Thứ Ba, 13 tháng 7, 2021

Quân đội huy động hơn 1.300 xe vận chuyển vaccine Covid-19

Các đơn vị quân đội chuẩn bị lực lượng vận hành hơn 1.300 xe vận chuyển vaccine Covid-19 và thiết lập 8 kho lạnh tại các đầu mối. Tại cuộc họp Ban chỉ đạo phòng, chống Covid-19 Bộ Quốc phòng sáng 14/7, Thiếu tướng Nguyễn Xuân Kiên, Cục trưởng Quân y, cho biết Sở chỉ huy Chiến dịch tiêm chủng vaccine đã được thiết lập tại Bộ Quốc phòng để chỉ đạo, điều hành, tổng hợp số liệu tiêm vaccine trên toàn quốc. Quân đội đang rà soát, thiết lập các kho lạnh bảo quản vaccine tại 8 đầu mối (7 Quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội), dự kiến tiếp nhận, vận chuyển gần 113 triệu liều vaccine (đến năm 2022). Bộ cũng xây dựng kế hoạch vận chuyển, cấp phát vaccine đến các điểm tiêm tại quận, huyện trên toàn quốc với 1.333 xe (vận tải chiến lược 174 xe, chiến dịch 1.159 xe), tăng cường thêm 562 xe khi cần. Hiện lực lượng tham gia đang được tập huấn chuyên môn. "Cục Quân y đã chỉ đạo các đơn vị thành lập 295 tổ tiêm và 91 tổ hồi sức cấp cứu, sẵn sàng triển khai điểm tiêm tại các Bệnh viện, Bệnh xá Sư đoàn, Học viện, Nhà trường, Đội điều trị", ông Kiên nói. Cục trưởng Vận tải - Thiếu tướng Nguyễn Đức Tùng cho biết, ngành Vận tải quân sự được giao nhiệm vụ vận chuyển vaccine từ nơi tiếp nhận nhập khẩu, kho đầu nguồn của Bộ Y tế đến kho của 7 Quân khu và Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội; vận chuyển đến cấp huyện thuộc 63 tỉnh, thành. Do điều kiện đi lại mỗi địa phương khác nhau, Cục xác định vận dụng linh hoạt các phương thức vận chuyển, trong đó chủ yếu là đường bộ. Trường hợp quá khả năng, các đơn vị được sử dụng kinh phí để thuê phương tiện từ doanh nghiệp bên ngoài, hoặc huy động xe đông lạnh và các loại phương tiện khác tại địa phương để thực hiện nhiệm vụ. Từ nay đến 31/7, khi cần thiết, vận tải quân sự sẽ hỗ trợ Bộ Y tế vận chuyển vaccine từ nơi tiếp nhận (cảng hàng không, các đơn vị cung ứng) đến địa chỉ tiếp nhận cấp tỉnh hoặc cấp huyện trong 3 ngày, tính cả thời gian tiêm. "Vừa qua, từ ngày 9 đến 11/7, Lữ đoàn 972, Cục Vận tải đã vận chuyển hơn 1,4 triệu liều vaccine từ Sân bay Tân Sơn nhất đến kho của Bộ Y tế tại Khu công nghiệp Cát Lái, TP Thủ Đức", Thiếu tướng Đức cho hay. Từ tháng 8/2021 đến tháng 4/2022, những loại vaccine được phép vận chuyển ở nhiệt độ từ 2 độ đến 8 độ C (vaccine Pfizer, Moderna, Janssen) từ kho quân khu, kho Bộ tư lệnh Thủ đô Hà Nội đến Trung tâm Y tế quận (huyện) trong vòng 2 ngày; cấp cho các điểm tiêm trong một ngày sau đó. Còn vaccine bảo quản ở nhiệt độ từ -25 đến -15 độ C (vaccine Sputnik V dạng đông lạnh) vận chuyển không quá 2 ngày, sau đó cấp ngay cho các điểm tiêm. Thiếu tướng Tùng đề nghị các quân khu, Bộ Tư lệnh Thủ đô Hà Nội chủ động chuẩn bị lực lượng tài xế, sẵn sàng tiếp nhận số xe do Bộ Y tế tạm cấp (63 xe tải chuyên dùng và 63 xe tiêm), báo cáo Tổng cục Kỹ thuật đăng ký tạm thời để vận chuyển vaccine. Từ kho Quân khu đến các huyện miền núi, hải đảo có nhiều nơi giao thông khó khăn. Đơn cử như từ kho quân y, Cục Hậu cần, Quân khu 2 tại Đoan Hùng, Phú Thọ đến Huyện Nậm Pồ (Điện Biên) khoảng 540 km; từ trung tâm Y tế huyện đến xã xa nhất trên 100 km như xã Thu Lũrn, Mường Tè, Lai Châu; từ đất liền ra các đảo Bạch long Vĩ 66 hải lý, tương đương 124 km; Thổ Chu, Phú Quốc 55 hải lý, tương đương 102 km; điểm đảo xa nhất Núi Le, huyện đảo Trường Sa, 716 km... Vì vậy, ngành y tế cần phối hợp chặt chẽ với lực lượng vận tải quân sự để dự báo số lượng phân bổ, địa điểm giao, nhận vaccine trước 3 ngày để chủ động triển khai. "Với một số tỉnh, huyện miền núi, hải đảo như Điện Biên, Lai Châu; đảo Phú Quốc, Côn Đảo, Trường Sa, tôi đề nghị Bộ Y tế làm việc với Bộ Giao thông Vận tải để có phương án vận chuyển bằng đường hàng không và có thiết bị chuyên dùng bảo quản lạnh vaccine trong suốt quá trình vận chuyển", ông Tùng nói. Tại cuộc họp, lãnh đạo các Quân khu cho biết các kho lạnh để bảo quản vaccine đã được chuẩn bị xong. Thượng tướng Vũ Hải Sản, Thứ trưởng Quốc phòng, nhấn mạnh các kho bảo quản vaccine cần canh gác 24/24, có quân y, nhân viên điện nước theo dõi. Ông nói, có thể thành lập lực lượng trực để điều hành, bảo quản, cấp phát, vận chuyển vaccine đến những vùng xa xôi. "Chỗ nào xe đi được thì đi, nơi cần phương tiện khác để vận chuyển, báo cáo Ban chỉ đạo để quyết định", ông nói và yêu cầu tập huấn thêm cho lực lượng lái xe để có đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ.

 Khủng bố “phiên bản 2.0”

Giai đoạn sau năm 1989, Việt Tân tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…  Mặc dù năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị thương và đã tự sát. Năm 1991, chiến dịch "Đông tiến 3"  cũng bị thất bại nhưng Việt Tân vẫn lừa dối nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không công bố thông tin này để vận động quyên góp tiền cho “kháng chiến”, có thông tin cho biết số tiền lên đến hàng trăm triệu USD nhưng chủ yếu rơi vào tay các cá nhân cầm đầu tổ chức này.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 Người dân cần đề cao cảnh giác trước âm mưu chống phá của tổ chức khủng bố Việt Tân. Ảnh: thanhtra.com.vn.

Năm 2001, “tổ chức Mặt Trận” chính thức công bố sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Năm 2004, tại Đức, tổ chức Mặt Trận tuyên bố giải tán và công khai hóa Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (gọi tắt là Việt Tân).

Tháng 8-2006, Việt Tân đã tổ chức nhóm “sang sông”, thực chất là chiến dịch “Đông tiến 7”, và nhóm “liên minh dân tộc” với ý đồ đưa người về nước tiến hành các hoạt động khủng bố. Để thực hiện âm mưu này, Việt Tân đã từng bước công khai hóa tổ chức. Từ tháng  3 đến tháng 11-2007, Nguyễn Kim - chủ tịch “Việt Tân” đã chỉ đạo Nguyễn Hải tên gọi khác là Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục, Nguyễn Quốc Hải ở Thái Lan 4 lần về Việt Nam khảo sát, thiết lập tuyến đường bí mật xâm nhập vào Việt Nam, móc nối cơ sở, tán phát truyền đơn, thuê nhà tìm địa điểm ẩn náu cho đồng bọn.

Đồng thời, cử Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân về nước bằng con đường bất hợp pháp; Nguyễn Thị Thanh Vân và Trương Leon về Việt Nam bằng con đường công khai, có nhiệm vụ chỉ đạo số đối tượng trong nước biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang, uy hiếp tinh thần của một bộ phận người dân..., nhưng đã bị cơ quan an ninh điều tra của ta phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng này đã được đồng bọn trong nước cung cấp tên 40 công ty và 7.000 địa chỉ người thân nhận thư, 1.000 USD để mua thiết bị máy in, usb, tem, bì thư... để tin 7.000 tờ truyền đơn. 

Một vụ việc khác tinh vi hơn đã được Báo An ninh Thế giới Online đưa tin là việc “Việt Tân” tổ chức cho Phạm Minh Hoàng, thành viên của “Việt Tân” tại Pháp về Việt Nam làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh. Dưới bút danh Phan Kiến Quốc, tên Hoàng đã viết nhiều bài. Trong đó, 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tin, tán phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Tháng 8-2011, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử, tuyên bố Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau khi ra tù, Hoàng tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nên đã bị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tước quốc tịch, trục xuất về Pháp vào giữa năm 2017. 

Tiếp đó, từ tháng 8-2009 đến tháng 11-2011, “Việt Tân” tổ chức đưa 17 đối tượng là cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippines và Mỹ để các thành viên của “Việt Tân” huấn luyện phương thức hoạt động. Ngày 2-8-2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị cơ quan an ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ và khởi tố 17 bị can; đề nghị truy tố 14 bị can, truy nã 3 bị can.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

Đối tượng Châu Văn Khảm bị bắt giữ. Ảnh: cand.com.vn.

Mới đây nhất là ngày 11-11-2019, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 6 bị cáo về các tội: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân," "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức." Trong vụ án này, 3 bị cáo: Châu Văn Khảm (sinh năm 1949, quốc tịch Việt Nam, Australia), Nguyễn Văn Viễn (sinh năm 1971, trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Trần Văn Quyền (sinh năm 1999, trú tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) bị truy tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo quy định tại Điều 113, khoản 2, điểm a, Bộ luật Hình sự năm 2015. Ba bị cáo còn lại là Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài và Nguyễn Thị Ánh bị truy tố về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" do đã có hành vi làm giả nhiều chứng minh nhân dân, hồ sơ xin việc làm cho các đối tượng trong vụ án. Với những bằng chứng xác đáng, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù; Nguyễn Văn Viễn 11 năm tù và Trần Văn Quyền 10 năm tù (cả hai bị quản thúc 5 năm sau khi mãn hạn tù). Các bị cáo còn lại Bùi Văn Kiên bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Ánh 3 năm tù, Trần Thị Nhài 3 năm tù.

Không dừng lại ở đó, trong năm 2019, số cầm đầu “Việt Tân” tại Mỹ còn chỉ đạo số đối tượng tại TP Hồ Chí Minh tính toán khả năng thực hiện một số hoạt động phá hoại ở Việt Nam vào các dịp lễ lớn. Ban đầu, Việt Tân chủ trương tiến hành đặt bom phá hoại một số tượng đài ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó, các đối tượng đã thay đổi kế hoạch nhằm vào TP Hà Nội theo 3 hướng. Hướng thứ nhất là đặt bom trong thùng rác công cộng ở một số địa điểm quan trọng, tập trung là khu vực trung tâm của Hà Nội. Phương án hai là kích động một số đối tượng cực đoan, quá khích tập trung gây “náo loạn” trước khu vực trung tâm chính trị nhằm tạo điểm nóng, thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh để các đối tượng khác tiến hành đánh bom theo kế hoạch. Sau đó, bố trí ghi hình, tung lên mạng xã hội tất cả các hoạt động nhằm gây tiếng vang, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp khủng bố” các nhà “hoạt động dân chủ”, “bất đồng chính kiến”.

Đầu tháng 8-2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.

Ngoài danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Việt Nam chỉ định đã công bố là “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Bộ Công an bổ sung thêm Danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ định. Danh sách những tổ chức, các nhân này đã được thông báo công khai trên trang web của Bộ Công an.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 Ngày 4-10-2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chính quyền XHCN ở Việt Nam.

Từ tàn quân lưu vong đến khủng bố “chuyển lửa về quê nhà”


Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".

Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?
Tên khủng bố Hoàng Cơ Minh. Ảnh tư liệu.

Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   

Theo tài liệu tố cáo tội ác của “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại (Bộ Công an), Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.

Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?
Việt Tân bày ra mọi chiêu trò để  lừa bịp và moi đô la từ bà con Việt kiều ở hải ngoại. Ảnh cắt từ phim tư liệu (Bộ Công an).

Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Kế hoạch ngông cuồng  

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào".

Tư liệu của Bộ Công an cho biết, từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn.

Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?
Kế hoạch xâm nhập vào Việt Nam của các đối tượng khủng bố Việt Tân. Ảnh cắt từ phim tư liệu (Bộ Công an).

Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…

Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Bị sa thải trái luật, thầy giáo đi kiện 15 năm

LÂM ĐỒNGĐược tòa tuyên thắng kiện sau 15 năm đi kiện vì bị sa thải sau khi tát học trò, luật sư Lê Cao Tánh, 49 tuổi, vẫn muốn quay lại bục giảng. Phán quyết được Ủy ban thẩm phán TAND Cấp cao tại TP HCM đưa ra trong phiên giám đốc thẩm lần 3 vừa diễn ra. Toà chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Lê Cao Tánh, ngụ Đà Lạt, kiện Trường THPT bán công Nguyễn Du (nay là trường THCS Nguyễn Du, Đà Lạt). Hơn 15 năm trước ông Tánh là giáo viên dạy Văn và Giáo dục công dân tại trường THPT bán công Nguyễn Du. Tháng 12/2004, ông Tánh và trường ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Theo nội dung vụ án, năm 2006, học sinh lớp 10 đã gọi tên ông và chửi bậy trước đám đông. Sau khi đưa về phòng giám thị hỏi lý do, cậu học trò "tiếp tục có thái độ hỗn hào" nên ông Tánh mất bình tĩnh, tát em chảy máu mũi. Đầu năm 2007, theo ý kiến chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng, trường Nguyễn Du họp Hội đồng kỷ luật quyết định sa thải ông Tánh với lý do: vi phạm về phẩm chất của người thầy, ảnh hưởng xấu đến uy tín nhà trường và ngành giáo dục, tạo dư luận không tốt trong xã hội. Ông Tánh khiếu nại nhưng nhà trường giữ nguyên quyết định. Cho rằng quyết định kỷ luật của trường không đúng, ảnh hưởng tới quyền lợi của mình, ông Tánh khởi kiện yêu cầu tòa án hủy quyết định sa thải, bồi thường thiệt hại và yêu cầu Sở Giáo dục và Đào tạo nhận trở lại làm việc. TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm (4/2008), TAND tỉnh Lâm Đồng xử phúc thẩm (tháng 9/2008) đều bác đơn kiện của ông. Không chấp nhận, ông Tánh gửi đơn đề nghị cơ quan tố tụng cấp trên giám đốc thẩm vụ án. Trong thời gian này, Trường bán công THPT Nguyễn Du được tách nhập và chuyển thành Trường công lập THCS Nguyễn Du. Hai năm sau, VKSND Tối cao kháng nghị, đề nghị TAND Tối Cao xử giám đốc thẩm theo hướng hủy án sơ thẩm và phúc thẩm, cho rằng ông Tánh đánh học sinh chỉ có thể bị xử lý kỷ luật lao động bằng hình thức khiển trách, hoặc kéo dài thời hạn nâng lương, hay chuyển công việc khác trong thời hạn tối đa 6 tháng. TAND Tối cao sau đó chấp nhận quan điểm này, hủy cả hai bản án để giải quyết lại theo hướng chấp nhận yêu cầu của ông Tánh. Năm 2013, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm lần 2, chấp nhận yêu cầu của ông Tánh, tuyên hủy quyết định kỷ luật của trường Nguyễn Du; buộc trường nhận ông Tánh trở lại làm việc và bồi thường 232 triệu đồng. Trường THCS Nguyễn Du kháng cáo. Đại diện nhà trường cho rằng, quá trình tách và chuyển đổi trường không tiếp nhận hồ sơ nào liên quan đến ông Tánh nên không có tư cách tố tụng "bị đơn" trong vụ án, không kế thừa nghĩa vụ liên quan đến việc sa thải giáo viên này. Còn ông Tánh kháng cáo vì không chấp nhận số tiền bồi thường, đồng thời đề nghị toà buộc nhà trường phải xin lỗi công khai. Đầu năm 2014, TAND tỉnh Lâm Đồng xử phúc thẩm lần 2, chấp nhận kháng cáo của bị đơn và bác đơn khởi kiện của ông Tánh. Bản án có hiệu lực ngay - tức cựu thầy giáo từ thắng kiện trở thành thua kiện. Cho rằng phán quyết này không đúng với chỉ đạo của TAND Tối cao năm 2010, ông Tánh tiếp tục đề nghị giám đốc thẩm. VKSND Cấp cao tại TP HCM (tương tự VKSND Tối cao trước đó) cũng kháng nghị. Một lần nữa 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm bị huỷ. Năm 2010, TAND TP Đà Lạt xử sơ thẩm lần 3, chấp nhận yêu cầu của ông Tánh, hủy quyết định sa thải, buộc nhà trường xin lỗi công khai và nhận ông Tánh trở lại làm việc. Đồng thời, trường Nguyễn Du phải bồi thường hơn 614 triệu đồng, tiếp tục trả lương và khôi phục các quyền lợi bảo hiểm cho ông Tánh theo quy định của pháp luật. Lần này trường THCS Nguyễn Du kháng cáo, song không được TAND tỉnh Lâm Đồng chấp nhận nên tiếp tục đề nghị cơ quan tố tụng cấp trên xem xét lại vụ án. Nhà trường cho rằng, quyết định sa thải ông Tánh là thực hiện theo chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Lâm Đồng nên Sở mới là đơn vị có nghĩa vụ thực hiện phán quyết của tòa. Kiến nghị của trường Nguyễn Du được Viện trưởng VKSND Cấp cao tại TP HCM chấp nhận và quyết định kháng nghị, đề nghị Uỷ ban thẩm phán TAND cùng cấp hủy án sơ thẩm và phúc thẩm. Xử giám đốc thẩm lần 3, Ủy ban thẩm phán TAND Cấp cao tại TP HCM không chấp nhận kháng nghị, giữ nguyên bản án phúc thẩm của TAND tỉnh Lâm Đồng - tức chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tánh. Theo HĐXX, trường THPT bán trú Nguyễn Du không giải thể mà tách nhập và chuyển đổi loại hình tên gọi theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thành trường THCS Nguyễn Du nên trường là đơn vị thừa kế quyền lợi nghĩa vụ tố tụng. Do đó không có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bị đơn và kháng nghị của VKS. Trả lời VnExpress, ông Tánh nhận mình "lì" khi theo đuổi vụ kiện suốt 15 năm. Lúc còn là giáo viên, ông cũng là cử nhân luật. Suốt thời gian theo đuổi vụ kiện, ông làm nhiều nghề đồng thời học nghiệp vụ luật sư và thạc sĩ luật. "Hiện tôi hành nghề luật sư nhưng nếu trường nghiêm túc thi hành án, tôi vẫn muốn được đi dạy học", ông nói.

 

Bản chất của những đối tượng tham gia tổ chức khủng bố “Việt Tân”

Mặc dù liên tiếp thất bại trong âm mưu đưa người và phương tiện vào trong nước hoạt động khủng bố, chống Việt Nam nhưng số đối tượng cầm đầu tổ chức “Việt Tân” vẫn ngoan cố thực hiện kế hoạch đưa người về nước, tiến hành kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, gây mất ổn định chính trị. Hành vi xấu xa đó đã bị lực lượng an ninh cảnh giác, bóc trần.

1. Trong những năm qua, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã bắt giữ và đưa ra điều tra, xét xử nhiều đối tượng liên quan đến tổ chức khủng bố “Việt Tân”. Trong số đó phải kể đến các trường hợp như Nguyễn Quốc Quân, “Ủy viên Trung ương Việt Tân” về tội “khủng bố”, tuyên án 6 tháng tù giam; đấu tranh, trục xuất Nguyễn Quốc Quân (66 tuổi, quốc tịch Mỹ); Trương Leon (66 tuổi, quốc tịch Mỹ); Mai Hữu Bảo (50 tuổi, quốc tịch Mỹ); Lương Văn Mỹ (67 tuổi, quốc tịch Mỹ); Nguyễn Thị Thanh Vân (63 tuổi, quốc tịch Pháp); Nguyễn Thị Xuân Trang (49 tuổi, quốc tịch Thụy Sỹ); Nguyễn Tấn Anh (39 tuổi); Nguyễn Văn Bé (67 tuổi, quốc tịch Úc) đều là thành viên cốt cán của tổ chức “Việt Tân”.

Trong đó đáng chú ý, đối tượng Lương Văn Mỹ được cử về nước dịp tháng 4-2016, nhằm khảo sát tuyến xâm nhập đường bộ và đường biển về Việt Nam, phát triển lực lượng, gặp gỡ số “Tự ứng cử” để kích động, chống phá bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV.

Ngoài ra, còn một số trường hợp khác mới được đưa ra xét xử gần đây đã cho thấy bộ mặt thật của những thành viên của tổ chức “Việt Tân”. Trường hợp của Trần Thị Nga (SN 1977, trú tại thôn Đồng Phú, xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam) là một ví dụ. Trong thời gian đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan (Từ năm 2003-2008), Trần Thị Nga được “Việt Tân” tuyên truyền, móc nối, lôi kéo tham gia tổ chức với bí danh là “Sơn Na”.

Sau khi về nước, theo chỉ đạo của “Việt Tân”, Trần Thị Nga đã tổ chức buổi gặp mặt những người đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan có quan hệ với các đối tượng liên quan tổ chức “Việt Tân” tại Đài Loan dịp Noel năm 2009 và 2010 tại Hải Dương và nhà thờ ở Thái Hà, nhằm mục đích thành lập hội những người đi lao động Đài Loan về nước.

Ngày 29-6-2010, theo sự chỉ đạo của “Việt Tân”, Trần Thị Nga đã tổ chức gặp mặt  tại Công ty Nga Phong, các đối tượng từng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để họp bàn kế hoạch viết bài chống phá. Cụ thể, Trần Thị Nga đã sử dụng facebook cá nhân “Thúy Nga” thường xuyên đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết có nội dung chính trị xấu, chống phá chính quyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; cổ vũ các hoạt động chống phá của các đối tượng khác. Đồng thời, lợi dụng các vấn đề phức tạp, nhạy cảm ở Việt Nam, Trần Thị Nga tích cực kêu gọi, tham gia cuộc biểu tình tại Hà Nội cùng với các đối tượng chống đối trong nước gây rối an ninh trật tự.

Ngày 28-2-2012, Trần Thị Nga cùng một số đối tượng chống đối trong nước lên Cơ sở giáo dục Thanh Hà, huyện Tam Đảo, tỉnh Vĩnh Phúc để thăm Bùi Thị Minh Hằng. Ngày 7-3-2012, tham gia buổi “Gặp mặt và tri ân các bóng hồng xuống đường hè 2011” do Nguyễn Xuân Diện, đối tượng chống đối trong nước tổ chức tại nhà hàng Quốc Bảo, Thanh Trì (Hà Nội) để chúc mừng những đối tượng thường xuyên tham gia biểu tình; kích động, tụ tập biểu tình phản đối các phiên tòa xét xử các đối tượng chống đối, cực đoan trong nước. Với hành vi phạm tội trên, ngày 21-10-2017, Trần Thị Nga đã bị bắt về tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam. Ngày 25-7-2017, Trần Thị Nga bị TAND tỉnh Hà Nam tyên phạt 9 năm tù, quản chế 5 năm tại địa phương.

Một trường hợp khác là Lê Đình Lượng (SN 1965, trú tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An), một trong những thành viên cốt cán của tổ chức “Việt Tân”. Từ năm 2011 đến thời điểm bị xử lý, Lê Đình Lượng đã có nhiều hoạt động chống đối: Tháng 4-2012, đối tượng tham gia biểu tình, gây rối an ninh trật tự tại phiên tòa xét xử Cù Huy Hà Vũ tại Hà Nội.

Tháng 8-2013 tham gia khóa huấn luyện “Truyền thống công giáo” tại Nghệ An do Đinh Hữu Thoại, Lê Ngọc Thanh tổ chức. Tháng 9-2014, Lê Đình Lượng tổ chức cho số đối tượng chống đối vào miền Nam thăm, gặp thân nhân của Nguyễn Văn Hải, Bùi Thị Minh Hằng. Tháng 1-2016, tổ chức buổi tụ tập “Tất niên” cho số chống đối nhằm kích động, lôi kéo người tham gia hoạt động gây rối an ninh trật tự ngay trước thời điểm diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Từ tháng 5-2016, lợi dụng sự cố môi trường biển miền Trung, Lê Đình Lượng câu kết, móc nối với số chống đối cực đoan, thường xuyên kích động quần chúng, giáo dân tham gia biểu tình chống phá Nhà nước Việt Nam, gây rối an ninh trật tự. Lê Đình Lượng được coi là “tay chân” đắc lực ở trong nước để chống Đảng, Nhà nước ta. Trong những vụ việc này, Lê Đình Lượng có vai trò cốt cán trong các hoạt động chống phá.

Đối tượng liên tục điều hành, chỉ đạo các hoạt động chống phá gây nguy hiểm như tuyển chọn, phát triển lực lượng ở trong nước; đưa các cảm tình viên ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện và tham gia các khóa huấn luyện, đào tạo ở trong nước lôi kéo, tài trợ cho số thành viên “Việt Tân” mới ra tù hoạt động. Đồng thời, gặp gỡ, tiếp xúc cơ quan ngoại giao vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền.

Lê Đình Lượng sử dụng facebook “Lỗ Ngọc” thường xuyên đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết có nội dung chính trị xấu, chống phá chính quyền, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, cổ vũ cho các hoạt động chống phá của các đối tượng khác.

Ngày 24-7-2017, Cơ quan ANĐT Công an tỉnh Nghệ An đã thực hiện lệnh bắt khẩn cấp đối với Lê Đình Lượng về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Ngày 16-8-2018, Lê Đình Lượng bị TAND tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử với mức án 20 năm tù và 5 năm quản chế tại địa phương.


Theo Cục An ninh Nội địa, hiện nay mặc dù số cầm đầu “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” tuyên bố chuyển sang sử dụng danh xưng “Việt Tân” thay đổi phương thức hoạt động sang đấu tranh bất bạo động nhưng thực chất, chúng vẫn giữ nguyên bản chất khủng bố. Cụ thể, số cầm đầu “Việt Tân” vẫn khẳng định đây là tổ chức do Hoàng Cơ Minh (đối tượng cầm đầu “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” lập ra là cơ quan đầu não, chỉ đạo mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”. Hàng năm, vào dịp tháng 8, “Việt Tân” tổ chức cái gọi là “Lễ Kỷ niệm Anh hùng Đông Tiến” và ngày giỗ của Hoàng Cơ Minh.2.
 Cùng với hoạt động chống phá của tổ chức, những thông tin sau đây đã cho thấy bản chất và âm mưu thâm độc của tổ chức khủng bố “Việt Tân”. Ngày 1-11-2015, các trang web, báo, đài của Mỹ đăng tải tài liệu do FBI điều tra, sử dụng trong cuộc họp của các điều tra viên từ ngày 8-1-1992 (đã được giải mật) có tựa đề “Tình trạng hiện nay của cộng đồng Việt Nam ở Hoa Kỳ. Những hoạt động chính trị và tội ác gia tăng như sóng trào với Mặt trận Hoàng Cơ Minh...” , nội dung phản ánh giai đoạn từ năm 1981 – 1990, “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” đã tiến hành các hoạt động vi phạm pháp luật Mỹ như buôn bán ma túy, đô la, vũ khí, ám sát, giết người..., và đánh giá “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” là một băng đảng Mafia, hoạt động dưới chiêu bài chính trị.

Và số cầm đầu “Việt Tân” hiện nay đều là những nhân vật cốt cán của “Mặt trận Quốc gia thống nhất Việt Nam” trước đây như Đỗ Hoàng Điềm (cháu của Hoàng Cơ Minh), “Chủ tịch Việt Tân” đã tham gia “Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” từ năm 1982; Nguyễn Kim (tên gọi khác Nguyễn Kim Hườn, 75 tuổi, quốc tịch Mỹ), là thành viên sáng lập “Việt Tân”, Chủ tịch “Việt Tân” nhiệm kỳ 2001-2006, nguyên là Tổng vụ trưởng, Tổng vụ Hải ngoại “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”.

Đối tượng thứ ba là Hoàng Cơ Định (79 tuổi, quốc tịch Mỹ, em ruột của Hoàng Cơ Minh), “Ủy viên Trung ương Việt Tân”, đã tham gia “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” từ khi thành lập; Lý Thái Hùng (Bùi Bằng Đoàn), “Tổng  bí thư Việt Tân”, tham gia “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” từ khi thành lập; Nguyễn Ngọc Đức (64 tuổi, quốc tịch Pháp), “Ủy viên Trung ương Việt Tân”, tham gia “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” từ khi thành lập; Nguyễn Quốc Quân (Chu Cảnh Lâm), hiện là “Ủy viên Trung ương Việt Tân”, tham gia “Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” từ năm 1982 và Nguyễn Hải (68 tuổi, quốc tịch Thái Lan), thành viên “Việt Tân” là một trong những tên cốt cán trong lực lượng vũ trang của “Mặt trận Quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam”.

Vì sao Việt Nam cho tiêm trộn vaccine Covid-19?

Bộ Y tế khuyến cáo tiêm duy trì 2 mũi vaccine cùng loại, trường hợp không có vaccine AstraZeneca thì có thể tiêm mũi 2 vaccine Pfizer thay thế song phải theo dõi sức khỏe. Lý giải điều này, Phó viện trưởng Vệ sinh dịch tễ Trung ương Dương Thị Hồng chiều 13/7 cho biết một số quốc gia châu Âu đã nghiên cứu tiêm mũi 1 vaccine AstraZeneca và mũi 2 tiêm vaccine Pfizer. Sở dĩ tiêm trộn như vậy vì lúc đầu họ nghĩ vaccine AstraZeneca không đáp ứng được các biến thể của virus, nên tiêm thay mũi 2 bằng vaccine Pfizer. "Đã có một số nghiên cứu ở quy mô vài nghìn người, vài trăm người, ở các quốc gia khác nhau và đưa ra kết quả khác nhau. Cụ thể, nếu tiêm trộn vaccine thì miễn dịch bảo vệ cá thể đó tốt hơn là tiêm 2 mũi AstraZeneca, nhưng đồng thời cũng ghi nhận một số lượng phản ứng bất thường sau tiêm, tăng lên đáng kể so với tiêm 2 liều cùng loại", bà Hồng nói. Vì vậy, theo bà Hồng, Bộ Y tế họp và trong quyết định phân bổ vaccine Pfizer đã khuyến cáo chủ yếu tiêm duy trì 2 mũi vaccine cùng loại. Tuy nhiên, trong trường hợp thiếu nguồn cung vaccine, tại thời điểm chỉ có Pfizer mà không có AstraZeneca, thì có thể tiêm Pfizer song phải theo dõi sức khỏe của người được tiêm. Bà Hồng cho biết thêm, Bộ Y tế đã làm việc với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và tổ chức này cũng chưa khuyến cáo chính thức về việc tiêm trộn giữa các loại vacicne. Nhà sản xuất Pfizer cũng chưa khuyến cáo về tiêm trộn. "Tham khảo các nghiên cứu đã có kết quả trên thế giới, Ủy ban tư vấn Việt Nam cho phép tiêm trộn vaccine song khuyến cáo phải theo dõi sức khỏe người tiêm", bà Hồng nhấn mạnh. Bà Hồng cho biết hiện nay Việt Nam có 4 loại vaccine Covid-19 sẽ triển khai trong Chương trình tiêm chủng mở rộng. Đầu tiên là vaccine AstraZeneca đã triển khai tiêm thời gian qua. Vaccine Pfizer trong tuần này sẽ được vận chuyển đến các khu vực để tiêm. Ngoài ra, còn có vaccine Moderna và sắp tới Sinopharm, Sputnik V. Mỗi loại vaccine đều có hướng dẫn sử dụng khác nhau, về liều, cách thức pha, cách sử dụng để đảm bảo an toàn tiêm chủng. Các loại vaccine này đều có hiệu quả bảo vệ tương đương nhau từ 70% mũi một tăng lên 80 đến hơn 90% mũi hai, và đều ghi nhận các phản ứng phụ tương đương. "Vì vậy, người dân nên tin tưởng và tiêm khi có vaccine, không nên có tư tưởng chờ đợi hay trì hoãn tiêm", bà Hồng khuyên. Bộ Y tế sáng 14/7 công bố tính đến ngày 13/7 Việt Nam tổng cộng đã thực hiện tiêm chủng 4.079.066 liều. Trong đó, số người đã được tiêm 1 mũi là 3.795.182; số người tiêm đủ 2 mũi là: 283.884.

Hà Nội, Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Đà Nẵng thêm ca nghi Covid-19

Sở Y tế Hà Nội đến trưa 14/7 ghi nhận 12 người dương tính nCoV, đều là F1 đã cách ly tập trung; Nghệ An thêm 4 ca, Đà Nẵng, Huế và Hà Tĩnh mỗi nơi một ca. Bộ Y tế chưa định mã số các ca này, xem như nghi nhiễm. Tại Hà Nội, lúc 11h30 trưa, ghi nhận thêm 9 ca nhiễm. Trong đó, 5 ca thuộc Công ty SEI, gồm: Nữ, 28 tuổi, ở xóm 3 Cổ Điển, Hải Bối, Đông Anh. Cô gái là nhân viên phòng AOI, phân xưởng F1. Nam, 30 tuổi, ở thôn 3 Khê Ngoại, Văn Khê, Mê Linh. Thanh niên là nhân viên phòng IT, phân xưởng F1. Nữ, 28 tuổi, ở Đại Đồng, Đại Mạch, Đông Anh. Cô gái làm tại bộ phận QA-Lap. Nam, 31 tuổi, ở Hà Khê, Vân Hà, Đông Anh, là nhân viên văn phòng bộ phận sản xuất (FRONT). Nam, 31 tuổi, địa chỉ 64 Mai Châu, xã Đại Mạch, huyện Đông Anh, là F1 của bệnh nhân 284478. Anh làm việc tại phòng RGO, Công ty SEI. Họ đều được cách ly từ 5/7, xét nghiệm âm tính nCoV hai lần vào 5/7 và 10/7, sau đó dương tính nCoV vào ngày 13/7. Một ca nghi nhiễm khác ở An Mỹ, Mỹ Đức là nữ, 14 tuổi, con của bệnh nhân 22064. Ba ca liên quan TP HCM gồm nam, 25 tuổi, ở tổ 13, Phú Diễn, Bắc Từ Liêm. Nam thanh niên từ TP HCM về Hà Nội ngày 6/7, trên chuyến bay VN242. Chuyến bay này đã ghi nhận 5 ca dương tính tại Vĩnh Phúc. Ngày 7/7, thanh niên xét nghiệm âm tính nCoV, cách ly tập trung ở Tứ Hiệp, tới ngày 13/7 xét nghiệm dương tính nCoV. Hai bé gái 11 tuổi và 10 tuổi, cùng sống ở Hoa Vôi, Quốc Oai, là F1 của bệnh nhân 30495 và 30496. Hai bé xét nghiệm âm tính nCoV lần một ngày 11/7, cách ly tập trung ở Tứ Hiệp, ngày 13/7 xét nghiệm dương tính nCoV. Lúc 9h30 sáng, Hà Nội ghi nhận ba người gồm nam, 29 tuổi và bé gái 8 tuổi, ở Hòa Xá, Ứng Hòa, là con và cháu của bệnh nhân 30525 và thuộc gia đình 7 người từ TP HCM về Hà Nội ngày 5/7 trên chuyến bay VN216. Ngày 11/7, hai người xét nghiệm lần một âm tính, sau đó bị sốt và được lấy mẫu xét nghiệm, kết quả dương tính nCoV. Ca nghi nhiễm còn lại là cô gái 24 tuổi, ở thôn Bầu, xã Kim Chung, huyện Đông Anh. Cô làm việc tại phòng PL-TACK xưởng F1, tiếp xúc gần với nhóm bảo vệ tại cổng F5 mắc Covid-19, tất cả đơn vị này đều thuộc Công ty SEI, Khu công nghiệp Thăng Long. Cô xét nghiệm âm tính hai lần vào 6/7 và 10/7. Ngày 13/7, cô bị sốt, xét nghiệm lần ba dương tính nCoV. Như vậy, từ 7/4 đến nay, Hà Nội đã ghi nhận 83 ca nhiễm, trong đó chùm ca bệnh tại Khu công nghiệp Thăng Long, liên quan Bắc Giang, đã ghi nhận 41 ca; 32 trường hợp liên quan TP HCM; 10 ca bệnh tại An Mỹ, Mỹ Đức. Trong số ca ghi nhận tại khu công nghiệp, Công ty SEI có 33 ca, Công ty Meda 4 ca, Công ty Molex một ca và 3 ca cộng đồng. Tất cả cụm dịch này đều chưa qua 14 ngày. Tổng số ca nhiễm tích lũy từ 27/4 là 342. Trung tâm kiểm soát bệnh tật (CDC) tỉnh Nghệ An sáng 14/7 công bố thêm 4 ca dương tính với nCoV, trong đó 3 người cùng gia đình. Ca thứ nhất là nữ, 42 tuổi, dân tộc Khơ Mú, trú ở bản Chăm Puông, xã Lượng Minh (huyện Tương Dương) làm nông nghiệp. Theo điều tra dịch tễ, thời gian gần đây chị chỉ ở nhà và lên rẫy đi làm, không tiếp xúc với người từ vùng dịch trở về địa phương. 3 ngày trước, có biểu hiện sốt nhẹ, ho thúng thắng, không mệt, được điều dưỡng của y tế xã kê đơn thuốc và chuyền dịch tại nhà. Ngày 13/7, chị đi cùng con trai và con dâu đến trung tâm y tế huyện Tương Dương khám. Tại đây họ được lấy mẫu test nhanh Covid-19, có kết quả dương tính, mẫu xét nghiệm cũng khẳng định dương tính nCoV. Ca thứ 2, là nữ, 23 tuổi, và con chưa đầy một tuổi, trú bản Chăm Puông, xã Lượng Minh, lao động tự do. Cô này là con dâu của ca nghi nhiễm thứ nhất (42 tuổi). Hiện tại, chính quyền huyện Tương Dương đã phong tỏa bản Chăm Puông, lẫy mẫu xét nghiệm cho tất cả người dân tại đây. Lập các chốt kiểm soát người ra vào xã Lượng Minh. CDC đang phối hợp với đơn vị liên quan tổ chức truy vết các F1, F2 và tìm nguồn lây của các ca bệnh. Ca thứ 4, là cụ ông 81 tuổi, trú xã Tân Thành, huyện Yên Thành. Cụ ông từng tiếp xúc với con trai đi từ Bình Dương về Nghệ An ngày 27/6 (anh này đã test nhanh âm tính, ngày 1/7). Ngày 1/7, cụ ông có đau ở đốt sống cổ nên đi khám tại một bệnh viên đa khoa, có kết quả test nhanh Covid-19, âm tính. Cụ ông được đưa vào khoa nhiễm khuẩn tổng hợp, trung tâm bệnh nhiệt đới (Bệnh viện hữu nghị đa khoa Nghệ An), qua 3 lần xét nghiệm đều âm tính, tuy nhiên ngày 13/7, trong lần xét nghiệm Covid-19 thứ tư, có kết quả dương tính. Như vậy, tròn 1 tháng (từ đêm 13/6) tới nay, CDC Nghệ An ghi nhận 136 ca dương tính với nCoV. Dịch lan ra 12 huyện, thành, thị, nhiều nhất là TP Vinh 89 ca, huyện Diễn Châu 18, Nam Đàn 6, Tương Dương 3... Chốt chặn tại bản Chăm Puông được lập đêm 13/7. Ảnh: Đình Tỷ Chốt chặn tại bản Chăm Puông được lập đêm 13/7. Ảnh: Đình Tỷ Tại Huế, sáng 14/7, CDC xác định nam thanh niên 20 tuổi ở xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc dương tính với Covid-19, đây là ca nhiễm thứ 5 ghi nhận ở địa phương này. Nam thanh niên là F1 của ca 34505 ở xã Lộc Thủy. Từ ngày 30/6 -13/7, ca nghi nhiễm ở xã Lộc Thủy, không đi ra địa phương khác. Trong thời gian này, ca nghi nhiễm thường đến hai quán cà phê trong xã, đến sân bóng ở địa phương. Hiện nay, 8 đội phản ứng nhanh của ngành y tế Thừa Thiên Huế đang truy vết các trường hợp F1 liên quan đến ca nghi nhiễm. Đến nay, Bộ Y tế ghi nhận cả nước có 31.839 ca nhiễm Covid-19. Trong đó, TP HCM có số ca nhiễm lớn nhất với 17. 239 ca. Riêng Thừa Thiên Huế ghi nhận 5 ca nhiễm mới ở xã Lộc Thủy, huyện Phú Lộc sau 51 ngày không có ca nhiễm. Tại Hà Tĩnh, nam thanh niên 18 tuổi, trú xã Ích Hậu, huyện Lộc Hà sáng 14/7 được Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) xác nhận dương tính nCoV. Theo CDC Hà Tĩnh, người này là F1 của ca 28481, 28482, thành viên trong một gia đình cùng đi từ TP HCM về, trước đó có một lần xét nghiệm âm tính nCoV, lần hai dương tính. Ngành y tế dự báo nguy cơ dịch bệnh bùng phát trở lại địa bàn rất cao, tại cơ sở khám chữa bệnh, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xí nghiệp có đông người lao động... Nhất là trong bối cảnh tình hình dịch bệnh tại TP HCM và một số tỉnh phía nam diễn biến phức tạp, việc giao thương hàng hóa, đi lại giữa các tỉnh về Hà Tĩnh còn nhiều, người từ vùng có dịch tễ về trên địa bàn khó kiểm soát. Từ ngày 5/6, Hà Tĩnh ghi nhận 128 người dương tính nCoV (3 ca nhập cảnh cách ly ngay), trong đó 127 ca đã được Bộ Y tế cấp mã số bệnh nhân. Tại Đà Nẵng, một kỹ sư dầu khí được phát hiện nghi nhiễm nCoV khi đã hoàn thành cách ly. Tối 13/7, Ban chỉ đạo Phòng chống dịch Covid-19 thành phố Đà Nẵng, cho biết kỹ sư này từ TP HCM đến Đà Nẵng ngày 13/6, chờ hoàn thành cách ly để làm việc tại giàn khoan của Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (ngoài khơi biển Đà Nẵng). Trong thời gian cách ly tập trung 21 ngày do đến từ vùng dịch, anh có kết quả xét nghiệm vào các ngày cách ly thứ nhất, thứ bảy, 14 và 20 đều âm tính nCoV. Hết thời hạn cách ly tập trung, anh tự cách ly tại khách sạn thêm 7 ngày, kết quả xét nghiệm ngày thứ 7 tiếp tục âm tính nCoV. Ngày 12/7, anh rời khu cách ly tập trung, đến lưu trú tại khách sạn trên đường Quang Trung (quận Hải Châu). Một ngày sau, anh đến phòng khám tư nhân làm xét nghiệm Covid-19 để chuẩn bị ra giàn khoan ngoài khơi làm việc thì nhận kết quả dương tính. Đây là trường hợp đầu tiên dương tính sau 28 ngày cách ly. Khách sạn Seven Sea anh này cách ly cũng là nơi bốn người từ TP HCM ra Đà Nẵng trên chuyến bay VN128 hôm 4/7, được phát hiện dương tính nCoV ngày 12/7, nên ngành y tế Đà Nẵng cũng đặt ra nghi vấn về nguy cơ lây nhiễm chéo trong khu cách ly tập trung. Trao đổi với VnExpress tối 13/7, bác sĩ Phạm Hồng Nam, Giám đốc Trung tâm y tế quận Sơn Trà, cho biết ngay sau khi phát hiện ca dương tính này, nhân viên y tế đã phối hợp với khách sạn để trích xuất camera. "Hình ảnh cho thấy kỹ sư này không tiếp xúc với 4 người mắc Covid-19 ở chung khách sạn", ông Nam nói. Theo Giám đốc Trung tâm y tế quận Sơn Trà, khách sạn đã thực hiện nghiêm các hướng dẫn và quy định về phòng chống dịch đối với cơ sở cách ly. "Kỹ sư sau khi rời khách sạn sau cách ly đã đi cắt tóc, ăn cơm ở nhiều nơi, nên chưa loại trừ khả năng lây nhiễm Covid-19 ở ngoài khu cách ly", bác sĩ Nam nói thêm. Ban Chỉ đạo phòng chống Covid-19 thành phố Đà Nẵng cũng cho biết, trong suốt quá trình từ TP HCM đến Đà Nẵng, cách ly tại khách sạn cho đến việc đi xét nghiệm tại phòng khám tư, nam kỹ sư này đều đi cùng một đồng nghiệp. Tuy nhiên kết quả xét nghiệm của người đồng nghiệp âm tính với nCoV. Liên quan đến bệnh nhân này, Sở Y tế Đà Nẵng đã tìm người đến các địa điểm mà nam kỹ sư từng ghé đến. Cụ thể, từ 18h30 ngày 12 đến 14h ngày 13/7 tại khách sạn Petro, số 7 đường Quang Trung; 18h30 đến 20h ngày 12 và 8h40 đến 8h45 ngày 13/7 tại tiệm tóc 30 Shine, số 345 đường Nguyễn Văn Linh; 20h đến 20h20 ngày 12/7 tại quán cơm gà A Hải đường Thái Phiên (cùng ở quận Hải Châu). Tối 13/7, Đà Nẵng phát hiện thêm một ca nghi nhiễm Covid-19 cộng đồng chưa rõ nguồn lây. Bệnh nhân là nữ, ở đường Nguyễn Phước Nguyên, quận Thanh Khê. Chị chủ yếu ở nhà mở tiệm cắt tóc, không rời khỏi Đà Nẵng. Ngày 13/7, chị đến khám tại Bệnh viện Tâm Trí và được test nhanh, kết quả dương tính nCoV. CDC Đà Nẵng đã làm xét nghiệm khẳng định và kết quả tương tự. Từ ngày 4/5 đến nay, Bộ Y tế công bố 274 ca Covid-19 tại Đà Nẵng. Hai ca nghi dương tính nêu trên chưa được Bộ ghi nhận, nên được xem là nghi nhiễm. Thành phố đang cách ly 821 F1 và giám sát 1.332 F2.

Hà Nội chuẩn bị năng lực tiêm 200.000 liều vaccine mỗi ngày

Giám đốc Sở Y tế Trần Thị Nhị Hà hôm nay cho biết đã chuẩn bị 1.200 "dây chuyền", mỗi chuyền tiêm được khoảng 200 liều vaccine Covid-19 một ngày. "Dây chuyền" tiêm chủng gồm bộ phận tiếp đón đo nhiệt độ, huyết áp; một cán bộ khám tư vấn chỉ định tiêm; một cán bộ tiêm; một cán bộ theo dõi sau tiêm và bộ phận nhập dữ liệu tiêm chủng. Dự kiến toàn thành phố có 824 điểm tiêm chủng cố định và di động; 100 tổ cấp cứu di động đảm bảo cấp cứu khi cần thiết. Theo bà Hà, UBND TP đã phê duyệt kế hoạch khung, trong đó các quận, huyện chịu trách nhiệm và chỉ đạo trực tiếp về hoạt động tiêm chủng trên địa bàn. Lực lượng sinh viên y khoa, bác sĩ nghỉ hưu được huy động tham gia tiêm chủng, đảm bảo sẵn sàng tiêm khi có đủ lượng vaccine. Công an, đoàn thanh niên, cựu chiến binh... tham gia phân luồng tiếp đón người dân; ứng dụng công nghệ thông tin để theo dõi, tương tác, bố trí lực lượng theo dõi sau tiêm. Sở Y tế Hà Nội chịu trách nhiệm về vấn đề chuyên môn. Thành phố cũng chuẩn bị kho chứa để tiếp nhận tối đa cùng lúc 1,3 triệu liều vaccine. Theo UBND thành phố, Hà Nội có gần 5,1 triệu người cần tiêm chủng. Từ tuần này, thành phố bắt đầu phát phiếu đăng ký, trong đó khảo sát độ tuổi, bệnh lý nền của người dân. Dựa trên dữ liệu người dân cung cấp, loại vaccine được phân bổ, cán bộ y tế sẽ mời mọi người đi tiêm. Về độ tuổi tiêm chủng, Giám đốc Sở Y tế cho biết sẽ căn cứ dựa trên loại vaccine được phân bổ, hướng dẫn của Bộ Y tế, Chương trình Tiêm chủng mở rộng Quốc gia và khuyến cáo từ nhà sản xuất vaccine. Người trên 65 tuổi được đăng ký và có cơ hội tiêm vaccine Covid-19. Nếu họ có bệnh nền, bệnh mạn tính thì có thể tiêm ở bệnh viện để đảm bảo an toàn. Do Chính phủ đang ưu tiên phân bổ vaccine cho các tỉnh miền Nam, số lượng vaccine Hà Nội nhận được chưa nhiều, khoảng 160.000 liều trong bốn đợt vừa qua. Vì vậy, thành phố sẽ triển khai tiêm cho các nhóm đối tượng ưu tiên theo Nghị quyết 21 trước, bà Hà cho hay.

Vết bẩn của những “người trong sạch”

Trong tình hình xã hội hiện nay, công cuộc đổi mới toàn diện đang được tiến hành, thì vấn đề tìm đội ngũ “kế cận” nói chung và đặc biệt là “kế cận” đội ngũ lãnh đạo nói riêng mang ý nghĩa rất quan trọng. Vì con người, với hoạt động của mình là yếu tố cơ bản, là điều kiện tiên quyết nhất cho thắng lợi của mọi công việc. Đây là quan điểm, đường lối chiến lược của Đảng ta, mà từ Đại hội Đảng lần thứ IX đã nêu rõ: “Ngoài những tiêu chuẩn khác, người lãnh đạo phải có khả năng nhận biết những cán bộ trung thành, thẳng thắn; người cơ hội, xu nịnh”. Nhưng cùng với quá trình phát triển của kinh tế, thì vấn đề “Nhận dạng con người!” lại càng khó khăn. Bản chất cán bộ, đảng viên bộc lộ khá đa dạng. Bên cạnh những người tận tụy, trung thành, vững vàng, liêm khiết, có năng lực và phẩm chất còn tồn tại không ít những người có tư tưởng và hành động thực dụng, cơ hội, gây ảnh hưởng xấu đáng kể đến niềm tin của nhân dân, đến sự nghiệp chung của Đảng. Chúng ta có thể dễ dàng thấy một số cán bộ, đảng viên mang những “tính cách”: Một là, dạng người có biểu hiện giữ tâm trạng ôn hòa, “im lặng là vàng” - vì nói lên sự thật dẫn đến mất lòng. Nhiều việc họ biết, có khi rất rõ ràng, tường tận nhưng nói làm gì, góp ý làm gì,… để nội bộ va chạm, bị định kiến, bị phản công. Bản thân mình mang tiếng là người hay gây sự, chỉ săm soi, bị chú ý, đề phòng, hoặc bị lợi dụng cho mục đích khác,…Tốt nhất, chỉ phát ngôn chung chung, giữ cái gọi là đoàn kết nội bộ, không chết ai - Đấu tranh thì được gì, thì “tránh đâu”, đừng dại dột “tham chiến”! Hai là, dạng người thường thường có vi phạm nhỏ - to nhưng lại hay so sánh, tỵ nạnh, “lươn ngắn lại chê chạch dài, thờn bơn méo miệng lại chê trai lệch mồm”. Hễ nghe thông tin thay đổi, đề bạt, cất nhắc, khen thưởng là tự thấy mình đủ tài, thừa đức, chẳng kém thua ai mà không được cấp trên chú ý, quan tâm; dẫn đến nói năng tùy tiện, thiếu kiềm chế, không xây dựng, mất kỷ luật. Nếu có ai góp ý thì họ sửng cồ, giẫy nảy đòi phải tìm chứng cứ cho rằng người khác vu khống. Họ từ chối tiếp thu, bằng mặt mà không bằng lòng, bất mãn. Hình ảnh đặc trưng của những người này là phát ngôn tùy tiện, ấm ức, bực bội, nghĩ một đằng nhưng nói và làm một kiểu. Ba là, dạng người có sự bộc lộ mà khó phát hiện bản chất bên trong (khó chứ không phải không để tâm!). Những người này có một kiểu cách chung là: bên ngoài thì vui vẻ, tích cực, tỏ vẻ quan tâm, nhưng bên trong thì sao? Họ khôn ngoan, khéo léo, tùy từng chỗ, từng nơi và từng đối tượng tiếp xúc mà phát ngôn sao cho có lợi nhất cho chính mình. Thậm chí, cùng là một việc, có thể sẽ nói khác, thậm chí nói ngược nếu ở các vị trí hoặc người nghe khác nhau; uốn éo, mềm dẻo, có lợi cho bản thân. Họ cố gắng đến cao nhất tránh va chạm, to tiếng; nhẹ nhàng bày tỏ, thể hiện sự quan tâm đến từng đối tượng cần thiết, tạo cơ sở thu hút, lôi kéo, mua chuộc, tăng cường lực lượng ủng hộ mình, bỏ phiếu cho mình (không loại trừ cả hối lộ, đút lót!) Ngoài cố gắng trên, họ còn thông qua những người khác (nhất là khai thác hai loại người trên) để lợi dụng tối đa - hoặc tự nghĩ ra hoặc tạo cớ,… để thêm bớt, nhỏ to, rỉ tai tâm sự, giãi bày thông tin các phía, “êm ái” tung hỏa mù về sự cố của người nào đó, khi cần thiết cũng nhằm lợi cho mình - gây lôn xộn, nghi ngờ, mất đoàn kết mà bản thân vẫn được tiếng là vô tư, vẫn là tốt bụng - xứng đáng được nhận bằng khen, huân chương,… Nghĩa là, bằng cách đó, họ tiếp tục thực hiện tham vọng lớn hơn. Phải khẳng định đây là dạng người “ném đá giấu tay”, “gắp lửa bỏ tay người” - những kẻ phá hoại, luồn lách, đánh bóng rất nguy hiểm. Họ làm cho những nguyên tắc của Đảng - nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ bị bóp méo. Có điều, khổ nỗi thay, những cá nhân có những “tính cách” ấy, dưới những “bộ cánh” ấy vẫn bị nhầm lẫn và được cho là “trong sạch”, thậm chí còn có những cá nhân được đề bạt làm cán bộ lãnh đạo, quản lý./.

“Tạo điều kiện…”

Một lần trong chuyến đi công tác, tôi ghé qua đơn vị thăm anh bạn học cùng trường Sĩ quan Chính trị hiện đang là Bí thư chi bộ - Chính trị viên đại đội H. Đến thăm bạn vào đúng lúc đơn vị tổ chức sinh hoạt chi bộ, tình cờ tôi nghe được toàn bộ nội dung buổi sinh hoạt ấy, đặc biệt những lời kết luận của Bí thư chi bộ - người bạn thân thiết của tôi thời học viên - thực sự đã gợi trong tôi nhiều điều phải băn khoăn, suy nghĩ. “… Những ý kiến vừa rồi của các đồng chí khá chính xác. Đồng chí A bên cạnh những điểm mạnh vẫn còn nhiều khuyết điểm như: Việc chấp hành chế độ giờ giấc chưa nghiêm, mặc dù là trung đội trưởng nhưng lại vắng mặt trái phép, trong sinh hoạt có biểu hiện mất đoàn kết với cán bộ, chiến sĩ đơn vị bạn… Tuy nhiên, trên tinh thần xây dựng, góp ý là chính, đặc biệt thời gian tới đồng chí A sẽ chuyển đơn vị nên chi bộ cũng thống nhất “tạo điều kiện” cho đồng chí và nhất trí đồng chí A hoàn thành tốt nhiệm vụ trong năm. Những nội dung trên sẽ không ghi trong biên bản…”. Bạn tôi kết luận buổi sinh hoạt chi bộ bằng giọng điệu dứt khoát, rõ ràng với không khí nhẹ nhàng, thiếu tính đấu tranh, điều đó khiến tôi không khỏi băn khoăn về những nội dung công tác xây dựng đảng trong các bài giảng của mình! Điều cốt lõi và cũng là trách nhiệm của người cán bộ, đảng viên là phải tích cực, kiên quyết đấu tranh với những vi phạm, khuyết điểm, những biểu hiện lệch lạc của đồng chí, đồng đội để giúp họ nhận ra yếu điểm từ đó quyết tâm sửa chữa, khắc phục. Thực tế ở các đơn vị cơ sở hiện nay cho thấy không phải chỉ riêng chi bộ đại đội H mà ở không ít đơn vị, tổ chức đảng, việc “tạo điều kiện” đã không được người cán bộ lãnh đạo, chỉ huy hiểu đúng nghĩa, dẫn tới hàng loạt các “hệ lụy” không mong muốn, làm rào cản trong việc rèn luyện, phấn đấu và tiến bộ của cán bộ, đảng viên. Đây cũng là cụm từ xuất hiện khá nhiều trong các buổi sinh hoạt chi bộ, nhất là sinh hoạt kiểm tra đảng viên, sinh hoạt đánh giá chất lượng cán bộ… “Tạo điều kiện” hiểu một cách đơn giản và đúng đắn chính là thường xuyên giúp đỡ cán bộ, chiến sĩ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; là quan tâm nắm bắt và kịp thời giải quyết những vấn đề vướng mắc, những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng chính đáng của cán bộ, chiến sĩ từ đó giúp họ hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Mặt khác, “tạo điều kiện” còn thể hiện qua việc thẳng thắn phê bình trên tinh thần xây dựng vì sự tiến bộ của đồng chí, đồng đội; kịp thời chỉ ra những khuyết điểm của người vi phạm để họ nhận rõ hạn chế của mình, nghiêm túc sửa chữa, nhanh chóng trưởng thành, phát triển hoàn thiện bản thân. Trong sinh hoạt chi bộ, “tạo điều kiện” là việc nêu cao tính chiến đấu, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, kịp thời chỉ rõ những khuyết điểm, những hạn chế để đồng chí, đồng đội cùng tiến bộ chứ không phải là việc nhận xét, đánh giá thiên lệch theo kiểu “tô hồng, nói tốt”. Nếu hiểu “tạo điều kiện” theo cách của đồng chí bí thư và tập thể chi bộ đại đội H thì nguyên tắc tự phê bình và phê bình mới chỉ được thực hiện một nửa, việc giúp đỡ đồng chí A chỉ mang tính hình thức, nửa vời. Vô hình trung, chính sự “tạo điều kiện” của chi bộ H ấy, còn có thể làm cho đồng chí A tiếp tục “trượt dài” với những vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, không có cơ hội để khắc phục, sửa chữa./.

AI ĐÃ VÔ ƠN ! ???


     Năm 1969, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh mất, Cuba và nhiều nước trên thế giới (có những nước không thuộc chế độ Cộng Sản) đã tổ chức Quốc tang 7 ngày.

Năm 1973, khi chiến tranh Việt Nam đang trong giai đoạn cực kỳ căng thẳng. Fidel Castro trực tiếp đến Việt Nam, tham gia vào phòng tuyến Quảng Trị. Trong chuyến thăm này, Cuba tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế - xã hội trị giá khoảng 80 triệu đô la gồm:


- Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội, trên đường Yên Phụ, Hồ Tây. Hiện nay vẫn còn sử dụng tốt


- Nông trường bò sữa Mộc Châu với 1.200 con bò thụ thai ở Cuba và đẻ ở Việt Nam (trẻ em Cuba được uống sữa miễn phí hằng ngày, còn trẻ em Việt Nam không có sữa mà uống vì các công trình y tế, trang trại bị Mỹ ném bom phá hủy)


- Nông trường gà ở Lương Mỹ (Hòa Bình) sau thành nơi cung cấp gà giống cho cả miền Bắc (sữa không có mà uống, thịt không có mà ăn).


- Bệnh viện Cuba 500 giường ở Đồng Hới (Quảng Bình). Ai là dân Quảng Bình chắc chắn phải biết nhờ cái bệnh viện này hàng trăm nghìn người đã được chăm sóc y tế, đã được cứu sống.


- Chính phủ Cuba ngoài viện trợ lương thực, y tế còn quyết định chi hơn 6 triệu USD để mua các trang thiết bị hiện đại từ Nhật Bản và cử một số sĩ quan, chuyên viên sang Việt Nam để tu sửa, xây dựng cầu đường.


Năm 1977, Cuba vận động tất cả các nước Mỹ Latinh bỏ phiếu ủng hộ Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.


Năm 1979, khi Trung Quốc tấn công biên giới phía Bắc Việt Nam. Fidel Castro lại một lần nữa nhấn mạnh "Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình". Ông ra lệnh cho quân đội sẵn sàng đến trợ giúp Việt Nam. Tuy nhiên ngay sau đó, Liên Xô đưa quân đội cùng rất nhiều tên lửa đến sát biên giới Trung Quốc và tuyên bố sẽ san phẳng Bắc Kinh nếu như Trung Quốc không rút quân về nước. Trung Quốc vội vàng thu quân.


Những năm 80, Mỹ cấm vận, trừng phạt kinh tế, dùng nhiều thủ đoạn để cắt đứt mọi quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới, Cuba vẫn luôn luôn viện trợ Việt Nam về mọi mặt.


Năm 1973 Cuba giúp ta bắc cầu treo Bến Tắt qua thượng nguồn sông Bến Hải vào nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn trên đường Hồ Chí Minh nhánh đông và rải nhựa đoạn này trước khi giải phóng miền Nam. Năm 2005 lũ lớn cuốn trôi cầu ta phải phục chế lại để giữ kỷ niệm của nước bạn... Đến nay nhiều bạn trẻ không biết nghĩa tình chung thủy VN- CB son sắt đến mức nào


Năm 1986 xảy ra thảm họa nguyên tử Chernobyl ở Ukraine. Hàng ngàn trẻ em Ukraine đã được sang Cuba điều trị miễn phí. Tuy không được phía Cuba tiết lộ, các quan chức chính phủ Ukraine ước tính chi phí điều trị cho đến nay không dưới 300 triệu USD.

Mặc dù hiện nay Ukraine bài trừ cộng sản nhưng Tổng Thống Ukraine Petro Poroshenko, sau khi biết tin ông Fidel Castro mất, đã gửi lời tri ân đến ông và nhân dân Cuba về điều này.

Những năm 1980, 1990 Việt Nam ở trong tình trạng khan hiếm vaccine. Giá vaccine thời ấy cực kỳ đắt đỏ. Trẻ sơ sinh có tỷ lệ tử vong tăng cao. Cuba đã viện trợ rất nhiều vaccine cho Việt Nam, đồng thời đào tạo nhiều y bác sỹ cho Việt Nam. 

Thế hệ 8x và 9x của Việt Nam cao lớn và khỏe mạnh như hiện nay đều nhận những mũi vaccine từ Cuba, vì sao họ vội quay lưng hùa theo mạng xã hội ném đá...

và còn nhiều, nhiều, nhiều nữa...Fidel Castro và người dân Cuba đã vì Việt Nam như thế...Vậy, tại sao nhiều người đã vô ơn không nhớ điều đó?! Chúng ta có thể thích người này ghét người kia, hay có tư tưởng chính trị khác nhau hoặc có người muốn mượn chuyện Cuba đang bị bạo loạn để so sánh về TBCN và XHCN nhưng họ đâu biết rằng tình trạng Cuba ngày nay là do bàn tay lông lá đầy man rợ của Mỹ áp đặt và chi phối? Nhưng cho dù vì mục đích gì mà tỏ thái độ báng bổ và vô ơn với người đã từng giúp đỡ mình thì đó không phải là truyền thống đạo đức của người Việt Nam.


Yêu nước ST.

Chúng ta cần xây dựng lối sống đẹp, sống có ích cho tuổi trẻ

Xây dựng lối sống đẹp, sống có ích cho tuổi trẻ Hành vi ứng xử văn hóa là những biểu hiện hoạt động bên ngoài của con người, được thể hiện ở lối sống, nếp sống, suy nghĩ và cách ứng xử của con người đối với bản thân, với những người chung quanh, trong công việc và môi trường hoạt động hằng ngày. Tuy nhiên hành vi ứng xử văn hóa của mỗi cá nhân là khác nhau, nó được hình thành qua quá trình học tập, rèn luyện và trưởng thành của mỗi cá nhân trong xã hội. Hành vi ứng xử văn hóa của tuổi trẻ được coi là các giá trị văn hóa, đạo đức, thẩm mỹ của mỗi cá nhân được thể hiện thông qua thái độ, hành vi, cử chỉ, lời nói của mỗi cá nhân đó. Nó được biểu hiện trong mối quan hệ với những người chung quanh, trong học tập, công tác, với bạn bè cùng trang lứa và thậm chí ngay cả với chính bản thân họ. Về hành vi ứng xử có văn hóa của giới trẻ hiện nay, có nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên cần có cái nhìn khách quan khi đề cập về vấn đề này. Có thể nói, tuổi trẻ ngày nay phần đông là những con người năng động, có kiến thức rộng, sống có hoài bão và lý tưởng, đồng thời không ngừng học hỏi vươn lên để dựng xây đất nước. Nhìn chung họ có những cách ứng xử tích cực, phù hợp với truyền thống, đạo lý dân tộc. Giới trẻ ngày nay phần đông đã thể hiện trách nhiệm với xã hội, với chính bản thân mình, không ngừng học hỏi, vươn lên, sống có hoài bão, lý tưởng rõ ràng. Bên cạnh những biểu hiện của hành vi ứng xử có văn hóa, hiện nay vẫn còn một bộ phận trong giới trẻ có những hành vi ứng xử thiếu văn hóa. Ðối với bản thân họ không có ý chí phấn đấu, sống buông thả, sa đà vào các tệ nạn xã hội: cờ bạc, ma túy, mại dâm... Ðây hoàn toàn là những biểu hiện của nếp sống xa lạ, sai trái, đi ngược với truyền thống văn hóa dân tộc. Hiện tượng các bạn trẻ, thậm chí là học sinh THPT văng tục, chửi thề; ngang nhiên vi phạm luật lệ giao thông; có thái độ không đúng mực với người già; hành động thiếu văn hóa nơi công cộng... còn khá phổ biến. Trong bối cảnh xã hội hiện nay chúng ta cần có sự nhìn nhận nghiêm túc về vấn đề này. Việc giáo dục hành vi ứng xử văn hóa cho giới trẻ cần được quan tâm đúng mức. Chúng ta cần có những biện pháp thích hợp nhân rộng, tuyên dương những hành vi ứng xử đẹp tuân theo các chuẩn mực, vừa phù hợp với văn hóa, đạo đức truyền thống của Việt Nam, vừa phù hợp với các chuẩn mực của xã hội hiện đại. Hành vi ứng xử văn hóa là kết quả của quá trình nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của con người trong quá trình sống, học tập và lao động. Cho nên để vun đắp hành vi ứng xử đạo đức trong giới trẻ, trước hết những người đi trước phải biết tác động một cách phù hợp vào nhận thức, tình cảm, ý chí và hành động của giới trẻ để họ từng bước nâng cao nhận thức, bồi dưỡng tình cảm, hình thành niềm tin và có những hành vi ứng xử đẹp trong cuộc sống. Có rất nhiều những việc làm cụ thể và thiết thực để hướng giới trẻ có cách ứng xử văn hóa: nêu gương của những người chung quanh để làm chuyển biến nhận thức giới trẻ; phát động các phong trào thi đua trong mọi lĩnh vực để hướng họ vào những hành động tốt; ngoài ra còn sử dụng những tấm gương gần gũi như bạn bè, người thân, những tấm gương điển hình cùng trang lứa để tác động lên nhận thức, tình cảm và nhất là khơi gợi lòng tự trọng của họ; tổ chức các Diễn đàn thanh niên nói về sống đẹp, sống có ích, sống có văn hóa... Bên cạnh đó, cần có sự quan tâm đúng mức, hướng dẫn, giúp đỡ và tháo gỡ những khó khăn, điều chỉnh những hành vi ứng xử không đẹp nảy sinh trong quá trình giới trẻ tham gia vào những quan hệ xã hội.

 Hậu quả khôn lường từ tự diễn biến, tự chuyển hóa

Ngày 3-6-2017, Nghị quyết số 11 – NQ/TW – Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được ban hành. Sự kiện lịch sử trên khiến chúng ta nhớ tới một chuyện cách đây trên hai chục năm, cái thời mà cả nước tưng bừng phấn khởi trước thắng lợi bước đầu thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ sáu của Đảng với tinh thần “Đổi mới tư duy, thực hiện dân chủ hóa mọi mặt đời sống xã hội”. Đặc biệt là đổi mới tư duy kinh tế, chuyển từ cơ chế kinh tế kế hoạch sang cơ chế kinh tế thị trường, tạo nên những thành tựu không ngờ. Kinh tế phát triển, chính trị ổn định, an ninh quốc phòng được củng cố vững chắc, để rồi Việt Nam trở thành tiêu điểm nghiên cứu kết quả đổi mới.

Thành tựu đó trở thành cái gai trong mắt các thế lực thù địch. Bởi thế, họ đã gia tăng hoạt động DBHB trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa chống Việt Nam. Mục tiêu trọng điểm là xuyên tạc kết quả đổi mới; phủ định học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; xuyên tạc thắng lợi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân ta; kích động gây chia rẽ đoàn kết Bắc – Nam, đoàn kết dân tộc, tôn giáo; vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền… tăng cường phát tán vào Việt Nam nhiều sách báo, văn hóa phẩm, tài liệu xấu phục vụ cho mưu đồ nham hiểm trên. Việc làm của họ đã tác động tư tưởng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên và quần chúng. Thật xót xa, trong số đó có cả cán bộ, đảng viên thuộc diện lão thành cách mạng. Xin được dẫn chứng một số trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất: Có một vị tham gia cách mạng từ giữa thập niên 30 của thế kỷ trước. Vào thời điểm diễn ra sự việc được kể dưới đây, tuổi Đảng của ông còn hơn tuổi đời của tác giả bài viết này. Cũng vào thời điểm đó, ông là lãnh đạo trong cấp ủy Đảng ở một địa phương phía Nam.

Bởi ngấm cái đòn DBHB làm ông diễn biến tư tưởng để rồi dẫn tới tự chuyển hóa. Không ai có thể tưởng tượng được rằng một người như ông mà lại viết trên giấy trắng mực đen rằng: “Làm gì có DBHB. Đây là chuyện người ta tự đặt ra. Nếu có thì nó có từ bao giờ. Tại sao lại có DBHB. Nội dung ra sao…”.

Đâu phải chỉ dừng lại ở đó, nói về thành tựu công cuộc đổi mới, vị lão thành ấy phán bừa rằng: “Chẳng có gì đáng ca ngợi. Chút đỉnh kết quả đó chính là hồi chuông báo hiệu Việt Nam đã chuyển hướng, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bởi mô hình kinh tế XHCN là kinh tế kế hoạch. Nay đã chấp nhận kinh tế thị trường thì còn gì nữa, vì mô hình kinh tế thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản”. Và chính ông đã viết: “Đến bây giờ, nghiệm ra rằng… chúng tôi đã chọn nhầm con đường tư tưởng”.

Có nhiều nguyên nhân để dẫn tới sự “tự diễn biến” của vị lão thành kia nhưng theo tôi có lẽ quan trọng nhất là sao nhãng việc nghiên cứu, học tập để nâng cao nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; về mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH; về tính ưu việt của CNXH và những hạn chế tất yếu trong quá trình phát triển; về thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới và những khó khăn, hạn chế cần phải khắc phục…

Trường hợp thứ hai, tạm coi là thành công bước đầu của một tổ chức phản động có danh xưng là “Đảng nhân dân hành động” do Nguyễn Sĩ Bình là chủ tịch.

Nguyễn Sĩ Bình là một kỹ sư điện. Làm ăn, sinh sống tại Mỹ. Những năm cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, biến động chính trị ở các nước Cộng sản Đông Âu và Liên Xô đã tác động tới Việt Nam. Lợi dụng tình hình đó, Nguyễn Sĩ Bình đã về Việt Nam với vai diễn thăm thân, du lịch nhằm thực hiện mưu đồ thu thập tình hình, tìm và xây dựng cơ sở để phát triển “đảng” trong nước. Bước đầu tập trung tại thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh miền Tây Nam Bộ.

Với thời gian ngắn mà Bình đã xây dựng được hàng chục cơ sở (nói cho oách vậy chứ thực tình trong số đó hầu hết là những người trong gia đình, bạn cũ của Bình và một số ít người có tư tưởng chống phá Cách mạng). Năm 1992, Bình lại về nước và ngày 25-4-1992, cơ quan An ninh Bộ Công an đã bắt quả tang Nguyễn Sĩ Bình cùng một số “đảng viên” khi đang mở lớp huấn luyện tại một địa chỉ ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trước cơ quan An ninh, Bình thành khẩn thừa nhận: “Tôi đã vi phạm pháp luật Việt Nam. Nếu được tha, tôi cam kết sẽ không có những hành động gây hại cho an ninh đất nước…”. Với chính sách nhân đạo của Nhà nước Việt Nam, vì hoạt động của Bình bị ta sớm ngăn chặn, chưa gây hậu quả nghiêm trọng, nên ngày 26-6-1993, Bình được khoan hồng, cho về Mỹ.

Nghiên cứu tài liệu thẩm vấn Nguyễn Sĩ Bình và tài liệu thu được, trong đó có danh sách “đảng viên” trong cái đảng của anh ta, cơ quan An ninh điều tra không khỏi giật mình bởi trong danh sách ấy có một số người là cán bộ trong cơ quan nhà nước ta, có cả người là trí thức, văn nghệ sĩ. Trong đó phải nhắc đến một cán bộ trí thức công tác tại Hà Nội, tham gia Cách mạng từ kháng chiến chống Pháp. Và thật không ngờ chỉ lần đầu gặp mà ông đã coi Nguyễn Sĩ Bình “là một nhà khoa học uyên thâm, hiểu sâu sắc nhiều lĩnh vực nên thuyết trình cuốn hút người nghe”...

Việc thứ ba, là bởi nhiễm phải nọc độc tuyên truyền của các thế lực thù địch và bọn phản động xuyên tạc bản chất các cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của dân tộc ta, gần đây đã xuất hiện những ý kiến trái chiều của một số người, xung quanh cái gọi là “đánh giá lại” hoặc “nhận thức mới” về chiến tranh Việt Nam, đặc biệt là giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).

Lịch sử hào hùng của 2 cuộc kháng chiến thần kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã được tổng kết đánh giá sâu sắc, toàn diện về bản chất những cuộc chiến tranh vệ quốc của nhân dân ta. Sao lại còn có “nhận thức mới” nào nữa. Có chăng là nhận thức mới thời hậu chiến, xử sự thời hậu chiến giữa ta (người chiến thắng) với đối phương (người thua trận). Thực ra, đây cũng là sự kế thừa truyền thống đạo đức của cha ông ta từ ngàn xưa “giặc thua rồi còn trải chiếu hoa cho họ về nước”.

Tỷ như quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ, từ hai nước đối đầu nhau, bây giờ trở thành đối tác của nhau. Chẳng lẽ đó là nhận thức cũ! Với quân đội Sài Gòn và những người cộng tác với chế độ cũ, còn nhớ những ngày chuẩn bị kết thúc chiến dịch Hồ Chí Minh, hệ thống tuyên truyền chiến tranh tâm lý của địch ra rả luận điệu “Cộng sản chiếm miền Nam, chiếm Sài Gòn sẽ gây ra cảnh tắm máu”.

Luận điệu thâm độc ấy kích động tâm lý lo sợ mà hàng triệu người di tản. Có một vấn đề xử sự sau chiến tranh, ấy là một số người thuộc chế độ cũ được đưa đi tập trung cải tạo một thời gian, thiết nghĩ đó là sự cần thiết để bảo vệ họ tránh sự bột phát trả thủ của những gia đình nhiều người thân bị chế độ Sài Gòn tàn sát. Chẳng lẽ việc làm đó là nhận thức cũ!

Còn đối với những người rời Tổ quốc ra đi với nhiều lý do khác nhau, thực hiện chính sách hòa hợp dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, đã có hàng vạn người về nước thăm thân, tham quan, du lịch, đầu tư xây dựng đất nước và không ít người hồi hương trở về sinh sống tại quê nhà. Song, có một thực tế rằng, trong số đó cũng có một số người đã và đang hoạt động gây nguy hại cho đất nước, nay trở về không vì những mục đích trên, mà họ trở về với rắp tâm hoạt động chống phá Việt Nam, vi phạm luật pháp Việt Nam, bị các cơ quan chức năng bắt, xử lý theo pháp luật hiện hành. Chẳng lẽ đó cũng là nhận thức cũ!

Từ tình hình nêu trên cho thấy tự diễn biến, tự chuyển hóa là cực kỳ nguy hiểm, mà nguyên nhân sâu xa của nó là sự “di căn” từ DBHB trên lĩnh vực tư tưởng cần cảnh giác.

Đấu tranh chống DBHB, phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay mà trọng tâm là phòng, chống ngay trong đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII về củng cố và xây dựng Đảng. Đó là “toa thuốc” hiệu nghiệm nhất để phòng, chống tự diễn biến, tự chuyển hóa.

 “Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân theo, dân làm. Nếu không đạt được mục đích đó, là tuyên truyền thất bại. Muốn thành công, phải biết cách tuyên truyền”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong bài: “Người tuyên truyền và cách tuyên truyền”, đăng trên Báo Sự thật, số 79, từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 09 tháng 7 năm 1947. Đây là giai đoạn đầu thực hiện đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện chống thực dân Pháp xâm lược, đòi hỏi Đảng ta phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giác ngộ, nâng cao nhận thức của toàn dân về mục đích, tính chất, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến. Trên cơ sở đó, xây dựng ý chí quyết tâm, củng cố niềm tin của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vào sự tất thắng của công cuộc kháng chiến, kiến quốc. Đây cũng chính là phương châm, phương hướng phấn đấu, rèn luyện đối với mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền, công tác dân vận; là một phong cách mới trong công tác tuyên truyền, vận động quần chúng của Đảng ta nói chung, của mỗi cán bộ, đảng viên và người làm công tác tuyên truyền nói riêng. Trên cơ sở đó, công tác tuyên truyền của Đảng đã luôn bám sát mục đích, yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ, giai đoạn cách mạng; đặc điểm, tình hình của địa phương và nhân dân để lựa chọn đúng, trúng nội dung, phương pháp tuyên truyền, tạo nên sự đồng thuận giữa ý Đảng, lòng dân và sự thống nhất ý chí, hành động của toàn dân trong thực hiện mọi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước góp phần vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có lý tưởng chiến đấu cao đẹp, yêu nước, yêu chế độ, trung thành vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; đề cao tinh thần quyết chiến, quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu và công tác; có tinh thần đoàn kết nội bộ tốt, tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh, tinh thần quốc tế cao cả; gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân hết lòng giúp đỡ, tin yêu, ghi nhận và trao tặng danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”. Hằng năm, toàn quân có hàng chục nghìn lượt cán bộ, chiến sĩ tham gia làm công tác dân vận, các đoàn kinh tế - quốc phòng, cán bộ Bộ đội Biên phòng tăng cường xã… đã trực tiếp tham gia làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng - an ninh, phát triển kinh tế - xã hội; giúp dân xóa đói giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, phòng tránh, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn; thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo trên các địa bàn, nhất là vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo góp phần xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, mối quan hệ máu thịt quân - dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc.

“Bắt mạch” thủ đoạn lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Xã hội hiện đại, báo chí có vai trò quan trọng trong việc truyền tải các quan điểm, ý chí của Nhà nước và tiếng nói của nhân dân, là công cụ của tự do biểu đạt. Ngày nay, tự do ngôn luận, tự do báo chí có ý nghĩa đặc biệt đối với sự phát triển của từng cá nhân và cộng đồng, được coi là một phần biểu hiện quyền bình đẳng, dân chủ, có tác động thúc đẩy phát triển. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Sự thật đằng sau chiêu bài lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền. Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin. Đối với quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11, Luật Báo chí sửa đổi: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Điều 13 chỉ rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”. Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những con số biết nói Đến hết năm 2020, Việt Nam có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội đã và đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. Theo báo cáo "Thị trường ứng dụng di động 2021" do Appota phát hành, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, trong đó có 64% các thuê bao đã kết nối 3G và 4G. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet cũng chiếm 70%, lượng người dùng sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95% và trung bình họ có 3 giờ 18 phút để sử dụng Internet qua di động. Đây là con số khá ấn tượng, chứng minh smartphone đang được ưu tiên làm thiết bị kết nối chính nhờ sự tiện lợi và phổ biến. Số người dùng Facebook tại Việt Nam (năm 2020) có 69.280.000 người, chiếm 70,1% dân số. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Sóng của những hãng thông tấn, báo chí lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Những minh chứng trên cho thấy, không thể phủ nhận những thành thành tựu to lớn, vững chắc đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam và sự chủ động thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết quốc tế nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà Việt Nam tham gia. Hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm về thực tế việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình, vì không ai khác, chính mỗi công dân Việt là người trong cuộc, rõ hơn hết việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ đó đến đâu. Những luận điệu xuyên tạc, vu khống không xuất phát từ tiếng nói của dân, không đại diện cho dân, không do dân và vì dân thì làm sao có thể gọi là khách quan, làm sao thể hiện tiếng nói dân chủ như những gì các thế lực thù địch, cơ hội chính trị rêu rao. Hiển nhiên, tự do ngôn luận, tự do báo chí đều có những giới hạn nhất định, không phải là tự do quá trớn. Chúng ta rất hoan ngênh những ý kiến xây dựng, đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời lên án, phê phán những ý kiến với mưu đồ phá hoại công cuộc đổi mới, phát triển ở nước ta.