Thứ Năm, 15 tháng 7, 2021

CÔNG CHỨC KHỎE

Nhìn trên bình diện phổ biến xã hội, mãi đến những năm gần đây chúng ta mới nghiêm túc để ý đến công chức như là một lớp người riêng, một phạm trù hành chính - nhà nước. Trước khi có những đợt cải cách hành chính trải suốt từ cuối thập niên 80 đến cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, cụm từ “cán bộ-công nhân-viên chức nhà nước” thường được dùng để gọi chung tất cả những người làm việc ăn lương từ nguồn ngân sách, gồm cả các lực lượng vũ trang, trị an cùng bộ máy chuyên môn, hậu cần - kỹ thuật của các lực lượng ấy, dẫu rằng vẫn có những phân tách sâu sắc theo những tiêu chí chuyên môn tương ứng khác nhau. Bởi vậy, có thời kỳ việc học tập những lời Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh báo về các căn bệnh của bộ máy nhà nước như “tham ô, lãng phí, quan liêu” vẫn được triển khai chung cho cả những đơn vị như: nông trường, xí nghiệp, học viện… và người ta, nhìn chung chưa thấy có nhu cầu nhấn mạnh việc phòng ngừa những “căn bệnh” đó ở chủ thể đặc thù là các cơ quan công quyền, đặc biệt là nhấn mạnh các tiêu chí mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đề ra cho công chức: “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” - những tiêu chí mà giờ đây - khi xã hội thay đổi, đất nước không ngừng phát triển nhanh chóng theo hướng hiện đại và văn minh, dân chủ hơn, cần một cách cấp thiết hơn một lớp công chức có tính chuyên nghiệp mạnh, thì rất nhiều người mới thấm thía, kể cả một số chuyên gia đi “bắt bệnh” cho khối cán bộ công chức mà thường vẫn thấy chủ yếu những nguyên nhân khách quan (tất nhiên, rất căn bản, rất quan trọng!) như: cơ chế, hệ thống ngạch bậc công chức, việc tuyển chọn, tuyển dụng và sử dụng nhân tài… Nói chung, người ta luôn thừa nhận một quan niệm rằng, hầu như bộ máy xã hội nào, cơ chế quản lý nào cũng có khiếm khuyết, thậm chí là khuyết tật và đôi khi là những thiếu sót được gọi là các “lỗi hệ thống” có khả năng vô hiệu hóa nhiều chức năng căn bản của cái hệ thống bị lỗi. Chúng thiếu sót bởi chúng là sản phẩm của con người tạo ra và vận hành theo những quá trình bị quy luật biện chứng của sự tiến bộ kiểm sát, giám sát, thử thách. Và những tiến trình đó đem lại một thí dụ sinh động cho châm ngôn minh triết: “Thất bại là mẹ thành công”. Song, đó mới chỉ là hình ảnh rất lạc quan, rất tích cực khi nói về các hệ thống vận hành của xã hội, mà chưa thực lưu ý đủ tầm mức nghiêm trọng của những vấn đề về khiếm khuyết trong thực tiễn vận hành đó. Khi gọi những khiếm khuyết thuộc loại ấy như là “căn bệnh” của thiết chế Nhà nước, ngay từ những buổi đầu xây dựng Nhà nước Việt Nam mới, thì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng lối nói hình ảnh vừa dân gian dễ nắm bắt nhưng cũng vừa là sát thực hơn với nội dung được nói đến: công chức, và hoạt động của các cơ quan nhà nước trong phạm vi công quyền, vốn là một diện mạo biểu thị “sức khỏe” của thể chế và tổ chức xã hội - công chức phải “khỏe”, thì Nhà nước mạnh và người dân thấy “khỏe” theo. Vậy nên, Người coi “tham ô, lãng phí, quan liêu” là thứ “bệnh tật” tàn phá từ bên trong “sức khỏe” của bộ máy công quyền và Nhà nước. Theo cách nói đó mà ngày nay ta quen đề cập những điểm yếu của công chức, từ quy mô bộ máy các cấp cho đến mức độ từng cá thể của lớp người thực thi vai trò công chức, gọi những điểm yếu đó như là “những căn bệnh của công chức”; thậm chí, nhiều khi người ta uyển chuyển gọi thói quan liêu hách dịch là “bệnh công chức” - thật ra không hoàn toàn đúng, và phần nào làm lệch ý nghĩa của “bệnh”. Bởi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra “thang thuốc” cho “căn bệnh” này bằng hệ tiêu chí “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, và nội hàm của các “vị thuốc” này phản ánh tính cốt lõi của những điểm yếu gây “bệnh” ở công chức. Tính cốt lõi này chi phối và thuộc về các phẩm chất sâu sắc hơn từ năng lực đạo đức, năng lực nhận thức, năng lực hành động theo các chuẩn mực luân lý xã hội khi thi hành công vụ. Có thể thấy rằng, những tiêu chí nói trên hầu như ai cũng đã biết, đồng thời, tính giản dị trong hình thức diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh lại hướng đến chỗ muốn người ta suy ngẫm thường xuyên hơn bởi dễ ghi nhớ hơn. Sự giải thích bao hàm trong các tiêu chí đó của Người cũng rất thiết thực và có thể hợp với mọi thời: Cần là cần cù làm việc, siêng năng học tập, và còn có nghĩa làm việc có phương pháp, theo tri thức khoa học, và phải năng động suy nghĩ. “Cần” phải đi với ý nghĩa “cần cù” trong hoạt động trí óc. Bởi, chính từ trí óc mà ta “cần” hay không. Kiệm là tiết kiệm thời gian, tiền bạc, phương tiện vật chất nói chung trong thi hành công vụ nhằm đạt hiệu quả mà không gây lãng phí, không sa vào những hoạt động bất hợp lý. Liêm hiển nhiên là giữ mình liêm khiết, không tham không nịnh, cũng không ham được xu nịnh tâng bốc. Chính là trước hết tu dưỡng cho mình tinh thần thượng tôn đạo lý, lẽ phải, để không sa vào hay nhân nhượng thỏa hiệp bắt tay với những sự sai trái. Chí công là một đòi hỏi có tính lý tưởng trước hết trong nhận thức và ý thức, sau là trong hành vi công vụ, phải hết mức công tâm, để nhận ra được lẽ công bằng trong đa dạng sự việc và quyết thực thi sự công bằng; đi với vô tư là hạn chế hết mức “lòng riêng” như người xưa thường nói, để có thể xem hiệu quả của công vụ, quyền lợi của Nhà nước và của người dân là trên hết trong công việc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dẫn châm ngôn xưa để nói về điều này, là “Lo trước cái lo của thiên hạ, vui sau cái vui của thiên hạ”, mà một thời chúng ta đã quen nghe một châm ngôn tương tự về người đảng viên. Những năm đổi mới kinh tế và cải cách hành chính đã dần làm rõ vị trí, vai trò quyền lực của công chức trong một bối cảnh sự phân công lao động xã hội đã rõ rệt hơn về chức năng, trong đó, chức năng quản lý nhà nước dường như “phình ra”, mà một trong những lý do chính là sự tăng trưởng hoạt động kinh tế tư nhân, tăng dân số đi cùng với đô thị hóa dữ dội, khiến cho hoạt động quản lý hành chính và quản lý chức năng trở nên tất bật trong một sự bận rộn đáng mừng đối với khá nhiều người, và cũng từ đó, những lời phê bình hay ta thán về công chức lại tăng dần lên (- bởi những phê phán đó đã vẫn tồn tại dưới thời bao cấp, về “bệnh” quan liêu - cửa quyền chẳng hạn, rồi đã tạm lắng một thời gian khi mà các thành quả ban đầu của đổi mới kinh tế tạo ra nhiều sự thỏa hiệp xã hội, cần cho việc làm ăn, thu hút hết nỗi chú tâm trong đời sống xã hội - ) mà giờ đây, người ta nói nhiều hơn về sự bất cập của “tư duy” công chức, tình trạng không theo kịp đà phát triển xã hội trong các lĩnh vực quản lý hành chính và chức năng; người ta kêu lên với “bệnh vô cảm”, “bệnh ì” ở công chức,… Những “căn bệnh” phổ biến bị kêu ca, phê phán nhiều nhất, như thế, vẫn là những căn bệnh vốn đã được người sáng lập Nhà nước của chúng ta cảnh giác ngay từ buổi đầu. Tương ứng với sự tăng trưởng chung của đời sống xã hội, trình độ chuyên môn của công chức hiển nhiên đã tăng, ví như là đã “khỏe” hơn, giỏi giắn hơn. Song, từ phía “bệnh” mà nói, “sức khỏe” đề kháng lại dường như sút giảm. Theo ý kiến của nhiều người đã nhận xét, sự tu dưỡng về mặt “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” dường như đã lỏng lẻo đi dưới nhiều sức ép từ những đòi hỏi chuyên môn, lo lắng mưu sinh gia đình, hay những cám dỗ của đời sống tiêu thụ không ngừng tăng lên và thiên biến vạn hóa. Gần đây, có nổi lên luồng ý kiến cho rằng nên sử dụng một biện pháp cổ xưa gọi là “dưỡng liêm” - dùng một khoản bồi đắp thêm về quyền lợi vật chất, công khai, để nuôi dưỡng lòng liêm chính của công chức. Chưa nói đến các phương diện khả thi hay không của đề xuất này, ta thấy, việc đưa ra một đề nghị giải pháp như thế rõ ràng nhằm muốn củng cố đạo đức của người thực thi công quyền. Và ở đây, bài học Hồ Chí Minh về cái lôgíc đạo lý truyền thống hiện lên rõ rệt: muốn “liêm” được trước hết đã phải “chính”; muốn là “chính” trước đã phải “cần” và “kiệm” - sự học hỏi, chuyên cần trong công việc, có tư duy văn minh, hợp lý; và muốn có con người như thế cho sự nghiệp thì trước đã phải tạo được quan niệm nhân sinh “chí công vô tư” đối với các nhiệm vụ thực thi và đảm nhiệm công quyền. Trong lĩnh vực này, người ta không chỉ trông chờ vào tu dưỡng cá nhân mỗi người, mà căn bản còn dựa vào pháp chế; và một số ý kiến chuyên gia đề nghị hoàn thiện các thay đổi về quản lý công chức từ việc tuyển dụng đến sự thưởng phạt công minh, tiêu chuẩn hóa, và rộng ra là cải thiện môi trường xã hội... Song, quan điểm nhân sự cốt lõi vẫn căn cứ vào đạo đức và nhân cách phù hợp cho việc hành xử quyền lực Nhà nước, phù hợp với đặc trưng của Nhà nước và quyền lực cụ thể. Bài học Hồ Chí Minh cũng là bài học từ truyền thống về các yêu cầu nhân sự đối với những người làm việc Nhà nước. Bởi, công chức khỏe thì Nhà nước cũng khỏe./.

Tái diễn vi phạm giao thông lợi dụng dịch bệnh Covid-19 trong thời gian qua

Trong thời gian qua, cả nước tập trung các giải pháp phòng, chống dịch Covid-19, thì tại một số nơi, lợi dụng đường vắng, nhiều người đã cố tình vi phạm giao thông, gây mất an toàn xã hội. Điều đáng nói, theo số liệu thống kê, số trường hợp vi phạm giao thông trong thời gian chống dịch có dấu hiệu gia tăng. Mặc dù trên xe treo đến 3 mũ bảo hiểm nhưng 1 người đàn ông đã không đội, chỉ đến khi thấy cảnh sát giao thông thì đỗ xe vào lề đường để đội lên. Ngoài ra còn 1 số trường hợp vi phạm khác như: không đội mũ bảo hiểm, vượt đèn đỏ, thậm chí thấy cảnh sát giao thông thì quay đầu xe bỏ chạy ngược chiều...những hành vi vi phạm này đang có dấu hiệu gia tăng, nhất là thời điểm chống dịch vừa qua. Rạng sáng qua 14/7, lực lượng chức năng trạm chốt cầu Bến Thủy phát hiện xe khách 29B - 616.80 chở 20 người từ vùng dịch TP. Hồ Chí Minh về Nghệ An. Ban Chỉ đạo phòng, chống Covid-19 tỉnh đã yêu cầu cách ly y tế tập trung và lấy mẫu xét nghiệm Covid-19. Trước đó 1 ngày, CSGT Công an huyện Yên Thành đã phát hiện, xử lý ô tô khách 37B - 020.76 của nhà xe San Hiền chở 20 người từ vùng dịch Covid-19 Hà Nội và Bắc Ninh về huyện Yên Thành nhưng chưa thực hiện các thủ tục khai báo và xét nghiệm y tế. Nhà xe chỉ có hợp đồng vận chuyển khách theo tuyến Nghệ An - Bắc Ninh mà không có hợp đồng chiều ngược lại. 20 hành khách có 14 người về từ Hà Nội, 6 người về từ Bắc Ninh. Để đảm bảo an toàn phòng chống dịch Covid-19, toàn bộ hành khách được tiến hành test nhanh tại chỗ cho kết quả âm tính, đã được khai báo y tế, theo dõi sức khỏe và thực hiện cách ly theo quy định. Theo số liệu thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông Hà Nội, chỉ tính trong 15 ngày đầu thực hiện cách ly xã hội, hệ thống camera giám sát giao thông của đơn vị đã phát hiện hơn 400 xe ô-tô vượt đèn đỏ, chưa kể các lỗi vi phạm khác. Trong số gần 400 trường hợp vi phạm này, có một số phương tiện tái phạm nhiều lần. Các trường hợp này sẽ được Cảnh sát giao thông gửi thông báo về cho lái xe, chủ sở hữu sau khi hết thời gian cách ly xã hội. Những trường hợp tái phạm sẽ áp dụng chế tài tăng nặng mức xử phạt. Do giãn cách xã hội, đường sá vắng người, tình trạng vi phạm giao thông có chiều hướng gia tăng. Trong thời gian tới, Phòng Cảnh sát giao thông sẽ chỉ đạo tất cả các đội Cảnh sát giao thông trên địa bàn tăng cường xử lý vi phạm giao thông tại các điểm giao cắt, trục chính. Đồng thời tăng cường hệ thống camera giám sát phạt nguội các vi phạm.

MẶT THẬT CỦA NHỮNG KẺ ĂN BÁM SỰ KIỆN

 

Nhiều ngày qua, khi vào mạng xã hội (MXH) để tìm hiểu thông tin về một hiểu lầm nhỏ giữa đoàn công tác y tế với người dân của một địa phương mới giật mình với cách chia sẻ và bình luận ác ý của không ít người dùng MXH đang bị dẫn dắt bởi những kẻ ăn bám sự kiện chuyên nghiệp.

Trong khi có nhiều người hiểu biết, cảm thông với một vài sơ suất, thì còn đó hàng nghìn người dễ dàng nghe theo thông tin một chiều, bình luận cảm tính thể hiện thái độ vô cảm, thậm chí là hùa theo một số kẻ ăn bám sự kiện chuyên nghiệp núp dưới chiêu trò “yêu nước”, “tự do ngôn luận”, “phản biện”, “minh bạch thông tin”... cố tình tung tin làm sai lệch bản chất sự việc để gây hoài nghi, bức xúc, bất ổn trong xã hội.

Cũng liên quan tới cách chia sẻ thông tin trên MXH, gần đây, một số người do bị dẫn dắt từ thế lực bên ngoài, cũng đã lên MXH để kích động người khác có hành vi chống đối người thi hành công vụ, kêu gọi tụ tập, gây mất trật tự an ninh. Khi ấy, hẳn họ đã quên "gương" những đối tượng do nghe theo lời kêu gọi người dùng MXH trên MXH để đập phá các cơ sở sản xuất giờ vẫn đang ngồi tù. Họ hẳn không nghĩ tới việc đến khi sự thật được chứng minh; sự nông cạn, hành vi kích động của họ ắt vướng vòng lao lý. Tỉnh ngộ, những tài khoản ảo kia đã mất dấu, ân hận thì đã muộn.

Câu hỏi đặt ra là tại sao những kẻ ăn bám sự kiện, ném đá giấu tay, đứng sau giật dây gây rối vẫn còn đất để tồn tại? Phải chăng người dùng MXH đang quá dễ dãi, cảm tính, không nghiêm túc tìm hiểu thông tin thật-giả; duy tình mà không duy lý của một bộ phận người dân khiến các thế lực triệt để lợi dụng, nhằm biến sự giận dữ nông cạn của đám đông thành “vũ khí” gây rối xã hội? Phải chăng chúng đang giăng ra những chiếc bẫy cực kỳ tinh vi để dần làm mất khả năng phân biệt thông tin đúng-sai của người dùng MXH, từ đó thực hiện ý đồ sâu xa về một cuộc cách mạng màu nào đó; kích động hành vi phân biệt vùng miền, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện ý đồ làm mất ổn định xã hội?

Không thể phủ nhận sự phát triển của MXH đang giúp mọi cá nhân dễ dàng tham gia vào quá trình tương tác, cung cấp, chia sẻ thông tin đa chiều về thực tiễn đời sống xã hội. Vì lẽ ấy, MXH cũng tạo ra áp lực đủ mạnh giúp giám sát hành vi tốt-xấu của tập thể hay cá nhân. Nhờ sự phản biện từ cộng đồng mạng, nhiều hành vi xấu đã được hạn chế; nhiều gương người tốt, việc tốt được lan tỏa nhanh chóng, tạo nên môi trường thông tin lành mạnh. MXH thực sự đã lan tỏa, trở thành một thứ “quyền lực” tác động đến mọi quốc gia, dân tộc. Nếu mỗi người dân không tỉnh táo, sẽ vô tình hoặc hữu ý trở thành công cụ của các thế lực phản động chống phá đất nước mình. Vì vậy, mỗi người dùng MXH đều phải có ý thức làm trong sạch, lành mạnh MXH. Tiết chế hành vi, phát ngôn chuẩn mực trên MXH cũng là góp phần tích cực ổn định xã hội, đấu tranh với cái xấu, phát huy vai trò giám sát, phản biện và phát hiện tiêu cực của MXH.

Hải Đăng ST

Cầu người tài đức

Xác định hiền tài là nguyên khí quốc gia, Đảng, Nhà nước đã ban hành cơ chế, chính sách thu hút và trọng dụng nhân tài. Trong thực tiễn, để thu hút và sử dụng được nhân tài, cái “tâm”, “tầm” của người lãnh đạo, quản lý đóng vai trò quan trọng. Câu chuyện Cầu người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh gần 70 năm trước đây thêm một lần nữa chứng minh điều đó. Chiều ngày 2-9-1945, sau buổi Lễ Tuyên ngôn độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức họp Hội đồng Chính phủ, thông qua nhiều quốc sách quan trọng: diệt giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm; ký Sắc lệnh Tổng tuyển cử tự do trong cả nước; lập Ủy ban dự thảo Hiến pháp của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; tuyên bố quyền tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết… Đến phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 14-11-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phát biểu: "Đất nước lúc này cần kiến thiết: kiến thiết ngoại giao; kiến thiết kinh tế; kiến thiết quân sự; kiến thiết giáo dục. Muốn vậy phải mời người tài đức ra giúp nước nhà. Nhân tài nước ta dù chưa có nhiều lắm nhưng nếu chúng ta khéo lựa chọn, khéo phân phối, khéo dùng thì nhân tài ngày càng phát triển, càng thêm nhiều"(1). Tại phiên họp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng Chính phủ cử một Ban cố vấn gồm 10 vị giúp việc cho Chủ tịch nước. Người giới thiệu danh sách 6 vị đệ trình Hội đồng Chính phủ cho ý kiến, gồm: 1. Cụ Bùi Bằng Đoàn 2. Giáo sĩ Lê Hữu Từ 3. Cụ Ngô Tử Hạ 4. Cụ Bùi Kỷ 5. Cụ Lê Tại 6. Bác sĩ Nguyễn Văn Luyện Còn thiếu bốn vị nữa, Người xin được Hội đồng Chính phủ tiếp tục bổ khuyết. Trao đổi với ông Vũ Đình Huỳnh - Bí thư tín nghĩa của mình, Hồ Chủ tịch nói: "Thật phúc đức cho tổ tiên ta, đông đảo các vị tài đức từ Bắc chí Nam đều sẵn sàn dấn thân vào công việc giúp nước, cứu dân trong lúc "nước sôi lửa bỏng" này. Các bậc chí sĩ, như cụ Huỳnh (Huỳnh Thúc Kháng); cụ Tố (Nguyễn Văn Tố); cụ Phan (Phan Kế Toại); cụ Vi (Vi Văn Định)… đều ghé vai vào quốc sự. Nhưng riêng cụ Bùi Bằng Đoàn, một bậc đại thần, một quan Thượng thư Bộ hình nổi tiếng thanh liêm, chính trực, hết mực yêu thương dân chúng trong triều đình Huế, ngoài lý do sức khỏe chắc còn một lý do nào đó khiến cụ còn do dự"(2). Hồ Chủ tịch bàn với Bí thư của mình và quyết định viết "Lời tâm thư". Người giao ông Vũ Đình Huỳnh trực tiếp đến yết kiến cụ Bùi Bằng Đoàn tại nhà riêng và trao bức thư này. Trước ngày ông Vũ Đình Huỳnh cầm bức thư của Hồ Chủ tịch đến Liên Bạt, Ứng Hòa, Hà Đông gặp cụ Bùi Bằng Đoàn, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp công bố trên báo Cứu quốc bài "Tìm người tài đức" của Hồ Chủ tịch. Bài viết ngắn nhưng nói lên tâm huyết, mong mỏi của vị Chủ tịch nước đầu tiên của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Nước nhà cần được kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào ta chắc không thiếu người tài đức. E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân. Khuyết điểm đó tôi xin thừa nhận. Nay muốn sửa đổi điều đó và trọng dụng những kẻ hiền năng, các địa phương phải lập tức điều tra nơi nào có người tài đức, có thể làm được những việc ích nước lợi dân thì phải báo cáo ngay cho Chính phủ biết. Báo cáo phải nói rõ: tên tuổi, nghề nghiệp, tài năng, nguyện vọng và chỗ ở. Hạn trong một tháng, các cơ quan địa phương phải báo cáo cho đủ. Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Hồ Chí Minh"(3). Tại tư thất ở quê nhà, cụ Bùi Bằng Đoàn xúc động nhận "Lời tâm tri" của Hồ Chủ tịch. Bức "tâm tri" này cũng thật ngắn và xúc tích: "Thưa Cụ, tôi tài đức ít ỏi mà trách nhiệm nặng nề. Thấy Cụ học vấn cao siêu, kinh nghiệm phong phú, vậy nên tôi muốn mời Cụ làm Cố vấn cho tôi, để giúp thêm ý kiến trong công việc hưng lợi trừ hại cho nước nhà dân tộc. Cảm ơn và kính chúc Cụ mạnh khỏe. Kính thư - Hồ Chí Minh"(4). Bức thư hàm xúc bao ý nghĩa lớn lao. Đọc "Lời tâm tri" của Hồ Chủ tịch, cụ Bùi Bằng Đoàn nhấn đi nhấn lại bốn chữ "hưng lợi trừ hại". Cụ tâm sự với ông Vũ Đình Huỳnh: "Ngài Bí thư coi, Hồ Chủ tịch viết cho tôi có hơn năm mươi từ mà trọng nhiệm lớn lao, tôi e mình không làm tròn trọng nhiệm mà Hồ Chủ tịch phó thác. Tôi ra làm quan từ thuở ngoài hai mươi tuổi, cái thời nước mất, ngoại bang đô hộ, hơn ba mươi năm ở ghế quan trường dưới ba đời vua An Nam. Nay nhờ có Hồ Chủ tịch lãnh đạo, nhân dân ta đã rửa được cái nhục vong quốc, nước Nam ta đã có độc lập, nhân dân ta có tự do, ai nấy đều hả lòng hả dạ. Ngài Bí thư về thưa lại với Hồ Chủ tịch, tôi xin ứng mệnh "Lời tâm tri" này"(5). Từ một ông quan Thượng thư làm việc dưới triều đình phong kiến, nhận thức rõ đường lối cách mạng và mến mộ tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cụ Bùi Bằng Đoàn đã đi theo cách mạng, đem hết sức lực, tài năng của mình ra phụng sự dân tộc. Tham gia chính quyền mới, cụ đã từng giữ các chức vụ: Cố vấn Chủ tịch nước; Trưởng ban Thanh tra đặc biệt; Trưởng ban Thường trực Quốc hội từ tháng 11-1946 cho đến khi cụ tạ thế (tháng 4-1955). Trong thời gian làm việc ở chiến khu Việt Bắc, tình cảm giữa Hồ Chủ tịch và cụ Bùi Bằng Đoàn không chỉ là tình cảm của những nhà cách mạng mà còn là tình cảm của những người bạn tri ân. Chúng ta còn nhớ bài thơ Hồ Chủ tịch tặng cụ Bùi Bằng Đoàn: Xem sách chim rừng vào cửa đậu Phê văn hoa núi ghé nghiêng soi Tin vui thắng trận dồn chân ngựa Nhớ Cụ thơ xuân tặng một bài. Cụ Bùi Bằng Đoàn cũng có bài thơ họa lại: Sắt đá một lòng vì chủng tộc Non sông muôn dặm giữ cơ đồ Biết Người việc nước không hề rảnh Vung bút thành thơ đuổi giặc thù. Với mong muốn có nhiều người tài đức ra giúp dân, giúp nước, với uy tín và sự chân thành của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảm hóa được nhiều nhân sĩ, trí thức yêu nước, như cụ Huỳnh Thúc Kháng, ông Nguyễn Văn Tố, Nguyễn Văn Huyên, Phan Kế Toại, Hoàng Minh Giám, Tạ Quang Bửu, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Vũ Đình Hòe, Trần Đại Nghĩa,... Họ đã có những cống hiến to lớn cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Bài học về trọng dụng người tài đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh rất đáng để chúng ta suy nghĩ, học tập trong việc thu hút nhân tài phụng sự công cuộc kiến thiết, xây dựng đất nước hiện nay./.

Văn hóa từ chức

Từ chức được hiểu xin thôi không làm chức vụ hiện đang giữ. Như vậy, từ chức chỉ có thể xảy ra ở những người có chức, có quyền. Từ chức một cách tự nguyện, tự giác là thái độ trung thực với chính mình, biết xấu hổ khi làm điều trái với đạo lý, đi ngược lại nguyện vọng của cơ quan, tổ chức và cộng đồng, là biểu hiện của sự cao thượng, dũng cảm, tự trọng. Hiện nay, vấn đề văn hóa từ chức ở nước ta đang được nhiều nhà nghiên cứu đề cập đến. Từ chức chỉ được xem là một hành vi có văn hóa khi người ta tự nguyện và mang lại ý nghĩa tốt đẹp cho xã hội. Ở các nước phát triển, từ chức là văn hóa hành xử của những người có chức, có quyền và đã trở thành trách nhiệm của người có chức, có quyền, được dư luận xã hội chấp nhận. Từ xưa, nước Việt ta có khá nhiều người tài giỏi nhưng đã treo ấn từ quan như Chu Văn An, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Bỉnh Khiêm,... Các ông từ chức không phải không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn mà phần nhiều là do khảng khái, không đồng ý với quan điểm của vua. Tuy nhiên, tôi cho rằng, ở Việt Nam từ xưa đã có văn hóa từ chức rồi thì chưa hẳn đúng. Vừa qua, Chính phủ chỉ đạo Bộ Nội vụ nghiên cứu xây dựng Đề án tiếp tục cải cách chế độ công vụ, công chức, trong đó có việc nghiên cứu xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức và coi từ chức - thuộc khía cạnh văn hóa của chế độ công vụ - là một nội dung nằm trong chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020. Tại sao Chính phủ lại phải xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức? Theo tôi là do những nguyên nhân sau đây: Một là, công tác tổ chức cán bộ của chúng ta còn yếu kém, nhất là trong việc giáo dục, lãnh đạo, quản lý đã làm cho một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp thiếu rèn luyện, tu dưỡng, thực hành liêm chính và thiếu gương mẫu, không làm tròn chức trách, gây tác hại lớn nhưng hầu như không thấy ai có lời xin lỗi hoặc từ chức cả. Hai là, chúng ta chưa có hệ thống pháp luật quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng vị trí, nhất là đối với lãnh đạo, quản lý nên thiếu cơ sở để người dân hoặc các tổ chức, cơ quan giám sát. Ba là, việc từ chức hiện nay khó quá nên không thấy ai tự nguyện từ chức nên phải có quy định, đồng thời ở nước ta hiện nay chưa hình thành văn hóa từ chức. Điều đó có nghĩa là một bộ phận không nhỏ cán bộ lãnh đạo, quản lý chưa có lòng tự trọng, thiếu trung thực, ứng xử chưa liêm khiết. Tại sao việc từ chức lại khó và ở ta chưa có văn hóa từ chức? Qua nhiều ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể khái quát như sau: - Chức tước thường đi đôi với quyền lực, thường gắn với lợi ích, bổng lộc, đặc quyền, đặc lợi. Nếu từ chức có nghĩa sẽ không còn gì cả. - Học để “làm quan” đã ăn sâu, bén rễ trong tâm thức người Việt và vì thế truyền thống coi “làm quan” là một sự thành đạt cao nhất. - Dư luận xã hội chưa được định hướng để đồng tình hay ủng hộ việc tự nguyện từ chức. Nếu ai đó là đảng viên thì viện dẫn đây là nhiệm vụ Đảng giao, nếu từ chức lại coi là không có tinh thần đảng viên, phai nhạt lý tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu…, từ chức là để trốn tránh trách nhiệm, để thoát tội, để hạ cánh cho an toàn… Rõ ràng, quyền lực thể chế nào cũng liên quan tới lợi ích cá nhân. Một khi động cơ lợi ích cá nhân lớn đến mức, nhà tư sản “sẵn sàng treo cổ khi lợi nhuận tới 300% - Các Mác”, thì người có quyền, có chức càng không thể dễ dàng từ bỏ nó, nếu quyền lực chính là phương tiện có thể “vinh thân, phì gia”. Văn hóa từ chức là một dạng văn hóa cá nhân của những người có chức, có quyền. Họ được cơ quan, tổ chức và xã hội tôn trọng khi ở họ có nhân cách đạo đức, biết lãnh đạo bằng tấm gương. Nếu không có nhân cách và gương mẫu thì không thể thuyết phục được mọi người. Để có văn hóa từ chức theo tôi cần: - Phải có hệ thống pháp luật quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của từng vị trí, nhất là đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý. Xây dựng các quy định về từ chức của cán bộ, công chức phải dựa trên nền tảng cải cách, xây dựng được quy chế công chức thật chuẩn về tiêu chuẩn của từng chức vụ, từng vị trí công tác. - Đẩy mạnh tuyên truyền trong xã hội về văn hóa từ chức; nên khuyến khích sự tự nguyện từ chức và đánh giá cao những người có đủ dũng khí, lòng tự trọng, biết liêm sỉ tự nguyện từ chức, đồng thời định hướng dư luận xã hội cũng không nên nặng nề đối với những người tự nguyện từ chức. - Bản thân cán bộ lãnh đạo, quản lý cần phải tự nhận thức rằng chức vụ không chỉ đi liền với quyền lợi, mà cao hơn phải thấy chức vụ đi liền với trách nhiệm, với tinh thần, thái độ cống hiến, hy sinh. Việc từ chức tự nguyện của người có chức, có quyền sẽ tạo cơ hội cơ cấu lại, kiện toàn đội ngũ cán bộ của cơ quan, tổ chức nghĩa là tạo ra sự hợp lý tốt hơn trong xã hội. Điều đó giúp những người thực sự có nhân cách, tài giỏi, có trình độ, năng lực thực tiễn có thể phát huy cao nhất năng lực của mình nếu ở đúng vị trí, đồng thời cũng giúp cho cơ quan, tổ chức và xã hội tránh được những thiệt hại không đáng có. Văn hóa có mặt trong tất cả những hoạt động sống của con người và là tất yếu của cuộc sống, thế nên, văn hóa từ chức cũng biểu hiện sự tất yếu của cuộc sống. Thiết nghĩ, từ chức sớm trở thành cách ứng xử bình thường trong đời sống lãnh đạo, quản lý ở nước ta, đồng thời, văn hóa từ chức cũng từ đó mà hình thành và phát triển./.

Sức mạnh của kỷ luật Đảng

Trong dịch bệnh, Tỉnh ủy và các cấp ủy đảng tỉnh Bắc Giang luôn nêu cao tinh thần quyết tâm và lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, nhất là về công tác cán bộ; kịp thời khen thưởng; kiên quyết phê bình, thậm chí đình chỉ công tác đối với cán bộ lơ là công tác phòng, chống dịch. Đó chính là bài học kinh nghiệm sâu sắc của Bắc Giang thời gian qua. Ngay từ khi dịch bệnh bùng phát tại, Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang đã lên các phương án không chế, kiểm soát và dập dịch, trong đó việc lựa chọn những người có đủ năng lực, phẩm chất vào vị trí lãnh đạo các tiểu ban phòng, chống dịch có vai trò rất quan trọng. Căn cứ vào sở trường, tinh thần trách nhiệm của từng cán bộ, đảng viên để phân công nhiệm vụ. Theo quy trình đó, các đồng chí thường vụ đứng đầu các sở, ngành phụ trách công tác, truyền đạt triển khai cấp huyện, xã, cơ sở.Trong khó khăn, dịch họa, sự gương mẫu của mỗi cán bộ, đảng viên đóng vai trò rất quan trọng, thậm chí là then chốt. Theo lời khẳng định của đồng chí Lê Thị Thu Hồng, Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, thực tế ở nơi nào, người đứng đầu gương mẫu, sát sao, bám sát thực tiễn, đưa ra các giải pháp phù hợp, linh hoạt, vận dụng sáng tạo thì nơi đó thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch. Ngược lại, ở đâu người đứng đầu lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, ở đó công tác phòng, chống dịch có nhiều hạn chế, thậm chí gây ra những tác hại khôn lường. Và đương nhiên, có khen có chê, ai làm tốt được biểu dương; ai còn thờ ơ, thiếu trách nhiệm, chưa tốt bị phê bình, nhắc nhở, thậm chí đình chỉ công tác. Để duy trì hiệu quả xuyên suốt của các cấp đảng ủy đối với công tác phòng, chống dịch tại địa phương thì công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng được Bí thư Tỉnh ủy, Ban Thường vụ, Ban thường trực Tỉnh ủy và các ban ngành liên quan đến nghiệp vụ đặc biệt quan tâm. Hằng ngày, các đoàn công tác của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy đều có mặt ở cơ sở, đặc biệt là các điểm nóng về dịch bệnh để kiểm tra, nắm tình hình thực tiễn từ đó có điều chỉnh, nhắc nhở phù hợp với lãnh đạo địa phương. Cụ thể, trong quá trình kiểm tra tại huyện Việt Yên, đoàn công tác Tỉnh ủy đã chỉ ra những vấn đề địa phương đã làm được và chưa làm được. Để khắc phục những vấn đề còn tồn tại cần xây dựng kế hoạch, đưa ra lộ trình cụ thể, bố trí nhân sự phù hợp. Trong trường hợp vượt quá thẩm quyền, đoàn công tác kiến nghị để Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy giải quyết. Tinh thần này cũng được lan tỏa tới cấp ủy các địa phương. Huyện Yên Dũng là một điểm nóng của dịch, nhưng nhờ làm tốt công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát đảng đối với cán bộ, đảng viên tham gia công tác phòng, chống dịch, địa phương đã đạt được những kết quả đáng khích lệ với việc nhiều ngày qua không còn ghi nhận ca mắc mới.Chia sẻ về những kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn chống dịch, Bí thư Huyện ủy Yên Dũng, Thạch Văn Chung cho biết, Huyện ủy đã ban hành Chỉ thị về việc huy động toàn hệ thống chính trị và nhân dân thực hiện đợt cao điểm quyết tâm phòng, chống và đẩy lùi dịch bệnh Covid-19. Đặc biệt, với tinh thần cá thể hóa trách nhiệm, các đồng chí Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Huyện ủy viên đã chủ động ở lại địa bàn được phân công để cùng cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo xử lý kịp thời mọi mặt công tác phòng, chống dịch, nhất là khi có trường hợp F0. Từ sự tập trung chỉ đạo quyết liệt, sâu sát đó, cơ bản cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, nhất là ở cơ sở trong huyện thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm và sự quyết tâm. Bất kỳ sự lơ là, mất cảnh giác của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là các cấp lãnh đạo trong công tác phòng, chống dịch đều phải trả giá bằng thành quả của cả hệ thống chính trị và nhân dân nỗ lực, cố gắng. Kết quả của công tác trên tại huyện Yên Dũng được hiện thực thông qua các con số cụ thể các địa bàn từng nguy cơ cao như xã Nội Hoàng có số lượng công nhân ở trọ hơn 7.000 người, nay không còn phát sinh các ca nhiễm mới. Xã Tân Liễu, xã đầu tiên của huyện Yên Dũng ghi nhận trường hợp dương tính với SARS-CoV-2 vào ngày 13-5, cũng đang từng bước hạn chế tối đa dịch lan trong cộng đồng. Xã Hương Gián trong suốt đợt dịch vừa qua không ghi nhận trường hợp dương tính, còn số ca F1, F2 cũng rất thấp… Trong quá trình kiểm tra, giám sát thực tiễn tại cơ sở, việc kiểm tra, đánh giá cán bộ có vai trò rất quan trọng. Vấn đề này đã được Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy đặc biệt quan tâm và thực hiện kiên quyết. Hằng ngày, Thường trực Tỉnh ủy với Ban chỉ đạo phòng, chống dịch của tỉnh tổ chức họp rút kinh nghiệm trực tuyến với các huyện. Trong đó nêu cao vai trò công tác kiểm tra, giám sát và đặc biệt quyết liệt trong việc xử lý các cán bộ lơ là, cố ý buông lỏng phòng, chống dịch. Thực tế, tỉnh Bắc Giang đã xử lý nghiêm nhiều trường hợp cán bộ cơ sở lơ là, thiếu trách nhiệm, buông lỏng trong công tác phòng, chống dịch để làm gương. Cụ thể, ngày 13-6, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương đã phê bình Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn vì để số ca F0 xuất hiện nhiều trong khu cách ly tập trung. Theo đó, ngày 10-6 và ngày 12-6, trong 2 lần liên tục lấy mẫu xét nghiệm tại Khu cách ly tập trung trường Phổ thông dân tộc nội trú huyện Lục Ngạn đã cho kết quả phát sinh 29 trường hợp F0. Nguyên nhân được xác định là do việc thực hiện các quy định, quy trình trong công tác quản lý tại các khu cách ly của huyện Lục Ngạn thiếu chặt chẽ. Trong các ngày 7 và 9-7, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương đã phê bình nghiêm khắc chủ tịch UBND huyện Lục Nam Đặng Văn Nhàn khi không làm tốt công tác quản lý, giám sát nghiêm công dân cách ly tại nhà; Chủ tịch UBND huyện Tân Yên Nguyễn Viết Toàn bị phê bình và tạm đình chỉ hoạt động điều hành vì lơ là chống dịch "dẫn đến hậu quả nghiêm trọng"; Chủ tịch UBND TP Bắc Giang Đặng Đình Hoan và Ban chỉ đạo chống dịch thành phố đã bị phê bình do không giám sát nghiêm phòng, chống dịch dẫn đến nhiều ca nhiễm dương tính liên quan đến ổ dịch Công ty may Baian Vina… Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Giang Lê Ánh Dương nhấn mạnh: "Một số lãnh đạo cấp huyện, cấp xã bị phê bình, tạm dừng điều hành, xem xét kỷ luật là việc làm cần thiết để củng cố sức mạnh lãnh đạo nhằm chống dịch hiệu quả hơn. Các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh quán triệt nghiêm túc sự chỉ đạo của trung ương, của tỉnh về công tác phòng, chống dịch. Thực hiện nguyên tắc người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trực tiếp chỉ đạo và chịu trách nhiệm về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn”.Tinh thần xử lý nghiêm minh này cũng được thực nghiệm ở các cấp cơ sở. Đầu tháng 6-2021, trên địa bàn xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) đã xảy ra việc một số công dân không thực hiện nghiêm túc quy định về cách ly xã hội, cách ly y tế tại gia đình. Lãnh đạo xã Tiền Phong, huyện Yên Dũng đã chậm ban hành quyết định cách ly đối với một công nhân ở thôn An Thịnh, người sau này trở thành F0. Bên cạnh đó, trên địa bàn thôn An Thịnh còn xảy ra sự việc người dân tổ chức đám giỗ trong thời gian cách ly xã hội. Ngay sau khi nhận và xác minh thông tin, ngày 6-6, Chủ tịch UBND huyện Yên Dũng quyết định tạm đình chỉ công tác 15 ngày đối với ông Trần Văn Học, Chủ tịch UBND, Trưởng ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 xã Tiền Phong. Về vấn đề này, Bí thư Huyện ủy Yên Dũng, Thạch Văn Chung nhấn mạnh, với phương châm siết chặt kỷ luật, kỷ cương, Huyện ủy cũng chỉ đạo xem xét trách nhiệm, xử lý người đứng đầu và các tổ chức, cá nhân liên quan nếu để xảy ra dịch bệnh tại địa phương, đơn vị do lỗi chủ quan hoặc không kịp thời có biện pháp ứng phó, truy vết, khoanh vùng, dập dịch hiệu quả. Theo đánh giá rút kinh nghiệm của Ban Thường vụ, Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang, nguyên nhân chính của tình trạng trên là do nhận thức của một số cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa thấy rõ và lường hết được những tác hại của việc không chấp hành nghiêm các quy định về phòng, chống dịch. Một số cán bộ còn nể nang, chưa kiên quyết, quyết liệt trong thực hiện các biện pháp phòng, chống dịch. Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm có thời điểm chưa được quan tâm đúng mức. Việc xử lý chủ yếu mang tính răn đe, làm gương cho cán bộ, đảng viên khác, nếu không hoàn thành nhiệm vụ sẽ chuyển chuyển giao cho người khác có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tốt hơn. Chính các biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh các nội dung liên quan công tác phòng, chống dịch trong những thời điểm căng thẳng nhất của dịch bệnh cùng với sự nêu gương quyết liệt của cán bộ là một phần giúp chống dịch thành công. Để ngăn ngừa, việc quan trọng vẫn là tuyên truyền để tạo sự đoàn kết chung của toàn bộ hệ thống chính trị và nhân dân trong công tác phòng, chống dịch. Đối với những các nhân, cán bộ, đảng viên vi phạm thì xử lý nghiêm, nếu thấy năng lực hạn chế, không đáp ứng thì xem xét đình chỉ, thay thế. Bên cạnh những cán bộ lơ là, cố ý buông lỏng bị xử lý, trong công tác phòng, chống dịch, Bắc Giang cũng tìm ra những hạt nhân cán bộ mới trong hàng ngũ. Đây là cơ hội tốt để Ban Thường vụ Tỉnh ủy đánh giá và nhìn nhận về năng lực cán bộ. Sự xông xáo quyết liệt dám đi đầu, dám chịu trách nhiệm, trong chiến dịch tổng tiến công chống dịch Covid-19 vừa qua đã giúp bộc lộ một số đồng chí có đầy đủ tố chất để đào tạo nguồn cán bộ tỉnh trong tương lai: Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nêu gương trước nhân dân, nhưng cũng linh hoạt không cứng nhắc.Dịch bệnh rồi sẽ qua đi, nhưng vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng và sự xung phong đi đầu của cán bộ, đảng viên sẽ luôn được nhân dân ghi nhớ và noi theo. Dịch bệnh rồi sẽ qua đi, đời sống của nhân dân sẽ được khôi phục, nhưng qua những sự kiện không từng có tiền lệ như đợt bùng phát dịch vừa qua, các cấp ủy Đảng tỉnh Bắc Giang sẽ có thêm nhiều bài học quý giá trong công tác giám sát, kiểm tra Đảng, cũng như lựa chọn cán bộ, đảng viên có đức, có tài để xây dựng tổ chức Đảng “vừa hồng, vừa chuyên”. Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang Lê Thị Thu Hồng nhấn mạnh: “Khó khăn rồi sẽ qua đi, dịch bệnh rồi sẽ kết thúc, nhưng từ phép thử này, từ niềm tin này, mỗi cán bộ, đảng viên dù ở vai trò, vị trí công tác nào cũng cần tự ý thức rèn luyện, tu dưỡng, phấn đấu, gương mẫu, đi đầu, để xứng đáng với kỳ vọng và niềm tin của nhân dân. Và khi nhân dân tin tưởng, đồng lòng, chắc chắn việc gì chúng ta cũng thành công”.

Tổ chức thực hiện nghị quyết “thần tốc”

Thời gian qua, cấp ủy đảng các cấp trên địa bàn tỉnh Bắc Giang đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo các Đảng bộ, chi bộ trực thuộc chủ động xây dựng kế hoạch, lựa chọn giải pháp phù hợp, duy trì nghiêm việc sinh hoạt chi bộ thường kỳ, quán triệt, thực hiện nghị quyết gắn với các biện pháp phòng, chống dịch Covid-19, nhiều địa phương đã có cách làm sáng tạo trong việc ứng dụng công nghệ thông tin để duy trì công tác đảng, quán triệt nghị quyết trong bối cảnh dịch bệnh. Việc duy trì các chế độ trong công tác xây dựng Đảng, nhằm bảo đảm nội dung, chất lượng, thời gian các buổi sinh hoạt thường kỳ tại các chi bộ cơ sở theo đúng quy định của Điều lệ Đảng luôn được các đảng viên, tổ chức đảng coi trọng và chấp hành nghiêm túc. Tuy nhiên từ cuối tháng 4-2021 đến nay, tình hình dịch Covid-19 diễn biến phức tạp tại Bắc Giang. Các quy định về giãn cách và hạn chế tiếp xúc theo quy định theo Chỉ thị 15, 16 của Chính phủ; Quy định 5K của Bộ Y tế; đặc biệt là việc các đảng viên phải cắm chốt thực hiện các nhiệm vụ theo yêu cầu phòng, chống dịch đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng và việc duy trì hoạt động của các Đảng bộ, chi bộ. Nhưng những khó khăn đó đã được giải quyết bằng “Nghị quyết số” – áp dụng công nghệ thông tin, ứng dụng mạng xã hội Zalo. Trong hoàn cảnh dịch bệnh, cấp ủy các Đảng bộ, chi bộ đã ứng dụng công nghệ thông tin để duy trì các hoạt động Đảng và công tác phòng, chống dịch ở địa phương. Xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) là địa phương bị ảnh hưởng nặng nề do đợt bùng phát dịch Covid-19 với số lượng ca dương tính và công dân thuộc diện cách ly lớn. Để vừa tuân tuân thủ quy định phòng, chống dịch, vừa đảm bảo chất lượng các buổi sinh hoạt thường kỳ, của các chi bộ đảng ở các thôn xóm, Đảng bộ xã Quỳnh Sơn đã quán triệt, chỉ đạo các chi bộ ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác sinh hoạt đảng. Cụ thể là sử dụng chức năng hội nhóm trên ứng dụng mạng xã hội Zalo để phổ biến nghị quyết, lấy ý kiến đảng viên và kiểm điểm thực hiện nghị quyết đối với mỗi đảng viên trong chi bộ. Bằng phương pháp này, các chi bộ trực thuộc và Đảng bộ xã Quỳnh Sơn vẫn duy trì sinh hoạt định kỳ trong điều kiện dịch bệnh. Các nghị quyết, nội dung chỉ đạo được trực tiếp là đồng chí bí thư chi bộ chuyển tới các đảng viên. Các đảng viên có xác nhận việc nhận và tương tác với nghị quyết thông qua biểu tượng “thích” và gửi ý kiến đóng góp. Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Sơn (Yên Dũng, Bắc Giang) Phan Văn Giang cho biết: “Thông qua mạng xã hội Zalo, việc quán triệt nghị quyết, lấy ý kiến đảng viên được thực hiện rất nhanh chóng và chính xác. Nếu như trước dịch, việc này được tiến hành thông qua các buổi sinh hoạt tập trung, thì do điều kiện dịch bệnh, sử dụng công cụ mạng xã hội giúp công tác này diễn ra đúng kế hoạch, nhưng vẫn đảm bảo giãn cách và an toàn dịch tễ”. Theo lời đồng chí Phan Văn Giang, việc ứng dụng sinh hoạt đảng qua nền tảng mạng xã hội khi dịch Covid-19 diễn biến phức tạp là nhờ sự phổ biến của điện thoại thông minh. Cơ bản các đảng viên đều có điều kiện tiếp cận và sử dụng loại thiết bị này nên việc chuyển đổi và hướng dẫn sử dụng rất dễ dàng và nhanh chóng. Việc ứng dụng mạng xã hội trong sinh hoạt đảng cũng được thực hiện tại Đảng bộ Ban chỉ huy Quân sự huyện Tân Yên, Bắc Giang. Với 3 chi bộ đảng trực thuộc, trong điều kiện dịch Covid-19, cán bộ, đảng viên đều được điều động giữ vị trí chủ trì các khung cách ly ở địa phương. Do yếu tố dịch tế tiếp xúc với đối tượng F0 và F1 có nguy cơ lây nhiễm cao, việc tổ chức triệu tập và sinh hoạt đảng tập trung theo đúng kế hoạch rất khó khăn. Chính vì thế, Đảng ủy Ban chỉ huy Quân sự huyện Tân Yên đã quyết định tổ chức quán triệt nghị quyết, sinh hoạt đảng bằng hình thức trực tuyến qua mạng xã hội. Thượng tá Nguyễn Văn Tĩnh, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự huyện, Chính trị viên Ban CHQS huyện Tân Yên cho biết, việc ứng dụng mạng Zalo trong sinh hoạt đảng đã giúp giải quyết cơ bản việc duy trì sinh hoạt từ cấp chi bộ tới Đảng bộ trong điều kiện dịch bệnh. Dù cán bộ, đảng viên ban đầu còn nhiều bỡ ngỡ, chưa quen với phương thức sinh hoạt mới, nhưng với sự hướng dẫn của đồng chí, đồng đội, công tác này hiện tại đã đi vào nền nếp và đạt hiệu quả. Phương thức sinh hoạt, quán triệt nghị quyết thông qua nền tảng số cũng đáp ứng rất tốt nguyên tắc tập trung dân chủ theo Điều lệ của Đảng. Các nội dung Nghị quyết, ý kiến đóng góp của đảng viên trên nhóm trao đổi đều được công khai. Điều này giúp phát huy trí tuệ tập thể để việc hiện thực hóa các Nghị quyết, chỉ đạo của Đảng bộ, chi bộ phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, nhất là công tác phòng, chống dịch đạt hiệu quả cao nhất. Xã Quỳnh Sơn, huyện Yên Dũng (Bắc Giang) là một trong những địa phương tiếp nhận số lượng lớn công nhân từ các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh trở về nhà sau khi dịch Covid-19 bùng phát. Nguy cơ lây nhiễm trong cộng động là rất lớn, nhưng với sự chủ động kế hoạch và các phương án phòng, chống dịch của Đảng ủy xã, các chi bộ thôn nên tình hình dịch đã nhanh chóng được kiểm soát.Chính sự sát sao và nắm bắt chắc tình hình phòng, chống dịch tại địa phương đã giúp cấp ủy các địa phương có quyết sách kịp thời và hợp lý để đẩy nhanh cuộc chiến dập dịch. Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Quỳnh Sơn (Yên Dũng, Bắc Giang) Phan Văn Giang chia sẻ, khi biết thông tin dịch Covid-19 bùng phát từ đầu tháng 5-2021, xã Quỳnh Sơn đã nhanh chóng triển khai chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh, Ban Chỉ đạo phòng, chống dịch Covid-19 tỉnh; khẩn trương khoanh vùng, truy vết và cách ly các khu vực xuất hiện ca dương tính. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đảng bộ xã Quỳnh Sơn cũng ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân thực hiện nghiêm công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Từ sự tập trung chỉ đạo quyết liệt, sâu sát đó, cơ bản cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên nhất là ở cơ sở trên địa bàn xã Quỳnh Sơn đã thể hiện rõ tinh thần trách nhiệm. Thôn Trung Đồng, xã Vân Trung, huyện Việt Yên, một trong những điểm nóng về dịch Covid-19. Có mặt tại thôn Trung Đồng trong thời điểm phong tỏa, phóng viên Báo Quân đội nhân dân đã trao đổi với đồng chí Hoàng Công Chương, Bí thư Chi bộ thôn và được biết, khi dịch bùng phát, chi bộ đã nhanh chóng triển khai Nghị quyết về công tác phòng, chống dịch của Đảng ủy xã. Các đồng chí đảng viên thôn Trung Đồng được bố trí phụ trách các tổ công tác để đẩy nhanh tiến độ chuyển trạng thái chống dịch, nhất là trong điều kiện thôn bị phong tỏa.Trong lúc trao đổi, đồng chí Hoàng Công Chương liên tục nhìn vào điện thoại và trả lời các tin nhắn của các nhóm công tác phòng, chống dịch của thôn Trung Đông trên mạng xã hội Zalo. “Trong thời điểm dịch dã, cách liên lạc qua tin nhắn là nhanh nhất. Ngay khi bùng phát dịch, chi bộ thôn đã thống nhất lập các nhóm công tác phòng, chống dịch như: Nhóm vận chuyển hàng hóa thiết yếu, nhóm hỗ trợ lực lượng y tế đi lấy mẫu, nhóm covid-19 cộng đồng… Làm việc như vậy vừa đảm bảo giãn cách, lại nâng cao được hiệu quả công việc trong điều kiện chi bộ ít người”, đồng chí Hoàng Công Chương chia sẻ. Bài 2: Tổ chức thực hiện nghị quyết “thần tốc”Việc đảng viên phụ trách các nhóm công tác giúp công tác chỉ đạo và điều hành thông suốt qua các cấp, nhất là trong điều kiện dịch bệnh, việc sinh hoạt, nhóm họp tập trung rất khó có thể tổ chức thường xuyên. Với sự nỗ lực của tất cả các lực lượng phòng, chống dịch, trong đó có cán bộ, đảng viên thôn Trung Đồng, trong suốt một tháng qua, thôn Trung Đồng đã nhận được những tín hiệu vui. Trong thời gian bị phong tỏa, hơn 12.000 công dân (3.000 người dân địa phương và 9.000 công nhân ngoại tỉnh) ở thôn không bị thiếu ăn hay thiếu các loại nhu yếu phẩm thiết yếu. Toàn thôn cơ bản đã không còn ghi nhận các ca dương tính và F1. Kết quả đó có sự góp phần của những đảng viên xung kích ở tuyến đầu phòng, chống dịch. Thượng tá Nguyễn Văn Tĩnh, Phó bí thư Đảng ủy Quân sự huyện, Chính trị viên Ban CHQS huyện Tân Yên khẳng định: “Để công tác phòng, chống dịch đạt được hiệu quả cao cần có sự nêu gương của cán bộ, đảng viên theo nguyên tắc: “Cán bộ nào, phong trào ấy”. Thông qua hoạt động phòng, chống dịch, lại càng thấy rõ vai trò của cán bộ, người đứng đầu. Cán bộ phụ trách nhiệt tình, trách nhiệm, có phương pháp làm việc đúng thì hiệu quả cao. Tại Tân yên, đội ngũ cán bộ phụ trách đều phát huy được tính gương mẫu, đi đầu trong thực hiện nhiệm vụ”. Bài 2: Tổ chức thực hiện nghị quyết “thần tốc”.Sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên tại các địa phương đã giúp tạo phong trào và nâng cao ý thức của nhân dân trong công tác phòng, chống dịch. Để khẳng định nhận định trên, đồng chí Nguyễn Văn Tĩnh đưa tổ công tác Báo Quân đội nhân dân tới nhiều điểm chốt, khu cách ly trên địa bàn huyện Tân Yên. Điểm đáng chú ý là tại tất cả các điểm chốt và khu cách ly đều do đảng viên, cán bộ quân sự địa phương chủ trì. Theo lời Thượng tá Nguyễn Văn Tĩnh, ngoài việc thông tin và quản lý công việc theo phân cấp chính quyền, việc các đồng chí đảng viên chủ trì hoạt động phòng, chống dịch đã giúp địa phương đầy lùi dịch bệnh; phát huy thế mạnh về nắm địa bàn, quần chúng của mỗi đảng viên. Tại điểm cách ly Trường mầm non Việt Lập cơ sở 1 tại huyện Việt Yên, Bắc Giang, đảng viên, Thiếu tá QNCN Dương Văn Hùng, Trợ lý Quân khí, Ban CHQS huyện Việt Yên (Bắc Giang) nhận nhiệm vụ trưởng khung cách ly. Quản lý, đảm bảo sinh hoạt gần 100 công dân diện F1 cách ly tập trung, trong khu lực lương phục vụ mỏng chỉ hơn 10 người, đồng chí Dương Văn Hùng với vai trò đảng viên luôn gương mẫu đi đầu, quán xuyến công việc tại điểm cách ly. Từ công tác quản lý công dân; lo chỗ ăn, chỗ ở, điều kiện sinh hoạt hằng ngày, đồng chí Hùng còn tham gia hỗ trợ tổ phục vụ, sửa chữa cơ sở hạ tầng của điểm cách ly. Chính sự nêu gương của Thiếu tá QNCN Dương Văn Hùng đã giúp hoạt động của điểm cách ly nhanh chóng đi vào nền nếp, nhận được sự cảm mến của nhân dân và các lực lượng phục vụ của địa phương. “Là đảng viên, được tổ chức giao nhiệm vụ trưởng khung cách ly, tôi luôn xác định bản thân không chỉ hoàn thành nhiệm vụ, chức trách chuyên môn, mà còn hỗ trợ đồng chí, đồng đội và nhân dân. Nhờ vậy, dù thời gian chuẩn bị gấp rút chưa tới 1 ngày, nhưng điểm cách ly đã nhanh chóng hoạt động để tiếp nhận công dân diện F1”, Thiếu tá QNCN Dương Văn Hùng chia sẻ. Vai trò nêu gương, đi đầu của đảng viên không chỉ thể hiện ở cấp lãnh đạo, chỉ huy, mà còn từ các đảng viên cấp cơ sở. Tại Thôn Trung Đồng, xã Vân Trung (Việt Yên, Bắc Giang) đồng hành, nỗ lực cùng lực lượng chức năng đẩy lùi dịch bệnh, trong suốt thời gian qua chính là đội ngũ đảng viên thôn. Vượt qua khó khăn, nguy hiểm của dịch bệnh, mỗi đảng viên thôn Trung Đồng đang góp 1 phần sức lực của mình tham gia dập dịch. Đồng chí Hoàng Công Chương là một ví dụ điển hình. Là đảng viên trẻ, dân quân tự vệ của xã Trung Đồng, do điều kiện kinh tế khó khăn phải đi lao động xa nhà, nhưng ngay khi biết tin địa phương có dịch, đồng chí Chương đã nhanh chóng trở về địa phương, theo phân công của chi bộ phụ trách điểm đặt cây ATM phát gạo miễn phí và siêu thị 0 đồng hỗ trợ nhân dân và công nhân trong khu vực phong tỏa. Việc các đảng viên trẻ như đồng chí Chương tham gia công tác phòng, chống dịch tại địa phương đã giúp cổ vũ và động viên nhiều thanh niên, đoàn viên địa phương cùng tham gia chống dịch. “Tuổi trẻ thì phải xung kích! Tôi luôn coi điều đó là tâm niệm của bản thân. Với vai trò là đảng viên trẻ, tôi và nhiều đồng chí khác đã nhận những việc gian khó, vất vả về bản thân để góp phần cùng địa phương dập dịch. Trong quá trình làm việc, nhiều bạn trẻ thấy chúng tôi vất vả đã tình nguyện cùng tham gia. Với sự chung tay của mọi người, công việc diễn ra rất thuận lợi và góp phần cùng lực lượng chức năng phòng, chống dịch”, đồng chí Hoàng Công Chương bày tỏ. Thanh niên thôn Trung Đồng tham gia các tổ vận chuyển hàng hóa trong khu vực phong tỏa khi cảm mến sự vất vả và xung kích của cán bộ, đảng viên trong tâm dịch. Sự nhiệt tình, xông xáo của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong tâm dịch cũng nhận được sự đánh giá cao từ nhân dân. Em Nguyễn Hồng Linh, công nhân ngoại tỉnh bị kẹt lại tại khu phong tỏa Trung Đồng tâm sự: “Dù trong khu phong tỏa, nhưng chúng em không bị thiếu các mặt hàng thiết yếu. Các tổ công tác không quản nắng mưa không chỉ giúp chúng em có đủ đồ dùng thiết yếu, mà còn tận tình hướng dẫn, hỗ trợ các biện pháp phòng, chống dịch. Chính sự tận tâm, chăm sóc của cán bộ đã giúp chúng em thêm vững tin vào việc dịch bệnh sẽ sớm bị đầy lùi và nhịp sống thường nhật sớm được khôi phục”. Chính sự gương mẫu đi đầu trong trận tuyến phòng, chống dịch tại nhiều địa phương tại Bắc Giang của đội ngũ đảng viên đã tạo sức hút để các tầng lớp nhân dân noi theo, tạo sức mạnh tổng lực nhanh chóng đẩy lùi dịch bệnh. Điều này đã được khẳng định qua lời của Phó bí thư Thường trực Tỉnh ủy Bắc Giang Lê Thị Thu Hồng: “Tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên tác động rất lớn đến quần chúng nhân dân, tạo ra sức mạnh to lớn”

Thứ Tư, 14 tháng 7, 2021

Nghỉ cho khỏe!

Một nguồn lực có chất lượng về trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kinh nghiệm tổ chức, lãnh đạo, quản lý đang “có sẵn” ở các vùng nông thôn nước ta chưa được huy động một cách hiệu quả. Một lần về thăm quê, gặp người anh họ, một đại tá quân đội về hưu, trong câu chuyện về quê hương, gia đình thân mật, tôi hỏi anh: Ở quê ta có một số cán bộ, đảng viên công tác thoát ly nay về hưu, còn sức khỏe, có trình độ, năng lực nhưng không thấy được sử dụng trong việc xã, việc thôn... vì sao thế hả anh? Câu hỏi của tôi hình như “gãi” trúng “chỗ ngứa” (nói đúng hơn là điều trăn trở), nên anh nhiệt tình giãi bày: Vấn đề chú hỏi là một thực tế, rất đáng quan tâm, nhất là hiện nay, Chương trình xây dựng Nông thôn mới đang được triển khai, đòi hỏi phải có nhiều nguồn lực về vật chất, tinh thần, trí tuệ. Làm sao có thể khơi gợi, tận dụng, phát huy được mọi nguồn lực cho việc này. Bởi vì, phần lớn những người đi công tác thoát ly ở nhiều miền đất nước, nhiều ngành nghề khác nhau, đã từng tích lũy được những kinh nghiệm, tri thức có thể có ích cho quê hương khi về hưu. Đó là vấn đề mà cơ quan lãnh đạo, những người có trách nhiệm ở địa phương nói riêng, các cấp lãnh đạo, cơ quan hoạch định chủ trương, chính sách ở cấp trên nên suy nghĩ tới và có giải pháp đúng đắn. Cán bộ, đảng viên khi về hưu nói chung, ở nông thôn nói riêng không được sử dụng, hoặc không phát huy, cống hiến, đóng góp cho địa phương, theo anh, có ba nguyên nhân chính: một là do chủ quan người về hưu; hai là do hoàn cảnh, môi trường ở địa phương; ba là do cơ chế, chính sách. Anh tạm phân loại, nêu mấy trường hợp như sau: Trường hợp thứ nhất - người về hưu còn sức khỏe, có trình độ: Nhiều người muốn tiếp tục tham gia công tác, làm cán bộ (chính quyền, hoặc đoàn thể địa phương) với động cơ trong sáng là muốn tiếp tục cống hiến, đóng góp tài đức xây dựng địa phương; cũng có người với động cơ được làm cán bộ, có chút chức quyền “ăn nói” ở địa phương, có thêm thu nhập qua phụ cấp trách nhiệm, cộng với lương hưu để cải thiện đời sống. Những người này có năng lực, có phương pháp và tác phong quần chúng tốt, được tín nhiệm trước cán bộ và nhân dân thôn, xã nên đã được trọng dụng, được phát huy và cũng thực hiện được mong muốn của mình. Điển hình ở xã ta là ông A ở thôn B, một trung tá quân đội về hưu, làm cán bộ thôn rồi xã (Đảng ủy viên ) mấy khóa liền, hiện nay ngoài 70 tuổi rồi vẫn được tín nhiệm làm Chủ tịch Hội người cao tuổi xã. Thôn ta có ông K cũng thuộc loại này, đại úy quân đội về hưu, làm cán bộ thôn mấy khóa, rồi lên làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh xã nay mới nghỉ hẳn. Cũng có những người trung thực, thẳng thắn, dám nghĩ, dám nói, dám làm, nhưng phương pháp chưa phù hợp với hoàn cảnh địa phương nên không được sử dụng. Ở địa phương, nhất là nông thôn, trình độ chính trị của cán bộ, đảng viên nói chung còn nhiều hạn chế, tư tưởng cục bộ, địa phương (làng, xã) và “chi nọ, họ kia” vẫn còn nặng nề. Anh nào tài đức mấy, nhưng khác họ, khác làng là rất dễ bị “tung hê”. Cũng có những người còn trẻ, còn sức khỏe, có trình độ, muốn làm cán bộ địa phương nhưng động cơ cá nhân (ham chức quyền, danh vọng, kiếm chác,…) tìm mọi cách, kể cả tỏ ra rất hăng hái phấn đấu, có làm cán bộ thôn, xã thật, nhưng vì động cơ không đúng, trước sau cũng bị “lộ”, sa ngã và tự đào thải. Xã, làng ta có vài trường hợp, chú biết mà!!!... anh nói. Còn có những người không muốn tham gia, không thích làm “cán bộ” vì phải phấn đấu, cống hiến nhiều mà thu nhập chẳng là bao, bản thân lại có khả năng hoặc thích làm kinh tế (doanh nghiệp, trang trại, buôn bán ...). Những người này cũng rất đáng trân trọng nếu họ làm kinh tế giỏi và thực hiện tốt nghĩa vụ công dân vì đó cũng là những đóng góp tốt cho địa phương. Không nhất thiết cứ phải làm cán bộ mới là cống hiến! Thế còn trường hợp thứ hai thế nào hả anh? - Tôi hỏi tiếp. Trường hợp thứ hai - người về hưu có trình độ, đạo đức tư cách tốt, nhưng tuổi cao thì một số “an phận thủ thường”, cho rằng mình đã phấn đấu gần hết đời rồi, Nhà nước cho nghỉ, mình phải được nghỉ theo đúng nghĩa của “chữ nghỉ”, tức giữ gìn sức khỏe, chăm lo con cháu, gia đình, hoàn thành nghĩa vụ của ngươì công dân là được. Họ cũng rất đáng trân trọng! Nhiều người không “an phận thủ thường”, vẫn quan tâm, suy nghĩ, lo lắng đến “quốc gia đại sự”, có ý thức trách nhiệm xây dựng quê hương bằng khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mình, chia sẻ ý tưởng, hiến kế cho sự phát triển địa phương, thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, không nhận làm bất cứ “cán bộ” gì ở địa phương, có ý “nhường’ việc này cho lớp trẻ. Đây là trường hợp khá phổ biến, cũng rất đáng kính trọng, thường họ là những người có tâm, có tầm, biết mình, biết người. Họ cho rằng không phải cứ “ông nọ bà kia”, cán bộ, quan chức mới là đóng góp, mới được coi trọng. Thế còn anh thì sao, anh thì “rơi” vào trường hợp nào? tôi hỏi anh, anh còn sức khỏe, có trình độ, kinh nghiệm và mong muốn cống hiến nhưng sao vẫn đứng “ngoài cuộc”? Sau một thoáng trầm ngâm, anh giãi bày: Cũng còn nhiều cái “khó” chú ạ. Lúc đầu anh cũng hăng hái phát biểu ý kiến, bày tỏ nguyện vọng trong cuộc họp chi bộ và nhận được những phản hồi rất nhã nhặn, đại loại như: Thôi, bác đã cống hiến cả đời, giờ được Đảng và Nhà nước cho nghỉ ngơi, bác cứ “nghỉ cho khỏe”, chúng em không dám “phiền”. Anh tưởng thật, tiếp tục đề đạt thì nhận được những lời hứa đại loại như để chúng em nghiên cứu, sắp xếp,… Từ bấy đến giờ cũng đã mấy năm! Hóa ra, mọi chuyện không hề đơn giản! Tôi hỏi thêm anh: Vậy, làm thế nào để “gỡ rối? Anh đáp: Giải pháp gì cũng phải từ nhiều phía chú ạ, từ chính những người về hưu cũng như tổ chức, chính quyền. Qua lời tâm sự của người anh, tôi cũng hiểu thêm được một phần của thực trạng ở nông thôn hiện nay, cũng như hiểu anh hơn - một người về hưu, mặc dù chưa tham gia đảm nhiệm công việc, chức vụ cụ thể nhưng cái “tâm” vẫn không bao giờ chịu ngưng nghỉ, ngày đêm suy nghĩ, trăn trở đối với công việc quê hương./.

Lập trình quyền lực

Anh tên là Q. Thủ trưởng cơ quan anh (ông B.) đã đến tuổi về hưu cần người thay thế. Cấp trên có ý kiến chỉ đạo rất cụ thể: cho phép cơ quan được đề cử cán bộ tại chỗ. Nếu cơ quan không chọn được cán bộ tại chỗ đủ tiêu chuẩn thì cấp trên sẽ bổ nhiệm người ở nơi khác về. Trước ý kiến chỉ đạo đó, anh Q. băn khoăn lắm. Trước đây anh rất tự tin và luôn nghĩ rằng mình sẽ “nhắm giải cạn”. Bởi vì, ở cơ quan chỉ có anh là thủ phó duy nhất, tuổi đời còn trẻ, sức khỏe tốt, lại có học hàm, học vị tương đối cao. Thay thế thủ trưởng ngoài anh ra chắc chẳng còn ai. Song không thể chủ quan và không thể “há miệng chờ sung”. Anh tự nhủ với lòng mình như vậy. Thế là, anh lập tức phác thảo trên máy vi tính một phương án với các bước đi rất cụ thể, rất chi tiết (kể cả đối nội và đối ngoại) để bảo đảm chắc chắn rằng mình sẽ là người chiến thắng. Anh gọi đó là lập trình quyền lực. Nội dung cơ bản của cái gọi là lập trình quyền lực ấy là xác định rất cụ thể một số loại đối tượng phải đặc biệt quan tâm. Hay nói một cách khác, đó là những đối tượng phải “mua” cho bằng được với bất cứ giá nào. Đối tượng thứ nhất mà Q. nhắm tới là ông B. Q. hiểu rất rõ rằng nếu được thủ trưởng ưu ái, giới thiệu thì phần thắng sẽ rất lớn. Và, có lẽ anh được Trời phù hộ. Đang lúc “tình hình rất nhạy cảm” thì vợ thủ trưởng B. bỗng phải cấp cứu, nằm viện. Q. lập tức đến thăm và biếu mười triệu đồng kèm theo những lời nói rất khéo những mong thủ trưởng đừng hiểu lầm. Thủ trưởng B. rất cảm động nhưng kiên quyết từ chối. Vì bệnh tình của vợ thủ trưởng quá nặng nên bà đã qua đời sau một tuần lễ cấp cứu ở bệnh viện. Q. đã chỉ đạo cơ quan tổ chức tang lễ vợ thủ trưởng rất chu đáo từ A đến Z. Và, trong số những phong bì nhỏ nằm trong một phong bì rất lớn (tiền phúng viếng của cán bộ, công nhân viên trong cơ quan) có một phong bì của Q. Trong cái phong bì của Q. có tới hai mươi tờ giấy bạc loại mệnh giá 100 USD. Lần này không thấy thủ trưởng trả lại. Q. mừng lắm vì biết rằng như thế là “gió đã thuận chiều”. Đối tượng thứ hai là các thành viên trong đảng ủy cơ quan. Trong quy trình đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, ý kiến của đảng ủy có giá trị quyết định chứ không phải chỉ có giá trị tham khảo. Vì thế, Q. cũng đầu tư thích đáng cho loại đối tượng này. Là thủ phó kiêm bí thư đảng ủy, nên cả bên chính quyền và bên Đảng, cấp bậc của anh đều cao hơn các thành viên khác trong đảng ủy. Song, anh luôn tỏ ra “rất khiêm tốn” và “rất tôn trọng” họ. Còn về vật chất thì khỏi phải nói, anh rất chịu chơi và chơi rất đẹp. Vì thế, kết quả cuối cùng không nằm ngoài dự kiến. Anh giành được ba phần tư số phiếu tán thành. Đối tượng thứ ba là đội ngũ cốt cán trong cơ quan (những người trong diện được bỏ phiếu lựa chọn thủ trưởng). Phiếu tín nhiệm của loại đối tượng này cũng có giá trị quyết định. Nếu giành được đa số phiếu tín nhiệm là thắng, thiểu số là bại. Vì thế, Q. cũng đã có kế hoạch đầu tư hữu hiệu cho loại đối tượng này. Và, kết quả cuối cùng cũng thật mỹ mãn. Điều đó chứng tỏ anh đã “giao dịch” và “mua bán” thành công. Đối tượng thứ tư là các nhân vật quan trọng thuộc cấp có thẩm quyền ra quyết định bổ nhiệm, đề bạt cán bộ. Khi cơ quan đã có văn bản chính thức đề nghị nhân sự, nếu các nhân vật quan trọng ở cấp này ủng hộ thì thuận lợi, còn nếu họ phản đối hay có điều gì còn phải xem xét thì hẳn sẽ gặp khó khăn. Q. xác định, vượt qua “cửa ải” này là khó nhất. Song anh thề là sẽ vượt qua. Và, đúng là anh vượt qua được thật. Không chỉ vượt qua mà anh còn vượt qua một cách “ngoạn mục”. Với biệt tài trong vận động hành lang của Q., nên cơ quan chỉ đề cử duy nhất một người thay thế thủ trưởng, đó là anh. Và, sau gần một năm tiến hành các thủ tục lựa chọn nhân sự, cuối cùng anh đã chiến thắng. Vì thế, cuối năm 2011, cùng với quyết định về hưu của Thủ trưởng B., anh Q. cũng nhận được quyết định bổ nhiệm làm thủ trưởng cơ quan. Chuyện “Lập trình quyền lực” của anh Q. là như vậy. Nhận xét về anh như thế nào là quyền của độc giả. Riêng tôi xin “bái phục” anh!

Cả nước đang trông chờ và tin tưởng TP Hồ Chí Minh


Thời điểm hiện nay, cả nước đang chung sức đồng lòng để đẩy lùi đại dịch Covid-19, đặc biệt ở TP.HCM đang diễn biến hết sức phức tạp. Chính quyền thành phố đã tiến hành các biện pháp phòng chống dịch cũng như hỗ trợ các biện pháp đảm bảo cuộc sống của người dân trên địa bàn.

Những cái bắt tay!

Hằng ngày gặp nhau, bắt tay để chào hỏi đã trở thành một thói quen, đó là chuyện thường. Đến mức, người ta không để ý đến những thông điệp, tình cảm gì gửi gắm sau mỗi cái bắt tay.Ở nhà hàng, quán ăn gặp nhau bắt tay bây giờ cũng trở thành chuyện thường ngày, thậm chí trong bữa nhậu, chúc nhau uống bia, uống rượu, cứ uống xong một ly, một vại họ lại bắt tay. Cái bắt tay đó để làm gì? Phải chăng thói quen bắt tay cứ lặp đi lặp lại có cái gì sang trọng, đẳng cấp, thể hiện và tôn cao vị trí của mình hay sao? Hành vi bắt tay đang diễn ra tràn lan trong cuộc sống. Ở cơ quan công sở sáng gặp nhau bắt tay chào, vào hội nghị lần lượt giơ tay bắt tay đồng nghiệp, lúc ra về lại tiếp tục bắt tay tạm biệt. Bắt tay là hành vi văn hóa, thế mà, trong thời buổi hội nhập này con người đã lạm dụng đến mức thái quá biến từ cái văn hóa đến cái không văn hóa. Vì vậy, xin đôi điều về cái “bắt tay”. Về xuất xứ của bắt tay, chuyện kể lại rằng: ở giữa trời Âu thời tư bản phát triển, một đại gia nọ có hai quý tử. Khi người bố qua đời, không kịp để lại di chúc, ai cũng muốn giành phần hơn số của cải mà người cha để lại với những lý lẽ riêng. Không ai chịu ai, sinh ra cãi vã, lăng mạ nhau ngay trên bàn ăn. Anh cả lấy quyền huynh nóng gắt, đe dọa, cầm ngay con dao ăn, đánh phập, xuyên thủng mặt bàn. Người em nổi nóng, la hét, chửi bới. Bà hàng xóm thấy vậy vội vào can ngăn. Lời lẽ tình, lý của bà đã thức tỉnh lương tri hai anh em nọ, người anh rút vội con dao vứt xuống nền nhà, hướng về phía người em và chìa tay ra. Người em hiểu ý, vội đứng dậy đưa hai tay nắm bắt bàn tay anh. Thế rồi, họ bình tâm ngồi xuống, cùng nhau bàn bạc chia tài sản thấu lý đạt tình. Cái bắt tay xuất phát từ phương Tây ở thời kỳ tư bản phát triển đã xâm nhập vào Việt Nam. Sử dụng nó, nên chăng phải hiểu ngọn ngành ý nghĩa của cái bắt tay. Bắt tay là nắm bàn tay người khác để thể hiện thiện chí và biểu lộ tình cảm ân cần của mình. Cử chỉ đẹp đó dần trở thành thói quen, hành vi văn hóa mỗi khi gặp nhau. Đây là hành vi văn hóa giao tiếp giữa người với người. Bắt tay là để thống nhất với nhau hành động; là một sự giao kèo (giao ước) thực hiện việc gì đó giữa hai người đã đồng tâm nhất trí. Bắt tay còn thể hiện sự thân thiện, đồng cảm với nhau, chia ngọt sẻ bùi, san sẻ nỗi buồn, vợi đi lòng thù hận và đớn đau… Có người còn nói, bắt tay còn nhằm nhận được những dụng ý của nhau, dụng ý ấy có thể là tâm đầu ý hợp hoặc dụng ý ấy chỉ là từ đơn phương một phía mà thôi. Ngẫm về cái bắt tay có thể thấy được nhiều nét đẹp trong quan hệ giữa người với người mà chúng ta cần phát huy gìn giữ và sử dụng nó một cách phù hợp, thể hiện tính văn hóa, tính nhân văn của một quốc gia, dân tộc và của cả thời đại. Bắt tay còn là một hình thức chào nhau. Nói đến chào nhau thì mỗi dân tộc đều có các nguyên tắc, hình thức khác nhau. Ví như ở Nhật Bản, Hàn Quốc… để thể hiện sự kính trọng, thân thiện giữa người với người khi gặp nhau họ thường đứng đối diện cúi đầu để chào, còn ở Việt Nam ngày xưa khi gặp các bậc cao niên chức sắc trong làng thì hai tay đặt lên bụng cũng cúi khom lưng để chào. Thế mà bây giờ họ đã phá cách, nhiều trường hợp gặp nhau bất kể tuổi tác, ngôi vị cứ chìa tay ra bắt. Chẳng biết bắt tay để làm gì!./.

 

Sự xấu xa của “Việt tân”



Phải khẳng định là đến hôm nay, nhắc tới các thế lực thù địch đang hàng ngày hàng giờ giở đủ mọi mưu ma chước quỷ, tiến hành vô vàn mưu hèn kế bẩn để chống phá Việt Nam thì tổ chức khủng bố “Việt tân” đã và đang đứng ở tốp đầu bảng.

Trong các mưu ma chước quỷ, mưu hèn kế bẩn của tổ chức khủng bố này triển khai, có thủ đoạn mặc nhiên coi internet và các mạng xã hội là “truyền thông”, rồi bịa ra cái gọi là “nhà báo độc lập, nhà báo công dân” để gán cho một số kẻ đã hoặc đang là cộng tác viên của RFA, BBC, VOA,… hoặc đăng bài trên trang mạng của các thế lực thù địch, hoặc lên mạng xã hội để bịa đặt, xuyên tạc, hô hoán chống phá Việt Nam,… nhằm “chính danh hóa”! Rồi tổ chức khủng bố “Việt tân” lấy đó là cơ sở để hung hăng đứng ra biện hộ, hỗ trợ, bảo vệ. 

Bao che đồng bọn và vu cáo Việt Nam “vi phạm quyền tự do báo chí”, tổ chức khủng bố “Việt tân” và mấy kẻ hùa theo cái gọi “nhà báo độc lập, nhà báo công dân” đã cố tình đánh lận con đen, biến nghề báo thành một nghề nghiệp xã hội ai cũng có thể tham gia, tức là cố tình hạ thấp, phủ nhận vai trò và ý nghĩa xã hội quan trọng của nghề báo. Vì trong mọi xã hội văn minh, nếu muốn tham gia một nghề nghiệp xã hội được tổ chức chặt chẽ, có tư cách pháp nhân,… thì mỗi người phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể. Như với nghề báo - một nghề nghiệp mà sản phẩm làm ra có thể tác động tích cực (có thể tác động tiêu cực) đến sự phát triển xã hội và con người, nên phải bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn cụ thể. Ở Việt Nam, nếu khoản 1 Điều 25 Luật Báo chí (2016) về “Quyền và nghĩa vụ của nhà báo” xác định “Nhà báo là người hoạt động báo chí được cấp thẻ nhà báo”, thì tại Điều 27 về “Điều kiện, tiêu chuẩn được xét cấp thẻ nhà báo” xác định người được xét cấp thẻ nhà báo phải bảo đảm các điều kiện, tiêu chuẩn như: công tác tại cơ quan báo chí; là công dân Việt Nam; có địa chỉ thường trú tại Việt Nam; có bằng tốt nghiệp đại học trở lên; là người dân tộc thiểu số đang thực hiện các ấn phẩm báo in, chương trình phát thanh, truyền hình, chuyên trang của báo điện tử bằng tiếng dân tộc thiểu số phải có bằng tốt nghiệp cao đẳng trở lên; với trường hợp cấp thẻ lần đầu, phải có thời gian công tác liên tục tại cơ quan báo chí đề nghị cấp thẻ từ hai năm trở lên tính đến thời điểm xét cấp thẻ; được cơ quan báo chí hoặc cơ quan công tác đề nghị cấp thẻ nhà báo… 

Bịa ra cái gọi “nhà báo độc lập, nhà báo công dân” để biện hộ cho người có hành vi vi phạm pháp luật, cụ thể là các tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam”, “Làm, tàng trữ, phát tán và tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo Bộ luật Hình sự, tổ chức khủng bố “Việt tân” và các thế lực thù địch liên tục sử dụng để vu cáo Việt Nam “vi phạm tự do báo chí”, rồi ca ngợi “tự do báo chí phương Tây”. Khi xảo trá như vậy, họ cố tình tảng lờ một thực tế là trên thế giới không có quốc gia nào coi tự do báo chí là không có giới hạn. Nước Mỹ dù không có luật về báo chí song vẫn có rất nhiều điều luật về các giới hạn của hoạt động báo chí, cũng như quyền và trách nhiệm của công dân liên quan báo chí. Và sự thật đó là một yếu tố cho thấy tổ chức khủng bố “Việt tân” xấu xa đến mức nào.

NHỮNG CHIÊU TRÒ MỚI CỦA TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG VIỆT TÂN

 Móc nối đưa người ra nước ngoài đào tạo, phát triển lực lượng

Lợi dụng nhu cầu muốn ra nước ngoài học tập của người dân, Việt Tân núp dưới danh nghĩa tài trợ học bổng, từ thiện, mời tham dự hội thảo, du lịch..., để móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, luật sư, phóng viên, người khiếu kiện... ra nước ngoài. Sau đó, dùng thủ đoạn lừa mị, khống chế, bắt điền đơn gia nhập tổ chức, tiến hành huấn luyện kỹ năng hoạt động, bảo mật máy tính, cách chế tạo bom xăng..., rồi tung về nước rải truyền đơn, treo khẩu hiệu, gây cháy nổ tại các địa điểm công cộng, gây hoang mang trong nhân dân.

Năm 2019, dưới danh nghĩa từ thiện, một tổ chức ngoại vi của Việt Tân là VOICE (Vietnamese Overseas Initiative for Conscience Empowerment) - “Sáng kiến vì lương tâm người Việt hải ngoại”, thông qua cái gọi là “Học bổng xã hội dân sự VOICE” mời gọi thanh niên tham gia và cam kết “giúp các học viên trở thành những công dân tích cực, giàu tinh thần cộng đồng, và được trang bị các kiến thức nền tảng để có thể tham gia vào các hoạt động xã hội”. Vậy nhưng đằng sau những lời tuyên bố đầy tốt đẹp lại là những hoạt động chống đối nguy hiểm.

VOICE là tổ chức phản động hoạt động ngoại vi được Việt tân lập ra, dưới danh nghĩa tổ chức "xã hội dân sự". Ảnh: ANTVVOICE là tổ chức phản động hoạt động ngoại vi được Việt tân lập ra, dưới danh nghĩa tổ chức "xã hội dân sự". Ảnh: ANTV

Trong khoá đào tạo của mình, trước hết VOICE truyền bá những cách nhìn nhận sai lệch về tình hình chính trị, xã hội tại Việt Nam, hình thành tư tưởng chống đối chính quyền cho học viên. Sau đó, VOICE tiến hành tập huấn, trang bị, huấn luyện cho học viên các nội dung về đấu tranh bất bạo động đối với chính quyền, đặc biệt là việc sử dụng chiêu bài tự do, nhân quyền để tiến hành chống phá. Ngoài ra, VOICE còn tổ chức cho học viên tiếp xúc với các đối tượng chống đối, cơ hội chính trị để học hỏi phương thức hoạt động, thậm chí là cả cách ứng phó với cơ quan chức năng. Các “sản phẩm” sau đào tạo được tung về nước, trở thành hạt nhân tập trung lực lượng tiến hành chống phá chính quyền.

Và cũng chính VOICE từng thông qua một số tổ chức phi chính phủ lấy danh nghĩa từ thiện để tài trợ 30 ngàn đô la Canada để mua 100 chiếc xe lăn trao tặng cho số thương, phế binh quân đội Việt Nam cộng hòa. Đáng chú ý, tổ chức này và “Hội đồng liên tôn” còn thành lập các “Chi hội thương phế binh Việt Nam Cộng hòa” nhằm tập hợp số thương, phế binh thuộc chế độ ngụy quyền Sài Gòn vào các “Chi hội Tôn giáo”, chờ “cơ hội” để “xuống đường đấu tranh” chống chính quyền.

Một thủ đoạn nham hiểm khác của Việt Tân là sử dụng các đối tượng chống đối trong nước làm bằng chứng sống, cung cấp những thông tin sai lệch về tình hình Việt Nam cho chính giới một số nước; một số hãng thông tin quốc tế, xuyên tạc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Qua đó, kêu gọi các tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; đồng thời khuếch trương thanh thế, chứng tỏ thực lực của Việt Tân ở nước ngoài, gây dựng ngọn cờ tập hợp lực lượng chống phá Việt Nam.

Những đối tượng thường được Việt Tân nhắm tới là số thân nhân đặc biệt như luật sư, trí thức, văn nghệ sĩ, giảng viên một số trường đại học trong nước, số cốt cán của các hội, nhóm chống đối trong nước; thân nhân đối tượng đang bị bắt; các blogger thường xuyên viết bài chống Đảng, Nhà nước và số chức sắc, tín đồ chống đối trong tôn giáo. Đồng thời, Việt Tân sử dụng danh nghĩa của một số tổ chức nước ngoài mời các đối tượng trong nước; chỉ đạo số trong nước xuất cảnh sang Campuchia hoặc Thái Lan bằng đường bộ, sau đó mới xin thị thực nhập cảnh vào nước thứ ba.

Phát huy vai trò Thanh niên trên các công trường tình nguyện và phòng, chống dịch bệnh COVID - 19

Trước tình hình dịch bệnh COVID-19 diễn biến ngày càng phức tạp, đời sống người dân gặp muôn vàn khó khăn. Hơn lúc nào hết, tuổi trẻ cả nước đã và đang tăng cường tuyên truyền đoàn viên, thanh niên và người dân thực hiện nghiêm việc cách ly xã hội theo đúng yêu cầu của Chỉ thị số 16/CT-TTg; đồng thời, bằng những hành động và việc làm cụ thể, cùng với truyền thống “tương thân tương ái”, đoàn thanh niên các cấp đang tiếp sức cả vật chất lẫn tinh thần, tạo dựng niềm tin để những người đang cách ly yên tâm, phối hợp cùng lực lượng phòng chống dịch, góp phần chung tay đẩy lùi nhanh “giặc” COVID-19. Các hoạt động gây quỹ ủng hộ công tác phòng, chống dịch bệnh COVID - 19. Từ các chương trình hoạt động phong phú, đa dạng như “Cà dầm tương – Trọn tình quê hương”, “Xua tan cơn khát – Sát cánh cùng tuyến đầu chống dịch”, “Ly cà phê 30 nghìn”, “Rửa xe gây quỹ”, “Nụ cười của đá – Niềm vui của em”, vận động “Hướng về Đức Phổ” với 200 mũ chống giọt bắn, 50 bộ quần áo bảo hộ, 30 thùng mì, 10 thùng sữa, 10 thùng nước suối hỗ trợ người dân vùng dịch Đức Phổ giảm bớt khó khăn do ảnh hưởng dịch bệnh.v.v... Trong 02 năm trở lại đây, tình hình dịch bệnh Covid - 19 diễn biến hết sức phức tạp đã ảnh hưởng lớn đến việc tập hợp đoàn viên thanh niên tham gia phong trào thanh niên tình nguyện. Tuy nhiên trong khó khăn, các cấp bộ Đoàn, cán bộ Đoàn cả nước vẫn triển khai những công trình, phần việc thanh niên tập hợp, lôi kéo được hàng triệu lượt đoàn viên thanh niên tham gia xung kích, tình nguyện và vui vẻ, hăng say tham gia các công trường thanh niên tình nguyện. Trong đó phải kể đến các hoạt động xây dựng các con đường em đến trường, xây dựng các sân chơi cho thiếu nhi, xây dựng nhà tình nghĩa…cần huy động nhiều sức người, nhiều ngày công để thực hiện nhưng vẫn đảm bảo an toàn trong công tác phòng, chống dịch bệnh, không có trường hợp nào đáng tiếc xảy ra. Xác định vai trò quan trọng của tuổi trẻ trong xây dựng quê hương, phát triển đất nước, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc. Các cấp bộ Đoàn thường xuyên thực hiện các chương trình, hoạt động hướng về những vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng tâm dịch bệnh COVID - 19... góp phần không nhỏ thúc đẩy kinh tế - xã hội, văn hóa và an ninh quốc phòng của địa phương và đất nước. Có thể nói, tuổi trẻ cả nước đã vươn mình ra, với cánh tay đến hầu hết các nơi khó khăn nhất để chung sức với nhân dân trong mọi hoạt động xóa đói, giảm nghèo và chung tay xây dựng nông thôn mới, đem lại hiệu quả thiết thực ở những vùng xa xôi, hẻo lánh. Có được những thành công ấy phải kể đến công tác đoàn kết, tập hợp thanh niên tham gia phong trào thanh niên tình nguyện của các cấp bộ Đoàn, nhằm phát huy được sức trẻ, lòng nhiệt huyết và ý chí cống hiến của tuổi trẻ trên những công trường thanh niên tình nguyện. Dù đạt kết quả tốt trong công tác đoàn kết tập hợp thanh niên, nhưng để phát huy cao độ sự chung tay của tuổi trẻ cả nước vào phong trào thanh niên tình nguyện cần trả lời thỏa đáng câu hỏi "Đi làm tình nguyện cho tổ chức Đoàn sẽ được gì?" Để trả lời câu hỏi ấy, các cấp bộ Đoàn cả nước cần phải xác định, mỗi người cán bộ Đoàn tham gia công trường ngoài việc tích cực tham gia lao động còn phải thực hiện tốt công tác vận động. Người cán bộ Đoàn phải khéo léo, tuyên truyền cho thanh niên cũng như người dân địa phương hiểu được những lợi ích mà họ sẽ có được khi mỗi công trình thanh niên hoàn thành, khéo léo gắn vào lợi ích của thanh niên và hướng tới mục tiêu chung thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển đất nước. Cùng với đó là khơi dậy lòng tự hào của thanh niên, khơi dậy tinh thần của lớp lớp thanh niên trên các công trình thanh niên tình nguyện, nó là lời khẳng định đanh thép nhất về sức mạnh đoàn kết, đồng lòng của thanh niên vừa giúp nhân dân có cái nhìn thiện cảm với công tác đoàn và niềm tin vào tổ chức Đoàn thanh niên khi tổ chức các hoạt động tình nguyện. Từ đó hưởng ứng, ủng hộ và sẵn sàng cùng thanh niên tham gia các hoạt động tình nguyện./.

Quá trình du nhập, phát triển Đạo Tin Lành ở Việt Nam

 


 Năm 1911, đạo Tin Lành được du nhập chính thức vào Việt Nam, lúc đầu do các giáo sĩ thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp C&MA1 từ Bắc Mỹ truyền vào. Năm 1927 được ghi nhận là thời điểm đánh dấu việc hình thành về t chức của Hội thánh Tin Lành Việt Nam với tên gọi là Hội Tin Lành Việt Nam Đông Pháp. Đến năm 1941, tổ chức Tin Lành Việt Nam mới được chính quyền Pháp công nhận là một t chức tôn giáo. Tên gọi Hội thánh Tin Lành Việt Nam được gọi từ năm 1945 đến nay. Từ năm 1948 trở đi, các hoạt động của đạo Tin Lành ở cả 3 miền dần phục hồi. Thời kỳ 1954-1975, Tin Lành phát triển mạnh mẽ ở miền Nam hơn ở miền Bắc. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đa số giáo sĩ, tín đồ đạo Tin Lành miền Bắc di cư vào Nam. Năm 1958, số giáo sĩ, tín đồ còn lại đã lập ra tổ chức giáo hội riêng lấy tên là Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) tồn tại cho đến ngày nay. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) hoạt động ở các tỉnh từ vĩ tuyến 17 trở vào. Thời kỳ Mỹ tăng cường can thiệp và mở rộng quy mô chiến tranh ở Việt Nam, đạo Tin Lành có điều kiện thuận lợi để phát triển. Các hoạt động truyền giáo được thúc đẩy mạnh mẽ làm cho cho số tín đồ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tăng lên nhanh chóng. Thời kỳ từ năm 1975 đến nay: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) lúc đầu nhìn chung phát triển cầm chừng, thậm chí khủng hoảng người lãnh đạo giáo hội. Chỉ đến hai thập kỷ gần đây tình hình Hội thánh mới có nhiều thay đổi, với sự tham gia của tín đồ người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc. Từ năm 2001 đến nay, Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) và nhiều tổ chức hệ phái khác của đạo Tin Lành đã được Nhà nước công nhận về mặt tổ chức.

Những năm gần đây, đạo Tin Lành phát triển mạnh trong các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc và khu vực Tây Nguyên.

Thực trạng tín ngưỡng thờ Mẫu ở Việt Nam hiện nay

 


 Tín ngưỡng thờ Mầu có lịch sử hình thành gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, đã đi vào đời sống tinh thần của người dân và trở thành một phần không thể thiếu trong văn hóa Việt Nam. Hiện nay, tín ngưỡng thờ Mầu đang ngày càng được quan tâm đầu tư, khôi phục và phát triển. Cùng với sự đổi mới chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các đền, phủ, miếu của tín ngưỡng thờ Mu khắp mọi nơi ngày càng được tu sửa, xây dựng khang trang, bề thế hơn, sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội được tổ chức ngày càng quy mô, rầm rộ hơn và thu hút được ngày càng nhiều sự chú ý của cộng đồng xã hội. Đặc biệt, kể từ khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, loại hình tín ngưỡng này đã và đang được phục hồi và phát triển mạnh ở nhiều địa phương. Hoạt động của tín ngưỡng thờ Mu ở Việt Nam hiện nay phụ thuộc vào từng địa phương, từng thời điểm mà có những biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Có những cơ sở thờ tự rất chú trọng phần lễ nghi, nhưng cũng có những cơ sở phần lễ nghi được đơn giản hóa rất nhiều nhưng ý thức tâm linh lại rất được đề cao. Ở một số địa phương, sinh hoạt của tín ngưỡng thờ Mầu đang có biểu hiện nặng về xu hướng phô trương, hình thức. Trong các dịp lễ hội, phần “lễ” thường quá rườm rà, nặng nề, tốn kém trong khi đó phần “hội” lại quá mờ nhạt, thậm chí có nơi ban tổ chức đấu thầu các hoạt động. Do đặc thù của loại hình tín ngưỡng này, thêm vào đó là xu hướng thương mại hóa các sinh hoạt tín ngưỡng đã làm cho tín ngưỡng thờ Mu ở nhiều địa phương hiện nay có biểu hiện bị biến tướng, mang nặng tính thực dụng, vụ lợi, tạo điều kiện cho những hiện tượng tiêu cực như buôn thần bán thánh, mê tín dị đoan có điều kiện phát triển. Thực tế này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước.

 Nhìn một cách tổng thể trên cả nước, tín ngưỡng thờ Mu đang có chiều hướng phục hồi nhanh và phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Việc bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp trong tín ngưỡng thờ Mu là đúng vi quan điểm, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và cũng là phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Tuy nhiên, thực trạng tín ngưỡng thờ Mu ở Việt Nam hiện nay đặt ra yêu cầu là phải xây dựng được những quy định pháp luật cụ thể, phù hợp để làm sao có thể phát huy được vai trò tích cực của các loại hình tín ngưỡng nói chung, của tín ngưỡng thờ Mu nói riêng, đồng thời cũng hạn chế được những tác động tiêu cực của nó đối với xã hội.

Phân bổ các định mức chính sách phù hợp với từng vùng, từng dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay

 


Đây là giải pháp rất quan trọng nhằm huy động, sử dụng các nguồn lực bảo đảm để triển khai thực hiện các chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội phù hợp với thực tiễn của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tạo bình đẳng giữa các dân tộc, giữa các đối tượng được thụ hưởng và không được thụ hưởng chính sách...

Để thực hiện tốt giải pháp này cần thực hiện tốt các biện pháp cụ thể như sau:

- Xác định các định mức chính sách phù hợp, đủ để đáp ứng yêu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng, phát triển văn hóa, giáo dục, bảo vệ môi trường... Đồng thời, điều chỉnh chính sách bằng việc cấp đủ kinh phí từ Trung ương cho phù hợp với số đối tượng chính sách hoặc quy định một tỷ lệ phù hợp, tùy thuộc vào mỗi chính sách để tăng tính khả thi.

Nghị quyết của Quốc hội phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (chiều 19/6/2020) xác định mục tiêu: đến năm 2025 giảm 50% số xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; đến năm 2030 cơ bản không còn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn. Tổng nguồn vốn Chương trình là hơn 271 nghìn tỷ đồng.

Để thực hiện mục tiêu ấy, thực hiện tốt hơn chính sách đầu tư đối với công tác dân tộc, cần chú trọng:

- Đầu tư vốn tập trung và đầu tư trọng điểm nhằm phát triển trình độ sản xuất kinh tế ở vùng dân tộc thiểu số

Vốn ngân sách nhà nước cần đầu tư tập trung chủ yếu vào xây dựng giao thông, điện, thủy lợi, nước sạch, trạm y tế, bệnh viện, trường học, chợ, tùy tính chất mức độ quy mô của công trình mà có sự đóng góp của nhân dân theo phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm.

- Xác định những ưu tiên trong chính sách cũng như chương trình phát triển kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc thiểu số, tránh đầu tư dàn trải

Cần tập trung giải quyết vấn đề đất sản xuất, đất ở cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng thời tập trung các nguồn lực cho việc bảo tồn, phát triển văn hóa truyền thống các dân tộc, xây dựng hạ tầng đồng bộ, nhất là giao thông.

- Trong điều kiện các dân tộc sinh sống đan xen nhau như hiện nay, không nên ban hành các chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội riêng đối với từng dân tộc, để tránh phân biệt, suy bì, thắc mắc giữa các dân tộc.

- Chính sách cụ thể đối với các dân tộc chỉ nên tập trung vào các lĩnh vực bảo tồn văn hóa truyền thống dân tộc, ngôn ngữ dân tộc, đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc.

- Trong xây dựng, thực hiện chính sách cần chú ý đến những tác động tích cực, tiêu cực đến quan hệ dân tộc khi chính sách được ban hành... Đặt mục tiêu công bằng, bình đẳng, đảm bảo lợi ích của đồng bào các dân tộc.

Du lịch vượt khó trong đại dịch Covid-19

 Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch từ đầu năm tới nay hầu như tê liệt do tác động tiêu cực từ Covid-19. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch lên kịch bản tháo gỡ khó khăn thời gian tới.

Hội nghị trực tuyến sơ kết công tác 6 tháng đầu năm và phương hướng nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021 của ngành Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VH,TT&DL) đã diễn ra ngày 14/7, kết nối với 50 điểm cầu ở các tỉnh, thành phố.

Phát biểu khai mạc Hội nghị, Bộ trưởng Bộ trưởng Bộ VH,TT&DL Nguyễn Văn Hùng gợi mở các vấn đề đặt ra trong Hội nghị như xây dựng Chiến lược phát triển văn hóa, thể thao, du lịch; những khó khăn thách thức, những thuận lợi trong 6 tháng đầu năm để từ đó xác định những việc cần làm.

Văn hóa, Du lịch vượt khó trong đại dịch Covid-19 - 1

Nhấn để phóng to ảnh

Du lịch Việt Nam bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 (Ảnh minh họa).

Bộ trưởng cho rằng, những người đang làm nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực VH,TT&DL cần hiểu văn hóa là lĩnh vực rộng lớn, đa dạng, thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Để thấy giá trị văn hóa, đặt văn hóa trong sự phát triển và văn hóa trong mối quan hệ chính trị, kinh tế. Với cách tiếp cận đó, xác định các yêu cầu đặt ra 6 tháng qua đã giải bài toán này như thế nào, ngành văn hóa, thể thao, du lịch đang ở vị trí nào?

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Đoàn Văn Việt đã trình bày Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện công tác VH,TT&DL 6 tháng đầu năm, một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm 6 tháng cuối năm 2021.

Theo Thứ trưởng Đoàn Văn Việt, 6 tháng đầu năm 2021, tình hình hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch có nhiều kết quả đáng ghi nhận, tuy nhiên vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, do sự ảnh hưởng của hai đợt bùng phát dịch Covid-19.

"Nhiều địa phương phải tạm thời đóng cửa di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; hủy hoặc tạm dừng các hoạt động biểu diễn văn hóa, nghệ thuật, chiếu phim... đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến công tác tuyên truyền quảng bá văn hóa, gây thất thu lớn cho ngân sách các địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng người dân", Thứ trưởng Đoàn Văn Việt nói.

6 tháng qua, ngành du lịch tiếp tục chịu sự ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid-19. Ước tính số liệu khách du lịch nội địa trong 6 tháng đầu năm đạt 30,5 triệu lượt. Tổng thu từ khách du lịch ước đạt 134.000 tỷ đồng, giảm 24,2% so với cùng kỳ năm 2020. Lượng khách nội địa và doanh thu suy giảm mạnh đúng dịp cao điểm nghỉ lễ 30/4 và 1/5. Nhiều doanh nghiệp du lịch đã phải đóng cửa, thu hồi giấy phép kinh doanh, nguồn lực về tài chính cạn kiệt…

Tuy nhiên, nửa đầu năm 2021, ngành VH,TT&DL cũng có nhiều điểm sáng đáng ghi nhận, như công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa được quan tâm chú trọng, công tác xây dựng văn hóa cơ sở được quan tâm, Hoạt động thư viện có nhiều đổi mới trong phương thức tuyên truyền, truyền thông, khuyến khích việc đọc sách trong điều kiện phòng, chống dịch Covid-19, các đơn vị nghệ thuật Trung ương đã tổ chức dàn dựng nhiều chương trình nghệ thuật biểu diễn và số tiền bán vé ước tính đạt gần 2 tỷ đồng.

Để vượt khó trong đại dịch Covid-19, trong 6 tháng cuối năm tới, lãnh đạo Bộ VH,TT&DL khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành trong chặng đường kế tiếp là thực hiện chuyển đổi số.

Trong đó, hoàn thiện 3 Đề án: Số hóa Di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Xây dựng bản đồ số, quản lý, liên kết dữ liệu di sản văn hóa Việt Nam giai đoạn 2021-2030; Kiểm kê, sưu tầm, bảo quản, trưng bày, tuyên truyền di sản văn hóa của các dân tộc Việt Nam giai đoạn 2021-2030.

Thời gian tới, Bộ VH,TT&DL cũng sẽ hoàn thiện Hồ sơ dự án Luật Điện ảnh (sửa đổi), tổ chức Liên hoan Phim Việt Nam lần thứ XXII...

Bộ VH,TT&DL sẽ trình Thủ tướng Chính phủ đề án "Đề xuất một số mô hình phát triển sản phẩm du lịch đêm," thí điểm sử dụng hộ chiếu vaccine với khách quốc tế đến một số trung tâm du lịch có thể kiểm soát được dịch bệnh. Đồng thời triển khai dự án Chuyển đổi số trong ngành du lịch, truyền thông quảng bá du lịch Việt Nam tại các thị trường mục tiêu thông qua các kênh e-marketing và website vietnam.travel.

Nguyễn Hằng