dài khắp đất nước nên khi dịch Covid - 19 mới xuất hiện ở nước ta (tháng 01/2020), không ít người đã dự báo Việt Nam sẽ là quốc gia chịu hậu quả nặng nề. Tuy nhiên, thực tế đã khẳng định, gần 18 tháng kể từ khi dịch Covid - 19 xuất hiện, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta đã kịp thời, quyết liệt chỉ đạo công tác phòng, chống dịch. Cả hệ thống chính trị chủ động, tích cực vào cuộc chiến. Nhân dân đồng lòng, tin tưởng, ủng hộ và thực hiện theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, cấp ủy, chính quyền các cấp, khuyến cáo của ngành y tế.

Mặc dù cuộc chiến chống “giặc Corona” phía trước còn nhiều cam go, khốc liệt nhưng với quyết sách đúng đắn của Đảng, Chính phủ trong việc huy động sức dân và sự chung tay, góp sức của nhân dân đối với Đảng, Chính phủ trong những thời khắc cam go, thử thách. Ý Đảng - lòng dân đã hòa làm một và trở thành động lực quan trọng giúp dân tộc ta đã và sẽ vượt qua những khó khăn, thử thách. Chính “Ý Đảng - Lòng dân” ấy là minh chứng sắc bén, bẻ gãy các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, là cội nguồn sức mạnh để nhân dân Việt Nam đã từng chiến thắng nhiều kẻ thù xâm lược và sẽ giành chiến thắng trong cuộc chiến chống đại dịch Covid - 19, như lời hiệu triệu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Mỗi người dân là một chiến sĩ trên mặt trận phòng, chống dịch bệnh”, “Toàn thể dân tộc Việt Nam ta hãy cùng chung sức, đồng lòng vượt qua mọi khó khăn, thách thức để chiến thắng đại dịch Covid - 19”.

Thiết nghĩ, trước tình hình dịch bệnh COVID-19 trên thế giới và trong nước vẫn đang diễn biến phức tạp, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần hết sức tỉnh táo, luôn có cách nhìn khách quan, tìm kiếm, chia sẻ những thông tin chính thống, hãy là một chiến sĩ trong chống thông tin xấu độc, góp phần tích cực cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi “mục tiêu kép”, vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa giữ vững và phát huy thành quả trong cuộc chiến chống đại dịch Covid - 19.

 

Phân bổ nửa triệu liều vaccine Sinopharm tới 9 tỉnh

Bộ Y tế phân bổ 500.000 liều vaccine Sinopharm cho 9 tỉnh phía Bắc, chuyển Viện Kiểm định Quốc gia vaccine và Sinh phẩm y tế 600 liều để kiểm định và lưu mẫu. Quyết định phân bổ đợt 6 vaccine Covid-19 được đưa ra ngày 23/6. Đợt này gồm 500.000 liều vaccine Sinopharm do Trung Quốc tặng Việt Nam. 9 tỉnh nhận nhận vaccine gồm Lào Cai, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Nam Định, Thái Bình, Điện Biên, Cao Bằng, Lai Châu và Hà Giang. Trong đó Quảng Ninh nhận nhiều nhất với 230.000 liều, kế đó là Lạng Sơn 121.000 liều. Ít nhất là Thái Bình 1.400 liều. Bộ Y tế yêu cầu triển khai tiêm chủng ngay cho người dân sống ở các xã giáp biên giới Trung Quốc, người có nhu cầu trao đổi, hoạt động thương mại, dịch vụ với Trung Quốc, công dân Trung Quốc sống và làm việc trên địa bàn. Trường hợp các đơn vị không sử dụng hết hoặc cần bổ sung vaccine thì phối hợp Dự án Tiêm chủng mở rộng Quốc gia, Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương để điều phối cho các đối tượng ưu tiên khác. Việt Nam phê duyệt có điều kiện vaccine Covid-19 Vero Cell, Inactivated, của Sinopharm từ ngày 3/6. Vaccine Vero Cell được bào chế dưới dạng hỗn dịch tiêm, mỗi liều 0,5 ml chứa với 6.5U kháng nguyên nCoV bất hoạt, được sản xuất tại Viện Sinh phẩm Bắc Kinh thuộc tập đoàn dược Sinopharm. Vero Cell được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp vào danh sách sử dụng khẩn cấp (EUL) và được Chương trình Covax mua để giúp các nước tiếp cận công bằng với vaccine. Vaccine này đã được cung cấp cho ít nhất 70 quốc gia, trong đó có các nước Đông Nam Á như Brunei, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan. Hơn 450 triệu liều vaccine Vero Cell đã được sản xuất, trong đó 100 triệu liều phân phối thông qua hình thức viện trợ chính phủ và bán thương mại cho các doanh nghiệp.

 

CÁCH PHÒNG, CHỐNG DỊCH Ở VIỆT NAM

VÀ SỰ TRƠ TRÁO KÊU GÀO VÔ LỐI CỦA RFA

 

Việt Nam của chúng ta đã và đang trải qua bốn đợt dịch covid-19, đợt dịch lần thứ tư này đang diễn ra hết sức phức tạp với biến thể mới khả năng lây lan nhanh, siêu lây nhiễm, làm số người nhiễm tăng nhanh, phạm vi ở nhiều tỉnh thành trên cả nước. Ngay từ đầu chúng ta đã xác định rõ phương châm chống dịch “chống dịch như chống giặc”, nhằm thực hiện “mục tiêu kép” vừa chống dịch hiệu quả, vừa phát triển kinh tế, chúng ta đã nhanh chóng kiểm soát được dịch bệnh, các hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp tục được đẩy mạnh, kể cả những nơi trong vùng tâm dịch, đã tạo được sự tin tưởng, đồng lòng, chống dịch trong nhân dân. Như vậy, chúng ta không bị động “chạy theo úp sọt covid” như RFA phản ánh mà chúng ta thực hiện chiến lược phòng, chống dịch chủ động “ngăn chặn, phát hiện, cách ly, khoanh vùng, dập dịch và điều trị”. Vậy mục đích của RFA là gì?

Theo đó, RFA với luận điệu hết sức thâm độc với mục đích nhằm chống phá chiến lược phòng, chống dịch covid của ta rằng “Thực tế số ca nhiễm trở bệnh nặng hoặc tử vong rất thấp của Việt cho thấy ở giai đoạn này của Việt Nam, không thể xem xét hiệu quả của việc chống dịch thuần túy theo con số ca nhiễm nữa. Nhiễm nhiều nhưng cũng khỏi nhiều, vậy có đáng lo sợ thái quá để cứ đóng cửa cài then mãi hay không?”. Thực tế, đợt dịch thứ tư đang diễn ra hết sức phức tạp, cả hệ thống chính trị chúng ta đang tập trung, căng mình, quyết tâm đẩy lùi dịch bệnh. Với các biện pháp chủ động, quyết liệt, đồng bộ trong dập dịch, chúng ta đã và đang kiểm soát được tình hình, người dân vừa chống dịch vừa lao động sản xuất, phát triển kinh tế. Việc thực hiện cách ly xã hội theo Chỉ thị 15, Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ được Chính phủ và các địa phương nghiên cứu, cân nhắc áp dụng rất cẩn thận, chặt chẽ vừa bảo đảm chống dịch vừa phát triển kinh tế. Tình hình phát triển kinh tế quý 1/2021 của chúng ta đạt kết quả dương. Cụ thể trên trang Tài chính và Cuộc sống ngày 29/3/2021 có đăng bài “Tinh hình kinh tế - xã hội Việt nam quý 1/2021”, Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 1/2021 ước tính tăng 4.48%. Như vậy, thực tế cuộc chiến chống dịch covid của nước ta không như RFA phản ánh là “cứ đóng cửa cài then mãi” hay nói chúng ta lo sợ thái quá”.

Mục đích của RFA muốn chúng ta chủ quan, lơ là, giảm quyết tâm chống dịch. Từ đó thay đổi phương châm, chiến lược, mục tiêu chống dịch. Nếu như vậy, chúng ta sẽ rơi vào cái bẫy của RFA. Lúc đó, dịch bệnh sẽ mất kiểm soát thì lúc đó công tác chống dịch của chúng ta sẽ khó khăn gấp bội.

Mặc dù vẫn biết rằng chẳng ai tin dăm ba cái luận điệu thâm độc của RFA cũng như các thế lực thù địch. Nhưng chúng ta phải hết sức cảnh giác, không chủ quan, buông lỏng, dễ rãi với việc tiếp cận các nguồn thông tin. Trong lúc, cả hệ thống chính trị của ta đang căng mình chống dịch, với chiến lược phòng, chống dịch Covid cụ thể, rõ ràng, chính xác của Đảng, Nhà nước ta, với phương châm “Chống dịch như chống giặc”, nhằm thực hiện “mục tiêu kép” vừa phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe nhân dân, vừa phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Vẫn còn những kẻ ngoài  cuộc lợi dụng xuyên tạc, chống phá côngtác chống dịch Covid-19 của Nhà nước. Chúng ta quyết tâm, kiên định thực hiện chiến lược phòng chống dịch của Đảng, Nhà nước đã đề ra. Tích cực đóng góp sức lực của mình cho công tác phòng chống dịch Covid-19, đẩy lùi dịch bệnh, đấu tranh mạnh mẽ với những luận điệu của các thế lực thù địch trong và ngoài nước lợi dụng để chống phá.