Thứ Sáu, 25 tháng 6, 2021

Bữa sáng mùa COVID-19: 'Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều'

Gần 1 tháng nay, đều đặn mỗi ngày nhóm thiện nguyện Quỹ Phước An Nhiên chuẩn bị phần quà sáng gửi tặng đến những người lao động nghèo trên địa bàn thành phố Hà Nội tại hai địa điểm: phố Định Công ( Hoàng Mai) và phố Ngọa Long (Bắc Từ Liêm).
         Từ 5h sáng, nhóm bạn trẻ tất bật bày biện thùng bánh mì, nồi bánh bao nóng hổi, có hôm thêm phần bánh giò, quả trứng, hoa quả hay chai nước suối vì nghĩ đến người lao động phải vất vả mưu sinh trong tiết trời Hà Nội nóng nực.

Bữa sáng yêu thương mùa COVID-19: Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều - Ảnh 2.

Ở khu phố Ngọa Long (đường Cầu Diễn) tập trung rất đông người lao động nghèo. Mỗi bữa sáng, nhóm thiện nguyện chuẩn bị bánh mì, bánh bao, bánh giò, chai nước suối, hoa quả để gửi đến các cô, các chú, các anh xe ôm 

Chị Đoàn Hồng Điệp, sáng lập Quỹ Phước An Nhiên, chia sẻ trước tình hình dịch bệnh COVID-19, nhóm triển khai hỗ trợ bữa ăn sáng cho bà con lao động nghèo, khó khăn trên địa bàn thủ đô. Mỗi buổi sáng tại hai điểm, nhóm chuẩn bị từ 500 - 600 suất ăn sáng.

"Chúng tôi mong muốn sẻ chia với người lao động trong những lúc khó khăn, giúp họ có động lực, yên tâm hơn trong mùa dịch, vì bên cạnh họ luôn luôn có người hỗ trợ, đồng hành" - chị Điệp bộc bạch.

Đạp xe đến nhận phần ăn sáng, cô nhặt ve chai xúc động luôn miệng gửi lời cảm ơn đến các thành viên trong nhóm thiện nguyện.

"Hôm nay tôi để dành suất này cho bữa trưa. Cảm ơn, cảm ơn rất nhiều. Yêu thương thế này không còn lo COVID-19 nữa", cô rưng rưng.


Việt Nam-Lào mối quan hệ gắn bó, thủy chung

Là hai nước láng giềng vô cùng thân thiết, trải qua quá trình lịch sử đấu tranh gian khổ, vượt qua những thử thách, mối quan hệ Việt Nam và Lào ngày càng gắn bó, thủy chung, tin cậy, hiệu quả. Với nền móng vững chắc được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Kaysone Phomvihane cùng các thế hệ lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước dày công vun đắp, quan hệ Việt Nam - Lào tiếp tục được củng cố và phát triển ngày càng sâu rộng, thiết thực và hiệu quả trên tất cả các lĩnh vực, góp phần quan trọng vào việc giữ gìn ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng-an ninh ở mỗi nước.

Quan hệ chính trị của hai nước tiếp tục được tăng cường và ngày càng đi vào chiều sâu, gắn bó, tin cậy, giữ vai trò nòng cốt định hướng tổng thể trong quan hệ hai nước. Hai bên đã phối hợp tổ chức tốt các chuyến thăm, gặp gỡ, tiếp xúc giữa Lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; ký kết nhiều văn kiện hợp tác quan trọng giữa hai Đảng, hai Chính phủ; tập trung triển khai thực hiện tốt các Tuyên bố chung và Thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước...

Các ban của Đảng, bộ, ngành và các cơ quan của Quốc hội, Mặt trận, đoàn thể và các địa phương của hai nước đều ký và tích cực triển khai các thỏa thuận, chương trình hợp tác song phương và thường xuyên có các chuyến thăm lẫn nhau để thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; chia sẻ kinh nghiệm về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, quản lý nhà nước, phát triển kinh tế-xã hội và hội nhập quốc tế cũng như các lĩnh vực chuyên môn khác mà hai bên cùng quan tâm.

Hai bên cũng tăng cường trao đổi thông tin, hội thảo lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về công tác xây dựng Đảng, quản lý kinh tế-xã hội, hợp tác, đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý các cấp của Lào. Hai bên phối hợp tuyên truyền sâu rộng về truyền thống quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam – Lào; tổ chức tốt các ngày lễ quan trọng của hai Đảng, hai nước; tuyên truyền sâu rộng về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt Việt Nam - Lào, nhất là trong thế hệ trẻ nhân các sự kiện trọng đại trong quan hệ giữa hai nước; triển khai xây dựng một số công trình và tôn tạo các di tích lịch sử về quan hệ Việt Nam - Lào ở mỗi nước…

Năm 2020 và những tháng đầu năm 2021, trong bối cảnh dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, hai bên vẫn duy trì thường xuyên một số chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao bằng các hình thức phù hợp.

Hợp tác quốc phòng, an ninh và đối ngoại tiếp tục được khẳng định là một trong những trụ cột hết sức quan trọng trong quan hệ đặc biệt giữa Việt Nam và Lào.

Hai bên phối hợp chặt chẽ bảo đảm ổn định chính trị, an ninh, trật tự an toàn xã hội ở mỗi nước; thực hiện tốt các Nghị định thư và Kế hoạch hợp tác hàng năm giữa hai Bộ Quốc phòng, hai Bộ Công an; hợp tác xây dựng tuyến biên giới Việt Nam - Lào ổn định và phát triển bền vững; hoàn thành Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào và ký 2 văn kiện pháp lý quan trọng là "Nghị định thư về đường biên giới và mốc giới Việt Nam - Lào" và "Hiệp định về quy chế quản lý biên giới và cửa khẩu biên giới trên đất liền giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Lào" (năm 2016). Các cơ quan chức năng hai nước phối hợp phòng, chống các tội phạm xuyên quốc gia, nhất là buôn lậu vận chuyển chất ma túy; tiếp tục tìm kiếm, cất bốc và hồi hương hài cốt liệt sỹ quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam hy sinh tại Lào; phối hợp chặt chẽ trong công tác phòng, chống dịch COVID-19. Hai bên thực hiện có hiệu quả cơ chế tham vấn thường niên cấp Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương và Bộ trưởng Ngoại giao; tăng cường trao đổi thông tin về tình hình thế giới và khu vực mà hai bên cùng quan tâm; phối hợp chặt chẽ, hiệu quả trong các hoạt động tại các diễn đàn đa phương. 

"Tiêm chủng không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm"

Để có được vắc xin tiêm cho người dân, Chính phủ và các Bộ, ngành liên quan đã phải nỗ lực rất lớn. Vì sức khỏe của chính mình và cộng đồng, đừng từ chối cơ hội được tiêm vắc xin.

Theo Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên, từ nay đến hết năm, cả nước sẽ mở chiến dịch tiêm chủng vắc xin Covid-19, phấn đấu tỷ lệ trên 70% người dân của cả nước được tiêm vắc xin để đảm bảo miễn dịch cộng đồng. Tức là có khoảng 75 triệu người dân từ 18 tuổi trở lên sẽ được chủng ngừa vắc xin chống Covid-19.

Hiện, các tỉnh thành trên cả nước đang đồng loạt đẩy nhanh tiến độ tiêm vắc xin, đảm bảo thực hiện đúng lộ trình mà Chính phủ và Bộ Y tế đề ra.

Bản thân người viết, với đặc thù nghề nghiệp nên được ưu tiên tiêm vắc xin phòng Covid-19 trong đợt 2, tháng 5/2021. Tất nhiên, cũng như nhiều người, cảm giác lo lắng, bất an trước khi tiêm là không tránh khỏi, nhất là khi có những thông tin "truyền miệng" về tác dụng phụ của vắc xin.

Khi dịch Covid-19 bùng phát tại Nghệ An, tôi thấy mình thật may mắn khi giảm được một phần nguy cơ lây nhiễm trong cộng đồng nhờ mũi tiêm vắc xin đầu tiên đó.

Thỉnh thoảng, tôi vẫn nhận được những cú điện thoại của người quen, hỏi có nên tiêm vắc xin không, bởi nhiều thông tin "nhiễu" trên mạng xã hội khiến họ lo lắng.  "Anh/chị có 2 lựa chọn, hoặc chết vì Covid-19 trong cô đơn, hoặc có thể gặp một số tác dụng không mong muốn từ mũi tiêm và được người nhà, bác sỹ chăm sóc".

Tất nhiên, đó chỉ là một câu nói đùa, nhưng là phản ánh chân thực nhất thực tế để mọi người cân nhắc, đưa ra lựa chọn cho sự an toàn tính mạng và sức khỏe của chính mình.

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến hết sức phức tạp với số ca nhiễm tăng nhanh, phạm vi dịch mở rộng ra nhiều địa phương thì vắc xin là biện pháp duy nhất để chúng ta ngăn chặn virus SARS-CoV-2 xâm nhập vào cơ thể.

Đạt được miễn dịch cộng đồng là cái đích không chỉ Việt Nam mà các nước trên thế giới hướng tới. Và tiêm vắc xin là cách duy nhất để đạt được mục tiêu này.

Khi nguồn vắc xin trên thế giới đang khan hiếm và chưa chủ động được vắc xin tự sản xuất trong nước, Chính phủ đã và đang nỗ lực để có 150 triệu liều vắc xin tiêm cho 70% dân số cả nước. Thậm chí chúng ta phải chấp nhận nhiều điều khoản của bên cung ứng vắc xin đưa ra mà không có cơ hội được đàm phán.

Một lực lượng hùng hậu với những thiết bị liên quan đã được huy động cho chiến dịch tiêm vắc xin toàn quốc. Phác đồ xử lý các tình huống tai biến sau tiêm cũng như các cơ sở vật chất đảm bảo an toàn sau tiêm chủng cũng đã được tính toán chi tiết và triển khai ở tất cả các tỉnh, thành.

Bởi vậy, hơn lúc nào hết, Chính phủ, Bộ Y tế cần sự phối hợp của mỗi người dân để hoàn thành mục tiêu đảm bảo miễn dịch cộng đồng.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Dương Thị Hồng - Phó viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương, việc sớm được tiêm chủng vắc xin phòng Covid-19 là yếu tố quan trọng để chủ động phòng bệnh cho cá nhân và cộng đồng. Người dân không nên có tâm lý lựa chọn vắc xin mà chờ đợi và bỏ đi cơ hội tiêm chủng sớm.

Bà Hồng cũng nhấn mạnh: "Tiêm chủng không chỉ là quyền lợi của mỗi cá nhân người dân Việt Nam, mà còn là trách nhiệm, vì muốn phòng bệnh thì phải đạt miễn dịch cộng đồng, nghĩa là ít nhất 70% dân số phải được tiêm chủng".

Trong thời điểm này, được tiêm vắc xin, đó là một điều may mắn. Và xin hãy thuộc nằm lòng nguyên tắc 5K và vắc xin - "vũ khí" để chúng ta chiến thắng đại dịch Covid-19!


Thứ Năm, 24 tháng 6, 2021

Hai bệnh nhân Covid-19 thứ 73 và 74 tử vong

Bộ Y tế cho biết cả hai bệnh nhân đều có bệnh lý nền, trong đó người đàn ông 44 tuổi ở TPHCM mắc đái tháo đường túyp 2, trường hợp còn lại ở Kiên Giang 68 tuổi, bị đái tháo đường, tăng huyết áp.

Trưa 25/6, Tiểu ban Điều trị Ban chỉ đạo phòng chống dịch Covid-19 thông báo các ca tử vong 73 và 74.

Ca tử vong thứ 73: BN9830, nam, 44 tuổi, ở huyện Bình Chánh, TPHCM, tiền sử đái tháo đường túyp 2.

Ngày 14/6, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính SARS-CoV-2, được chuyển từ Bệnh viện Điều trị Covid-19 Cần Giờ đến Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Bệnh nhân điều trị tại khoa Hồi sức cấp cứu Covid-19 trong tình trạng tỉnh, khó thở phải thở oxy mask 15 lít/phút.

Hai bệnh nhân Covid-19 thứ 73 và 74 tử vong - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Ảnh minh họa. 

Tại đây, bệnh nhân được điều trị hồi sức tích cực bằng thở máy qua nội khí quản, an thần, giãn cơ, kháng sinh, kháng đông, kháng viêm, insulin, thuốc vận mạch. Tuy nhiên do có bệnh nền, đáp ứng điều trị kém, bệnh nhân diễn biến nặng dần. Bệnh nhân tử vong rạng sáng 22/6.

Nguyên nhân tử vong là viêm phổi do SARS-CoV-2 nặng biến chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan trên bệnh nhân đái tháo đường túyp 2.

Ca tử vong thứ 74 là BN11456, nữ, 68 tuổi, ở huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang. Bệnh nhân có tiền sử đái tháo đường túyp 2, tăng huyết áp, di chứng lao phổi (đã hoàn thành điều trị cách đây 10 năm).

Ngày 16/6, bệnh nhân có kết quả xét nghiệm dương tính SARS-CoV-2, nên được chuyển từ Bệnh viện Điều trị Covid-19 Cần Giờ đến Bệnh viện Phạm Ngọc Thạch điều trị trong tình trạng suy hô hấp không cải thiện, hỗ trợ oxy mask liên tục.

Tại đây, bệnh nhân được điều trị hồi sức tích cực bằng thở máy qua nội khí quản, an thần, giãn cơ, kháng sinh, kháng đông, kháng viêm, insulin, thuốc vận mạch. Tuy nhiên do tuổi cao, bệnh lý nền nặng, đáp ứng điều trị kém, bệnh diễn biến nặng dần. Bệnh nhân tử vong rạng sáng 23/6.

Nguyên nhân tử vong là viêm phổi do SARS-CoV-2 nặng biến chứng suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS), sốc nhiễm khuẩn trên bệnh nhân tăng huyết áp, đái tháo đường túyp 2, di chứng lao phổi.

Như vậy, đến nay Việt Nam đã ghi nhận 74 bệnh nhân Covid-19 tử vong, trong đó riêng đợt dịch thứ 4 có 39 trường hợp tử vong. 


Trưa 25/6, thêm 112 ca Covid-19

 

Bộ Y tế thông tin trong số này có 109 ca lây nhiễm trong nước tại 8 tỉnh thành, chủ yếu được phát hiện trong khu cách ly, phong tỏa. TPHCM là địa phương có số ca mắc nhiều nhất với 50 bệnh nhân.

Tính từ 6h đến 12h ngày 25/6, nước ta có 112 ca mắc mới (BN14324-14435): 3 ca cách ly ngay sau khi nhập cảnh tại Kiên Giang (1), Quảng Ninh (1), An Giang (1).

109 ca ghi nhận trong nước tại TPHCM (50), Long An (21), Bắc Giang (18), Bình Dương (12), Hưng Yên (3), Phú Yên (2), Bắc Ninh (2), Quảng Ninh (1); trong đó 106 ca được phát hiện trong khu cách ly hoặc khu đã được phong tỏa.

ĐÃ HỨA LÀ PHẢI LÀM

 Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đang nỗ lực, quyết liệt triển khai các phong trào, chương trình hành động đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025. Việc học tập, quán triệt, thực hiện nghị quyết của Đảng được triển khai gắn liền với tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tổ chức thắng lợi cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Những ngày hội lớn của non sông tạo nên môi trường văn hóa tinh thần tích cực, lành mạnh. Đây là cơ hội để cán bộ, đảng viên thể hiện vai trò trách nhiệm, xứng đáng là công bộc của dân...

Khi cán bộ đã hứa là làm

Đưa Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng vào cuộc sống, nhiều cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ chủ chốt đã thực hiện tốt vai trò nêu gương, tận dụng, khai thác lợi thế, tiện ích của công nghệ thông minh để truyền tải, thực hiện hiệu quả những lời hứa, cam kết trước dân. Những tấm gương cán bộ gương mẫu trong vùng tâm dịch Covid-19 ở các địa phương, như: Hải Dương, Bình Dương, Hà Nội, TP Hồ Chí Minh... thời gian qua được truyền thông phản ánh, đã lan tỏa những nét đẹp bình dị mà cao quý từ lời hứa, cam kết hành động của công bộc. Chẳng hạn, chuyện lãnh đạo UBND tỉnh Bình Dương lập nhóm kết nối zalo với người dân trong khu cách ly để trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, hứa hẹn và chỉ đạo giải quyết nhanh chóng, kịp thời những kiến nghị của dân, đã nêu gương sáng về sự gần dân, sâu sát cơ sở.

Cùng với công khai số điện thoại, lập đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của dân, thời gian gần đây, nhất là trong bối cảnh phòng chống dịch Covid-19, mô hình dùng zalo, mạng xã hội kết nối giữa cán bộ, đảng viên với dân đã và đang được rất nhiều cấp ủy, đơn vị, địa phương thực hiện hiệu quả. Thông qua sự tương tác trực tiếp, giúp cán bộ nắm chắc tâm tư, nguyện vọng và những bức xúc của dân. Trong quá trình thừa hành công vụ theo chức trách, nhiệm vụ được giao, nếu cán bộ, đảng viên có lỡ “quên” lời hứa thì sẽ được nhắc nhở, chấn chỉnh kịp thời.


 Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Một trong những câu chuyện về lời cam kết của cán bộ được dư luận truyền thông quan tâm, chú ý thời gian gần đây là sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của đồng chí Nguyễn Thành Phong, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND TP Hồ Chí Minh về xử lý tình trạng ô nhiễm tiếng ồn từ karaoke tự phát. Từ phản ánh của người dân, người đứng đầu chính quyền thành phố đã lắng nghe, tiếp thu, cam kết trước dân sẽ chỉ đạo xử lý dứt điểm. Và thực tế đã chứng minh, ông đã hành động ngay theo cách đã hứa là làm. Từ sự chỉ đạo kịp thời, quyết liệt của Chủ tịch UBND thành phố, các ngành chức năng đã vào cuộc, được sự ủng hộ, đồng hành một cách tự giác của người dân, tình trạng ô nhiễm tiếng ồn từ karaoke tự phát đã được giải quyết dứt điểm, triệt để trong một thời gian rất ngắn. Lòng dân là thước đo chính xác nhất và những đánh giá của dân là công bằng, khách quan nhất. Tại các cuộc tiếp xúc cử tri vừa qua, người đứng đầu chính quyền TP Hồ Chí Minh đã nhận được tình cảm yêu mến, tin cậy của cử tri về phong cách nói đi đôi với làm, lan tỏa tinh thần trách nhiệm đến với cán bộ, đảng viên các cấp.

Một câu chuyện khác thể hiện tính nhân văn sâu sắc về mối quan hệ đồng chí đồng đội trong môi trường quân ngũ ở Quân đoàn 4. Chuyện là trong những lần đối thoại dân chủ với cán bộ, chiến sĩ ngay sau khi được bổ nhiệm là người chỉ huy cao nhất quân đoàn, Thiếu tướng Phạm Xuân Thuyết, Tư lệnh Quân đoàn 4 đã lắng nghe, thấu hiểu, chia sẻ những khó khăn trong cuộc sống gia đình, nhu cầu bức thiết về nhà ở của nhiều sĩ quan trẻ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng. Đồng chí đã hứa với cán bộ, chiến sĩ thuộc quyền, sẽ dành sự quan tâm đặc biệt đến vấn đề này. Hứa là làm, đồng chí tư lệnh quân đoàn đã đề xuất Thường vụ Đảng ủy Quân đoàn 4, đưa vào nghị quyết việc giải quyết nhu cầu nhà ở, an cư lạc nghiệp cho cán bộ, sĩ quan trẻ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng trong toàn quân đoàn là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm. Trên cơ sở đó, tư lệnh quân đoàn đã chỉ đạo các cơ quan chức năng lập đề án xin ý kiến của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng, triển khai mô hình nhà công vụ. Với hiệu quả dân vận khéo, bằng cách làm sáng tạo, tiết kiệm, năm 2020 được coi là năm đột phá mạnh mẽ của Quân đoàn 4 về lĩnh vực này. Chỉ trong một năm, Quân đoàn 4 đã hoàn thành hơn 300 căn nhà công vụ (trung bình mỗi căn có diện tích gần 70m2), cả xây dựng mới, hoán cải công năng, sửa chữa, nâng cấp, đáp ứng nhu cầu nhà ở cho một bộ phận lớn các gia đình quân nhân. Quân đoàn 4 là điểm sáng tiêu biểu của toàn quân về chăm lo hậu phương quân đội, góp phần hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị trung tâm...

Lấy xây để chống, nhân rộng điển hình

Tại Đại hội chiến sĩ thi đua nông nghiệp toàn quốc lần thứ III, ngày 23-5-1958, Bác Hồ đã nhắc nhở cán bộ, đảng viên: “Đã hứa thì phải làm, làm thì nhất định phải được”. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, trong bối cảnh hiện nay, tinh thần cống hiến vì dân, khát vọng xây dựng đất nước hùng cường là dòng chủ lưu của đời sống xã hội. Chính vì vậy, khuôn khổ một bài báo không thể đề cập được nhiều mô hình hay, cách làm hiệu quả từ các cấp ủy, tổ chức Đảng. Nêu một số dẫn chứng như trên để thấy, trong quá trình đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chúng ta phải kiên định, thống nhất cao tinh thần lấy xây để chống. Phê bình, đấu tranh là để chỉ ra khuyết điểm của đồng chí mình, giúp đồng chí, đồng đội khắc phục, sửa chữa để xứng đáng hơn với niềm tin, sự gửi gắm từ mỗi lá phiếu trong đại hội, xứng đáng là công bộc của dân. Với tinh thần ấy, việc nêu gương, nhân rộng điển hình từ mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp có ý nghĩa hết sức quan trọng. Đó là chất xúc tác để lan tỏa văn hóa đạo đức công bộc, lấy cái đẹp dẹp cái xấu.

Lời hứa là một biểu hiện của văn hóa công bộc, là thuộc tính thể hiện bản ngã của con người. Nhìn nhận, đánh giá lời hứa của cán bộ, của đồng chí, đồng đội mình nhiều khi không thể lượng hóa một cách máy móc mà nó còn phụ thuộc vào góc nhìn, thái độ của người phê bình. Để giúp đồng chí mình thực hiện lời hứa thì bản thân mỗi cán bộ, đảng viên trong cấp ủy, tổ chức Đảng phải có cách tiếp cận, phê bình, góp ý thân tình. Bao trùm lên tất cả là phải thực tâm có tinh thần xây dựng, có ý thức cầu tiến, cầu thị, tiếp thu thì việc phê bình, tự phê bình mới đạt hiệu quả, yêu cầu đề ra, giúp cán bộ đã hứa thì thì phải làm và làm thì nhất định phải được...

KHÔNG THẾ LỰC NÀO CÓ THỂ NGĂN CẢN BƯỚC TIẾN CỦA DÂN TỘC

Đại hội XIII của Đảng xác định tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc và Đảng ta. Mục tiêu ấy không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội (KT-XH) mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng thời đại. Nhưng các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại xuyên tạc việc Đảng Cộng sản Việt Nam đưa ra tầm nhìn, khát vọng phát triển đất nước như vậy là viễn cảnh hão huyền, viển vông.

Một lối suy diễn quy chụp, vô lương

Tìm đủ chiêu trò để bôi nhọ, xuyên tạc nhằm chống phá, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là âm mưu, thủ đoạn không bao giờ thay đổi của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội chính trị. Việc Đảng ta tổ chức Đại hội XIII thành công rất tốt đẹp trên mọi phương diện, được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao, khiến những phần tử bất mãn, cơ hội chính trị càng thêm cay cú. Họ không chỉ phủ nhận nền tảng tư tưởng, xuyên tạc đường lối chính trị của Đảng mà còn cố tình đánh lạc hướng dư luận bằng những cái nhìn thiển cận, hẹp hòi và suy diễn ác ý về những điểm mới được xác định trong nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

Họ cho rằng, các quan điểm và giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đưa ra trùng lắp, chống chéo, cái nọ cản trở cái kia nên khó có thể thực hiện được. Họ rêu rao việc Đảng Cộng sản Việt Nam xác định mục tiêu “Đến năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” chỉ là những chiếc bánh vẽ ghi trong văn kiện Đảng”; còn việc “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc là mục tiêu tuyên truyền “vẽ voi trên giấy” của tuyên giáo Cộng sản Việt Nam sau Đại hội XIII”, là thái độ mị dân của những người cộng sản “chỉ nói hay mà không làm”... 

Từ cái nhìn sặc mùi phản động đó, họ đã bộc lộ rõ tim đen của những kẻ chống phá quyết liệt đối với Đảng và chế độ ta: “Còn chuyên chế cộng sản lãnh đạo thì người Việt Nam không có quyền tự do, dân chủ, hạnh phúc và cũng không có khát vọng phát triển thịnh vượng, hùng cường”!


Các đại biểu biểu quyết, thông qua Nghị quyết Đại hội XIII Đảng Cộng sản Việt Nam. 
 

Cơ sở khoa học để từng bước hiện thực hóa khát vọng chính đáng, nhân văn

Việc Đảng ta đưa ra tầm nhìn, mục tiêu phấn đấu từng bước đưa nước ta phát triển trong 5 năm, 10 năm, 25 năm nhân dịp các mốc son lịch sử của dân tộc, không chỉ khích lệ, động viên, thúc giục toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển KT-XH mà còn chủ động tạo ra thế và lực ngày càng ổn định, vững vàng để đưa đất nước bứt phá, phát triển cùng với xu thế phát triển của thời đại.

Sau nhiều năm giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế khá, đặc biệt năm 2020 trong điều kiện đại dịch Covid-19 bùng phát trên toàn cầu, phần lớn các nước trên thế giới có mức tăng trưởng âm thì nước ta vẫn giữ được mục tiêu kép là vừa kiểm soát tốt dịch bệnh, vừa giữ mức tăng trưởng dương. Năm 2020 quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 343 tỷ USD, đứng trong tốp 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới và đứng thứ tư ASEAN; GDP bình quân đầu người đạt 3.521USD, đứng thứ sáu ASEAN.

Theo TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, để nằm trong nhóm các nước thu nhập trung bình cao vào năm 2025, theo tiêu chí của Ngân hàng Thế giới (WB) thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam phải ở mức 4.046-12.535USD/người/năm. Khi đó, quy mô GDP năm 2025 của Việt Nam cần đạt từ 410 tỷ USD (mức cận dưới) đến 1.260 tỷ USD (mức cận trên). Nếu tăng trưởng bình quân giai đoạn 2021-2030 ở mức 6,7-6,8% (tương đương với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020) thì đến năm 2027 Việt Nam sẽ vào nhóm nước thu nhập trung bình cao.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chỉ tiêu cụ thể: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 5 năm đạt khoảng 6,5-7%/năm; GDP bình quân đầu người khoảng 4.700-5000USD. Như vậy, đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp” là có cơ sở. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, mục tiêu phấn đấu “là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao” cũng có căn cứ hiện thực, vì mục tiêu này dựa trên các kịch bản tăng trưởng kinh tế phù hợp với nguồn lực, khả năng hiện tại và triển vọng phát triển của đất nước.

Dưới góc nhìn của chuyên gia kinh tế, TS Nguyễn Minh Phong cho rằng, định hướng tầm nhìn và khát vọng phát triển cho Việt Nam dựa trên nguyên tắc lấy thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, phản ánh quy luật phát triển ở Việt Nam và khai thác có hiệu quả những thành tựu phát triển của thế giới, nhất là thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0; tiếp thu có chọn lọc những giá trị tiến bộ của nhân loại về phát triển toàn diện con người, vì con người, lấy con người làm trung tâm, phù hợp với triết lý phát triển của dân tộc Việt Nam và bản chất nhân văn cao đẹp của chủ nghĩa xã hội; đồng thời phù hợp với những chuẩn mực quốc tế về quản trị tốt, phục vụ phát triển và có khả năng xử lý, ứng phó linh hoạt với những vấn đề mới nảy sinh trong thực tiễn.

Tầm nhìn, khát vọng phát triển của Việt Nam không phải dựa trên ý chí chủ quan, không phải là tâm lý “con hát mẹ khen hay” như một số luận điệu rêu rao mà điều này được giới truyền thông quốc tế nhận định là có cơ sở. Báo The Washington Times (phiên bản báo in) của Mỹ ngày 9-4 vừa qua đăng bài viết đánh giá Việt Nam đã thành công trong việc kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt nhà nước; đồng thời nhận định Việt Nam có một quá trình phát triển kinh tế đáng kinh ngạc khi vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới trong hai thập kỷ qua. Mặt khác, Việt Nam đã có được sự ổn định về mặt chính trị, tạo đà cho sự tăng trưởng kinh tế, nâng cao mức thu nhập của người dân trong những năm tới.

Mới đây, nhiều hãng truyền thông uy tín tại Romania, như: Hãng thông tấn quốc gia Agerpres, Romaniatv.net, Republicatv.ro, Proarges.ro, Digi24.ro,... cũng nhận định, vào đầu nhiệm kỳ Chính phủ 2016-2021, Việt Nam là quốc gia đứng thứ 14 trên thế giới về dân số, quy mô nền kinh tế đứng thứ 48, nhưng đến nay, xếp hạng của Việt Nam đã tăng 11 bậc, đứng thứ 37 thế giới. Dù con đường phát triển còn nhiều khó khăn, thử thách nhưng có cơ sở để tin tưởng Việt Nam từ ngưỡng thu nhập trung bình sẽ gia nhập nhóm nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Mỗi con người có khát vọng đã là điều đáng quý. Càng quý trọng hơn khi mỗi tổ chức, mỗi cộng đồng, mỗi quốc gia dân tộc đều có khát vọng cao cả để hy vọng làm được những điều tốt đẹp, góp phần làm thay đổi cuộc sống, xã hội theo chiều hướng tích cực, văn minh, tiến bộ; qua đó đóng góp vào sự phát triển chung của nhân loại.

Do đó, ngăn cản khát vọng vươn lên của một dân tộc không chỉ là thái độ phản lại những giá trị tiến bộ của nhân loại mà còn là hành vi chà đạp lên ước nguyện chính đáng của gần 100 triệu người Việt đang chung tay góp sức, nỗ lực đồng lòng xây dựng đất nước ngày càng phát triển giàu mạnh, văn minh. Những luận điệu sai trái đó nhất định sẽ bị phủ nhận hoàn toàn bởi niềm tin, ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, như lời khẳng định của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Khát vọng về một nước Việt Nam hùng cường 2045 “sánh vai cùng các cường quốc năm châu” như ước nguyện của Bác Hồ và tinh thần Đại hội Đảng XIII đề ra, là mục tiêu cao cả mà chúng ta hôm nay và những thế hệ tiếp theo phải nỗ lực phấn đấu để giành được. Cha ông ta đã làm nên những trang sử hào hùng, được viết bằng mồ hôi và xương máu của biết bao thế hệ. Chúng ta có niềm tin mãnh liệt rằng: Tiếp nối truyền thống hào hùng sẽ có nhiều chương sử mới viết tiếp những kỳ tích tiến lên giàu mạnh, hùng cường của đất nước ta và dân tộc ta”.

CẦN CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, TỈNH TÁO KHI GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ BIỂN ĐÔNG

Thời gian gần đây, khi tình hình Biển Đông xuất hiện những biến động phức tạp, các thế lực thù địch một lần nữa lại lợi dụng vấn đề này để bóp méo sự thật, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, từ đó khuấy động lòng dân, hòng gây mất ổn định tình hình an ninh, trật tự trong nước và làm tổn hại đến quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan.

Trước hết, phải tái khẳng định rằng, chủ quyền quốc gia là không thể từ bỏ và đây cũng là nguyên tắc bất biến trong quá trình dựng và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Riêng với vấn đề Biển Đông, những người đứng đầu Đảng, Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Quốc phòng Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, Việt Nam có chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển ở Biển Đông được xác định theo đúng các quy định của Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) mà Việt Nam và các nước ở Biển Đông đều là thành viên. Với vấn đề chủ quyền lãnh thổ nói chung và vấn đề Biển Đông nói riêng, lập trường nhất quán của Việt Nam là giải quyết mâu thuẫn thông qua thương lượng hòa bình trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, phù hợp với luật pháp quốc tế, đặc biệt là UNCLOS 1982 và Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Thực tế cho thấy, mỗi khi chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia của Việt Nam trên Biển Đông bị xâm phạm, lãnh đạo Đảng, Nhà nước luôn thể hiện tinh thần đấu tranh kiên quyết, kiên trì bằng các biện pháp hòa bình, cụ thể là thông qua các diễn đàn, các cuộc gặp gỡ trong các lĩnh vực chính trị, ngoại giao... Những năm gần đây, khi vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao, chúng ta càng có thêm nhiều cơ hội để đưa ra tiếng nói, khẳng định chủ quyền ở Biển Đông tại các cơ chế, diễn đàn đa phương. Ví dụ điển hình nhất là trong thời gian đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 và Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020-2021, Việt Nam đã nhiều lần nêu vấn đề Biển Đông để cộng đồng quốc tế có cái nhìn khách quan, đúng đắn về vấn đề này.


 Âu tàu trên đảo Đá Tây. Ảnh: qdnd.vn.

Bởi vậy, dù tình hình trên biển nhiều lúc căng thẳng, phức tạp, Việt Nam vẫn đạt được mục tiêu, đó là giữ vững chủ quyền biển, đảo, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không để xảy ra xung đột. Qua đó càng chứng minh chủ trương, đường lối, chính sách giải quyết bất đồng trên Biển Đông của Việt Nam là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với xu thế chung của thế giới.

Ấy vậy mà gần đây, trước những thông tin mới về tình hình Biển Đông, dù chưa biết diễn biến ở thực địa "nóng, lạnh" ra sao, một số đối tượng vẫn “cầm đèn chạy trước ô tô”, kích động dư luận bằng những nhận định xuyên tạc, bóp méo sự thật... Những luận điệu đó thực chất là chiêu bài kích động hận thù dân tộc, khiến cho tình hình thêm căng thẳng, nhằm thực hiện chia rẽ nội bộ và làm căng thẳng quan hệ đối ngoại của Việt Nam, mưu đồ tạo ra một cuộc xung đột quân sự với hậu quả khó lường.

Lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc Việt Nam và những cuộc chiến tranh trên thế giới đã chứng minh cho hậu quả nghiêm trọng của xung đột vũ trang. Người dân Việt Nam hơn ai hết mong muốn hòa bình, ổn định và phát triển. Do đó, với vấn đề Biển Đông, ưu tiên hàng đầu của Việt Nam là giải quyết bất đồng bằng các biện pháp hòa bình. Chiến tranh chỉ là giải pháp cuối cùng, bất khả kháng để tự vệ và bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc.

Nhân đây, cũng cần khẳng định lại rằng, bên cạnh việc kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện hòa bình, dựa trên chứng cứ pháp lý, lịch sử và luật pháp quốc tế, lực lượng vũ trang Việt Nam vẫn ngày đêm bám biển, sẵn sàng canh giữ và thực hiện các phương án bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.

Cũng từ vấn đề Biển Đông, các thế lực thù địch rêu rao rằng Việt Nam đi với nước này chống nước kia. Thực tế có phải như vậy?

Nên nhớ rằng, trong xu thế hợp tác và phát triển của thế giới, Việt Nam ngày càng mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác với nhiều quốc gia và tổ chức quốc tế, song tuyệt nhiên không có tư tưởng và hành động dựa dẫm, ỷ lại hoặc "lôi bè kéo cánh" để giải quyết bất đồng về chủ quyền lãnh thổ. Chính sách không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ của Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế của Việt Nam, là những quan điểm, chính sách nhất quán, đến nay vẫn giữ nguyên giá trị. Bởi vậy, cái gọi là Việt Nam đi với nước này chống lại nước kia là luận điệu xuyên tạc, tuyệt nhiên không có trong đường lối đối ngoại, hoặc trong chủ trương giải quyết vấn đề Biển Đông mà Đảng và Nhà nước Việt Nam đã xác định.

Tiếc rằng, một số người vẫn dễ dàng sập bẫy bởi những quan điểm xuyên tạc kiểu này trên mạng xã hội hoặc trong lúc trà dư tửu hậu. Hậu quả là tâm lý của một bộ phận dư luận trong nước bất an, thậm chí dẫn tới những hành động gây mất ổn định trật tự xã hội, ít nhiều làm tổn hại đến những nỗ lực của Việt Nam và các nước liên quan trong giải quyết vấn đề Biển Đông.

Suy cho cùng, vấn đề Biển Đông không phải là việc có thể giải quyết trong một sớm một chiều, mà cần sự kiên trì, lâu dài. Để góp phần đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam yêu nước rất cần có cái nhìn khách quan về tình hình Biển Đông, về đường lối, chủ trương giải quyết vấn đề này của Đảng và Nhà nước, đồng thời tỉnh táo, cảnh giác, phản bác mạnh mẽ các luận điệu xuyên tạc, kích động mà những phần tử xấu đã và đang rắp tâm tạo ra.

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC PHỤ HỌA, HÙA THEO QUAN ĐIỂM SAI TRÁI

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH) khóa XV và đại biểu Hội đồng nhân dân (ĐBHĐND) các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công đẹp. Sự thành công của cuộc bầu cử càng thêm ý nghĩa khi diễn ra trong bối cảnh đại dịch Covid-19 hoành hành trên khắp đất nước. Không chỉ dư luận trong nước mà dư luận quốc tế cũng đánh giá cao thành công của sự kiện chính trị - pháp lý quan trọng này. Thế nhưng sẽ trọn vẹn hơn nếu không có chuyện trong nội bộ ta một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị hùa theo các thế lực thù địch lợi dụng sự kiện này để xuyên tạc nền dân chủ ở Việt Nam.

VẪN TRÒ A DUA, PHỤ HOẠ

Thông qua vài trang tiếng Việt ở nước ngoài và mạng xã hội, một số người viết bài, trả lời phỏng vấn cho rằng Đảng lãnh đạo cuộc bầu cử chẳng khác nào “vừa đá bóng, vừa thổi còi”; là “đứng trên pháp luật”, “đứng ngoài pháp luật”... Họ mang cuộc bầu cử mà chúng ta vừa tiến hành ra so sánh với các cuộc bầu cử ở Mỹ và một số nước phương Tây rồi nói rằng chế độ bầu cử, nền dân chủ ở Việt Nam là “hình thức”, “thiếu văn hóa dân chủ”... Họ tỏ thái độ không đồng tình với việc Hội đồng BCQG qua mạng viễn thông gửi tin nhắn tuyên truyền về cuộc bầu cử ĐBQH và ĐBHĐND các cấp và cho việc làm đó là vi phạm quyền con người.v.v...

Đáng lưu ý trong số đó có những người trước đây là nhà khoa học, nhà báo, nhà văn, nhà thơ... khi còn đương chức họ ngụy trang kín đáo nên khó phát hiện. Khi về nghỉ hưu thì những gì họ che đậy mới bộc lộ. Trước những sự kiện quan trọng của đất nước họ không chỉ vô cảm mà còn đưa ra những ý kiến đi ngược với quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước; a dua, phụ họa theo những quan điểm, luận điệu sai trái của các thế lực thù địch nhằm chống phá Việt Nam, như: Không thể có dân chủ trong chế độ một Đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam; chỉ thực hiện chế độ đa đảng mới có dân chủ thực sự.v.v... Mục đích sâu xa của những giọng điệu ấy không gì khác vẫn là lợi dụng cuộc bầu cử để xuyên tạc nền dân chủ của Việt Nam;... Đó là những giọng điệu hết sức sai lầm.

Bàn về dân chủ, nhân quyền trước hết cần phải hiểu: Quyền con người là một giá trị cao quý mang tính phổ quát đối với toàn thể nhân loại, đó là một thực tế không ai có thể phủ nhận. Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, cộng đồng quốc tế thừa nhận, quyền con người, quyền dân chủ là một giá trị mang tính lịch sử, có quan hệ trực tiếp và chặt chẽ với đường hướng phát triển của chế độ chính trị - xã hội, điều kiện, hoàn cảnh lịch sử, truyền thống văn hóa... của mỗi quốc gia, dân tộc.

Những nét cơ bản ấy có lẽ ai cũng hiểu được. Vậy chẳng lẽ một số người, trong đó có cả những người vẫn thường khoe mẽ là giáo sư, tiến sĩ... đã từng làm chức nọ, chức kia lại không hiểu được điều ấy? Nếu hiểu được mà vẫn cố tình đem dân chủ phương Tây, bầu cử ở các nước tư bản ra để luận bàn, so sánh với dân chủ, chế độ bầu cử ở Việt Nam thì đó là hành động vô lối và không thể chấp nhận.

Hơn thế càng không thể bê cái mô hình dân chủ tư sản, chế độ bầu cử, “tiêu chuẩn nhân quyền” kiểu tư bản chủ nghĩa để áp đặt vào Việt Nam. Chiêu bài “xuất khẩu” dân chủ phương Tây, dùng “dân chủ, nhân quyền” để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác, trong đó có Việt Nam được các thế lực thù địch toan tính từ lâu. Nhân dân Việt Nam và nhân loại yêu chuộng hòa bình thế giới chẳng lạ chiêu trò đen tối ấy.

Việt Nam sẵn sàng học hỏi, tiếp thu tinh hoa của thế giới để hoàn thiện nền dân chủ của mình. Nhưng Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam khẳng định mạnh mẽ và dứt khoát không bao giờ chấp nhận kiểu dân chủ vô lối mà một số phần tử bất mãn chính trị đang tung hô, tô vẽ. Dù bằng chiêu trò gì chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động cũng không thể “xuất khẩu”, không thể áp đặt cái thứ “dân chủ vô chính phủ” ấy vào Việt Nam.

ĐA ĐẢNG KHÔNG PHẢI CỨU CÁNH CHO DÂN CHỦ

Như đã đặt vấn đề, dân chủ chính là quyền của người dân làm chủ vận mệnh của mình, làm chủ xã hội mà mình đang sống trên tất cả các lĩnh vực, trong mọi hoạt động. Dân chủ gắn liền với tiến bộ xã hội và sự phát triển của lịch sử qua các chế độ xã hội và thời đại khác nhau. Dân chủ chỉ xuất hiện khi có nhà nước và mỗi nền dân chủ đều phải gắn với một nhà nước nhất định, được pháp luật của nhà nước đó quy định.

Chế độ dân chủ mà con người ta có được là kết quả của quá trình phát triển thông qua đấu tranh giai cấp, để giải phóng con người. Chừng nào xã hội còn có giai cấp thì dân chủ trong xã hội đó mang tính giai cấp sâu sắc và phải đặt trong khuôn khổ pháp luật của xã hội đó. Không có thứ dân chủ chung chung phi giai cấp, không có thứ dân chủ nằm ngoài pháp luật... Tất cả những luận điệu phủ nhận vấn đề này đều là lừa bịp, nhằm động cơ đen tối.

Dân chủ chẳng những không thể tách rời mảnh đất hiện thực xã hội, mà còn phụ thuộc rất lớn vào nền tảng kinh tế, văn hóa, xã hội và trình độ dân trí của xã hội đó. Chúng ta không phủ nhận theo lịch sử phát triển của xã hội, sự ra đời của nhà nước tư sản đánh dấu một nấc thang phát triển về dân chủ so với dân chủ trong chế độ phong kiến. Nhưng nền dân chủ trong chế độ tư bản cũng không thể vượt ra ngoài nền tảng kinh tế của xã hội đã sinh ra nó. Do đó toàn bộ thiết chế của nền dân chủ tư sản đều chỉ nhằm đến mục đích cao nhất là bảo vệ sự thống trị của giai cấp tư sản. Bộ máy chính quyền mà nhà nước tư sản lập nên đều hướng đến mục tiêu chống lại tư tưởng tự do, dân chủ của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.

Với tư cách là một nấc thang phát triển cao hơn xã hội tư bản, dân chủ trong xã hội chế độ XHCN khác hẳn về chất so với dân chủ trong xã hội tư bản. Nền dân chủ XHCN lấy tiêu chí cốt lõi để khẳng định bản chất nhà nước của mình đó là “nhân dân là chủ” và “nhân dân làm chủ”. Theo đó, dân chủ XHCN được thể hiện trên những nội dung cốt lõi là: nền dân chủ của nhân dân lao động, vì nhân dân lao động, thể hiện ở việc bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của nhân dân lao động; thừa nhận nguyên tắc bình đẳng và tự do được bảo đảm về mặt pháp lý để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ XHCN có nội dung toàn diện, thể hiện trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,... trong đó nổi bật là sự tham gia một cách bình đẳng và ngày càng rộng rãi người lao động và công việc quản lý nhà nước và xã hội thông qua hai hình thức, đó là: dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện.

Nhìn từ bản chất của hai nền dân chủ, chúng ta thấy rõ ràng dân chủ XHCN ưu việt hơn hẳn. Do đó việc Việt Nam lựa chọn nền dân chủ XHCN là điều không cần phải tranh luận.

ĐẤU TRANH ĐẨY LÙI NHỮNG NHẬN THỨC LỆCH LẠC

Đối với Việt Nam, dân chủ là bản chất của chế độ; dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển đất nước. Dân chủ không phải là thứ bất biến mà nó vận động phát triển không ngừng theo quá trình đi lên của lịch sử xã hội. Bằng nhiều chủ trương, giải pháp chúng ta phấn đấu đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm an toàn, an ninh, trật tự; hoàn thiện hệ thống pháp luật... Thực chất đó là quá trình chúng ta hoàn thiện nền dân chủ, bảo đảm mọi quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Thực tế cho thấy việc thực hành dân chủ trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như trên mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống ở Việt Nam đang ngày càng tốt hơn.

Sẽ là sai lầm nghiêm trọng khi cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có “dân chủ thực sự”. Một điều mà chúng ta phải khẳng định với nhau rằng, dân chủ không đồng nghĩa với đa nguyên, đa đảng mà nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền và bản chất của chế độ xã hội. Do đó thể chế nhất nguyên một đảng lãnh đạo hoàn toàn không đồng nghĩa với mất dân chủ hay kém dân chủ. Thực tiễn tại nhiều quốc gia cho thấy đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, vẫn là nước nghèo, kém phát triển. Trong khi nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng dân chủ được bảo đảm; kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển; đời sống của nhân dân ngày càng nâng cao. Đó là bằng chứng hùng hồn khẳng định đa nguyên, đa đảng không phải cứu cánh cho dân chủ.

Sự xuất hiện những luận điệu sai trái về nền dân chủ XHCN ở Việt Nam do nhiều nguyên nhân, nhưng có thể khu biệt lại ở hai nguyên nhân chính là: do nhận thức hạn chế, thiếu hiểu biết mà vô tình nói sai và nhận thức rõ, có hiểu biết nhưng cố tình phát ngôn lệch chuẩn. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về vấn đề này rất rõ ràng. Với những người do nhận thức hạn chế mà vô tình phát ngôn lệch chuẩn thì phải tuyên truyền để giúp họ nâng cao nhận thức, hiểu biết về dân chủ. Còn với những người hiểu biết rõ về dân chủ nhưng cố tình xuyên tạc, phụ họa, hùa theo các thế lực thù địch nhằm lợi dụng dân chủ để chống phá đất nước thì phải nghiêm trị theo pháp luật.

Đảng và Nhà nước ta luôn phấn đấu để bảo đảm và phát huy dân chủ của nhân dân, đi liền với đó là tăng cường pháp chế XHCN, giữ gìn kỷ luật, kỷ cương, theo tinh thần “Thượng tôn pháp luật” chứ không phải là thứ dân chủ tự do vô hạn độ như những phần tử bất mãn chính trị tung hô.

Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành nhưng cuộc bầu cử ĐBQH khóa XV và ĐBHĐND các cấp nhiệm kỳ 2021-2026 đã thành công tốt đẹp. Cuộc bầu cử thành công mang ý nghĩa rất lớn trong việc đưa Nghị quyết Đại hội lần XIII của Đảng vào cuộc sống, đặc biệt là chủ trương tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN - Nhà nước của dân, do dân, vì dân.


Ảnh minh hoạ.

Nhưng các thế lực thù địch không bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá Việt Nam. Một trong những chiêu trò quen thuộc của chúng là lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, gây phân tâm trong xã hội, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chế độ. Nguy hại hơn các thế lực thù địch luôn tìm cách móc lối với các phần tử thoái hóa, biến chất ở trong nước hòng kích động, lôi kéo những người dân nhẹ dạ cả tin, thiếu hiểu biết về dân chủ phụ họa theo những luận điệu, chiêu trò của chúng.

Thực tế đòi hỏi một mặt chúng ta phải đẩy mạnh tuyên truyền giúp người dân nâng cao nhận thức về dân chủ; tổ chức để nhân dân phát huy quyền làm chủ trong đời sống xã hội. Mặt khác phải coi trọng công tác đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn lợi dụng dân chủ để chống phá Việt Nam mà các thế lực thù địch đang mưu toan móc nối với những phần tử “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở trong nước để tiến hành.

MƯU ĐỒ THÚC ĐẨY ĐA NGUYÊN, ĐỐI LẬP TRONG CÔNG ĐOÀN

 Thời gian qua, một số cá nhân hoặc đại diện cho những tổ chức bất hợp pháp đã viết bài trên mạng xã hội và thực hiện một số hoạt động nhằm tuyên truyền phủ nhận vai trò của Công đoàn Việt Nam, xuyên tạc rằng công đoàn đã "bắt tay với giới chủ, đã từ bỏ đấu tranh giai cấp, không còn bảo vệ cho quyền lợi của công nhân, người lao động". Từ đó, họ kêu gọi thành lập các nghiệp đoàn độc lập, tự do tách ra khỏi công đoàn, với lý do là "để bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi của công nhân, người lao động". Đáng chú ý là các nghiệp đoàn độc lập này được xúi bẩy để nằm ngoài sự lãnh đạo của Đảng, đối lập với Nhà nước và mưu đồ thành lập một lực lượng chính trị đối lập ở Việt Nam.

Mưu đồ xấu đằng sau những mỹ từ “tự do”, “độc lập”

Điều 10 Hiến pháp 2013 quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị-xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế-xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; tuyên truyền, vận động người lao động học tập, nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Như thế có thể thấy vai trò đặc biệt quan trọng của công đoàn trong hệ thống chính trị Việt Nam. Trong đó, nhiệm vụ “đại diện cho người lao động, chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động” được đặt lên hàng đầu đối với tổ chức công đoàn.


Công nhân Tổng Công ty May Hưng Yên đang làm việc tại xưởng sản xuất. 

Thế nhưng, trong thời gian qua, một số tổ chức nước ngoài, một số cá nhân có quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước ta đã phủ nhận hoàn toàn vai trò và những đóng góp to lớn cho sự nghiệp cách mạng của Công đoàn Việt Nam gần 92 năm qua. Đặc biệt, là sau khi Bộ luật Lao động 2019 được thông qua, không ít tổ chức từ nước ngoài đã tài trợ tiền bạc, tán phát nhiều thông tin xuyên tạc để thúc đẩy việc thành lập cái gọi là các "công đoàn độc lập", hay "nghiệp đoàn độc lập", "nghiệp đoàn tự do", dưới chiêu bài là để bảo vệ quyền lợi cho công nhân, người lao động. Có tổ chức phản động đã lên kế hoạch các bước để thành lập "nghiệp đoàn độc lập". Mới đây, một trang tin nước ngoài đưa bài viết của “nhà quan sát hiện sống tại Đức” tuyên bố rất sai trái rằng: “Nghiệp đoàn” tự thân nó là phi chính trị, là đồng hành với người lao động”. Nghiệp đoàn phải độc lập với đảng chính trị cầm quyền, phải độc lập với nhà nước thì mới bảo vệ được quyền lợi cho người lao động.    

“Nhà quan sát” này cố ý quên rằng, Công đoàn Việt Nam vẫn là pháp nhân đang tồn tại độc lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, với tư cách là một đoàn thể chính trị và là tổ chức đại diện người lao động. Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công đoàn, vì Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam tại Điều 4 đã quy định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo công đoàn, nhưng không làm thay hay can thiệp công đoàn mà luôn tôn trọng công đoàn, tạo điều kiện để công đoàn hoàn thành sứ mệnh. Độc lập với Nhà nước nhưng Công đoàn Việt Nam phải chấp hành Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, phối hợp với Nhà nước để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động với tư cách là một bên trong quan hệ lao động ba bên (Nhà nước, giới sử dụng lao động, đại diện người lao động). Chính phủ cũng không làm thay hay can thiệp công đoàn, mà chỉ phối hợp để chăm lo, bảo vệ quyền lợi người lao động tốt hơn. Phải chăng “nhà quan sát” có dụng ý đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập” nhằm hình thành một lực lượng chính trị đối lập nhân danh dân chủ, nhân quyền và vì quyền lợi người lao động để không tuân thủ Hiến pháp, pháp luật Việt Nam, chống phá cách mạng Việt Nam?

Có thể thấy rằng, mưu đồ muốn thành lập “nghiệp đoàn độc lập”, “công đoàn độc lập” nói trên, đặt chúng ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, chống lại cách mạng Việt Nam là hết sức nguy hiểm. Không một quốc gia nào chấp nhận một tổ chức hoạt động trên lãnh thổ nước mình mà lại không tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của quốc gia đó!

Không có chuyện công đoàn né đấu tranh

Ý kiến cho rằng, công đoàn hiện nay "không còn đấu tranh cho quyền lợi của giai cấp công nhân và người lao động" là hết sức xằng bậy.

Việc đấu tranh để bảo vệ quyền lợi của công nhân và người lao động được tổ chức công đoàn các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục, từ việc đấu tranh trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật, đến tham gia và có tiếng nói mạnh mẽ ở Hội đồng tiền lương quốc gia cho tới những sự vụ thương lượng, đối thoại đấu tranh trực tiếp với người sử dụng lao động để đòi quyền lợi cho người lao động tại từng doanh nghiệp.

Chúng tôi đã có mặt tại TP Bắc Ninh ngày 22-4-2021 để chứng kiến lễ ký kết Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc. Tham gia lễ ký có nhóm 7 doanh nghiệp điện tử Hàn Quốc (ban đầu có 13 doanh nghiệp tham gia) đang hoạt động tại tỉnh Bắc Ninh, trong đó có các doanh nghiệp thuộc tổ hợp Samsung Việt Nam. Thỏa ước lao động tập thể này được ký kết sau thời gian dài thương lượng với nhiều phiên họp hết sức gay cấn, mang lại lợi ích cho khoảng 80.000 công nhân, người lao động trong các doanh nghiệp nói trên. Thỏa ước lao động tập thể này có 19 điều, trong đó quy định cụ thể từ lương thử việc, các chế độ phúc lợi với người lao động, các hình thức trợ cấp, hỗ trợ người lao động với mức hơn hẳn so với các quy định cũ. Theo bà Nguyễn Thị Vân Hà, Chủ tịch Liên đoàn Lao động (LĐLĐ) tỉnh Bắc Ninh, để ký được Thỏa ước lao động tập thể nhóm doanh nghiệp này, LĐLĐ tỉnh đã phải kiên trì tiếp xúc, thương lượng, thuyết phục lãnh đạo các doanh nghiệp trong hơn một năm trời. “Đơn giản nhất như, để thuyết phục được 7 doanh nghiệp nói trên hỗ trợ tiền ăn ca chính lên tối thiểu 20.000 đồng/người là không hề dễ dàng, mặc dù phần lớn các doanh nghiệp đã hỗ trợ tiền ăn ca chính là 18.000 đồng/người. Bởi chi thêm 2000 đồng/người/bữa ăn cho hàng vạn lao động thì số tiền sẽ bị tăng lên rất lớn”, bà Nguyễn Thị Vân Hà chia sẻ.

Ông Ngọ Duy Hiểu, Phó chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam cho biết, Tổng LĐLĐ Việt Nam rất khuyến khích LĐLĐ các tỉnh, thành phố ký kết với các doanh nghiệp các thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) nhóm doanh nghiệp như trên. Vì điều này sẽ tạo ra nhiều lợi ích cho cả người lao động và doanh nghiệp như: Tạo mặt sàn cơ bản về lợi ích nhưng xu hướng chung là người lao động được hưởng các chế độ phúc lợi theo quy định của doanh nghiệp tốt nhất trong nhóm. Doanh nghiệp sẽ tránh được nguy cơ dịch chuyển lao động, ổn định được sản xuất.

Trong giai đoạn 2018-2020 của nhiệm kỳ Đại hội XII Công đoàn Việt Nam, các cấp công đoàn đã ký mới được 6.113 bản TƯLĐTT doanh nghiệp, gấp 4,6 lần so với cả nhiệm kỳ Đại hội XI, nâng tổng số TƯLĐTT đã ký kết lên 34.989 bản. Nội dung của các bản thỏa ước tập trung vào những cam kết thiết thực, có lợi hơn cho người lao động như vấn đề về tiền lương, tiền thưởng, bảo đảm việc làm, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp, văn hóa ứng xử, thực hiện chính sách bình đẳng giới... 

Cùng với đó, theo Tổng LĐLĐ Việt Nam, trong giai đoạn 2018-2020, các cấp công đoàn đã chủ động, tích cực đổi mới và nâng cao chất lượng tham gia xây dựng chính sách, pháp luật liên quan đến người lao động và tổ chức công đoàn. Tổng Liên đoàn đã có hơn 300 văn bản tham gia xây dựng cơ chế, chính sách, pháp luật về quyền lợi của người lao động.

Nếu công đoàn không đấu tranh cho người lao động thì làm sao có Bộ luật Lao động 2019 với nhiều điểm rất có lợi cho người lao động, mà để đạt được điều đó đại diện công đoàn đã nhiều lần phát biểu rất mạnh mẽ, thấu tình, đạt lý để góp ý cho dự thảo Bộ luật. Theo đó, trong Bộ luật Lao động 2019, khung giờ làm thêm được giữ nguyên như quy định hiện hành là 300 giờ/năm, để bảo đảm sức khỏe và đời sống của người lao động, mặc dù trước đó ý kiến của các doanh nghiệp muốn tăng giờ làm thêm lên tối đa tới 400 giờ/năm, thậm chí có hiệp hội đề nghị tăng lên 600 giờ/năm. Đồng thời, cũng trong bộ luật này, người lao động sẽ có thêm một ngày nghỉ lễ nữa trong dịp Quốc khách 2-9 hằng năm. Cuộc đấu tranh của công đoàn nhằm giảm giờ làm chính thức cho người lao động tuy chưa được chính thức hóa thành quy định của bộ luật nhưng với kiến nghị quyết liệt, mạnh mẽ từ phía Tổng Liên đoàn, Quốc hội đã đưa vào Nghị quyết kỳ họp, yêu cầu “Căn cứ tình hình phát triển kinh tế-xã hội, nghiên cứu đề xuất giảm giờ làm việc bình thường đối với người lao động thấp hơn 48 giờ/tuần và báo cáo Quốc hội vào thời điểm thích hợp”.

Nếu công đoàn không đấu tranh, bảo vệ quyền lợi cho người lao động thì liệu lương tối thiểu vùng có được tăng đều đặn các năm, để trong giai đoạn 2015-2020 đã tăng 51,4%? Trong các phiên họp của Hội đồng tiền lương quốc gia, các thành viên từ Công đoàn Việt Nam đã rất quyết liệt, kiên trì, đưa ra nhiều lập luận mang tính thuyết phục cao, đôi khi là những tranh luận gay gắt với giới sử dụng lao động, khi mà nhiều thành viên khăng khăng với việc không tăng lương, để rồi sau đó hằng năm lương tối thiểu đều tăng từ 5,3% đến 14%, góp phần cải thiện đời sống công đoàn viên, người lao động, thu hẹp khoảng cách giữa tiền lương tối thiểu và mức sống tối thiểu.

Người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp đều tin tưởng công đoàn

Điều hành một tổ hợp sản xuất công nghiệp lớn với 130.000 lao động, ông Choi Joo Ho, Tổng giám đốc Samsung Việt Nam, đánh giá rất cao vai trò của công đoàn trong việc bảo vệ quyền lợi cho công nhân cũng như giữ một môi trường làm việc ổn định, hài hòa tại doanh nghiệp. “Tổ chức công đoàn đã tham gia phát triển các hoạt động phong trào nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động đến chăm lo xây dựng phong phú đời sống tinh thần của người lao động trong và ngoài giờ làm việc. Sự ghi nhận và tin tưởng của chính người lao động cũng như ban lãnh đạo công ty đã thể hiện uy tín của tổ chức công đoàn tại doanh nghiệp. Công đoàn đã thực hiện rất tốt vai trò phối hợp và trực tiếp tham gia vào các hoạt động của công ty", ông Choi Joo Ho nói.

Ông cho hay, 100% các ý kiến, kiến nghị của công đoàn công ty đều được lãnh đạo Samsung Việt Nam tiếp nhận và giải quyết triệt để. “Các ý kiến của nhân viên cùng nội dung phản hồi từ bộ phận chuyên trách đều được dịch sang tiếng Hàn và báo cáo hằng ngày giúp ban lãnh đạo công ty có thể hiểu được chính xác tiếng nói và nguyện vọng của nhân viên. Ban lãnh đạo công ty cũng như ban chấp hành công đoàn cũng chủ động tìm hiểu các vấn đề cần giải quyết, nhằm giảm tối đa các ý kiến phát sinh”, ông Choi Joo Ho cho biết.

Cũng nhờ sự phối hợp, đề xuất của công đoàn mà khi tới các nhà máy trong Tổ hợp Samsung Việt Nam, có thể thấy những phúc lợi rất tốt cho công nhân như: Hệ thống xe buýt chất lượng cao làm nhiệm vụ đưa đón cán bộ, công nhân viên đi làm hằng ngày; ký túc xá dành cho nhân viên cung cấp khoảng 30.000 chỗ ở tiện nghi; mỗi nhà máy đều có trạm y tế đạt chuẩn khám bệnh, đồng thời xây dựng mô hình trung tâm khám sức khỏe liên kết với bệnh viện quốc tế thực hiện thăm khám và tư vấn sức khỏe định kỳ cho toàn thể nhân viên; xây dựng nhiều câu lạc bộ tại mỗi nhà máy, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn nghệ, thể thao, nghệ thuật cho toàn thể nhân viên. Với tỷ lệ nhân viên nữ chiếm hơn 70%, Samsung Việt Nam luôn chú trọng đưa ra những chính sách đặc biệt chăm sóc cho nhân viên nữ, nhất là đối tượng nhân viên nữ mang thai và nuôi con nhỏ... Đặc biệt, trong thời gian diễn ra dịch Covid-19, Samsung Việt Nam vẫn luôn bảo đảm để không một nhân viên nào bị mất việc làm và nghỉ không lương.

TƯ DUY THIỂN CẬN VÀ HẰN HỌC CỦA NHỮNG KẺ DÂN CHỦ CUỘI

Dịp 30-4 vừa qua, người dân Việt Nam chân chính đã hòa chung niềm hân hoan kỷ niệm 46 năm ngày hội thống nhất non sông. Điều đó khiến những kẻ phản động, cơ hội chính trị tỏ ra không cam tâm khi "trò bẩn" chống phá cách mạng của chúng bị vô hiệu hóa. Một số phần tử chống đối tiếp tục tung luận điệu rằng, giới trẻ Việt Nam nhận thức không đúng về lịch sử nên mới tham gia “cổ xúy” cho ngày độc lập.

Đặc biệt, điều dễ nhận thấy là chúng cay cú khi thấy những người trẻ chân chính “chưa từng trải qua chiến tranh” nhưng đã gọi đích danh lũ tay sai là "ngụy quân, ngụy quyền".

Viện cớ này, một số "nhà dân chủ tự xưng" suy diễn và quay sang chỉ trích: “Đó là hệ quả của nền giáo dục một chiều ở Việt Nam” và sách giáo khoa đang dạy trong nhà trường là do “bên thắng cuộc” viết. Vì thế, quan điểm viết trong sách hầu như là áp đặt, thông tin một chiều, không đúng sự thật lịch sử, không đáng tin cậy. Thậm chí, có kẻ còn phán bừa: “Khi lịch sử được giảng dạy theo hướng giáo điều chủ nghĩa... thì sẽ vẽ nên một hình ảnh xấu xí và phản diện cho kẻ thù bên kia chiến tuyến". Vài facebooker thiếu thiện cảm còn cho rằng, lịch sử mà thế hệ trẻ Việt Nam đang học là “những câu chuyện méo mó và không thành thật”; người trẻ Việt Nam đang “không biết cách phản biện lịch sử một cách khoa học”...

Hẳn những kẻ có âm mưu "lật sử", hay nói đúng hơn là có tư duy "chổng ngược", cắm đầu xuống đất nói bừa ấy đang cố tình không hiểu rằng, để có mỗi trang sử trong sách giáo khoa, cả dân tộc Việt Nam đã viết nên bằng máu xương và nước mắt, bằng những hy sinh to lớn của bao lớp cha anh. Mỗi trang sử hào hùng ấy là niềm tự hào thôi thúc các thế hệ người Việt Nam hôm nay tâm nguyện, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thêm một sự thật hẳn ai cũng rõ, chương trình và sách giáo khoa trong nhà trường phổ thông được xây dựng dựa trên những nhận thức khoa học chung nhất, được tập hợp bởi trí tuệ của đội ngũ giáo viên, các nhà khoa học, nhà giáo dục của cả đất nước. Những cuốn sách giáo khoa nói chung, sách tri thức lịch sử nói riêng cũng được các hội đồng khoa học thẩm định khắt khe trước khi đưa vào giảng dạy trong nhà trường. Vì vậy, cái gọi là “áp đặt một chiều” do “bên thắng cuộc viết” mà các thế lực thù địch rao giảng chỉ là luận điệu mù quáng của những kẻ cuồng ngôn với mục đích chống phá. Từ những sự thật được chỉ ra đó, chúng ta cần nhận rõ chủ đích "lội ngược dòng", mang cái đầu thiển cận với tư duy trái khoa học theo thế "trồng cây chuối" của những kẻ dân chủ cuội chỉ nhằm mục đích chống phá cách mạng Việt Nam.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

Hiện nay, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật - giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin…

Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.

Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái, cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem, người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.

Để  đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài, ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trên không gian mạng.

Người vợ Ukraine 20 năm ở Việt Nam chăm chồng đột quỵ

HÀ NỘI Chồng về nước được một năm thì bị đột quỵ, liệt toàn thân, Svetlana bán hết nhà cửa bay sang Việt Nam, một mình xoay xở đủ cách chăm chồng, nuôi con. Giữa trưa tháng 6, trời Hà Nội như đổ lửa. Trong phòng chăm sóc đặc biệt của bệnh viện, Svetlana Nguyen rướn mình, dùng hết sức xốc người chồng liệt toàn thân lên vai, di chuyển từng đoạn nhỏ ra xe đẩy. "Mình chuyển viện Papa nhé", vuốt vội mồ hôi trên trán, người phụ nữ Ukraine với mái tóc vàng thủ thỉ và xoa nhẹ tay người đàn ông ngồi trước mặt. Ông Thắng - chồng bà - dù không nói được cũng cố đánh ánh mắt sang nhìn vợ, miệng ú ớ. Khoảnh khắc đó khiến Svetlana mừng rỡ bởi bà hiểu chồng mình đang dần bình phục. Đã gần 20 năm, kể từ ngày ông Thắng lâm bệnh, không thể tự chăm sóc bản thân, Svetlana dường đã quen với cảnh hai vợ chồng "ở viện nhiều hơn ở nhà". "Có những lúc cuộc sống bế tắc tưởng không thể tiếp tục, nhưng rồi nhìn chồng và các con, tôi lại có thêm động lực để cố gắng", Svetlana Nguyen nói.Tình yêu của họ bắt đầu từ năm 1988 khi hai người lần đầu gặp nhau tại căng-tin Cục hải quan thành phố Kiev trong một lần anh Thắng đến gửi hàng. Hai năm sau, họ kết hôn. Chàng trai Việt Nam quyết định ở lại Ukraine, thay vì về nước như kế hoạch trước đó. Năm 2000, anh bàn với vợ, mình và con gái 9 tuổi về Việt Nam tìm cơ hội làm ăn, hứa công việc ổn định sẽ đón cả chị và hai con trai sang đoàn tụ. Chồng về nước được một năm thì Svetlana nghe tin anh đột quỵ, giữ được tính mạng nhưng liệt toàn thân. "Tôi khóc như chưa bao giờ được khóc, thấy bế tắc cùng cực. Nhưng rồi lại tự dặn lòng phải cố gắng, biết đâu có phép màu xảy ra", người phụ nữ 55 tuổi hồi tưởng cú sốc 20 năm trước. "Dù khó khăn thế nào cũng phải cố gắng. Chúng tôi đến với nhau bằng tình yêu khi khỏe mạnh thì cũng đối xử với nhau bằng tình yêu khi ốm đau", chị khẳng định rồi mua vé bay sang quê chồng. Có lẽ 30 năm trước, khi lần đầu tiên nắm tay người đàn ông Việt, Svetlana không ngờ chặng sau của cuộc đời mình lại nhiều chông gai đến vậy. Sang Việt Nam chăm chồng, hàng ngày Svetlana dậy rất sớm nấu ăn cho cả nhà rồi ngồi xoa bóp chân tay để chồng đỡ đau nhức. Anh Thắng bị liệt, nằm lâu nên các cơ xương co cứng. Để đưa chồng xuống ghế ngồi, người vợ phải dùng hết sức xốc lên vai rồi di chuyển từng bước nhỏ. Mỗi lần như thế chị phải xoay xở hàng chục phút, người đẫm mồ hôi. Svetlana nói, nếu không làm vậy, chồng nằm lâu trên giường lưng hông dễ lở loét. Ngày khỏe mạnh không sao, có lúc chồng con cùng lúc ốm, bản thân mệt mỏi không dậy nổi, nằm trên giường mà nước mắt chị chảy ướt gối. Thế nhưng, khóc xong chị lại ngồi dậy làm việc vì cả gia đình chỉ dựa vào mỗi mình. Hai mươi năm ở Hà Nội, người phụ nữ Ukraine chỉ về nước một lần để bán hết nhà cửa, đồ đạc, xe cộ và cả nhẫn đính hôn... mang tiền sang chữa bệnh cho chồng. Không biết tiếng Việt, vừa chăm chồng lại nuôi 3 con nhỏ, Svetlana nhiều lúc thấy ông trời quá bất công với mình. Thấy chị vất vả, bạn bè có người khuyên nên về nước tự giải thoát cho bản thân, nhưng Svetlana chỉ im lặng quay đi. Chị bảo: "Vợ chồng sống với nhau còn vì tình nghĩa. Nếu tôi bỏ đi, ai là người chăm lo cho anh mỗi ngày". Nhờ sự chăm sóc của vợ, sức khỏe của anh Thắng dần được cải thiện, sau hai năm có thể đi lại và tự chủ được một số việc. Hơn hai năm chồng ốm, tiền tiết kiệm cũng cạn kiệt. Svetlana quyết định kiếm việc làm. Nhà chồng cho một căn hộ tập thể ở phố Ngọc Khánh, họ chia đôi một nửa để ở, một nửa mở quán bán cà phê. Cả nhà gom góp được vài trăm nghìn mua chiếc tủ lạnh cũ, đường và cà phê cũng được bạn bè giúp đỡ. Không có tiền thuê nhân viên, hai con lớn đang học cấp hai phải dành nửa buổi phụ giúp mẹ bán hàng. Quán cà phê nhỏ của bà chủ người Ukraine mở năm 2004 thỉnh thoảng đón tiếp đồng hương và những người học tập tại Liên Xô cũ ghé qua. Vài lần Svetlana mời họ những món ăn tự tay nấu, được khen ngon, họ gợi ý nên bán thêm những món ăn của quê hương. Thực đơn của quán dần được hình thành và thêm thắt theo nhu cầu của khách. Từ khi quán ăn được mở rộng, cuộc sống gia đình 5 người cũng bớt khó khăn. Ba người con không còn phải mặc lại quần áo cũ người khác cho, tiền viện phí của anh Thắng không phải vay ngoài nữa. Thu nhập từ quán cũng giúp Svetlana nuôi ba con trưởng thành, đều học đại học. Hai con lớn hiện mở quán ăn Nga tại Sài Gòn, còn cậu út theo học tại Canada. Natalia, một người bạn của hai vợ chồng nói, cô phục Svetlana ở tinh thần lạc quan, chưa bao giờ nản chí. "Để có tiền đóng viện phí cho chồng, chị ấy làm việc không ngừng. Lễ Phục sinh vừa rồi, có những ngày Svetlana làm việc đến 2h sáng để hoàn thành đơn hàng cho khách, sáng lại vào viện mà chẳng tỏ ra mệt mỏi bao giờ", cô gái Nga nói về người bạn của mình. Cuộc sống được cải thiện nhưng thử thách cuộc đời lại không chịu buông tha người phụ nữ Ukraine. Hai mươi năm qua, ông Thắng đã có hàng chục lần nhập viện, vài lần thập tử nhất sinh và 4 lần bị đột quỵ, hai lần liệt toàn thân nhưng sau tập luyện lại đi đứng được. Lần gần nhất vào tháng 2/2021, ông bị suy tim, tụ máu não, chuẩn bị phẫu thuật lại bị tai biến ngay tại viện. Dịch Covid-19 bùng phát tại Hà Nội cuối tháng 4, người nhà không được vào phòng bệnh chăm sóc. Nằm liệt nhiều ngày, ông bị viêm loét lưng, tiếp tục phải chuyển viện để chữa vết thương trước khi ca mổ chính diễn ra. Ở lần đột quỵ này, có thời điểm ông hôn mê nhiều ngày, bác sĩ thông báo trả về lo hậu sự. Nghe tin, Svetlana suy sụp, mọi cố gắng và hy vọng của cô dần như tan biến. Người vợ vào phòng bệnh, ngày ngày nắm tay chồng, nói về tình yêu ngày xưa của họ, về những đứa con đã trưởng thành, mong ngóng bố ra viện. Một lần, ông có phản ứng, nắm tay vợ rất chặt, Svetlana quyết xin cho chồng ở lại điều trị tiếp. "Tôi luôn tin sẽ có ngày anh ấy sẽ khỏe lại", cô thuyết phục bác sĩ. Con cái đều đang ở xa, những ngày chồng nằm viện, Svetlana phải cáng đáng mọi việc. Mỗi ngày cô dậy từ 5h sáng, sang thăm chồng rồi về quán chuẩn bị đồ ăn phục vụ khách. Khi rảnh lại qua viện, rồi lại trở về quán làm việc, tất bật cho đến 12h đêm. Hơn một tháng Hà Nội tạm dừng hoạt động quán ăn phục vụ tại chỗ do Covid-19, doanh thu của quán gần như không có. Để lo tiền viện phí cho chồng, Svetlana nhờ con cái giúp đỡ và vay mượn thêm mới đủ. Tuy vậy, cô chưa bao giờ nghĩ đến hai từ "bỏ cuộc". Hai mươi năm đủ để thay đổi diện mạo của một thành phố, cũng có thể thay đổi số phận một con người, nhưng với người phụ nữ này, điều không thay đổi là tình yêu dành cho người chồng Việt. "Tôi chỉ muốn cùng anh ấy già đi và trải qua quãng đời còn lại cùng nhau", Svetlana nói. Người phụ nữ Ukraine luôn hy vọng sẽ có ngày chồng khỏe lại, hai người cùng quay lại thăm thành phố Kiev - nơi nhiều năm trước họ đã gặp và yêu nhau.

Cấp phép vaccine

Mấy hôm nay, tôi bỗng trở thành nhà tư vấn tâm lý thay vì dịch tễ. Tối hôm qua, tôi định tập trung để làm việc, nhưng lại nhận được hàng chục câu hỏi về dịch và vaccine. Em dâu tôi đang sống ở TP HCM kể, ngõ phía trước nhà vừa bị phong toả vì hàng xóm là F1. Cô sợ virus sẽ lan qua nhà mình dù cả gia đình chỉ ở nhà vài tuần nay. Một người khác cho biết, có F0 cách nhà khoảng một km và anh cảm thấy bị đắng họng, ho mệt, người nóng lên. Có người lạc quan về vaccine của Việt Nam, có người lại băn khoăn hỏi về tiến độ nghiên cứu lâm sàng, liệu đã tiêm được cho mọi người. Tôi nghĩ rằng mình có thể chia sẻ kinh nghiệm ở góc độ khoa học. Đầu tiên, tôi có thể nói ngay rằng, nếu một loại vaccine mới chỉ thử nghiệm đánh giá về hiệu ứng trên khoảng 1.000 thì chưa nên được chích ngừa trong cộng đồng, dù vaccine này có phẩm chất tốt đi chăng nữa. Nguyên tắc cấp phép khẩn cấp cho một sản phẩm y dược là nhằm đẩy tiến độ công việc đi nhanh hơn, nhưng vẫn phải đầy đủ số lượng và bám sát các tiêu chuẩn chứ không làm ít đi. Nhớ lại những năm 2000, khi thế giới đang lo lắng tìm kiếm vaccine chống đại dịch AIDS, cộng đồng các nhà khoa học gốc Việt chúng tôi cũng bị cuốn theo. Giáo sư Donald Pinkston Francis - nhà dịch tễ học rất uy tín người Mỹ đã nghiên cứu về dịch Ebola ở châu Phi vào cuối những năm 1970 và là một chuyên gia nghiên cứu về HIV/AIDS - được chúng tôi mời sang Việt Nam báo cáo ở hội nghị khoa học. Khi ông tới Việt Nam, chúng tôi đã rất hứng khởi về vaccine chống AIDS do ông và cộng sự đang nghiên cứu, mong muốn được nghe kinh nghiệm của họ. Nhưng, vị giáo sư cho biết, dù có phấn khởi, thử nghiệm của ông ở Thái Lan còn thiếu số lượng mẫu để kết luận. Thái Lan lúc đó là một nơi HIV/AIDS bùng phát. Nếu dựa theo kết quả thử nghiệm trên con số trong cộng đồng này khi đó thì có thể kết luận vaccine khả quan. "Nhưng chúng tôi không thể làm như vậy mà cần tiếp tục thử nghiệm trên nhiều người ở các cộng đồng khác nữa", vị giáo sư cho biết. Thời gian sau, chúng tôi hay tin vaccine của ông không đáp ứng miễn dịch dù đã làm đủ các bước và đủ quy mô thực nghiệm trên cộng đồng. Đây cũng là kết quả chung của nhiều vaccine AIDS sau này. Cho tới hôm nay, trên 70% các thuốc, gồm cả vaccine thử nghiệm ở giai đoạn ba với AIDS, không đủ điều kiện để Cơ quan dược phẩm Mỹ (FDA) chấp nhận. Vaccine khác với thuốc biệt dược trị các bệnh chuyên biệt. Biệt dược có thể an toàn khi thử trên một tập thể đủ tiêu biểu cho bệnh lý. Còn vaccine là loại thuốc dùng cho cộng đồng lớn, với quy mô cả quốc gia và thế giới, nên cần được đánh giá với số lượng đủ lớn và tiêu biểu cho sự đa dạng về di truyền, môi trường, điều kiện sinh hoạt của cộng đồng đó. Con số này thường là vài chục hay hàng trăm ngàn người, thường được thử nghiệm ở các vùng và quốc gia khác nhau trên diện rất rộng. Trên 1.000 là con số quá nhỏ để khẳng định độ an toàn và hiệu quả ban đầu của một vaccine khi dân số Việt Nam hiện gần 100 triệu với những khác biệt về cá thể, môi trường và chủng loại. Tôi nhớ, trong tiến trình thử nghiệm lâm sàng, Moderna đã phải trì hoãn hai tháng nộp đơn với FDA để chờ kiếm đủ số người Mỹ gốc Latin cho thử nghiệm vaccine, dù kết quả thử với hàng chục ngàn người đã rất khả quan trước đó. Điều này cho thấy tầm mức quan trọng của việc thử nghiệm đầy đủ trong cộng đồng. Về phần kỹ thuật, tôi liên tưởng tới vaccine Novavax của Mỹ - loại vaccine dùng protein tái tổ hợp để tạo ra kháng nguyên S1. Năm ngoái, khi nghe tin về những thành tựu ấn tượng của Novavax, với chỉ số hiệu quả đạt 90%, các nước Âu châu đã đặt mua trước hàng chục triệu liều dù chưa có giấy phép. Song thực tế, Novavax dù đã thử nghiệm trên vài chục ngàn người ở nhiều quốc gia, vẫn chưa có chứng nhận của FDA hay WHO. Ngoài lý do xét duyệt rất kỹ của các cơ quan này, đại diện hãng cũng thừa nhận, sản phẩm chưa đủ hoàn chỉnh để ra thị trường. Có những lý do ngoài khoa học kỹ thuật như tiếp liệu thiếu hụt, hay dây chuyền sản xuất chưa được tổ chức hoàn chỉnh. Xin nói thêm, Novavax là công ty có trên 30 năm làm vaccine thế hệ mới theo phương pháp dùng vỏ virus làm kháng nguyên. Có rất nhiều công ty tham gia làm vaccine Covid-19 khi đại dịch bắt đầu, nhưng ngay cả những công ty đã đầu tư rất lớn và bài bản cũng có thể không thành công, đó là trường hợp của GSK làm vaccine RNA, dù họ mạnh hơn nhiều Moderna. Về cơ chế tác động, vaccine là loại thuốc sinh học phức tạp và nhiều thách thức nhất. Vì không như các thuốc khác, thường chỉ nhắm vào một đích, một loại tế bào, vaccine phải nhắm vào nhiều loại tế bào miễn dịch và kháng nguyên có tác động liên hoàn lên rất nhiều đích. Một trong những hệ luỵ của vaccine, dù rất hiếm - tôi nhấn mạnh là "rất hiếm", là tạo ra cơn bão cytokine gây phản ứng quá mẫn cảm, có thể dẫn đến tử vong. Đó là lý do tôi cho rằng chúng ta cần khảo sát thêm, thực nghiệm kỹ hơn, đủ để có thể tiên liệu về hệ luỵ với bất kỳ loại vaccine nào. Và cũng thử tưởng tượng, mọi người trong cộng đồng sẽ có tâm lý chủ quan hơn sau khi tiêm ngừa. Họ sẽ nghĩ rằng mình an toàn hơn sau tiêm, thậm chí được miễn dịch. Vì thế, nếu một vaccine chưa đủ hiệu quả, dịch có thể bùng trở lại sau chiến dịch tiêm chủng. Tôi cũng nhớ lại chuyện Sputnik V của Nga năm ngoái. Ông Putin tuyên bố đó là vaccine Covid-19 đầu tiên trên thế giới, dù chỉ thử nghiệm rất ít người ở giai đoạn một và hai. Họ tin nó tốt vì cho rằng mình đã có đủ kinh nghiệm cho loại vaccine này. Nhưng, Sputnik V đến nay vẫn chỉ là chọn lựa thứ yếu và sau cùng ở nhiều nước. Lý do: thông tin chưa đủ minh bạch và tin cậy cao với người dùng. Các vaccine khác như Moderna, Pfizer và AstraZeneca về đích sau Sputnik V rất lâu, nhưng mau chóng được dùng diện rộng trên thế giới. Như vậy, rõ ràng chúng ta không cần một vaccine nhanh chóng mà cần một vaccine an toàn, hiệu năng cao, bao phủ cộng đồng, được thừa nhận bởi những thử nghiệm đầy đủ và chất lượng. Đứng từ góc độ của doanh nghiệp, tôi biết các công ty vaccine phải chịu rủi ro vì dự án có thể thành công hoặc thất bại, đi cùng với nó là sinh mệnh của nhà đầu tư. Cộng đồng và nhà nước có thể giúp sức để doanh nghiệp đi nhanh và đi đúng, không đốt cháy giai đoạn. Chúng ta cần tạo sản phẩm tốt nhất chứ không phải nhanh nhất. Việt Nam đã tạo được uy tín trước thế giới trong cuộc chiến chống dịch bởi những hy sinh rất lớn lao, bền bỉ từ lãnh đạo đến từng người dân. Tuy nhiên, thành thật nhìn nhận, chúng ta còn kém thế giới về khoa học kỹ thuật bao gồm xét nghiệm và vaccine. Nếu chúng ta làm chủ được hai công nghệ này, tạo ra sản phẩm chuẩn mực và ưu việt, thương hiệu Việt Nam sẽ vang dội hơn. Hôm nay, chúng ta phấn khởi bước đầu về những thành quả của vaccine Việt Nam, nhưng sẽ hãnh diện hơn nếu chúng được thực nghiệm đầy đủ, bài bản theo đúng các bước đi của khoa học để bảo đảm an toàn. "Cẩn tắc vô ưu" luôn tốt cho chính nhà sản xuất và cả xã hội. Và tôi tin mọi người dân đều muốn được tiêm vaccine của nước mình.