Năm
1911, đạo Tin Lành được du nhập chính thức vào Việt Nam, lúc đầu do các giáo sĩ
thuộc Hội Truyền giáo Phúc âm Liên hiệp C&MA1 từ Bắc Mỹ
truyền vào. Năm 1927 được ghi nhận là thời điểm đánh dấu việc hình thành về tổ chức của Hội
thánh Tin Lành Việt Nam với tên gọi là Hội Tin Lành
Việt Nam Đông Pháp. Đến năm 1941, tổ chức Tin Lành Việt Nam mới được chính
quyền Pháp công nhận là một tổ chức tôn giáo.
Tên gọi Hội thánh Tin Lành Việt Nam được gọi từ năm
1945 đến nay. Từ năm 1948 trở đi, các hoạt động của đạo Tin Lành ở cả 3 miền
dần phục hồi. Thời kỳ 1954-1975, Tin Lành phát triển mạnh mẽ ở miền Nam hơn ở miền
Bắc. Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, đa số giáo
sĩ, tín đồ đạo Tin Lành miền Bắc di cư vào Nam. Năm 1958, số giáo sĩ, tín đồ
còn lại đã lập ra tổ chức giáo hội riêng lấy tên là Hội thánh Tin Lành Việt Nam
(miền Bắc) tồn tại cho đến ngày nay. Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam)
hoạt động ở các tỉnh từ vĩ tuyến 17 trở vào. Thời kỳ Mỹ tăng cường can thiệp và
mở rộng quy mô chiến tranh ở Việt Nam, đạo Tin Lành có điều kiện thuận lợi để
phát triển. Các hoạt động truyền giáo được thúc đẩy mạnh mẽ làm cho cho số tín
đồ của Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Nam) tăng lên nhanh chóng. Thời kỳ từ năm 1975
đến nay: Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền Bắc) lúc đầu nhìn chung phát triển
cầm chừng, thậm chí khủng hoảng người lãnh đạo giáo hội. Chỉ đến hai thập kỷ
gần đây tình hình Hội thánh mới có nhiều thay đổi, với sự tham gia của tín đồ
người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc. Từ năm 2001 đến nay, Hội thánh Tin
Lành Việt Nam (miền Nam) và nhiều tổ chức hệ phái khác của đạo Tin Lành đã được
Nhà nước công nhận về mặt tổ chức.
Những năm gần đây, đạo Tin Lành phát triển mạnh trong
các vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc và khu vực Tây
Nguyên.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét