Thứ Tư, 23 tháng 6, 2021

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU THỨC LỪA TRÊN MẠNG VỀ TÌNH HÌNH COVID-19

Thời gian gần đây, lợi dụng tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp tại nhiều địa phương, nhiều đối tượng đã rao bán các thiết bị test (kiểm tra) nhanh Covid-19 trên in-tơ-nét và các trang mạng xã hội gây hoang mang dư luận. Hiện, nhiều loại kit thử Covid-19 với mức giá dao động từ 700.000 - 800.000 đồng/sản phẩm đang được rao bán khá nhiều trên mạng xã hội. Kèm theo lời quảng cáo, các đối tượng làm vi-đi-ô hướng dẫn sử dụng sản phẩm. Cụ thể, một bộ kit gồm có thiết bị kiểm tra, tăm bông vô trùng, lọ đựng dung dịch, giấy hướng dẫn. Tại nhiều nơi, để "tạo niềm tin", các đối tượng yêu cầu người mua phải chuyển tiền trước đặt cọc và chờ mấy ngày, vì đây là hàng nhập hoặc xách tay từ nước ngoài về cho nên chưa có ngay. Công an còn cảnh báo người dân về tình trạng có đối tượng giả nhân viên y tế đến nhà hỏi thăm sức khỏe người dân rồi lợi dụng sơ hở để trộm cắp tài sản. Cả nước đang khẩn trương quyết liệt dập dịch thì hiện tượng trưng bán các sản phẩm, thiết bị, công cụ xét nghiệm, vắc-xin giả chưa được kiểm chứng của ngành y tế sẽ khiến người dân thêm lo lắng. Các sản phẩm này xuất hiện và lưu thông trên thị trường sẽ khiến hiệu quả của công tác khống chế và đẩy lùi dịch bệnh mà các địa phương thực hiện thời gian qua giảm sút, gây hoang mang dư luận. Trước tình hình dịch Covid-19 đang diễn biến khó lường và phức tạp, bên cạnh việc tự phòng tránh cho mình bằng thông điệp 5K của Bộ Y tế, người dân cần hết sức cảnh giác trước những thông tin quảng cáo để tránh "tiền mất tật mang". Các chuyên gia y tế nhận định: Kit xét nghiệm nhanh Covid-19 rao bán tràn lan có thể là giả, khi thử có thể cho kết quả không đúng hoặc không chính xác. Hệ lụy là không phát hiện ra bệnh mà có nguy cơ phát tán, lây lan dịch bệnh ra cộng đồng. Theo quy định, các kit xét nghiệm Covid-19 lưu hành tại Việt Nam phải được hội đồng chuyên môn của Bộ Y tế thẩm định và cấp phép. Bộ Y tế từ lâu đã khuyến cáo người dân hết sức cảnh giác với các kit xét nghiệm rao bán trên mạng, bởi sản phẩm chưa được các cơ quan chức năng Việt Nam kiểm định cũng như được cấp phép lưu hành. Các cơ quan chức năng cần thường xuyên kiểm tra, xử lý các cá nhân bán kit test nhanh Covid-19 trên mạng. Trước bất cứ thông tin nào liên quan đến Covid-19 chưa được kiểm chứng, xác nhận thông tin từ các cơ quan chức năng, người dân cần hết sức bình tĩnh, tìm hiểu bằng cách xác minh qua các nguồn chính thống để tránh bị lợi dụng, gây hoang mang dư luận. Là người cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân Việt Nam, chúng ta hãy tỉnh táo trước các thông tin trên mạng về Covid-19 để cùng hệ thống chính trị quyết tâm khống chế và sớm đẩy lùi dịch bệnh./.

Dữ liệu gene nCoV ở Vũ Hán bị xóa gây nghi ngờ

Một năm trước, hơn 200 trình tự gene virus ban đầu ở Vũ Hán đột nhiên được yêu cầu xóa khỏi cơ sở dữ liệu khoa học trực tuyến. Jesse Bloom, một nhà virus học tại Trung tâm Nghiên cứu Ung thư Fred Hutchinson ở Seattle, cho biết đã khôi phục được 13 trình gene trong số đó bằng cách lật tung các tập dữ liệu lưu trữ trên Google Cloud. Dữ liệu Bloom công bố hôm 22/6 mang tới nhiều thông tin mới để xác định thời điểm và cách thức virus nCoV truyền từ rơi hoặc động vật khác sang người. Phân tích cũng củng cố những tranh luận rằng virus có thể đã lưu hành ở Vũ Hán trước các đợt bùng phát đầu tiên liên quan tới động vật và chợ hải sản hồi tháng 12/2019. Dù thông tin mới không ảnh hưởng tới giả thuyết virus rò rỉ từ phòng thí nghiệm mà chính quyền Joe Biden đang điều tra, nó làm dấy lên câu hỏi tại sao các trình tự gene ban đầu bị xóa. Bloom xem việc xóa trình tự gene là một hành động đáng ngờ. "Có vẻ các trình tự gene được xóa để che giấu sự tồn tại của chúng", ông viết trong báo cáo mới đăng trên tạp chí khoa học Biorxiv. Trình tự gene của virus nắm giữ những manh mối quan trọng về cách nCoV truyền từ động vật, có thể là dơi, sang người. Và những trình tự gene của các ca nhiễm đầu tiên còn quý giá hơn rất nhiều, bởi chúng có thể giúp các nhà khoa học tiến gần hơn nguồn gốc lây lan ban đầu. Khi Bloom xem xét dữ liệu gene được công bố bởi nhiều nhóm nghiên cứu khác, ông đã thấy một nghiên cứu vào tháng 3/2020 kèm tài liệu về 241 trình tự gene được các nhà khoa học Đại học Vũ Hán thu thập. Thông tin cho biết các nhà khoa học đã đăng tải trình tự gene lên một cơ sở dữ liệu trực tuyến Sequence Read Archive (SRA), do Thư viện Y khoa Quốc gia của chính phủ Mỹ quản lý. Nhưng khi Bloom tìm kiếm dữ liệu gene đó vào đầu tháng này, kết quả ông nhận được từ Sequence Read Archive là "không tìm thấy thư mục nào". Ông cố gắng tìm kiếm các manh mối liên quan và phát hiện người thu thập 241 trình tự gene là nhà khoa học Aisi Fu của Bệnh viện Nhân dân ở Vũ Hán. Tiếp tục lần theo manh mối, Bloom cuối cùng cũng thấy một nghiên cứu khác được đăng tải bởi bác sĩ Fu và các đồng nghiệp vào tháng 3/2020, nói về một phương pháp xét nghiệm nCoV mới. Nhóm nhà khoa học đã đăng nghiên cứu lên tạp chí khoa học Wiley Online Library ba tháng sau đó. Trong nghiên cứu, các nhà khoa học viết đã xem xét 45 mẫu dịch mũi từ "những bệnh nhân ngoại trú nghi ngờ nhiễm nCoV trong giai đoạn đầu dịch". Sau đó họ phân tích trình trự gene của các mẫu sinh phẩm nhưng không công bố chúng. Thay vào đó, họ chỉ công bố một số đột biến của virus. Thông qua một số manh mối, Bloom biết các mẫu virus này thuộc về 241 trình tự gene bị mất. Bloom sau đó phát hiện nhiều trình tự gene trong số này được lưu trữ dưới dạng tệp trên Google Cloud. Mỗi trình tự được chứa trong một tệp trên kho lưu trữ đám mây và tên các tệp đều có chung một định dạng cơ bản. Dựa trên những dữ liệu trên Google Cloud, Bloom đã khôi phục được 13 trong 241 trình tự gene đã bị xóa. Với dữ liệu mới, Bloom đang cố gắng tìm hiểu giai đoạn đầu đại dịch. Ông kết hợp 13 trình tự gene mới khôi phục và những trình tự đã được công bố khác, với hy vọng có thể xây dựng cây phả hệ của nCoV. Các mẫu virus được lấy từ chợ hải sản Hoa Nam, nơi liên quan tới những ca nhiễm đầu tiên được phát hiện vào tháng 12/2019, có những đột biến mà những mẫu virus được thu thập vài tuần sau đó không có. Các trình tự gene mà Bloom khôi phục cũng không có đột biến này. Điều này khiến Bloom tin rằng trước khi lan tới chợ hải sản Hoa Nam, nCoV đã lưu hành một thời gian ở Vũ Hán. Tuy nhiên, ông cũng thừa nhận kết luận này sẽ cần thêm những phân tích sâu hơn về trình tự gene của virus. Michael Worobey, một nhà sinh vật học tiến hóa tại Đại học Arizona, cho biết ông cùng đồng nghiệp đang tiến hành nghiên cứu lớn về gene của nCoV để tìm hiểu nguồn gốc Covid-19. Và giờ, họ sẽ kết hợp với những phát hiện về 13 trình tự gene mới của Bloom. "Những dữ liệu bổ sung sẽ đóng vai trò lớn trong nỗ lực đó", Worobey nói. Hiện chưa rõ lý do tệp thông tin về trình tự gene bị xóa khỏi SRA. Tuy nhiên, các nhà khoa học có thể yêu cầu xóa dữ liệu bằng cách gửi mail cho quản lý của kho dữ liệu trực tuyến. Thư viện Y khoa Quốc gia nói các trình tự gene bị xóa từ hè năm ngoái. "Những trình tự gene nCoV được gửi đăng trên SRA vào tháng 3/2020 và sau đó được người đệ trình yêu cầu gỡ bỏ vào tháng 6/2020", Renate Myles, phát ngôn viên của Viện Y tế Quốc gia. Myles cho biết các nhà quản lý SRA khi đó được thông báo các trình tự gene đang được cập nhật và sẽ được thêm vào cơ sở dữ liệu khác. Tuy nhiên, Bloom đã lục tung các cơ sở dữ liệu mà ông biết nhưng không thấy. "Bạn không thể nói tại sao chúng bị loại bỏ", Bloom thừa nhận. "Bạn chỉ có thể nói hậu quả của việc loại bỏ chúng là mọi người sẽ không nhận thấy chúng tồn tại". Ông thêm rằng chính phủ Trung Quốc cũng từng yêu cầu tiêu hủy một số mẫu virus ban đầu. Tiến sĩ Worobey hy vọng nhận được những câu trả lời. "Tôi hy vọng được nghe thông tin từ những người đã tạo ra và sau đó xóa những trình tự gene quan trọng này, để chúng tôi có thể hiểu hơn về động thái của họ. Nó thật sự kỳ lạ và cần có một lời giải thích", ông nói. 13 trình tự gene được phát hiện khiến Bloom tự hỏi liệu các nhà khoa học có thể phát hiện thêm manh mối khác trên các cơ sở dữ liệu trực tuyến. "Chúng ta cần cố gắng tìm kiếm nhiều trình tự gene ban đầu nhất có thể. Tôi nghĩ nghiên cứu này cho thấy chúng ta có thể tìm kiếm ở mọi nơi", ông nói.

Chủ tịch tỉnh Cà Mau làm Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội

GS Lê Quân, 47 tuổi, Phó bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND Cà Mau, được bổ nhiệm làm Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội. Quyết định bổ nhiệm được Thủ tướng Phạm Minh Chính ký ngày 24/6. Ông Quân tiếp quản công việc từ người tiền nhiệm, PGS.TS Nguyễn Kim Sơn, được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo. Tân Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội sinh tại Hà Nội, quê Quảng Ngãi, là đại biểu Quốc hội khóa 14, 15, tiến sĩ khoa học quản trị tại Đại học tổng hợp Toulon (Pháp) và là chuyên gia về phát triển nguồn nhân lực, khởi nghiệp. Ông được bổ nhiệm chức danh phó giáo sư năm 2009, giáo sư năm 2017. Ông Lê Quân từng trải qua các chức vụ quản lý như: Trưởng Bộ môn Quản trị Nguồn nhân lực (Đại học Thương mại), Thành viên Ban điều hành mạng lưới nhà khoa học nghiên cứu về doanh nhân (Tổ chức Đại học Pháp ngữ), phụ trách các dự án đào tạo quốc tế tại Đại học Thương mại; Giám đốc Trung tâm Đào tạo và Giáo dục quốc tế (Đại học Kinh tế thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội). Năm 2014, ông Quân làm Phó giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội; năm 2017 làm Thứ trưởng Lao động Thương binh và Xã hội. Đến tháng 8/2020, ông được Ban Bí thư điều động, chỉ định giữ chức Phó bí thư Tỉnh ủy Cà Mau nhiệm kỳ 2015-2020, sau đó được bầu làm Chủ tịch tỉnh Cà Mau.

Ông Phạm Nhật Vượng: Xe điện VinFast đủ tính năng như Tesla

Tự tin rằng xe điện Việt có đủ tính năng mà xe Tesla có, ông Phạm Nhật Vượng tính toán, đến năm 2026 sẽ bán hàng trăm nghìn chiếc VinFast sang Mỹ. Thông tin này được Chủ tịch Vingroup Phạm Nhật Vượng khẳng định tại đại hội cổ đông thường niên sáng nay (24/6). Ông nhận được nhiều chia sẻ của cổ đông về tính khả thi của dự án xe điện. Một cổ đông dẫn số liệu cho thấy doanh số bán ra 45.000 xe máy điện là rất ít, theo quan điểm cổ đông. Nhưng ông Vượng thì có quan điểm ngược lại. Thừa nhận "xe điện là thứ không dễ dàng" nhưng ông Vượng nói với các cổ đông rằng "đó là cơ hội để Vingroup cũng như Việt Nam thay đổi được tầm vóc của mình". VinFast bản chất nhắm đến chuyển đổi từ xe xăng sang xe điện. Ông Vượng cho biết, sẽ bán khoảng 15.000 xe và con số này thực tế đã bị "co lại" dưới tác động của cuộc khủng hoảng thiếu chip toàn cầu. Từ nay đến năm 2026, người đứng đầu Vingroup còn cho biết sẽ bán hàng trăm nghìn chiếc xe điện vào thị trường Mỹ. "Chúng tôi tự tin với con số đó vì đây là cuộc cạnh tranh giữa xe điện với xe xăng chứ không phải xe điện với xe điện", ông Vượng lặp lại lần hai ý kiến. Sự tự tin này được ông giải thích bằng quan điểm kinh doanh của VinFast và các lợi thế của xe điện. Thứ nhất là ở việc cho thuê pin. Vingroup sở hữu pin thay vì người mua. Tiền thuê pin và nạp điện của xe sẽ bằng đúng chi phí khách hàng phải trả cho xăng. "Xe điện chạy đến đâu trả tiền đến đó", ông nói. Thứ hai, xe điện có những lợi thế như rẻ hơn: chi phí vận hành, bảo dưỡng chỉ khoảng 30-50% so với xe xăng; thông minh hơn với các tính năng tự lái. Xe điện có nhược điểm quãng đường chạy không quá xa nhưng được khắc phục bằng công nghệ sạc siêu nhanh. Bên cạnh đó, các chi phí từ pin đến bảo dưỡng đều do phía Vingroup chịu trách nhiệm... Với những yếu tố này, tập đoàn cho rằng khi cạnh tranh với xe xăng thì số lượng sẽ đơn giản. Ví dụ tại thị trường Mỹ, xe điện chiếm khoảng 2% tổng số ôtô. Một năm Mỹ bán ra 16-18 triệu xe, nên nếu chỉ cần chiếm được 1% thì Vingroup sẽ bán được 160.000-180.000 xe. Xe điện VinFast, theo ông Vượng, được thiết kế với tiêu chuẩn cao nhất là NCAP 5 sao, đồng thời có đầy đủ các tính năng mà Tesla có. Đến cuối năm 2022, xe VinFast sẽ có tính năng tự lái cấp độ 3. Ngoài nói về VinFast, tại Đại hội cổ đông lần này, ông Phạm Nhật Vượng cũng chia sẻ thêm về kế hoạch với Vinbiocare. Vinbiocare là hướng kinh doanh mới của tập đoàn, nhắm đến sản xuất công nghệ sinh học, các sản phẩm công nghệ. Vinbiocare tạo ra môi trường, hệ sinh thái về công nghệ sinh học chứ không phải riêng vaccine. Tuy nhiên, trong giai đoạn Việt Nam chống Covid-19, ông Phạm Nhật Vượng cho biết sẽ làm dự án vaccine phi lợi nhuận, không nhắm đến kinh doanh. Mọi chi phí sẽ cố gắng thu về nhưng nếu cần thiết sẽ tài trợ, hỗ trợ để dự án thành công. "Thậm chí chúng ta có thể chấp nhận rủi ro ban đầu để có thể ký hợp đồng sớm, làm sớm, thử nghiệm các loại vaccine dù không chắc vaccine có thể thành công sau giai đoạn 3", ông nói. Vì nếu chờ đợi Việt Nam có thể mất lượt mua vaccine chứ chưa tính đến việc chuyển giao công nghệ. Theo đó, tập đoàn sẽ tham gia cùng với các đối tác để thúc đẩy sản phẩm. Khi công nghệ, sản phẩm đạt chuẩn, doanh nghiệp sẽ tiến hành sản xuất, cung ứng ra thị trường. Về bất động sản công nghiệp, Chủ tịch Vingroup cho biết sẽ tập trung mở rộng bất động sản công nghiệp ở nhiều nơi nhưng đang trong giai đoạn làm thủ tục nên chưa thể công bố cụ thể. Trước lo ngại về nhiều dự án khu công nghiệp được phê duyệt, ông Vượng nói, thị trường vẫn thiếu hàng dù hàng trăm dự án được duyệt. "Nguời nào làm được sản phẩm vẫn làm được và ngược lại. Do vậy chúng ta không phải cạnh tranh bằng câu chuyện có bao nhiêu dự án mà là dẫn các dự án đó đến kết quả cuối cùng", ông nhấn mạnh.
Cựu giám đốc CDC Hà Nội được nhiều người xin giảm án Hơn 30 CDC các tỉnh cùng hai nhà khoa học và các tổ chức xin giảm nhẹ hình phạt cho cựu giám đốc CDC Hà Nội Nguyễn Nhật Cảm trong vụ nâng giá máy xét nghiệm Covid-19. Sáng 24/6, TAND Cấp cao tại Hà Nội xét đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của ông Cảm và 5 người khác là Nguyễn Vũ Hà Thanh, Trưởng phòng Tài chính kế toán, Nguyễn Thị Kim Dung, Trưởng phòng Tổ chức hành chính; Nguyễn Ngọc Quỳnh, Trưởng phòng Kế hoạch nghiệp vụ và Đào Thế Vinh, Giám đốc Công ty TNHH vật tư khoa học và thương mại Việt Nam (MST); Nguyễn Trần Duy, Tổng giám đốc Công ty CP định giá và bán đấu giá tài sản Nhân Thành. Trong vụ án này, ông Cảm bị cáo buộc chủ mưu. Phiên phúc thẩm dự kiến diễn ra trong hai ngày do thẩm phán Đặng Đình Lực làm chủ tọa. 11 luật sư đăng ký tham gia bào chữa cho các bị cáo. CDC Hà Nội (Trung tâm kiểm soát bệnh tật Hà Nội) được mời đến toà với tư cách là bị hại. Ngoài đơn xin giảm nhẹ hình phạt của 30 CDC (Trung tâm kiểm soát bệnh tật) các tỉnh, hai nhà khoa học và một số tổ chức liên quan cho nhóm các bị cáo là cựu cán bộ CDC, luật sư của ông Cảm xin nộp thêm đơn xin của 42 phó giáo sư, tiến sĩ và 430 bác sĩ ở một số bệnh viện trên toàn quốc. Trong đơn viết chung đề ngày 16/6 gửi TAND Cấp cao tại Hà Nội, hai giáo sư, tiến sĩ từng là Phó viện trưởng Viện vệ sinh Dịch tễ trung ương và Cục phó Cục Y tế dự phòng "kính mong xem xét khoan hồng, giảm án" cho cựu giám đốc CDC Hà Nội. Hai giáo sư cho rằng đầu năm 2020 khi Covid-19 bùng phát, ông Cảm và cán bộ CDC Hà Nội là những nhân viên y tế tuyến đầu đã "không quản ngại ngày đêm tập trung chỉ đạo, điều hành hệ thống y tế cơ sở và trực tiếp nỗ lực tham gia chống dịch". Những nỗ lực đó đã góp phần khống chế, kiểm soát thành công Covid-19 ở Hà Nội. "Chúng tôi không thể thanh minh hết cho những sai lầm mà Nguyễn Nhật Cảm và một số đồng nghiệp ở CNC Hà Nội đã mắc phải. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng Nguyễn Nhật Cảm... chưa sát sao cụ thể, chưa thấy rõ những phức tạp, lỗ hổng của công việc đấu thầu mua trang thiết bị, vật tư vào thời gian chống đại dịch trong điều kiện chưa có những văn bản hướng dẫn cụ thể", đơn nêu. Hai giáo sư tin ông Cảm nếu được cho cơ hội hoà nhập cộng đồng "sẽ tiếp tục cống hiến cho xã hội theo chuyên môn y học đã được đào tạo". Theo bản án sơ thẩm, 10 bị cáo, trong đó có 6 cựu cán bộ CDC Hà Nội đều bị tuyên phạt về tội Vi phạm quy định đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng theo điều 222 Bộ luật hình sự. Trong đó, ông Cảm bị phạt 10 năm tù, Dung 6 năm, Thanh 6 năm 6 tháng, Quỳnh 5 năm và Vinh 6 năm 6 tháng, Duy 6 năm. Bản án xác định, lợi dụng tình hình Covid-19 diễn ra phức tạp, từ tháng 2, các bị cáo dưới sự chủ mưu của ông Cảm đã vì động cơ vụ lợi mà thỏa thuận gian lận, nâng giá mua bán thiết bị xét nghiệm. Ông Cảm trực tiếp bàn với Tuyền, Nhất, Vinh để ấn định giá các thiết bị trong gói thầu số 15 là hơn 9,5 tỷ đồng, trong đó hệ thống máy Realtime PCR tự động của hãng Qiagen (Đức) giá 7 tỷ đồng, bảo hành 36 tháng. Để hợp thức hóa việc lựa chọn nhà thầu với giá được ấn định từ trước, CDC Hà Nội thuê Công ty Cổ phần định giá và đấu giá tài sản Nhân Thành lập khống chứng thư thẩm định giá và hoàn thiện các thủ tục chỉ định thầu. Ông Cảm chỉ đạo cán bộ dưới quyền là Thanh, Dung và Quỳnh hoàn tất hồ sơ chỉ định thầu, ấn định Công ty MST là đơn vị trúng thầu trái quy định gây hậu quả nghiêm trọng. Ông Cảm còn thông đồng giả mạo hồ sơ, chỉ đạo cấp dưới hoàn thiện các thủ tục trái quy định để thực hiện sai phạm. Sau khi chốt các phương án, nhóm của Vinh thực hiện mua bán lòng vòng với động cơ vụ lợi. Theo đó, giá hai máy do Phương Đông nhập khẩu, cung ứng là 4,1 tỷ đồng; bán cho Công ty Hưng Long (do vợ Vinh làm giám đốc) với giá giữ nguyên là 4,1 tỷ đồng. Vinh nhờ giám đốc công ty khác ký hợp đồng mua lại của Hưng Long giá 5,2 tỷ đồng rồi bán cho MST của Vinh giá 7,8 tỷ đồng. Cuối cùng, MST bán hai máy xét nghiệm và tách chiết cho CDC Hà Nội với giá 8,2 tỷ đồng. Hành vi trên bị cho rằng gây thiệt hại cho nhà nước hơn 5,4 tỷ đồng.

20 ca nhiễm mới liên quan 8 ổ dịch tại TP HCM

Trung tâm Kiểm soát bệnh tật TP HCM sáng 24/6 ghi nhận 26 ca nhiễm mới, trong đó hai ca chưa rõ nguồn lây, 20 ca liên quan 8 ổ dịch hiện hành, 4 ca tiếp xúc với bệnh nhân Covid-19. Theo Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật TP HCM (HCDC), trong 20 ca nhiễm mới có 3 liên quan chợ đầu mối Hóc Môn, một ca liên quan chuỗi Ehome 3, một ca liên quan chuỗi chung cư Phú Thọ quận 11, một ca chuỗi Khu công nghiệp Tân Phú Trung, một ca chuỗi Hnam Mobile, 7 ca chuỗi nhà trọ hẻm 439 Hồ Học Lãm Bình Tân, 2 ca liên quan nhân viên Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới, 4 ca liên quan chuỗi xưởng cơ khí ở Hóc Môn. Trong 4 ca còn lại, một liên quan "bệnh nhân 13733", một ca liên quan "bệnh nhân 11178", 2 ca liên quan "bệnh nhân 10583". Tối 23/6, HCDC thông báo tìm người từng đến 4 khu chợ, gồm: chợ đầu mối Hóc Môn; chợ Bình Điền quận 8; chợ Sơn Kỳ quận Tân Phú; chợ Khu phố 2, phường An Lạc, quận Bình Tân, từ ngày 1/6 bất kể khung giờ nào. Những người này cần liên hệ ngay y tế địa phương để được hướng dẫn các biện pháp phòng chống dịch. TP HCM đang trong đợt bùng phát Covid-19 lớn nhất từ trước đến nay, ghi nhận hơn 2.000 ca. Một tuần nay, số ca nhiễm theo ngày của TP HCM liên tục vượt 100. Trong đó, nhiều ca Covid-19 chưa rõ nguồn lây, phát hiện qua khám sàng lọc bệnh viện. TP HCM đã lấy mẫu 995.170 người, trong đó 15.393 F1, hơn 129.300 F2, hơn 850.400 các F khác và diện mở rộng liên quan các ca Covid-19 cộng đồng, tính đến ngày 23/6. Song song đó, ngành y tế tiếp tục tiêm vaccine đợt ba, đến nay đã tiêm 53.455 người. Thành phố đang tiếp tục đàm phán với các nhà sản xuất, nỗ lực có đủ vaccine tiêm cho 2/3 dân số trong năm nay. HCDC duy trì tổ chức khai báo y tế cho người về từ các địa phương, khu vực có ca nhiễm, bị giãn cách, theo dõi y tế; khai báo tại các cơ sở điều trị, phòng khám, nơi làm việc... Mở rộng xét nghiệm cho người lao động làm việc tại các khu chế xuất, khu công nghiệp, các khu vực nguy cơ cao.

Ông Nguyễn Thành Phong tái đắc cử Chủ tịch TP HCM

Với tỷ lệ tán thành 89,53%, ông Nguyễn Thành Phong tiếp tục làm Chủ tịch UBND TP HCM nhiệm kỳ 2021-2026. Ông Nguyễn Thành Phong được bầu giữ chức Chủ tịch UBND TP HCM tại kỳ họp thứ nhất HĐND thành phố khoá X sáng 24/6, sau khi được Chủ tịch HĐND thành phố Nguyễn Thị Lệ giới thiệu. Ông Phong 59 tuổi, quê Bến Tre, tiến sĩ kinh tế; từng đảm nhiệm các chức vụ Chủ tịch Hội sinh viên Việt Nam TP HCM, Bí thư Thành Đoàn TP HCM; Bí thư Trung ương Đoàn. Đầu năm 2007, ông làm Bí thư quận 2 trước khi trở thành Bí thư Tỉnh ủy Bến Tre. Tháng 3/2015, ông được Trung ương điều động trở lại TP HCM giữ cương vị Phó bí thư Thành ủy nhiệm kỳ 2010-2015. Tại Đại hội Đảng bộ TP HCM khóa X, nhiệm kỳ 2015-2020, tổ chức giữa tháng 10/2015, ông Phong tái cử Phó bí thư Thành ủy TP HCM, sau đó được bầu làm Chủ tịch UBND thành phố. Đến tháng 6/2016, kỳ họp thứ nhất HĐND TP HCM khoá X bầu ông giữ chức Chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ 2016-2021. Tại Đại hội Đảng bộ TP HCM khoá XI, nhiệm kỳ 2020-2025, tổ chức giữa tháng 10 năm ngoái ông Phong tái đắc cử Phó bí thư Thành ủy TP HCM. Chủ tịch UBND thành phố là một trong 94 đại biểu HĐND thành phố khóa X, nhiệm kỳ 2021-2026. Trong chương trình hành động, ông cho biết sẽ tập trung giải quyết những vấn đề lớn của thành phố, gồm: xây dựng hiệu quả nền hành chính; phát triển kinh tế nhanh, bền vững trên ứng dụng khoa học công nghệ; nâng cao chất lượng quy hoạch đô thị; đẩy mạnh phòng chống Covid-19; xử lý tiếng ồn, ùn tắc, ngập nước; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Cũng tại kỳ họp, HĐND thành phố khoá X bầu 5 Phó chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ 2021-2026 theo giới thiệu của Chủ tịch UBND thành phố, gồm các ông, bà: Ngô Minh Châu (57 tuổi), Võ Văn Hoan (56 tuổi), Dương Anh Đức (53 tuổi), Lê Hoà Bình (51 tuổi), Phan Thị Thắng (45 tuổi). Đây cũng là 5 Phó chủ tịch UBND thành phố nhiệm kỳ trước.

Hai bệnh nhân Covid hơn 80 tuổi ở Bắc Giang tử vong

Bộ Y tế trưa 24/6 công bố hai bệnh nhân tử vong đều tuổi cao, mắc bệnh lý nền nặng, nâng tổng số ca Covid-19 tử vong lên 72 kể từ khi dịch xuất hiện. Theo Tiểu ban điều trị, ca tử vong thứ 71 là "bệnh nhân 13082", nam, 88 tuổi, địa chỉ huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, tiền sử tăng huyết áp. Ngày 13/6, ông xét nghiệm dương tính nCoV, nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Ngày 18/6, bệnh nhân khó thở, thở oxy dòng cao đáp ứng kém, chuyển đến Trung tâm Hồi sức tích cực (ICU) tại Bệnh viện Tâm thần Bắc Giang. Bệnh nhân được điều trị hồi sức tích cực, thở oxy dòng cao, thở máy, lọc máu liên tục, kháng sinh, chống viêm, chống đông, thuốc vận mạch. Tuy nhiên do tuổi cao, mắc bệnh mạn tính, bệnh diễn biến nặng dần. Bệnh nhân tử vong ngày 22/6 với chẩn đoán viêm phổi nặng do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan trên bệnh nhân tăng huyết áp, lão suy. Ca tử vong thứ 72 là "bệnh nhân 11081", nam 82 tuổi, địa chỉ tại huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang, tiền sử tăng huyết áp, gout, đái tháo đường. Ngày 5/6, bệnh nhân được xét nghiệm, kết quả dương tính với nCoV, nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang. Ngày 14/6, bệnh nhân khó thở tăng dần, được chuyển đến Trung tâm Hồi sức tích cực (ICU) tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bắc Giang. Bệnh nhân được điều trị hồi sức tích cực thở oxy dòng cao, thở máy, lọc máu liên tục, kháng sinh, kháng viêm, kháng đông, thuốc điều chỉnh rối loạn vận mạch. Bệnh nhân tử vong ngày 22/6 với chẩn đoán viêm phổi nặng do nCoV biến chứng suy hô hấp tiến triển, sốc nhiễm trùng, suy đa cơ quan trên bệnh nhân tăng huyết áp, gout, đái tháo đường, lão suy. Như vậy, số bệnh nhân tử vong trong đợt dịch này là 37. Làn sóng Covid-19 lần thứ tư đã lan ra hầu khắp cả nước. Các chiến sĩ áo trắng đang căng mình chống dịch trong mùa hè oi bức. Để hỗ trợ lực lượng tuyến đầu, các cá nhân và doanh nghiệp có thể đồng hành cùng chương trình "Tiếp sức cho tâm dịch".

TP Phan Thiết giãn cách xã hội

Chính quyền tỉnh Bình Thuận áp dụng giãn cách xã hội TP Phan Thiết theo Chỉ thị 15 trong 14 ngày, từ 12h hôm nay, sau khi nữ bác sĩ nghi mắc Covid-19. Cùng với TP Phan Thiết, trong cuộc họp sáng 24/6, ông Lê Tuấn Phong, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận cũng quyết định giãn cách xã hội huyện Tuy Phong theo chỉ thị và thời gian tương tự, bắt đầu từ 0h ngày 25/6. Theo đó, thành phố Phan Thiết và huyện Tuy Phong dừng các hoạt động hội họp, các sự kiện tập trung trên 20 người trong một phòng; không tụ tập từ 10 người trở lên ngoài phạm vi công sở, trường học, bệnh viện; giữ khoảng cách tối thiểu 2 m giữa người với người tại các địa điểm công cộng. Hai địa phương này cũng dừng các nghi lễ tôn giáo, hoạt động tập trung từ 20 người trở lên tại các cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng; ngưng các hoạt động văn hóa, thể thao, giải trí tại các địa điểm công cộng. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống không được bán tại chỗ, chỉ được bán mang về... Trung tâm Hành chính công Bình Thuận, Bộ phận Phan Thiết cách TP HCM khoảng 200 km, cách Vũng Tàu 175 km và cách Nha Trang khoảng 240 km. Thành phố có 18 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 14 phường và 4 xã; diện tích hơn 206 km 2; dân số gần 230.000 người. Huyện Tuy Phong nằm ở phía bắc tỉnh, cách Phan Thiết 90 km. Huyện này rộng 795 km2, dân số hơn 141.000 người. Trước đó, địa phương đã cho phong tỏa 3 địa điểm liên quan đến ca nghi nhiễm mới, gồm: Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận, nhà thuốc Trường Giang, chung cư Văn Thánh (TP Phan Thiết). Qua khám sàng lọc, tối 23/6, nữ bác sĩ 38 tuổi (mới nhận việc tại Khoa sản Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận) được xác định dương tính nCoV. Trước đó, cô này làm việc tại Bệnh viện Đa khoa An Phúc Sài Gòn (Hố Nai 3, Trảng Bom, Đồng Nai). Chiều 13/6, cô bắt xe về nhà ở xã Phú Lạc, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Ngày 14/6, cô bắt xe khách vào Phan Thiết nhận việc tại bệnh viện tỉnh. Những ngày qua, ca nghi nhiễm này đã tiếp xúc với người nhà, đồng nghiệp, người bệnh, hành khách trên các chuyến xe, nhân viên nhà thuốc, nhân viên quán cà phê ở Phan Thiết... Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận đã bị phong tỏa, sáng 24/6. Ảnh: Việt Quốc. Bệnh viện Đa khoa Bình Thuận bị phong tỏa sau khi nữ bác sĩ dương tính nCoV, sáng 24/6. Ảnh: Việt Quốc. Hiện, hơn 300 trường hợp được xem là F1 của ca nghi nhiễm này đã được truy vết. Sở Y tế Bình Thuận cho biết, 3 người trong số đó đã được xác định nghi nhiễm. 12h hôm nay, Trung tâm Y tế huyện Tuy Phong sẽ tạm dừng việc tiếp nhận khám chữa bệnh do có F1 nghi nhiễm nằm trong số này.

Trưng dụng bệnh viện, tăng 1500 giường Covid-19 cho TP HCM

5 trong số 9 bệnh viện chuyên điều trị Covid-19 sắp hết giường, Sở Y tế trưng dụng hai bệnh viện nữa chuyên trị bệnh dịch, đưa tổng số giường lên bằng kịch bản 5000 ca. Sở Y tế ngày 24/6 cho biết Bệnh viện Huyện Bình Chánh (500 giường) sẽ chuyển đổi công năng toàn bộ bệnh viện trở thành "Bệnh viện điều trị Covid-19 Bình Chánh", dự kiến hoạt động từ ngày 25/6. Bệnh viện Đa khoa Khu vực Thủ Đức chỉ khám chữa bệnh ngoại trú, dừng toàn bộ phần nội trú. Khu dành cho bệnh nhân nội trú được chuyển đổi công năng thành "Bệnh viện điều trị Covid-19 Thủ Đức" theo mô hình tách đôi bệnh viện. Khu dành riêng Covid-19 có 1.000 giường, bao gồm cả giường trẻ em, 25 giường hồi sức. Dự kiến cơ sở này hoạt động từ 28/6. Cùng với 3.500 giường điều trị Covid-19 hiện có, sự chuyển đổi trên giúp thành phố có đủ 5.000 giường chuyên trị, đáp ứng kịch bản 5000 ca nhiễm mà Bộ Y tế đề nghị thành phố chuẩn bị gần đây. Tổng số bệnh nhân Covid-19 đang điều trị ở TP HCM tính đến hôm nay là 1974 người. Trong số 9 bệnh viện đang điều trị Covid-19, có 5 bệnh viện đã dùng gần hết giường. Bệnh viện Dã chiến Củ Chi (300 giường) Bệnh viện Điều trị Covid-19 Cần Giờ (600), Bệnh viện Nhi đồng Thành phố (80) cũng như Nhi đồng 2 (60), và Bệnh viện Điều trị Covid-19 Củ Chi (500), bệnh nhân đã phủ từ 80% đến gần 100% công suất. Trong số này, các bệnh viện nhi đồng nhận bệnh nhân nhỏ tuổi chuyển viện. Riêng bệnh viện Điều trị Covid-19 Củ Chi nhận bệnh nhân Covid-19 với độ nặng nhẹ và nhiều độ tuổi khác nhau, được trang bị 20 giường hồi sức tích cực. Nhóm bệnh viện Covid-19 còn nhiều khả năng tiếp nhận bệnh gồm: Bệnh viện Trưng Vương, điều trị bệnh nhân Covid-19 có các bệnh lý đi kèm cần can thiệp chuyên sâu. Quy mô 1000 giường, trong đó 100 giường hồi sức. Sau 5 ngày hoạt động, nơi này đang điều trị hơn 200 ca. Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, quy mô 500 giường, gồm khoa hồi sức 60 giường, có khả năng nhận nhiều bệnh nhân nặng chuyển tuyến. Bệnh viện Chợ Rẫy thuộc Bộ Y tế cũng "chia lửa" cùng Sở Y tế TP HCM với 100 giường hồi sức. Bác sĩ Nguyễn Tri Thức, giám đốc bệnh viện, cho biết nơi này đang điều trị chiến sĩ công an phải can thiệp ECMO cùng 7 bệnh nhân khác. Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP HCM đang điều trị 98 ca Covid-19. Trong số này có 14 ca nặng phải thở máy gồm 4 ca can thiệp ECMO (phương pháp hỗ trợ tim phổi nhân tạo) và ba phải lọc máu liên tục. Do tính chất dễ lây lan hơn của đợt dịch này, thành phố quyết định sử dụng một trong hai mô hình bệnh viện: chuyên điều trị Covid-19; hoặc tách đôi bệnh viện ở nơi nào điều kiện cho phép. Việc không điều trị lẫn Covid-19 trong các bệnh viện đa khoa nhằm hạn chế nguy cơ lây. Về trang thiết bị y tế, đợt dịch này TP HCM chuẩn bị sẵn kịch bản ứng phó trong tình huống dịch bùng phát 5.000 ca cần điều trị, với 1.000 giường hồi sức, 55 giường đặt trong buồng áp lực âm và 1.000 máy thở. Theo kịch bản, sẽ tăng cường thêm các bệnh viện dã chiến ở Nhà thi đấu Phú Thọ (quận 11), Nhà triển lãm quận 7, Nhà văn hoá thể thao các quận. Sở Y tế cho biết vẫn đảm bảo trang thiết bị, máy móc cho điều trị Covid-19. Thành phố hiện có 16 máy ECMO nằm rải rác các bệnh viện, và hàng trăm máy thở. Phó chủ tịch UBND TP HCM Dương Anh Đức, trong cuộc họp ngày 19/6, khẳng định nguồn lực y tế của thành phố vẫn đáp ứng tốt trong tình hình dịch bệnh hiện nay, chưa cần chi viện từ các địa phương khác.

Bộ Y tế đề nghị kiểm soát chặt người về từ vùng dịch

Các trường hợp từng đến các địa điểm ca nhiễm Covid-19 ở, lưu trú hoặc khu vực phong tỏa, phải theo dõi y tế, hạn chế tiếp xúc với người xung quanh. Ngày 23/6, Bộ Y tế đề nghị Chủ tịch UBND cấp tỉnh thực hiện các biện pháp kiểm soát người về từ địa bàn có ca bệnh. Theo đó, người từng đến các địa điểm ca nhiễm Covid-19 ở, lưu trú hoặc khu vực phong tỏa không được tham gia hoạt động tập trung đông người trong vòng 14 ngày; nếu có dấu hiệu ho, sốt, đau họng, khó thở hoặc mất vị giác cần báo ngay cho cơ sở y tế gần nhất để được hướng dẫn quản lý sức khỏe. Các trường hợp tiếp xúc gần với ca nhiễm (F1) và F2 phải cách ly y tế. Các địa phương yêu cầu người đến từ các tỉnh, thành đã ghi nhận ca dương tính trong cộng đồng, bắt buộc phải khai báo y tế trung thực, chịu trách nhiệm về những thông tin này, để phân loại các nhóm nguy cơ. Trước đó, từ cuối tháng 5, khi TP HCM giãn cách xã hội theo chỉ thị 15, nhiều địa phương đã áp dụng các biện pháp kiểm soát khác nhau với người về từ thành phố này. Gia Lai yêu cầu người về từ khu vực có ca nhiễm Covid-19, nơi F0 đi qua, TP HCM, các địa phương đang cách ly xã hội, phải cách ly tập trung 21 ngày và tại nhà 7 ngày. Từ 20/6, người từ TP HCM và Đà Nẵng đến Gia Lai phải lấy mẫu xét nghiệm, cách ly tại nhà. Lâm Đồng bắt buộc người về từ TP HCM, vùng dịch, vùng thực hiện theo Chỉ thị 15 và 16 đều phải cách ly tập trung 21 ngày. Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Bến Tre, Tây Ninh... cách ly 21 ngày người về từ các điểm ghi nhận ca F0, khu vực phong tỏa ở TP HCM.

Thêm 127 ca Covid-19, TP HCM chiếm hơn nửa

Bộ Y tế trưa 24/6 ghi nhận 127 ca dương tính nCoV, gồm 126 ca trong nước và một ca nhập cảnh được cách ly ngay. 127 ca mắc mới từ số 13990-14116. Trong đó, 126 ca ghi nhận tại: TP HCM (75), Bình Dương (27), Bắc Giang (16), Bắc Ninh (5), Hưng Yên (2), Thái Bình (1). Trong số này, 119 ca được phát hiện ở khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa. Số ca nhiễm mới nâng tổng số ca tại Bắc Giang lên 5.518, TP HCM 2.175, Bắc Ninh 1.554, Bình Dương 191, Hưng Yên 47, Thái Bình 25. Tổng số ca nhiễm cộng đồng từ ngày 27/4 đến nay lên 10.820, ghi nhận ở 45 tỉnh thành. 17 tỉnh gồm Yên Bái, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Sơn La, Ninh Bình, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Điện Biên, Bạc Liêu, Hải Phòng, Đăk Lăk, Đồng Tháp, Vĩnh Phúc, Hải Dương, đã qua 14 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. 8 tỉnh gồm Ninh Bình, Quảng Ngãi, Quảng Ninh, Quảng Trị, Sơn La, Thừa Thiên Huế, Tuyên Quang, Yên Bái, đã qua 30 ngày không ghi nhận trường hợp mắc mới. Số lượng xét nghiệm từ 29/4 đến nay đã thực hiện 2.598.405 xét nghiệm cho 5.928.149 lượt người. Thái Bình Ca 13991 nam, 47 tuổi, địa chỉ tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, là F1 của 13949, kết quả xét nghiệm ngày 24/6 dương tính. Hưng Yên Ca 13992-13993 gồm một ca là F1 của 13376, một ca là F1 của 13632, đã được cách ly từ trước, kết quả xét nghiệm ngày 24/6 dương tính, điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương cơ sở 2. Bắc Giang Ca 13994-14003, 14009-14011, 14114-14116 ghi nhận trong khu cách ly và khu vực đã được phong tỏa, liên quan đến công nhân làm tại các khu công nghiệp, kết quả xét nghiệm ngày 23-24/6 dương tính. Bắc Ninh Ca 14004-14008 gồm 4 ca liên quan ổ dịch Khu công nghiệp Quế Võ, một ca liên quan ổ dịch Khu công nghiệp Khắc Niệm, đã được cách ly từ trước, kết quả xét nghiệm ngày 23/6 dương tính. Bình Dương Ca 14012-14038 gồm 19 ca là các trường hợp F1 đã được cách ly từ trước, 7 ca liên quan ổ dịch Công ty Housewares, TP Thuận An, một ca liên quan ổ dịch Công ty gốm sứ Hiền Hòa Anh, phường Tân Vĩnh Hiệp, Thị xã Tân Uyên. Kết quả xét nghiệm ngày 23/6 họ dương tính. TP HCM Ca 14039-14113 gồm 21 ca là các trường hợp F1 đã được cách ly từ trước, 47 ca liên quan đến chợ Sơn Kỳ, quận Tân Phú, một ca liên quan đến nhóm Truyền giáo Phục hưng, 6 ca đang điều tra dịch tễ.

ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỚI QUÂN ĐỘI

Mỗi khi Việt Nam diễn ra những sự kiện chính trị trọng đại: Đại hội Đảng, chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội, sửa đổi Hiến pháp, ban hành, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật, kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước và quân đội…, bằng nhiều hình thức, phương tiện khác nhau, không ít cá nhân, tổ chức thù địch lại hợp xướng “bài ca muôn thuở” - đồng loạt tung ra những luận điệu cũ rích đòi Việt Nam thực hiện đa nguyên, đa đảng, đòi bỏ Điều 4, Hiến pháp năm 2013, đòi “phi chính trị hóa” quân đội... Các thế lực thù địch xảo biện và xuyên tạc rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tổ chức, lãnh đạo quân đội là do nhu cầu lịch sử của công cuộc giải phóng dân tộc, nhưng hiện nay Việt Nam đã hoàn toàn được giải phóng và thống nhất đất nước hơn 45 năm, Đảng đã “hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình” và không cần sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội(?!). Họ cho rằng, hiện nay, quyền lãnh đạo đất nước cần phải chia sẻ cho các lực lượng khác bằng cách thực hiện đa đảng hoặc trao cho cái gọi là “lực lượng dân chủ cấp tiến”; rằng, quân đội phải “trung lập”, quân đội phải “đứng ngoài chính trị”(?!).

Bản chất của luận điệu này là muốn tách quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, tiến tới vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, mất phương hướng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, suy yếu về chính trị, tiến tới bị vô hiệu hóa. Chúng muốn làm biến chất một đội quân vốn từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu dưới sự lãnh đạo của Đảng, trở thành một đội quân đi ngược lại lợi ích của Đảng, của nhân dân, từ đó dễ bề làm chuyển hóa chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Không chỉ những phần tử chống đối lưu vong, mà hiện nay, một số phần tử cơ hội, bất mãn ở trong nước cũng ráo riết chống phá. Trên các trang mạng xã hội, chúng thường xuyên vu khống, xuyên tạc bản chất, vai trò, chức năng của quân đội, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo và tách sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Chống chủ nghĩa cơ hội

Muốn loại trừ chủ nghĩa cơ hội, vừa phải đấu tranh mạnh mẽ, vừa phải đi sâu đi sát quần chúng, vào phong trào công nhân để hiểu rõ, hiểu đúng từng loại CNCH. Đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội đã trở thành một quy luật vận động và phát triển của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đó là cuộc đấu tranh tất yếu để bảo vệ sự trong sáng, tính cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác và để hiện thực hóa trong cuộc sống. Kế tục sự nghiệp cách mạng của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I Lênin đã có những cống hiến vĩ đại đối với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, bảo vệ và phát triển thành công chủ nghĩa Mác. Thắng lợi của cuộc đấu tranh ấy có ý nghĩa to lớn đối với phong trào công nhân quốc tế và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội hiện nay. Những kẻ cơ hội chủ nghĩa rất tinh vi và xảo quyệt. Bằng trực quan, chúng ta không thể xét đoán được bộ phận nào trong giai cấp công nhân có chủ nghĩa cơ hội. Vì vậy muốn loại trừ chủ nghĩa cơ hội, vừa phải đấu tranh mạnh mẽ, vừa phải đi sâu, sát quần chúng, vào phong trào công nhân để hiểu rõ, hiểu đúng từng loại chủ nghĩa cơ hội, như Lênin đã nhắc nhở: "Bổn phận của chúng ta, nếu chúng ta vẫn muốn còn là những người xã hội chủ nghĩa, là phải đi sâu, đi sát hơn vào quần chúng thật sự: đấy là toàn bộ ý nghĩa của cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội và toàn bộ nội dung cuộc đấu tranh đó"(1). Ở nước ta đến nay, trong quá trình tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, đã có những biểu hiện cơ hội, thực dụng trong lĩnh vực chính trị, đạo đức, lối sống. Trong điều kiện Đảng ta là Đảng duy nhất cầm quyền, một bộ phận không nhỏ những kẻ cơ hội, thiếu lý tưởng cộng sản, tìm cách chui vào Đảng để tìm cơ hội "thăng quan tiến chức". Bất chấp lợi ích của Đảng, của nhân dân, họ tìm cách vun vén cho lợi ích cá nhân, gia đình, dòng tộc cốt để "vinh thân phì gia". Họ say mê quyền lực, địa vị, coi như một thứ có thể mua bán, tiến thân, từ đó mà khéo luồn lách, nịnh bợ lấy lòng cấp trên, để tranh thủ lá phiếu trước mỗi đợt bầu cử. Họ kéo bè kết cánh, móc ngoặc trên dưới, trong ngoài, tìm mọi cách để chạy "chức", chạy "quyền", chạy "danh", chạy "lợi", chạy "chỗ", chạy "bằng cấp", chạy "tuổi",và khi bị phát hiện thì tiếp tục chạy "tội". Họ lợi dụng việc tuyển chọn, đánh giá, luân chuyển cán bộ để trục lợi cá nhân, tìm mọi cách đưa người "cùng cánh" vào nắm những chức vụ trong cơ quan, mà không chịu chọn những người có đủ đức, tài, gây mất đoàn kết nội bộ. Tại Đại hội XI của Đảng (1-2011), Đảng ta nhận định: "Tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và tình trạng tham nhũng, lãng phí, quan liêu, những tiêu cực và tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi mà còn tiếp tục diễn biến phức tạp…Tình trạng chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương chưa được khắc phục"(2). Những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đó đã và đang gây ra những tổn hại tới sự vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức của Đảng, làm giảm sút vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, làm giảm niềm tin của nhân dân với Đảng. Một khi những tư tưởng, biểu hiện này phát triển thành một chủ nghĩa, một trào lưu, thì nó sẽ đe dọa trực tiếp đến bản chất, tới sự sống còn của Đảng và chế độ. Do đó, có thể nói việc đấu tranh phòng chống, đẩy lùi những tư tưởng, biểu hiện cơ hội chủ nghĩa đang là vấn đề đặt ra hết sức cấp thiết trong tình hình hiện nay. Đấu tranh chống những tư tưởng, biểu hiện chủ nghĩa cơ hội ở nước ta là một quá trình lâu dài, gay go, quyết liệt, vì chừng nào vẫn còn tồn tại giai cấp và đấu tranh giai cấp, thì vẫn còn nảy sinh chủ nghĩa cơ hội. Cần phải đấu tranh kiên quyết, kịp thời, triệt để, không thỏa hiệp với những tư tưởng, biểu hiện chủ nghĩa cơ hội ở mọi nơi, mọi lúc. Đấu tranh trên tất cả các lĩnh vực chính trị, tư tưởng, lý luận, kinh tế, văn hóa, xã hội, không cho chúng có cơ hội trở thành một trào lưu, một lực lượng ảnh hưởng tới sự nghiệp cách mạng, góp phần vào việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc tiến lên. Cần gắn cuộc đấu tranh này với cuộc đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc và những âm mưu, hành động phá hoại của các thế lực phản động khác. Một điều có tính nguyên tắc là luôn phải giữ vững tính đảng trong cuộc đấu tranh này, tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng, giữ vững sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, cần tập trung làm tốt một số vấn đề sau: 1.Tăng cường sức chiến đấu và hiệu quả của công tác tư tưởng, lý luận theo Nghị quyết Trung ương 5 (khóa IX), làm cho công tác tư tưởng luôn chủ động, kịp thời, sắc bén, có tính thuyết phục cao, góp phần củng cố sự đoàn kết thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, toàn dân. Đổi mới công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân, nhất là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp gắn với thực hiện tốt việc học tập, làm theo tấm gương tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh. Kiên quyết, kịp thời đấu tranh chống những biểu hiện cơ hội, những quan điểm sai trái trong đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao chất lượng tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, để lý luận đi trước một bước trong giải quyết các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá. 2. Chú trọng chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, đặc biệt là cán bộ chủ chốt các cấp, các ngành. Đổi mới phương pháp đánh giá cán bộ, quy trình tuyển chọn, đào tạo, đề bạt, luân chuyển cán bộ. Tăng cường dân chủ trong Đảng và trong nhân dân, có cơ chế cụ thể để phát huy quyền kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên của các tổ chức, đoàn thể và nhân dân. Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. Trong sinh hoạt đảng, cần tập trung đấu tranh chống tư tưởng cơ hội, thực dụng cùng những biểu hiện suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy đảng cần có cơ chế tổ chức, giám sát, kiểm tra để mỗi đảng viên không ngừng tự học tập, tự rèn luyện, tu dưỡng bản thân, nâng cao trình độ lý luận, nhận thức và phẩm chất đạo đức cán bộ. Đảng viên cần đi sâu vào quần chúng nhân dân, lắng nghe ý kiến của dân, giải thích cho dân hiểu bản chất, biểu hiện của bọn cơ hội chủ nghĩa, động viên nhân dân tích cực đấu tranh. Cần chú trọng chất lượng, không chạy theo số lượng trong công tác phát triển đảng viên mới. 3. Cần có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tội, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương như Đại hội XI của Đảng chỉ ra, cho dù họ ở bất cứ cương vị nào. Lênin đã từng nhắc nhở: "Điều rất cần thiết hiện nay là, về mặt tổ chức, phải hoàn toàn tách hẳn những phần tử cơ hội chủ nghĩa ấy ra khỏi các đảng công nhân"(3) dù cho bản thân Đảng có "phải tạm thời chịu đau đớn kịch liệt đi nữa"(4). 4. Xây dựng hệ thống pháp luật đủ mạnh, đồng bộ, chặt chẽ, có tính ổn định lâu dài; phát huy dân chủ và tuân thủ nghiêm quy trình xây dựng đường lối, nghị quyết của Đảng, không để cho những phần tử cơ hội lợi dụng để xuyên tạc, nhằm trục lợi. 5. Tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ Đảng trên cả ba mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức, chú trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ góp phần phát hiện, ngăn chặn kịp thời những phần tử chủ nghĩa cơ hội.

TRI THỨC VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI

Thật ra, ở thời đại nào, xã hội cũng tồn tại một lớp người được đào tạo và đạt đến những nấc thang khác nhau về học vấn. Không ít người trong số đó là những "bộ óc" của xã hội, là "túi khôn" hay theo cách nói bình dân truyền thống là những "bồ chữ". Họ là những người nắm giữ một phần tri thức, di sản trí tuệ, văn hiến của một dân tộc, thông qua con đường học vấn mà họ đã sở hữu những tài sản tinh thần cao quý đó. Hơn thế, họ còn là người thông qua lao động trí óc cũng như sự dấn thân xã hội, đã sáng tạo nên những giá trị bao gồm cả tri thức lẫn tinh thần. Trong các xã hội truyền thống ở Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của không ít Nho sĩ, thiền sư, đã mang đậm phẩm cách trí thức. Dẫu vậy, phải đến xã hội hiện đại, khi trong xã hội có sự chuyên môn hóa cao độ, khi các ngành nghề dựa trên tri thức phát triển và tồn tại một cách độc lập, thì tầng lớp trí thức hiện đại mới thật sự định hình. Thông thường, trí thức được hiểu là người có một trình độ học vấn ở bậc cao, đạt được thành tựu trong lĩnh vực hoạt động của mình và chính các thành tựu tinh thần đã góp phần tạo nên uy tín xã hội của mỗi trí thức. Tuy nhiên, nếu chỉ có uy tín chuyên môn, sẽ khó có thể phân biệt được người trí thức với các chuyên gia trong lĩnh vực lao động trí óc. Bởi, một trí thức được phân biệt với một chuyên gia trước hết do khuynh hướng tri thức có tính liên ngành và bách khoa của họ. Hơn thế nữa, đặc điểm quan trọng nhất phân biệt một trí thức với một chuyên gia chính là khuynh hướng dấn thân về mặt xã hội. Trí thức không chỉ là người khép kín mình trong "tháp ngà" về chuyên môn mà luôn có khuynh hướng tham gia vào việc cải tạo xã hội bằng các hoạt động khác nhau, và đặc biệt là thường có hành động bảo vệ các giá trị tinh thần cao đẹp. Ðó chính là lý do khiến ở Pháp, từ "trí thức" với nghĩa hiện đại đã hình thành cùng sự kiện nhà văn Emile Zola cáo giác tính phân biệt chủng tộc tồn tại trong xã hội Pháp, thể hiện qua vụ án Dreyfus. Ở Việt Nam, những tên tuổi như Trần Ðức Thảo, Trần Ðại Nghĩa, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khắc Viện,... luôn là tấm gương sáng của người trí thức hiện đại, vì họ dám hy sinh, dám từ bỏ lợi ích cá nhân để đồng hành cùng dân tộc trong những giai đoạn cam go của lịch sử. 2. Với một hình dung như trên, dễ thấy rằng, trí thức có vai trò rất lớn trong xã hội, nhất là trong xã hội hiện đại, khi mà các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ như vũ bão, những phương tiện giúp tiếng nói của người trí thức có được sức lan tỏa rộng khắp. Uy tín xã hội khiến người trí thức có ảnh hưởng lớn đến dư luận, thậm chí còn góp phần định hướng dư luận và hành động của một bộ phận, tầng lớp cư dân nào đó. Trong chiến tranh chống Mỹ, tiếng nói của những trí thức như Bertrand Russell, J.P. Sartre đã góp phần quan trọng trong việc ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ở Việt Nam, trong giai đoạn trứng nước của nền cộng hòa, sự tham gia của tầng lớp nhân sĩ, trí thức đã là một nguồn động viên quan trọng, góp phần làm nên uy tín, sức mạnh của chính phủ mới. Bên cạnh đó, vốn tri thức, đặc biệt là tri thức có tính liên ngành, đã khiến người trí thức còn có vai trò là người tư vấn - phản biện các chính sách của Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, trong các nhiệm kỳ quốc hội, giới trí thức luôn luôn góp mặt, với thành phần là những người có uy tín; và hơn nữa, trái với luận điệu xuyên tạc của một số người, qua các nhiệm kỳ chính phủ, bằng các hình thức khác nhau, Nhà nước cũng thường xuyên duy trì cơ cấu tham vấn và đối thoại giữa giới trí thức với giới lãnh đạo. Các cơ quan báo chí cũng là cầu nối để giới trí thức bày tỏ chính kiến của mình trước những vấn đề nóng bỏng của xã hội, cũng như các quyết sách lớn của Nhà nước. Những năm gần đây với những quyết sách lớn của các cấp chính quyền, giới trí thức còn được mời gọi và được tạo điều kiện để tư vấn, phản biện. Ðáng chú ý, trong lĩnh vực bảo vệ chủ quyền đất nước, đóng góp của giới trí thức, các nhà chuyên môn đặc biệt có giá trị. Tuy nhiên, từ một phía khác, cũng cần thấy rằng bất cứ một tiến trình nào cũng đều tiềm ẩn những nguy cơ. Trước hết, việc phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp về các vấn đề xã hội có thể dễ rơi vào tình trạng phiến diện, thiếu cái nhìn đa chiều và tính biện chứng. Ðó là chưa kể tới tình trạng vì cả tin cho nên dẫn đến việc áp dụng nhiều lý thuyết khoa học chưa được kiểm chứng và xác nhận cơ sở khoa học. Một phương diện nguy hiểm khác là người trí thức, do còn thiếu thông tin thực tế, hoặc quen sống trong môi trường hoạt động riêng biệt mà có thể bị lôi cuốn và lợi dụng. Tuy nhiên, nguy hại lớn nhất lại xuất phát từ những nguyên nhân có tính chủ quan như nhẹ dạ, thiếu cẩn trọng, thậm chí lầm tưởng hoặc tự lầm tưởng phản biện xã hội là chức năng xã hội duy nhất của trí thức. Nguy hại hơn, đã có một vài "trí thức" lập blog cá nhân, từng bước biến blog đó thành trang thông tin điện tử, mang dáng dấp của một thứ báo tư nhân, đồng thời đăng tải trên đó các thông tin không được kiểm chứng, kèm các bình luận có tính xuyên tạc. Các hiện tượng nói trên cho thấy, trí thức luôn là lực lượng quan trọng trong xã hội, là đại diện của tri thức và lương tâm của xã hội, nhưng khi thế giới tinh thần gắn với nhận thức sai lạc hoặc gắn với ý đồ cá nhân, thì trí thức cũng có thể sa vào con đường lầm lỡ, thậm chí tác động tiêu cực đến xã hội. 3. Quan sát đời sống chính trị trên thế giới hiện nay, có thể nhận thấy một khuynh hướng rõ nét, đó là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và nhiều khi chủ nghĩa dân tộc bị đẩy đến mức cực đoan. Trước hết, cần khẳng định rằng, dân tộc, quyền lợi dân tộc, chủ quyền dân tộc là những giá trị thiêng liêng, cao cả. Ngay ở những nơi mà khuynh hướng quốc tế và liên kết khá mạnh như châu Âu, cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính kéo dài trong mấy năm vừa qua cho thấy thực tế hết sức hiển nhiên là không có một cá nhân hoặc thiết chế chính trị nào có thể đứng trên các vấn đề dân tộc. Những bất đồng sâu sắc, thậm chí đến mức chia rẽ, có thể đẩy tới nguy cơ làm tan rã Liên minh châu Âu và "khai tử" đồng Euro chủ yếu đều bắt nguồn từ quyền lợi dân tộc. Tuy vậy, lịch sử cũng cho thấy một bài học mà nhân loại đã phải trả với giá rất đắt, bằng rất nhiều máu, đó là chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng là ngọn cờ dễ bị lợi dụng phục vụ cho các mưu đồ chính trị đen tối và gây ra những thảm họa khôn lường. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch cũng đang cố gắng lợi dụng các khẩu hiệu liên quan đến quyền lợi dân tộc để trục lợi chính trị, thúc đẩy "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến". Chính lúc này, trách nhiệm xã hội đang đòi hỏi người trí thức có trách nhiệm cần luôn cẩn trọng trước khi đưa ra quan điểm, ý kiến riêng, nhất là nhân danh khoa học. Cần nhận thức rằng, tiếng nói của những người được coi là trí thức, được coi là có trí tuệ, khi đề cập đến các vấn đề dân tộc lại rất dễ mê hoặc một bộ phận công chúng còn thiếu cái nhìn phê phán và tỉnh táo. Lần dở lại lịch sử Việt Nam những năm 1945 - 1946, thời kỳ trứng nước của chế độ mới, khi Chính phủ lâm thời dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch phải tiến hành những bước đi khéo léo, hòa hoãn tạm thời với thực dân Pháp để chuẩn bị cho kháng chiến, không ít "trí thức xa lông" cũng lên tiếng phê phán Chính phủ mới đã "bán nước cho Pháp". Và lịch sử đã chứng minh chân lý, lẽ phải không thuộc về những người đó, mà thuộc về những trí thức chân chính, những con người thuộc đủ mọi thế hệ, nguồn gốc học vấn, biết vượt qua những định kiến để đặt trọn niềm tin vào Ðảng Cộng sản, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Tấm gương của các trí thức đó là minh chứng thuyết phục nhất về một ý thức dân tộc chân chính, tuyệt đối vô tư, không tách rời sự tỉnh táo trí tuệ và tỉnh táo chính trị, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải.

Đảng Cộng sản Việt Nam trong vai trò Đảng cầm quyền

Tình hình thực tế và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng cầm quyền. Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, có đầy đủ năng lực và bản lĩnh lãnh đạo. 1. Về lý luận, các nhà cách mạng tiền bối và các nhà lý luận kinh điển từng xác định: “Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền... Việc giai cấp vô sản đoạt lấy chính quyền mới chỉ là bước đầu của những cải biến cách mạng. Công cuộc xây dựng xã hội mới bao trùm suốt cả một thời kỳ lịch sử những cải biến xã hội một cách triệt để”(1). Điều này có nghĩa sau khi phát động nhân dân lao động vùng lên đánh đổ chính quyền phản động, Đảng vô sản phải thiết lập chính quyền mới để tiến hành những cải biến cách mạng. Muốn làm được điều này, Đảng phải một mình cầm quyền đất nước. Một số người thường đồng nhất hai khái niệm lãnh đạo và cầm quyền, thực ra không phải như vậy. Lãnh đạo là đề ra đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện. Còn cầm quyền là nắm giữ chính quyền nhằm lãnh đạo và quản lý toàn xã hội. Hiệu quả hoạt động của chính quyền chính là thước đo hiệu quả sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội”. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam cũng ghi: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng”. 2. Từ kinh nghiệm bản thân và kinh nghiệm thành công, thất bại của các Đảng Cộng sản cầm quyền khác, Đảng Cộng sản Việt Nam rút ra kết luận quan trọng: Đường lối cách mạng đúng đắn là nhân tố quyết định để giữ vững vai trò Đảng (duy nhất) cầm quyền. Đường lối cách mạng Việt Nam gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đó là con đường cách mạng vô sản mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã chọn từ thập kỷ 20 của thế kỷ trước và Đảng ta kiên định lãnh đạo toàn dân đi theo. Đường lối cách mạng Việt Nam chủ trương giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước, thực hiện mục tiêu cao cả: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Quá trình hoạch định đường lối cách mạng, Đảng luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo, không giáo điều, bảo thủ, trì trệ hoặc chủ quan, nóng vội, xuất phát từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn đất nước cùng nhận định về thời cuộc. Sau cách mạng Tháng Tám 1945, và ở miền Nam sau ngày 30-4-1975, Đảng ta lãnh đạo nhân dân bắt tay ngay vào việc xây dựng, giữ vững chính quyền mới. Mà nói đến chính quyền là nói đến Nhà nước, pháp luật và quyền lực. Xây dựng Nhà nước trở thành nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng, trên cương vị Đảng cầm quyền. Đây là Nhà nước kiểu mới, khác về bản chất so với Nhà nước dưới các chế độ khác, là Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chính nhân dân là chủ nhân của Nhà nước, mọi quyền lực của Nhà nước đều là quyền lực của nhân dân, thuộc về nhân dân. 3. Cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Việt Nam được xác định là: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, theo đó ta hiểu Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không điều hành xã hội thay Nhà nước; Nhà nước quản lý xã hội nhưng không xa rời sự lãnh đạo của Đảng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nói rõ phương thức lãnh đạo của Đảng: “Đảng lãnh đạo xã hội bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương công tác; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và các đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”. Một thực tế là, đất nước ta từng trải qua hai cuộc chiến tranh giải phóng chống Pháp, chống đế quốc Mỹ và một số cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây - Nam và biên giới phía Bắc. Do đó những năm trước 1975 và một số năm sau đó, là một thời kỳ lịch sử đặc biệt: “Đảng ta phải áp dụng những phương thức lãnh đạo đặc biệt, với các biện pháp chính trị cứng rắn, quyết đoán. Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng các nguyên tắc lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện, nhằm thống nhất cao độ sự lãnh đạo chính trị và thực hành chính trị, buộc toàn Đảng, toàn dân phải hy sinh một phần các quyền dân chủ cho mục tiêu trước mắt lớn hơn là độc lập, thống nhất nước nhà. Đặc điểm lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở sự hòa quyện, không phân biệt rõ chức năng Đảng lãnh đạo Nhà nước và chức năng Nhà nước quản lý xã hội, Đảng với Nhà nước dường như là một. Đảng đóng vai trò tổng chỉ huy và tổ chức toàn bộ công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Do đó, đường lối, chủ trương của Đảng không dừng lại ở các nguyên tắc chung mà thường rất cụ thể, bao quát các chức năng của Nhà nước”(2). Đến Hiến pháp năm 1992, mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước có những thay đổi quan trọng. Hiến pháp quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”. Đảng hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Đảng không quyết định trực tiếp mọi công việc và Đảng không phải là cấp trên của Nhà nước. Quyền lực Nhà nước được tập trung. Tình trạng Đảng bao biện làm thay cơ quan Nhà nước, can thiệp vào chức năng của cơ quan Nhà nước, dùng phương pháp mệnh lệnh, áp đặt đối với cơ quan Nhà nước được khắc phục. Thuật ngữ “Nhà nước pháp quyền” được Đại hội lần thứ VIII của Đảng, năm 1996 nhắc lại: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức”. 4. Tình hình thực tế và nhiệm vụ cách mạng trong thời kỳ mới đòi hỏi Đảng phải không ngừng nâng cao chất lượng cầm quyền. Đảng phải thật sự trong sạch, vững mạnh, có đầy đủ năng lực và bản lĩnh lãnh đạo. Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, vì đó là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Phải hết sức coi trọng công tác tư tưởng và lý luận, nâng cao trình độ lý luận chính trị cho toàn Đảng, đấu tranh làm thất bại mọi luận điệu phản động, mọi âm mưu “diễn biến hòa bình”, đấu tranh phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Phải hết sức coi trọng kiện toàn tổ chức Đảng, từ Trung ương đến cơ sở. Thật sự phát huy dân chủ trong sinh hoạt Đảng, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, chống quan liêu, bè phái, cục bộ địa phương... Đặc biệt, chúng ta phải kiên quyết xây dựng Đảng, theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là: “Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng” (Thông báo Hội nghị Trung ương 4). Trước khi đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết trong Di chúc: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Lời căn dặn của Người, nhắc nhở mỗi đảng viên, cán bộ của Đảng cầm quyền phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, có phẩm chất và lối sống tốt đẹp, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng và nhân dân, để Đảng ta luôn luôn giữ vững vai trò Đảng cầm quyền./.

Vững tin vào bản lĩnh và trí tuệ của Đảng cộng sản Việt Nam

Ngày 3 tháng 2 năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Từ đó đến nay Đảng đã lãnh đạo cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, lãnh đạo nhân dân ta cướp chính quyền bằng cách mạng Tháng Tám và đánh thắng hai tên đế quốc hùng mạnh là Pháp và Mỹ, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước và đang lãnh đạo toàn dân thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH). Có được những thành công to lớn đó là do Đảng ta đã được Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện. Dù trong hoàn cảnh nào, Đảng cũng luôn đề ra đường lối đúng đắn cho cách mạng Việt Nam. Đảng cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm nền tảng tư tưởng, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Cùng với việc nắm vững ngọn cờ dân tộc, đặt nhiệm vụ dân tộc trở thành nhiệm vụ trước tiên và chủ yếu cho cả phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Từ đó, đặt cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng thế giới, định ra đường lối của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, Đảng cộng sản Việt Nam cùng toàn dân đã viết nên những trang sử oai hùng nhất của dân tộc và góp phần không nhỏ vào sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới trong thế kỷ XX. Những kinh nghiệm đó là cẩm nang vô giá chocông cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay. Xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa là một công việc hoàn toàn mới mẻ chưa có tiền lệ trong lịch sử, đòi hỏi Đảng phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững bản chất của chủ nghĩa xã hội khoa học. Mặt khác phải ra sức tìm tòi, sáng tạo, kiên quyết đấu tranh với mọi biểu hiện cơ hội, giáo điều, máy móc hữu khuynh... Tuy nhiên, do lạc hậu về nhận thức, chủ quan duy ý chí trong tổ chức thực hiện; muốn xây dựng CNXH thật nhanh trong khi cơ sở vật chất, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước sau chiến tranh còn lạc hậu, nên sau hàng chục năm xây dựng CNXH theo tư duy xơ cứng, giáo điều, đất nước lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế, xã hội. Với tinh thần “Nhìn rõ vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã công bố đường lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội khẳng định: đổi mới là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng ta, đối với cách amngj nước ta. Hơn hai mươi năm tiến hành đổi mới, Đảng đã gặp không ít khó khăn, thử thách tưởng chừng không thể vượt qua. Trong nước là khủng hoảng kinh tế - xã hội ở mức cao; trên thế giới Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng, tan rã, sụp đổ. Trong Đảng và ngoài xã hội xuất hiện nhiều ý kiến, quan điểm trái ngược nhau làm nhiều cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hoang mang, dao động. Song, Đảng ta đã đứng vững, vượt qua khó khăn, cáh mạng nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng để bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những phương hướng cơ bản mà Đảng ta xác định để xây dựng CNXH trong thời kỳ quá độ ở nước ta nhằm đạt tới mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH; thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh; đó là: phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; xây dựng một nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; thực hiện tốt các chính sách xã hội; chăm lo bồi dưỡng con người và phát huy nhân tố con người; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; xây dựng CNXH đi đôi với bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đoàn kết toàn dân là động lực chủ yếu của công cuộc đổi mới đất nước. Thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước đã chứng minh những phương hướng trên đây mà Đảng ta xác định để xây dựng CNXH là hoàn toàn đúng đắn. Tình hình chính trị được ổn định; an ninh quốc phòng được giữ vững; kinh tế, văn hóa, xã hội từng bước phát triển, đem lại lòng tin của quần chúng nhân dân với Đảng, với sự nghiệp cách mạng. Uy tín của Đảng, của cách mạng Việt Nam được nâng cao trên trường quốc tế. Việt Nam được coi là một trong những nước có vai trò là người mở đường đi đến thắng lợi của CNXH ở những nước chậm phát triển trong thời đại hiện nay Tuy nhiên, Đảng ta cũng xác định và nhận thức đầy đủ những nguy cơ gây cản trở đến công cuộc đổi mới đất nước. Đó là sự tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới; sự chệch hướng xã hội chủ nghĩa; nạn tham nhũng và tệ quan liêu của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong bộ máy quản lý; “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ... Để chống lại những nguy cơ trên đây, Đảng đã lãnh đạo đất nước thực hiện nhiều biện pháp trong những năm qua cùng với cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc, đấu tranh chống các tiêu cực xã hội. Thực tiễn cho thấy, Đảng luôn sáng suốt vạch đường, chỉ lối dù trong những hoàn cảnh khó khăn nhất, trước những khủng hoảng kinh tế, chính trị trên thế giới và khu vực. Thực tiễn cũng cho ta thấy, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong tình hình hiện nay đòi hỏi cao bản chất cách mạng khoa học của Đảng; đòi hỏi ý chí kiên cường, quyết tâm sắt đá, lập trường kiên định, lòng trung thành vô hạn với lý tưởng, với sự nghiệp của nhân dân. Tuy nhiên, nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng ta phải có tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị mới có thể đưa đất nước thoát khỏi tụt hậu, định hướng xã hội chủ nghĩa, chống lại tệ tham nhũng và các tệ nạn xã hội khác đang tồn tại trong xã hội hiện nay, chống lại âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ là một cuộc đấu tranh toàn diện trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đòi hỏi chúng ta phải chống lại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù một cách liên tục, kiên quyết, không khoan nhượng nhưng lại phải khôn khéo trong môi trường hợp tác. Tuy nhiên, sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc không chỉ có chống “diễn biến hòa bình” mà còn phải sẵn sàng chống lại mọi cuộc chiến tranh từ bên ngoài. Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ bao gồm trên mặt đất, trên biển, trên không, nhất là trong tình hình phức tạp và vô cùng nhạy cảm trên biển hiện nay càng đòi hỏi bản lĩnh, trí tuệ của Đảng cộng sản Việt Nam. Tám mươi hai năm kể từ khi Đảng cộng sản Việt Nam ra đời là tám mươi hai năm Đảng ta không ngừng trau dồi bản lĩnh cách mạng và trí tuệ khoa học. Luôn luôn kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quyết tâm đưa đất nước phát triển thoát khỏi đói nghèo, luôn kiên định trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới. Trong từng giai đoạn, từng chặng đường Đảng đã tìm ra nhiều biện pháp thích hợp để hạn chế khó khăn, đẩy lùi tiêu cực, phát huy sức mạnh tổng hợp và mọi nguồn lực của đất nước vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vì thế, Đảng luôn nhận được sự tin tưởng, yêu mến của quần chúng nhân dân; trong nước, ngoài nước, vị thế của Đảng ngày càng được khẳng định, vai trò của Đảng ngày càng được nâng cao. Một trong những nguyên nhân cơ bản đem lại sự thành công trong quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng là vì Đảng ta luôn trung thành vô hạn với lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc; ngoài lợi ích ấy Đảng không còn lợi ích nào khác. Từ ngày thành lập đến nay, Đảng luôn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc vì CNXH, đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ lịch sử cách mạng Việt Nam, là nền tảng của mọi chiến lược, sách lược, là nguồn gốc và nguyên nhân của mọi thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài ra, Đảng ta luôn nắm vững và vận dụng trung thành, sáng tạo lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, định ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn. Những điều kiện trên ngày nay,vẫn còn nguyên giá trị, bảo đảm để Đảng nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới. Thực tiễn ngày càng khẳng định, không nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng để đáp ứng với tình hình mới thì chẳng những Đảng tự đánh mất vai trò lãnh đạo của mình mà còn không giữ được thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã xây dựng được trong tám mươi hai năm qua. Lịch sử tám mươi hai năm ra đời, tồn tại, phát triển của Đảng cộng sản Việt Nam, nhất là trong thời đại ngày nay, đã khẳng định bản lĩnh, trí tuệ của Đảng. Để tiếp tục đưa công cuộc đổi mới theo mục tiêu đã định càng đòi hỏi bản lĩnh chính trị và trí tuệ của Đảng cao hơn. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa chỉ có thể thành công nếu Đảng ta thực sự là trí tuệ là đạo đức là văn minh, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy. Với truyền thống cách mạng và kinh nghiệm của mình, Đảng cộng sản Việt Nam nhất định sẽ chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đến bến bờ vinh quang./.

V.I.Lê-nin với vấn đề giáo dục lý tưởng Cộng sản cho Thanh niên

Lý tưởng cộng sản với tư cách là một phẩm chất chính trị của con người, không tự hình thành và phát triển. Đó là quá trình chuyển hoá biện chứng từ nhận thức chính trị trở thành tình cảm cách mạng và biểu hiện ra ở hành vi, ở ý chí, quyết tâm của mỗi người cống hiến, hy sinh cho lý tưởng XHCN. Trong di sản lý luận của V.I.Lê-nin, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên là vấn đề đặc biệt quan trọng, được xem là cái gốc để xây dựng những con người mới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cách mạng XHCN. Những quan điểm của V.I.Lê-nin ra đời cách chúng ta hàng thế kỷ, trong điều kiện Cách mạng Tháng Mười vừa thành công, nhà nước Xô-viết non trẻ đang phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức, tức là những điều kiện hoàn toàn khác, nhưng cách đặt và giải quyết vấn đề về giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên của Người vẫn giữ nguyên giá trị, đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới ở nước ta hiện nay. Xuất phát từ quan niệm thanh niên là người kế tục sự nghiêp cách mạng của Đảng, là lực lượng có vai trò to lớn trong sự nghiệp cách mạng XHCN, V.I.Lê-nin chỉ rõ: Tất cả nam nữ thanh niên đều phải là những người xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa mà các đồng chí là những người đầu tiên trong số hàng triệu người xây dựng đó. Tuy nhiên để hoàn thành nhiệm vụ vẻ vang đó, bên cạnh những yêu cầu về năng lực, về trình độ chuyên môn thì niềm tin, lý tưởng cộng sản là một yêu cầu tất yếu, yêu cầu cao đối với thanh niên. Người đòi hỏi: Đoàn thanh niên và toàn thể thanh niên nói chung muốn đi theo chủ nghĩa cộng sản, thì đều phải học chủ nghĩa cộng sản. Nhưng học chủ nghĩa cộng sản, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên như thế nào, chính ở đây V.I.Lê-nin cho chúng ta những chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận rất quan trọng. Trước hết, theo V.I.Lê-nin vấn đề cốt lõi, cũng là vấn đề hàng đầu trong giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên là trang bị cho họ những tri thức khoa học toàn diện, làm cơ sở để tiếp nhận một cách tự giác lý luận Mác xít, tiếp nhận những kết luận về tính tất yếu của CNXH, CNCS mà Mác, Ăng-ghen đã chỉ ra. Ngưòi khẳng định: ý thức XHCN ngày nay chỉ có thể nảy sinh được trên cơ sở sự hiểu biết khoa học sâu sắc. Chính vì đó, V.I.Lê-nin cho rằng: các bạn sẽ phạm một sai lầm nghiêm trọng nếu từ đó muốn rút ra một kết luận cho rằng có thể trở thành người cộng sản mà không cần thấm nhuần những kiến thức của loài người đã tích lũy được. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng chỉ cần thấm nhuần những khẩu hiệu cộng sản, những kết luận của khoa học cộng sản, chứ không cần phải thấm nhuần tổng số những kiến thức mà chính bản thân chủ nghĩa cộng sản cũng là kết quả. Chủ nghĩa Mác là một thí dụ chỉ rõ rằng chủ nghĩa cộng sản đã phát sinh như thế nào từ tổng số những kiến thức của nhân loại. Chúng ta hiểu luận điểm này thế nào? Có phải V.I.Lê-nin đã nhấn mạnh vai trò của giáo dục tri thức khoa học toàn diện, xem nhẹ vai trò giáo dục lý luận Mác - xít không? Câu trả lời chắc chắn là không. Nếu xem lý tưởng cộng sản là sự hoà quyện một cách hữu cơ giữa nhận thức khoa học với tình cảm và ý chí cách mạng trên lập trường giai cấp công nhân đối với sự thắng lợi tất yếu của chế độ XHCN thì trước hết nó phải được hình thành trên cơ sở sự nhận thức sâu sắc những nguyên lý, quy luật của chủ nghĩa Mác -Lênin. Đó chính là cơ sở vững chắc của tình cảm và ý chí cách mạng. Vì vậy, giáo dục lý tưởng cộng sản trước hết và quan trọng nhất là trang bị cho người học lý luận Mác xít. Ở nước ta hiện nay, chúng ta nhận thức rất rõ vai trò của giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là cho thanh niên. Vấn đề này thiết nghĩ không cần bàn thêm, điều đáng bàn có lẽ chính là nội dung giáo dục. Nội dung giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải không ngừng đổi mới. Phải tập trung nghiên cứu, vừa đưa vào giáo dục những nội dung phù hợp, hấp dẫn người học, vừa bảo đảm tính cơ bản, hệ thống, tạo điều kiện để người học nắm bản chất, vận dụng sáng tạo trong thực tiễn. Hiện nay, giáo dục chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, một mặt cần khẳng định tính cách mạng và khoa học của các nguyên lý, quy luật, mặt khác phải làm rõ những vấn đề cần nhận thức lại cho đúng đắn, những vấn đề cần bổ sung phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn và thành tựu của khoa học hiện đại Cũng trong nội dung giáo dục lý tưởng cộng sản, V.I.Lê-nin cho rằng: Phải làm cho toàn bộ sự nghiệp giáo dục, rèn luyện và dạy dỗ thanh niên ngày nay trở thành sự nghiệp giáo dục đạo đức cộng sản. Đó cũng là cơ sở của việc rèn luyện, học tập và giáo dục cộng sản. Đó là lời giải đáp về vấn đề phải học tập chủ nghĩa cộng sản như thế nào. Đối với nước ta hiện nay, giáo dục đạo đức cách mạng vừa là một nội dung cơ bản trong giáo dục chính trị, tư tưởng vừa là một giải pháp quan trọng trong nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho thanh niên. Đạo đức cách mạng là một trong những yêu cầu cơ bản của phẩm chất, nhân cách, là yếu tố tạo nên tình cảm cách mạng của người cách mạng. Không thể có niềm tin, lý tưởng cộng sản nếu ở con người không có sự hội tụ của giá trị đạo đức cách mạng, của lối sống XHCN. Nói cách khác, sự sa sút, tha hoá về đạo đức, lối sống ở con người chính là cơ sơ để giảm sút, sói mòn niềm tin, lý tưởng cộng sản. Nghị quyết Đại hội XI nhấn mạnh: Đặc biệt quan tâm giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên để mỗi cán bộ, đảng viên thực sự là tấm gương sáng về phẩm chất, đạo đức, lối sống, hết lòng vì nhân dân, vì sự nghiệp cách mạng. Theo chúng tôi, giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống XHCN cho thanh niên để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cần tập trung theo hướng: Các giá trị đạo đức được định hướng, giáo dục phải được xác lập trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Hệ thống các giá trị định hướng giáo dục để nâng cao đạo đức cách mạng, lối sống XHCN phải trên cơ sở kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Đấu tranh khắc phục mặt lạc hậu của đạo đức truyền thống và các yếu tố phản giá trị của các quan điểm, trào lưu đạo đức phản tiến bộ, phản nhân văn của giai cấp tư sản. Quán triệt sâu rộng và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc "Học tập và làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" là một biện pháp thiết thực để nâng cao niềm tin, lý tưởng cộng sản cho thanh niên hiện nay. Cùng với việc xác định rõ những nội dung cơ bản, V.I.Lê-nin còn chỉ dẫn cho chúng ta rất cụ thể vấn đề phải giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên như thế nào, bằng cách nào. Trước hết, Người cho rằng sự thấm nhuần lý tưởng cộng sản của thanh niên phải bắt đầu bằng việc họ tự ý thức là cần tiếp thu kiến thức, tự giáo dục, tự rèn luyện. Người nêu rõ: chúng ta không cần lối học gạo, nhưng chúng ta cần mở mang và hoàn thiện trí óc của mỗi người học bằng những kiến thức về những sự việc cơ bản, vì chủ nghĩa cộng sản sẽ trở thành trống rỗng..., người cộng sản sẽ chỉ là một anh khoe khoang..., nếu như tất cả các kiến thức đã thu nhận không được nghiền ngẫm trong ý thức của anh ta. Những kiến thức đó, không nên hấp thụ một cách giản đơn, mà phải hấp thụ có phê phán… Lý tưởng cộng sản với tư cách là một phẩm chất chính trị của con người, không tự hình thành và phát triển. Đó là quá trình chuyển hoá biện chứng từ nhận thức chính trị trở thành tình cảm cách mạng và biểu hiện ra ở hành vi, ở ý chí, quyết tâm của mỗi người cống hiến, hy sinh cho lý tưởng XHCN. Do đó, vai trò của công tác giáo dục, rèn luyện chỉ phát huy được hiệu quả thực sự khi mỗi người tiếp nhận nó một cách tự giác, biến nó trở thành động cơ bên trong, thôi thúc con người nỗ lực phấn đấu, rèn luyện. Với ý nghĩa đó, có thể thấy, giáo dục lý tưởng cộng sản chỉ thực sự đạt được hiệu quả cao nếu mỗi thanh niên tự ý thức và thực hiện tốt quá trình chuyển hoá giáo dục thành tự giáo dục. Tự giáo dục, tự rèn luyện để nâng cao lý tưởng cộng sản là quá trình tự giác của mỗi thanh niên nhằm hướng đến nâng cao trình độ nhận thức chính trị, củng cố và phát triển tình cảm cách mạng, rèn luyện ý chí quyết tâm cống hiến sức lực cho sự nghiệp cách mạng. Đó chính là quá trình họ tự trau dồi tri thức lý luận của mình, làm chủ hệ thống tri thức khoa học nói chung, tri thức lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng, tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, giữ vững lập trường giai cấp và đạo đức cách mạng trong mọi điều kiện, quyết tâm vượt qua mọi khó khăn để học tập, rèn luyện, đáp ứng yêu cầu mới của sự nghiệp cách mạng. Tự giác học tập, rèn luyện, nâng cao nhận thức chính trị, trình độ lý luận, tình cảm cách mạng và ý chí quyết tâm chính là cơ sở quan trọng của lý tưởng cộng sản. Tuy nhiên, đó mới chỉ là điều kiện cần thiết, điều quan trọng là họ phải tôi luyện trong hoạt động thực tiễn. V.I.Lê-nin cho rằng: Giáo dục thanh niên cộng sản không phải là nói cho họ nghe những bài diễn văn êm dịu hay những phép tắc đạo đức. Không phải cái đó là giáo dục... cơ sở của đạo đức cộng sản là cuộc đấu tranh để củng cố và hoàn thành công cuộc xây dựng CNCS. Đó là lời giải đáp về vấn đề phải học tập CNCS như thế nào. Người khẳng định: Không có lao động, không có đấu tranh cách mạng thì kiến thức sách vở về CNXH khoa học sẽ không có một chút giá trị nào cả. Thực tiễn hoạt động bao giờ cũng là mảnh đất hiện thực cho sự hình thành, phát triển những phẩm chất nhân cách, trí tuệ, tài năng của mỗi con người. Chính thông qua hoạt động thực tiễn, thanh niên có điều kiện áp dụng tri thức đã tiếp thu, tích luỹ kinh nghiệm, vốn sống nâng cao nhận thức, giác ngộ chính trị. Mặt khác, thông qua hoạt động thực tiễn họ bày tỏ tình cảm, cảm xúc của mình, biểu lộ thái độ, hành vi, ý chí cá nhân trước sự kiện, khó khăn thử thách. Thông qua thực tiễn, họ mới tự kiểm tra, đánh giá được trình độ nhận thức, tình cảm và ý chí của họ so với cái chuẩn, từ đó hình thành ý thức rèn luyện, tu dưỡng. V.I.Lê-nin vạch rõ: Chúng ta căn cứ vào cái gì để xét đoán những tư tưởng, tình cảm thực của cá nhân có thực, tất nhiên căn cứ ấy chỉ có thể là những hoạt động của cá nhân ấy. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng từng căn dặn: Học lý luận cốt là để áp dụng vào công việc thực tế. Lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông. Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không đem ra thực hành, thì khác nào cái hòm đựng sách. Với ý nghĩa đó, giáo dục lý tưởng cộng sản phụ thuộc rất lớn vào khả năng và mức độ hoạt động thực tiễn của họ. Nước Nga xô-viết trải qua một cuộc cách mạng, đã lọt lòng ra từ xã hội tư bản chủ nghĩa, nên giữa cái cũ và cái mới đang còn đan xen, khó khăn còn chồng chất. Trước tình hình đó, V.I.Lê-nin yêu cầu những người cộng sản Nga phải đặt lên hàng đầu nhiệm vụ giáo dục lý tưởng cộng sản bên cạnh những nhiệm vụ khác. Tình hình của nước Nga khi ấy rất khác mà cũng rất giống với những gì của nước ta hiện nay. Những vấn đề được V.I.Lê-nin nêu ra cách đây gần một thế kỷ chính là những chỉ dẫn có ý nghĩa phương pháp luận cần tiếp tục nghiên cứu, khai thác trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam hiện nay./.

Chống suy thoái và “tự chuyển hóa”

Thực tế “diễn biến hòa bình” ở nửa sau thế kỷ XX đã gây ra những tổn thất to lớn đối với CNXH và phong trào độc lập dân tộc ở nhiều nước, nhiều khu vực trên thế giới, nhất là đối với các nước XHCN thuộc Liên Xô (trước đây) và Đông Âu. Đối với nước ta, “diễn biến hòa bình” đã và đang là nguy cơ đe dọa độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng CNXH. Một trong những nguy cơ hiện hữu của “diễn biến hòa bình” từ bên trong mà Đảng ta chỉ rõ là: “Trong nội bộ, những biểu hiện xa rời mục tiêu của CNXH, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có những diễn biến phức tạp…”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về bản chất là quá trình suy thoái từ bên trong của lực lượng cách mạng, một mặt do tác động khách quan từ âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, mặt khác từ nguyên nhân chủ quan của một bộ phận thoái hóa trong chủ thể, trong đó nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định. Do vậy, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thực chất là phòng ngừa, triệt tiêu nguyên nhân chủ quan có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta. “Tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên có chức, có quyền… suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…” - như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) chỉ ra, là những biểu hiện cụ thể của một bộ phận thoái hóa, cũng là những biểu hiện cụ thể của nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Do vậy, phải tiến hành đồng thời đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” và phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, trong đó phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ có vai trò quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, bảo đảm sự tồn vong của chế độ XHCN ở nước ta. Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần được tiến hành chủ động, kiên trì, đồng bộ trên các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc phòng-an ninh, đối ngoại… Trong bài viết này, chúng tôi xin đề cập, làm rõ một số nội dung về phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, kinh tế. Trong phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực chính trị, việc đấu tranh bảo vệ, giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là điều kiện tiên quyết. Toàn Đảng cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội - dân chủ, chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa thực dụng mới, tư tưởng dân chủ tư sản...; kiên quyết bảo vệ Cương lĩnh, đường lối chính trị của Đảng, đặc biệt là mục tiêu, lý tưởng, kiên định con đường chúng ta đã lựa chọn, phát triển đường lối đổi mới theo định hướng XHCN. Đấu tranh bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động, mối quan hệ giữa các thiết chế quyền lực của nhà nước XHCN; có biện pháp thiết thực củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các thành tố trong hệ thống chính trị và nhân dân. Phê phán, bác bỏ các quan điểm tư tưởng và ý đồ thực hiện chủ nghĩa đa nguyên chính trị, chế độ đa đảng đối lập, cơ chế “tam quyền phân lập” của nhà nước tư sản ở Việt Nam. Phát hiện kịp thời “ngọn cờ” đối lập do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tạo dựng, những phần tử cơ hội, phản bội trong bộ máy lãnh đạo Đảng, Nhà nước, LLVT; xử lý kịp thời, nghiêm minh theo pháp luật các hoạt động chống đối, tập hợp lực lượng đối lập... Một yếu tố quan trọng là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý điều hành của bộ máy chính quyền các cấp; xử lý đúng đắn các mâu thuẫn, những lợi ích thiết thân của các tầng lớp nhân dân, không để tích tụ tâm lý bất bình trong xã hội, trong tâm trạng bức xúc của quần chúng đối với các cơ quan công quyền. Khi xuất hiện những “điểm nóng” mâu thuẫn, xung đột xã hội cần giải quyết, xử lý đúng đắn, kịp thời, vừa “đạt lý” (trên cơ sở pháp luật) vừa “thấu tình” (hài hòa theo văn hóa, truyền thống, đạo lý dân tộc). Trong nội bộ hệ thống chính trị XHCN, cùng với đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phải tăng cường đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phai nhạt lý tưởng CNXH, thực dụng, cá nhân ích kỷ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc…; chặn đứng nguy cơ thoái hóa về chính trị, tư tưởng. Trên lĩnh vực kinh tế: Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, vững mạnh, “dân giàu, nước mạnh” là nền tảng vật chất quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng CNXH ở Việt Nam. Chú trọng phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nền kinh tế độc lập, tự chủ, có cơ cấu hợp lý, có sức mạnh nội sinh, bền vững, khả năng cạnh tranh cao để hội nhập trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế; có khả năng thích ứng, vượt qua những biến động bất thường của nền kinh tế thế giới. Giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ văn hóa, thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh. Tăng cường đấu tranh bảo vệ những quan điểm kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đặc biệt bảo vệ đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; kịp thời phát hiện, đấu tranh hiệu quả âm mưu, thủ đoạn phá hoại nền kinh tế, lợi dụng các quan hệ kinh tế, các công cụ và thiết chế tài chính, tiền tệ quốc tế... để chi phối, kiểm soát, khống chế, chuyển hóa nền kinh tế Việt Nam thành nền kinh tế tư bản chủ nghĩa… Phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế, cần giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và giữ vững phẩm chất đạo đức, tư cách của người cán bộ cách mạng, nhất là đối với cán bộ có chức, có quyền, chủ trì lãnh đạo, quản lý kinh tế, không để chủ nghĩa thực dụng, “chủ nghĩa đồng tiền” chi phối các quan hệ xã hội, hoặc để xảy ra tình trạng tham ô, tham nhũng, thất thoát lớn tài sản của tập thể, của Nhà nước…liên quan đến trách nhiệm, phẩm chất, năng lực của cán bộ chủ trì.

Trí thức và ý thức dân tộc

Thật ra, ở thời đại nào, xã hội cũng tồn tại một lớp người được đào tạo và đạt đến những nấc thang khác nhau về học vấn. Không ít người trong số đó là những "bộ óc" của xã hội, là "túi khôn" hay theo cách nói bình dân truyền thống là những "bồ chữ". Họ là những người nắm giữ một phần tri thức, di sản trí tuệ, văn hiến của một dân tộc, thông qua con đường học vấn mà họ đã sở hữu những tài sản tinh thần cao quý đó. Hơn thế, họ còn là người thông qua lao động trí óc cũng như sự dấn thân xã hội, đã sáng tạo nên những giá trị bao gồm cả tri thức lẫn tinh thần. Trong các xã hội truyền thống ở Việt Nam, cuộc đời và sự nghiệp của không ít Nho sĩ, thiền sư, đã mang đậm phẩm cách trí thức. Dẫu vậy, phải đến xã hội hiện đại, khi trong xã hội có sự chuyên môn hóa cao độ, khi các ngành nghề dựa trên tri thức phát triển và tồn tại một cách độc lập, thì tầng lớp trí thức hiện đại mới thật sự định hình. Thông thường, trí thức được hiểu là người có một trình độ học vấn ở bậc cao, đạt được thành tựu trong lĩnh vực hoạt động của mình và chính các thành tựu tinh thần đã góp phần tạo nên uy tín xã hội của mỗi trí thức. Tuy nhiên, nếu chỉ có uy tín chuyên môn, sẽ khó có thể phân biệt được người trí thức với các chuyên gia trong lĩnh vực lao động trí óc. Bởi, một trí thức được phân biệt với một chuyên gia trước hết do khuynh hướng tri thức có tính liên ngành và bách khoa của họ. Hơn thế nữa, đặc điểm quan trọng nhất phân biệt một trí thức với một chuyên gia chính là khuynh hướng dấn thân về mặt xã hội. Trí thức không chỉ là người khép kín mình trong "tháp ngà" về chuyên môn mà luôn có khuynh hướng tham gia vào việc cải tạo xã hội bằng các hoạt động khác nhau, và đặc biệt là thường có hành động bảo vệ các giá trị tinh thần cao đẹp. Ðó chính là lý do khiến ở Pháp, từ "trí thức" với nghĩa hiện đại đã hình thành cùng sự kiện nhà văn Emile Zola cáo giác tính phân biệt chủng tộc tồn tại trong xã hội Pháp, thể hiện qua vụ án Dreyfus. Ở Việt Nam, những tên tuổi như Trần Ðức Thảo, Trần Ðại Nghĩa, Lương Ðịnh Của, Nguyễn Văn Huyên, Nguyễn Khắc Viện,... luôn là tấm gương sáng của người trí thức hiện đại, vì họ dám hy sinh, dám từ bỏ lợi ích cá nhân để đồng hành cùng dân tộc trong những giai đoạn cam go của lịch sử. 2. Với một hình dung như trên, dễ thấy rằng, trí thức có vai trò rất lớn trong xã hội, nhất là trong xã hội hiện đại, khi mà các phương tiện truyền thông phát triển mạnh mẽ như vũ bão, những phương tiện giúp tiếng nói của người trí thức có được sức lan tỏa rộng khắp. Uy tín xã hội khiến người trí thức có ảnh hưởng lớn đến dư luận, thậm chí còn góp phần định hướng dư luận và hành động của một bộ phận, tầng lớp cư dân nào đó. Trong chiến tranh chống Mỹ, tiếng nói của những trí thức như Bertrand Russell, J.P. Sartre đã góp phần quan trọng trong việc ủng hộ cuộc chiến đấu chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Ở Việt Nam, trong giai đoạn trứng nước của nền cộng hòa, sự tham gia của tầng lớp nhân sĩ, trí thức đã là một nguồn động viên quan trọng, góp phần làm nên uy tín, sức mạnh của chính phủ mới. Bên cạnh đó, vốn tri thức, đặc biệt là tri thức có tính liên ngành, đã khiến người trí thức còn có vai trò là người tư vấn - phản biện các chính sách của Nhà nước. Thực tế những năm qua cho thấy, trong các nhiệm kỳ quốc hội, giới trí thức luôn luôn góp mặt, với thành phần là những người có uy tín; và hơn nữa, trái với luận điệu xuyên tạc của một số người, qua các nhiệm kỳ chính phủ, bằng các hình thức khác nhau, Nhà nước cũng thường xuyên duy trì cơ cấu tham vấn và đối thoại giữa giới trí thức với giới lãnh đạo. Các cơ quan báo chí cũng là cầu nối để giới trí thức bày tỏ chính kiến của mình trước những vấn đề nóng bỏng của xã hội, cũng như các quyết sách lớn của Nhà nước. Những năm gần đây với những quyết sách lớn của các cấp chính quyền, giới trí thức còn được mời gọi và được tạo điều kiện để tư vấn, phản biện. Ðáng chú ý, trong lĩnh vực bảo vệ chủ quyền đất nước, đóng góp của giới trí thức, các nhà chuyên môn đặc biệt có giá trị. Tuy nhiên, từ một phía khác, cũng cần thấy rằng bất cứ một tiến trình nào cũng đều tiềm ẩn những nguy cơ. Trước hết, việc phân tích, đánh giá và đưa ra giải pháp về các vấn đề xã hội có thể dễ rơi vào tình trạng phiến diện, thiếu cái nhìn đa chiều và tính biện chứng. Ðó là chưa kể tới tình trạng vì cả tin cho nên dẫn đến việc áp dụng nhiều lý thuyết khoa học chưa được kiểm chứng và xác nhận cơ sở khoa học. Một phương diện nguy hiểm khác là người trí thức, do còn thiếu thông tin thực tế, hoặc quen sống trong môi trường hoạt động riêng biệt mà có thể bị lôi cuốn và lợi dụng. Tuy nhiên, nguy hại lớn nhất lại xuất phát từ những nguyên nhân có tính chủ quan như nhẹ dạ, thiếu cẩn trọng, thậm chí lầm tưởng hoặc tự lầm tưởng phản biện xã hội là chức năng xã hội duy nhất của trí thức. Nguy hại hơn, đã có một vài "trí thức" lập blog cá nhân, từng bước biến blog đó thành trang thông tin điện tử, mang dáng dấp của một thứ báo tư nhân, đồng thời đăng tải trên đó các thông tin không được kiểm chứng, kèm các bình luận có tính xuyên tạc. Các hiện tượng nói trên cho thấy, trí thức luôn là lực lượng quan trọng trong xã hội, là đại diện của tri thức và lương tâm của xã hội, nhưng khi thế giới tinh thần gắn với nhận thức sai lạc hoặc gắn với ý đồ cá nhân, thì trí thức cũng có thể sa vào con đường lầm lỡ, thậm chí tác động tiêu cực đến xã hội. 3. Quan sát đời sống chính trị trên thế giới hiện nay, có thể nhận thấy một khuynh hướng rõ nét, đó là sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc và nhiều khi chủ nghĩa dân tộc bị đẩy đến mức cực đoan. Trước hết, cần khẳng định rằng, dân tộc, quyền lợi dân tộc, chủ quyền dân tộc là những giá trị thiêng liêng, cao cả. Ngay ở những nơi mà khuynh hướng quốc tế và liên kết khá mạnh như châu Âu, cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính kéo dài trong mấy năm vừa qua cho thấy thực tế hết sức hiển nhiên là không có một cá nhân hoặc thiết chế chính trị nào có thể đứng trên các vấn đề dân tộc. Những bất đồng sâu sắc, thậm chí đến mức chia rẽ, có thể đẩy tới nguy cơ làm tan rã Liên minh châu Âu và "khai tử" đồng Euro chủ yếu đều bắt nguồn từ quyền lợi dân tộc. Tuy vậy, lịch sử cũng cho thấy một bài học mà nhân loại đã phải trả với giá rất đắt, bằng rất nhiều máu, đó là chủ nghĩa dân tộc cực đoan cũng là ngọn cờ dễ bị lợi dụng phục vụ cho các mưu đồ chính trị đen tối và gây ra những thảm họa khôn lường. Nguy hại hơn, các thế lực thù địch cũng đang cố gắng lợi dụng các khẩu hiệu liên quan đến quyền lợi dân tộc để trục lợi chính trị, thúc đẩy "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến". Chính lúc này, trách nhiệm xã hội đang đòi hỏi người trí thức có trách nhiệm cần luôn cẩn trọng trước khi đưa ra quan điểm, ý kiến riêng, nhất là nhân danh khoa học. Cần nhận thức rằng, tiếng nói của những người được coi là trí thức, được coi là có trí tuệ, khi đề cập đến các vấn đề dân tộc lại rất dễ mê hoặc một bộ phận công chúng còn thiếu cái nhìn phê phán và tỉnh táo. Lần dở lại lịch sử Việt Nam những năm 1945 - 1946, thời kỳ trứng nước của chế độ mới, khi Chính phủ lâm thời dưới sự lãnh đạo của Hồ Chủ tịch phải tiến hành những bước đi khéo léo, hòa hoãn tạm thời với thực dân Pháp để chuẩn bị cho kháng chiến, không ít "trí thức xa lông" cũng lên tiếng phê phán Chính phủ mới đã "bán nước cho Pháp". Và lịch sử đã chứng minh chân lý, lẽ phải không thuộc về những người đó, mà thuộc về những trí thức chân chính, những con người thuộc đủ mọi thế hệ, nguồn gốc học vấn, biết vượt qua những định kiến để đặt trọn niềm tin vào Ðảng Cộng sản, tận hiến với dân tộc trên con đường đấu tranh vì nền độc lập của đất nước. Tấm gương của các trí thức đó là minh chứng thuyết phục nhất về một ý thức dân tộc chân chính, tuyệt đối vô tư, không tách rời sự tỉnh táo trí tuệ và tỉnh táo chính trị, biết nhận ra và đứng về phía lẽ phải.