Thứ Năm, 9 tháng 9, 2021

Tỉnh Phú Thọ xuất quân chi viện 500 thầy thuốc cho Thủ đô phòng chống dịch COVID-19

 

Tỉnh Phú Thọ xuất quân chi viện 500 thầy thuốc cho Thủ đô phòng chống dịch COVID-19

(Chinhphu.vn) - Ngày 9/9, UBND tỉnh Phú Thọ đã tổ chức gặp mặt, giao nhiệm vụ cho đoàn công tác gồm 500 cán bộ y tế hỗ trợ công tác lấy mẫu, xét nghiệm, tiêm chủng trong phòng chống dịch COVID-19 tại Thành phố Hà Nội. 

Đây là đoàn công tác thứ 7 của tỉnh Phú Thọ cử đi hỗ trợ các địa phương để chống dịch và là đoàn có số lượng đông nhất từ trước đến nay.

Đoàn công tác gồm 230 cán bộ công tác tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 và 270 cán bộ lấy mẫu xét nghiệm SARS-CoV-2, có nhiễm vụ hỗ trợ Thành phố Hà Nội trong công tác xét nghiệm virus SARS-CoV-2, kịp thời phát hiện các trường hợp nhiễm COVID-19 để thực hiện các biện pháp giám sát, cách ly, điều trị theo quy định của Bộ Y tế.

Các cán bộ y tế tỉnh Phú Thọ còn thực hiện hỗ trợ tiêm chủng vaccine phòng COVID-19 cho người dân Hà Nội, giúp tăng cường miễn dịch cộng đồng, đảm bảo công tác phòng chống dịch COVID-19. Bác sĩ Lê Quốc Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm y tế huyện Thanh Ba - Trưởng đoàn công tác chia sẻ: Giúp Thành phố Hà Nội chiến thắng đại dịch cũng là tạo hành lang an toàn cho các địa phương lân cận, trong đó có tỉnh Phú Thọ. Do đó chúng tôi sẵn sàng với tinh thần giúp đỡ như chính đang chống dịch tại địa phương mình.

Phát biểu tại buổi gặp mặt, lãnh đạo Sở Y tế Phú Thọ ghi nhận và biểu dương tinh thần xung phong, tình nguyện của 500 cán bộ y tế sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ chống dịch tại Thủ đô Hà Nội.

Mặc dù đoàn công tác lần này không trực tiếp tham gia điều trị cho các bệnh nhân mắc COVID-19, tuy nhiên nhiệm vụ cũng hết sức nặng nề và vất vả vì phải chạy đua với thời gian để nhanh chóng phát hiện, sàng lọc các F0 trong cộng đồng.

Chính vì vậy, mỗi cán bộ y tế phải tuân thủ nghiêm những quy định phòng dịch, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho bản thân, đồng nghiệp; không được lơ là chủ quan, không để lây nhiễm chéo.

Lãnh đạo Sở Y tế Phú Thọ mong muốn, đoàn công tác của tỉnh phối hợp chặt chẽ với các lực lượng đang thực hiện nhiệm vụ chống dịch tại Hà Nội và nỗ lực, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ với tinh thần, trách nhiệm cao nhất. Qua đó, thực hiện đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, chung sức, đồng lòng góp phần cùng với các lực lượng sớm khống chế và đẩy lùi dịch bệnh COVID-19 tại Thủ đô.

Trước diễn biến phức tạp của dịch COVID-19, dự kiến từ ngày 6 - 12/9, Hà Nội sẽ xét nghiệm 100% người dân trên toàn thành phố nhằm tách F0 ra khỏi cộng đồng theo nguyên tắc: Tại khu vực phong tỏa, khu cách ly, khu vực nguy cơ rất cao lấy mẫu cho toàn bộ người dân từ 2 - 3 ngày/lần; tại khu vực có nguy cơ cao, lấy mẫu xét nghiệm cho toàn bộ người dân từ 5 - 7 ngày/lần; tại các khu vực khác, lấy mẫu xét nghiệm cho toàn bộ người dân ít nhất 1 lần. Hà Nội đặt mục tiêu trước ngày 15/9 nhanh chóng kiểm soát tình hình dịch bệnh để vào nhóm kiểm soát tốt dịch bệnh theo tiêu chí kiểm soát dịch bệnh của Bộ Y tế.

Căn cứ đề xuất của Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; thực hiện chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh Phú Thọ về việc hỗ trợ thành phố Hà Nội trong công tác phòng chống dịch COVID-19, Sở Y tế đã lựa chọn 500 cán bộ trong toàn ngành để lên đường hỗ trợ Hà Nội trong việc xét nghiệm SARS-CoV-2 và tiêm vaccine phòng COVID-19./.

 

NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ TRUNG TÂM THỜI COVID

THAM GIA PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 LÀ NHIỆM VỤ CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH, LÀ NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ TRỌNG TÂM TRONG THỜI ĐIỂM HIỆN NAY “Với tinh thần quân đội sẽ chủ động tìm đến để hỗ trợ giúp đỡ nhân dân, Bộ Quốc phòng đã tổ chức tăng cường hàng trăm lượt tổ quân y để tiêm vắc xin, các tổ hồi sức cấp cứu, tổ cơ động tham gia xét nghiệm, thu dung, điều trị cho hàng chục nghìn lượt bệnh nhân. Tổ chức vận chuyển hàng nghìn tấn nông sản, lương thực, thực phẩm, nhu yếu phẩm đến tận nơi ở của hộ gia đình” “Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, trong số khoảng 120 nghìn cán bộ, chiến sĩ, dân quân tự vệ tham gia tăng cường hỗ trợ chống dịch, có khoảng gần 29 nghìn cán bộ, chiến sĩ ở các đơn vị, nhiều đồng chí có người thân mất, có vợ con nhiễm bệnh nhưng không về được vì đang làm nhiệm vụ” “Không có đồng chí nào kêu ca, phàn nàn hay thoái thác nhiệm vụ. Nhiều đồng chí trong quá trình giúp dân phòng chống dịch bệnh đã bị nhiễm bệnh, có sự hy sinh. Điều này thể hiện quyết tâm, trách nhiệm của chiến sĩ quân đội đối với sức khỏe, tính mạng của nhân dân trong thời điểm khó khăn” “Tham gia phòng chống dịch bệnh không chỉ địa bàn TP.HCM và các tỉnh phía Nam mà còn sẵn sàng triển khai ở các địa bàn khác trên phạm vi cả nước nếu như có tình huống dịch bệnh xảy ra” Thiếu tướng NGUYỄN VĂN ĐỨC, Cục trưởng Cục Tuyên huấn, Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam ST.

QUỐC GIA HÙNG CƯỜNG CẦN TƯ TƯỞNG TRUYỀN CẢM HỨNG

Những thành công lãnh đạo rực rỡ của Đảng trong thế kỷ 20 đều gắn với những tư tưởng truyền cảm hứng, đáp ứng được khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu.

Tư tưởng dẫn dắt quốc dân

Các hệ tư tưởng chính trị bao gồm một tập hợp các ý tưởng, có vai trò định hướng và truyền cảm hứng cho các hành động chính trị. Cụ thể hơn, đó là một hệ thống gắn kết chặt chẽ giữa các ý tưởng, giá trị, và niềm tin, định hình và chi phối hành vi chính trị của cá nhân, tổ chức, cũng như các chính sách của chính quyền.

Các hệ tư tưởng cung cấp một cách nhìn nhận và luận giải về trật tự chính trị đang tồn tại, một tương lai tốt đẹp mà cộng đồng nên hướng tới, cũng như những sự thay đổi cần thiết để đạt được mục đích cuối cùng. Lịch sử nhân loại cho thấy bất kỳ cộng đồng chính trị – xã hội nào cũng cần đến những tư tưởng với tư cách là điểm tựa tinh thần đặc biệt quan trọng, không thể thiếu đối với sự ổn định, trật tự, và phát triển của cộng đồng.

Những thập kỷ đầu thế kỷ 20, các tư tưởng XHCN và cộng sản chủ nghĩa, với nòng cốt là chủ nghĩa Marx – Lenin, có thiên hướng bảo vệ lợi ích cho những tầng lớp yếu thế, đã dễ dàng được người dân Việt Nam, vốn đang phải sống dưới ách gông cùm thực dân, đón nhận và trở thành ngọn cờ tập lực lượng.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã nắm bắt được khát vọng chính đáng của mọi tầng lớp nhân dân về độc lập dân tộc, công bằng và bình đẳng xã hội để từ đó đảm nhiệm thành công vai trò lãnh đạo cách mạng Việt Nam.

Cho đến nay, trên phạm vi toàn cầu, những giá trị cốt lõi của tư tưởng XHCN vẫn còn nguyên sức sống. Đó là sự hướng tới một cộng đồng thịnh vượng chung, giảm thiểu sự bất bình đẳng xã hội, tạo ra sự thay đổi tích cực về đời sống cho số đông người dân, nhất là những tầng lớp yếu thế.

Khuynh hướng XHCN chỉ ra sự thịnh vượng của cộng đồng không thể là phép cộng giản đơn của những sự thịnh vượng cá nhân, mà phải tạo ra được những chuyển biến tích cực với số đông quần chúng.

Tư tưởng trong bối cảnh mới

Từ khi tiến hành đổi mới đất nước vào năm 1986, Đảng luôn kiên định hệ giá trị XHCN. Mục đích then chốt của công tác tư tưởng là hướng tới đạt được sự đồng thuận trong xã hội về viễn kiến xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng XHCN.

Theo đó, trọng tâm của công tác tư tưởng, tuyên truyền và vận động là để người dân biết, thấm nhuần, và ủng hộ các giá trị chính trị XHCN, chủ trương của Đảng và chính sách của nhà nước.

Những năm gần đây, kỷ luật tư tưởng nội bộ Đảng được coi trọng nhằm chống “tự suy thoái, tự chuyển hóa”, xa rời những nguyên tắc tư tưởng nền tảng. Phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh đề cao sự gương mẫu, đặc biệt đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý.

Thế giới đương đại ngày càng trở nên phẳng, đa dạng, và phụ thuộc lẫn nhau. Tiến trình toàn cầu hóa kinh tế và sự phát triển về khoa học và công nghệ đã làm giảm ý nghĩa của sự khác biệt về vị trí địa lý, truyền thống, cương vực lãnh thổ và chủ quyền quốc gia. Các lợi ích đa dạng cũng ngày càng phụ thuộc nhau hơn. Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa là quá trình tất yếu.

Cũng bởi thế, sự khác biệt về quan điểm giải quyết các vấn đề chung cũng ngày càng bộc lộ rõ hơn. Bối cảnh trong nước và thế giới hiện nay đang đặt ra những nhu cầu mới đối với công tác tư tưởng.

Đó là sự thích ứng và tiếp biến với các ý tưởng mới, có xuất xứ khác nhau, để làm sao dung hòa và cùng tồn tại được với những giá trị, quan điểm, và thái độ vốn được đề cao của cộng đồng trong nước.

Đó cũng là nhu cầu về sự tôn trọng các giá trị của các chủ thể đa dạng, cả trong nước và quốc tế, của cá nhân, tổ chức, cũng như các cộng đồng. Đó còn là thách thức về sự gắn kết giữa những giá trị của hệ thống chính trị với những giá trị của cá nhân và cộng đồng xã hội – cơ sở bảo đảm cho sự đoàn kết và hợp tác để cùng đưa xã hội tiến đến tương lai thịnh vượng.

Sự vận động của thực tế đời sống chính trị ở nhiều quốc gia trong khu vực cho thấy những tư tưởng nền tảng của hệ thống chính trị sẽ được tiếp thêm sức sống nếu tích hợp được các ý tưởng, giá trị, và niềm tin mới, phù hợp với xu thế thời đại và đáp ứng được sự mong đợi của quảng đại quần chúng nhân dân.

Tư tưởng truyền cảm hứng

Vào những năm 1870, cải cách Minh Trị ở Nhật Bản được khởi nguồn từ sự thay đổi nhận thức và tư tưởng của chính quyền và tầng lớp Samurai. Để giúp Nhật Bản tránh khỏi nguy cơ tụt hậu và trở nên hùng cường, tầng lớp Samurai sẵn sàng từ bỏ những đặc quyền gắn với bổng lộc vốn có dưới chế độ phong kiến.

Những tư tưởng phương Tây tư bản về kinh tế, chính trị, và xã hội được du nhập và chấp nhận đã dần chuyển hóa những người Samurai, vốn chỉ đảm nhiệm các chức năng hành chính, thành các nhà đầu tư, sản xuất, và kinh doanh hiện đại.

Cùng với tầng lớp thương nhân đang ngày càng lớn mạnh, tinh thần và năng lực của tầng lớp Samurai đã góp phần quyết định giúp Nhật Bản trở nên giàu có vào những năm sau đó.

Điều tương tự cũng diễn ra ở Hàn Quốc vào những năm 1960, khi chính quyền cùng giới doanh nhân được thôi thúc bởi giấc mơ trở thành Nhật Bản thứ hai ở châu Á. Chỉ trong vòng hơn 2 thập kỷ, quyết tâm, nỗ lực, và sự hợp tác giữa chính quyền với các lãnh đạo doanh nghiệp đã đưa Hàn Quốc thoát khỏi nghèo nàn, trở thành một trong những quốc gia phát triển hàng đầu thế giới.

Gần đây hơn, “giấc mơ Trung Hoa” chính là một trong những yếu tố gắn kết quyết tâm và nỗ lực của chính quyền, doanh nghiệp, và số đông người dân Trung Quốc trong tiến trình thoát khỏi thân phận làm thuê cho phương Tây, khôi phục sức mạnh và vị thế quốc gia.

Đại hội Đảng 13 đề ra viễn kiến đưa đất nước trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045. Đây là tầm nhìn lãnh đạo đáp ứng được khát khao, mong đợi của mọi tầng lớp nhân dân.

Thực tế thành công của các quốc gia trong khu vực cho thấy, khả năng hiện thực hóa được tầm nhìn lãnh đạo nêu trên phụ thuộc rất nhiều vào những niềm cảm hứng tập thể, qua đó quy tụ và nuôi dưỡng được sự ủng hộ rộng rãi, sự tập trung trí lực và vật lực của mọi tầng lớp nhân dân. Để có được sự đồng thuận và nỗ lực tập thể, tất yếu cần đến những tư tưởng có khả năng truyền cảm hứng, thúc đẩy quyết tâm và sự hợp tác giữa các lực lượng xã hội.

Báo cáo 10 năm thực hiện Cương lĩnh 2011 đặt ra vấn đề xây dựng “hệ giá trị của Đảng Cộng sản Việt Nam”, đặt trong tổng thể “hệ giá trị Việt Nam”, coi văn hóa là động lực cho sự phát triển đất nước.

Thách thức vẫn còn đó với hàng loạt câu hỏi cần trả lời: Đâu là những thành tố cốt lõi trong hệ giá trị Việt Nam? Mối quan hệ giữa hệ giá trị của Đảng cầm quyền và hệ giá trị Việt Nam? Những giá trị nền tảng của hệ thống chính trị và quốc gia có khả năng truyền cảm hứng đến mọi tầng lớp nhân dân, khuyến khích sự gắn kết xã hội và các nỗ lực tập thể hay không?

Những thành công lãnh đạo rực rỡ của Đảng trong thế kỷ 20 đều gắn với những tư tưởng truyền cảm hứng, đáp ứng được khát vọng độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, và thoát khỏi đói nghèo, lạc hậu. Mục tiêu quốc gia phát triển theo định hướng XHCN vào giữa thế kỷ 20 cũng cần đến những tư tưởng có khả năng quy tụ và truyền cảm hứng như thế. 

-------------

TS Nguyễn Văn Đáng (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)

Thứ Tư, 8 tháng 9, 2021

RANH GIỚI

Lúc 20 giờ 10 phút, tối 8/9 VTV1 phát chương trình VTV đặc biệt "RANH GIỚI" quay cảnh trực tiếp các y bác sĩ ở Bệnh viện Hùng Vương (TP.HCM) cứu chữa, trợ sinh cho gần 900 sản phụ mắc Covid-19, trước ranh giới sự sống và cái chết thật nhiều cảm xúc!

Người bình thường mắc Covid-19 chữa đã khó, những sản phụ mắc Covid-19 lại càng khó khăn hơn gấp bội. Nhìn các y bác sĩ hoạt động luôn chân luôn tay, tiên lượng bệnh tình và đưa ra phương án khẩn cấp như trong một trận chiến. Có những lúc ê kíp cùng cứu chữa nhiều ca, bên mổ, bên bóp bóng, ấn ngực, bên phối thuốc, truyền dịch mà người xem không hiểu sức đâu mà họ làm liên tục ngày đêm trong bộ đồ bảo hộ như vậy?! Khi thấy ca bệnh này chỉ số mạch rơi xuống chạm đáy (0) họ lại càng tập trung cứu chữa dồn dập hơn, khi mạch lên, thì ca khác mạch lại xuống, họ gọi điện thoại cầu cứu đồng nghiệp đến hỗ trợ, rồi lại tập trung cứu chữa, cứ như vậy hết người này đến người khác mà toàn là bệnh nhân sản phụ.

Có những ca họ phải quyết đoán đặt nội khí quản ngay để trợ sức cho mẹ, và liền lúc mổ lấy con. Nhiều ca thành công cứu được cả mẹ và con, nhưng cũng có ca họ đành bất lực, nhìn ánh mắt thất thần của họ làm người xem rất xúc động. Nhưng kỳ diệu, có nhiều ca bệnh nhân ngưng tim, ngừng thở, đội ngũ y bác sĩ vẫn tích cực hồi sức và mạch lại lên, nhịp sống lại hồi sinh!

Thật cảm động trước tấm lòng và sức chịu đựng của các y, bác sỹ, họ bón từng thìa cháo và nhẹ nhàng động viên các sản phụ cố gắng thở để sống, để có sức sinh con, để nhanh chóng trở về gia đình. Và, họ cũng quyết đoán đưa ra phương án cứu chữa, nhanh chân, nhanh tay, nhanh trí trong cấp cứu, trợ sinh các sản phụ, hết người này đến người khác không một chút chần chừ cho dù môi trường họ làm việc rất nguy hiểm, chỉ cần sơ sẩy một chút là mắc Covid-19 ngay.

Cám ơn VTV đã có một chương trình nhiều cảm xúc. Mong rằng mọi người khi theo dõi chương trình này hãy nâng cao nhận thức, không chỉ trân trọng, biết ơn đội ngũ y bác sĩ vì họ đã hy sinh quá nhiều cho cộng đồng mà phải chấp hành nghiêm các quy định về phòng, chống dịch Covid-19.

GIỮ VỮNG PHẨM CHẤT ANH BỘ ĐỘI CỤ HỒ, THAM GIA CHỐNG DỊCH, MIỄN NHIỄM VỚI THÔNG TIN XUYÊN TẠC

Sau khi Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã có Chỉ thị tăng cường các lực lượng tham gia phòng chống dịch Covd-19 trên địa bàn TPHCM và các tỉnh, thành phía Nam, ngay lập tức trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện những bài viết xuyên tạc khi cho rằng: Quân đội đối diện với công an, rằng cho quân đội vào là để trấn áp dân ra đường, rằng cho quân đội vào để điều hành chính quyền...vv” Đây là sự vu khống trắng trợn, xuyên tạc bừa bãi, của những người không những thế lực phản động, lũ vô nhân đạo mất hết lương tri. 1. TPHCM và các tỉnh phía Nam đã trải qua mấy tháng oằn mình chống dịch nhưng dịch bệnh vẫn diễn biến vô cùng phức tạp. đối diện với những khó khăn chồng chất. Các lực lượng tuyến đầu ở TPHCM và các tỉnh đã gần như kiệt sức. Việc thực hiện giãn cách dài ngày nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong muốn đã làm cho một bộ phận người dân rơi vào khủng hoảng tâm lý trầm trọng. Vì vậy, quyết định đưa lực lượng quân đội để cùng phối hợp với các địa phương tham gia chống dịch ở TPHCM và các tỉnh, thành nhằm nâng cao hơn nữa giãn cách xã hội, khống chế dịch bệnh, ngăn ngừa những yếu tố bất ổn về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội là vô cùng đúng đắn và cần thiết. 2. Quân đội Nhân dân Việt Nam là Quân đội từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, tình quân dân được ví như cá với nước. Quân đội vừa là đội quân chiến đấu trong thời chiến, đội quân công tác và tham gia lao động sản xuất trong thời bình. Hình ảnh quân đội gặt lúa giúp dân trong bão lũ, sơ tán người dân đến các điểm an toàn trong mưa bão, tìm kiếm người dân gặp nạn, mất tích là những hình ảnh quen thuộc ở Việt Nam. Và, việc quân đội tham gia phòng chống dịch Covid-19 ở TPHCM và các tỉnh, thành lần này cũng chính là một trong những chức năng, nhiệm vụ của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Việc bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm của toàn dân, đương nhiên quân đội là lực lượng nòng cốt. Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn tham gia giúp dân phòng chống dịch, song chắc chắn việc nắm chắc tay súng để bảo vệ Tổ quốc nơi biên cương, hải đảo vẫn không bị buông lỏng và xem nhẹ. 3. Trong thực tế, chỉ những quân nhân được giao nhiệm vụ giữ gìn an ninh trật tự, điều tiết giao thông, bảo đảm an toàn xã hội mới đeo súng bên mình. Tất cả những quân nhân thực hiện các nhiệm vụ khác như khám chữa bệnh, tham gia vận chuyển, cung ứng hàng hóa tới người dân; phụ trách việc hỏa táng, nhang khói và vận chuyển tro cốt nạn nhân mất vì Covid-19 thì không mang súng. Những quân nhân mang súng là những người đang thực hiện nhiệm vụ đặc biệt - nhiệm vụ chống “giặc” Covid-19. Chẳng lẽ lại bắt họ phải ôm hoa, rau tươi hay trái cây? Chỉ mới trải qua 1 ngày với sự vào cuộc của quân đội cùng với việc siết chặt các biện pháp giãn cách, việc tuân thủ các quy định về phòng chống dịch, nhất là việc người dân viện lý do để ra đường đã giảm hẳn. Không những vậy, hình ảnh những chiến sĩ quân đội, công an, dân phòng trước hết là một điểm tựa tinh thần rất lớn đối với người dân. Cùng các lực lượng khác xuất hiện ở những con hẻm phân phát lương thực, thực phẩm cho người dân đã giúp cho mọi người cảm thấy an tâm hơn. Nếu dịch bệnh không được khống chế, công nhân mất việc, các nhà đầu tư nước ngoài rút đi… không biết số phận hàng triệu con người và đi kèm với họ là hàng triệu gia đình sẽ lâm vào hoàn cảnh bi đát ra sao? Đất nước yếu, đâu chỉ ngoại bang hưởng lợi và gây hấn, ngay bạn bè cũng sẽ khó gắn bó với chúng ta. Mấy ai dám thân thiết và gắn bó với một dân tộc không tự lo nổi cho mình? Chúng ta cùng tin tưởng rằng sự vào cuộc của quân đội trong phòng chống dịch Covid-19 hiện nay, được xem là vấn đề then chốt quyết định. Được chuẩn bị công phu, bài bản, chính xác đến từng chi tiết, không cho phép sai sót. Với truyền thống gắn bó mật thiết với Nhân dân, hy sinh phấn đấu vì Nhân dân, sự có mặt của quân đội đã và sẽ góp phần nâng cao tính kỷ luật trong chống dịch, người dân sẽ tuân thủ và chấp hành tốt hơn. Bằng kinh nghiệm dày dặn của mình, chắc chắn lực lượng quân đội sẽ cùng các lực lượng khác bảo đảm an ninh trật tự, an toàn xã hội, điều tiết và cung cấp lương thực, thực phẩm để người dân an tâm chống dịch, để TPHCM và các tỉnh, thành phía Nam sớm khống chế dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại bình thường mới. .

NHAN THUC VE: “DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN LÀM, DÂN KIỂM TRA, DÂN GIÁM SÁT, DÂN THỤ HƯỞNG” VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ HIỆN NAY

    "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.


   Định hướng phát triển đất nước những năm tiếp theo về dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


   Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam" đăng trên Báo Nhân Dân ngày 17/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam". Làm rõ, hoàn thiện lý luận, thể chế hóa, phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn đời sống xã hội vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi hiện nay.


   1. Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng vô sản là phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân có giá trị khoa học, thực tiễn, là nền tảng phương pháp luận trong xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước, được thể hiện ra như là “một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”; nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”. Xã hội hướng tới sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quan điểm đó tạo ra sự thay đổi có tính chất cách mạng trong nhận thức về dân chủ, có giá trị lý luận, thực tiễn hình thành dân chủ XHCN.


   Tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò, vị trí, lực lượng, sức mạnh to lớn của nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân, thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là tư tưởng nền tảng mà Đảng ta hướng tới, đồng thời là cách thức thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta.


   Thực tiễn nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được phát huy, việc huy động sự đóng góp và sức dân vẫn còn nặng nề, mệnh lệnh hành chính. Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981 - 1986), Đảng ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng. Ngày 28/11/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) đã ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW “Về tăng cường công tác quần chúng của Đảng”, trong đó nhấn mạnh: “Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần chúng”. Có thể nói, lần đầu tiên, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Đảng ta chính thức đề ra, trở thành một chủ trương lớn, một phương châm hành động cụ thể.


   Tiếp đó, ngày 18/02/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, trong đó nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”. Nội dung chính của Chỉ thị xoay quanh 04 khâu liên quan đến dân chủ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Ngày 28/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” theo nội dung của phương châm căn bản trên. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đại hội XII xác định bản chất “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” là 02 trong 08 đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, căn cứ vào tình hình thực tiễn và quan điểm mở rộng dân chủ, Đảng ta đã bổ sung 02 khâu trong phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


    Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát”, "dân thụ hưởng” vào nội dung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.  Đây là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, là động lực, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vậy nội hàm của phương châm trên là gì? Phải chăng là những điều cơ bản, khái quát sau đây:


    “Dân biết” là nhân dân hiểu và nắm rõ được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật liên quan đến cuộc sống nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc. Nhân dân nắm, biết để bàn bạc, đóng góp ý kiến, hoạch định, góp phần bảo đảm khi được ban hành, thực hiện trong đời sống, đem lại kết quả tốt. Nhân dân biết, nắm rõ, hiểu được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở để thống nhất, đồng thuận, đồng lòng, đoàn kết tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao trong cuộc sống. Nhân dân hiểu rõ mục đích cuối của chủ trương, chính sách, pháp luật là phục vụ lợi ích của chính nhân dân, thành quả của chủ trương, chính sách, pháp luật mang lại do nhân dân thụ hưởng, tạo ra xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Để nhân dân “biết” phải sử dụng hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục.


   “Dân bàn” là nhân dân được thảo luận, bàn bạc, ý kiến, góp ý với Đảng và Nhà nước, để việc hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thực hiện một cách chính xác, phù hợp, hiệu quả. Nhân dân bàn bạc, thống nhất cách thức, biện pháp tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả vào thực tiễn công việc, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Khi nhân dân góp ý kiến đúng, xác đáng phải trân trọng, tiếp thu, hoàn thiện cho tốt hơn; khi nhân dân góp ý kiến chưa xác đáng, chưa phù hợp phải giải thích, tuyên truyền, thuyết phục để nhân dân hiểu, nắm rõ chủ trương, chính sách, pháp luật và những lợi ích đem lại. Để nhân dân “bàn” phải có cơ chế, cách thức tổ chức phù hợp.


   “Dân làm” là nhân dân làm việc, thực hiện, hành động chủ trương, nghị chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo hiệu quả. Nhân dân thực hiện tinh thần làm chủ, vai trò chủ thể thực hiện, triển khai hoạt động, công việc với cách thức, phương pháp, phương tiện, lực lượng thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, việc làm vào đời sống đạt hiệu quả. Trong quá trình đó, cán bộ, đảng viên trước hết làm tốt vai trò là một công dân, với tinh thần là hạt nhân, đi đầu trong tổ chức, triển khai, thực hiện.


    “Dân kiểm tra” là việc nhân dân xem xét, đánh giá thực tế thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, việc làm, qua đó phát hiện những sai lệch, thiếu sót, đề xuất, ngăn chặn, xử lý, đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, qua kiểm tra để khuyến khích, biểu dương những việc làm tốt, mô hình hay. Nhân dân kiểm tra bằng cơ chế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện dân cử, nhất là dân chủ ở cơ sở. Để nhân dân kiểm tra được cần có cơ chế cụ thể, cách thức tiến hành phù hợp.


    “Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.


   “Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối,  chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan toả giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất chất của chế độ xã hội.


   Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát” vào phương châm để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Nội dung “dân thụ hưởng” trong thực tế đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm đổi mới đất nước, nhân dân đã thụ hưởng tất cả những thành quả của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mang lại. Tuy nhiên, việc bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm nhằm khẳng vai trò làm chủ, chủ thể nhân dân và đích cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật là vì lợi ích của nhân dân, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, đồng thời thể hiện rõ thực tiễn, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, dân chủ - nhân dân làm chủ là vấn đề cơ bản, là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.


   Như vậy, “biết", "bàn", "làm", "kiểm tra", "giám sát", "thụ hưởng” trong nội dung phương châm là quá trình tiếp nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


   2. Trong những năm vừa qua, việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã đạt được những kết quả tích cực. Về phương diện lý luận, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” từng bước xây dựng, phát triển, hoàn thiện; cụ thể hóa trong chủ trương, đường lối về xây dựng, thực hiện dân chủ XHCN, trở thành phương châm hành động trong thực tiễn đời sống. Về thực tiễn, phương châm đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ XHCN ngày càng tốt hơn trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.


  Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được triển khai ngày càng sâu rộng, từng bước vững chắc và thực sự đi vào cuộc sống, nhất là phát huy dân chủ ở cơ sở, đạt kết quả tích cực. Nhà nước từng bước thể chế hóa Hiến pháp, pháp luật phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng được nâng cao; cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở các cấp, dân chủ ở cơ sở được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích của nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân được chú trọng và đạt nhiều kết quả tốt. Phương châm đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.


   Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, việc thực thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn một số hạn chế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phương châm chưa thực sự thường xuyên. Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chưa được chú trọng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến dân chủ ở cơ sở chậm được xây dựng và hoàn thiện[8]. Thực hiện phương châm chưa thực sự đi đôi với giữ gìn trật tự, kỷ cương, có tình trạng lợi dụng theo hướng tiêu cực, chống đối, xuyên tạc, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Có nơi vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự được lắng nghe, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực hiện ở cơ sở chưa đồng đều ở các khu vực, loại hình cơ sở”. Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó nhân dân làm chủ - thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị có mặt chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới, chưa thật sự sâu sát với hơi thở cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và bám sát cơ sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội chưa đều. Trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở dịch vụ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập… khó thực hiện. Hệ thống chính trị cơ sở, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân.


   Từ cơ sở lý luận, thực tiễn, có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm sao thể chế hóa các quan điểm của Đảng, đưa phương châm thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ thống pháp luật; (2) Thực hành phương châm trong thực tiễn đời sống xã hội, xác định, phân định rõ phạm vi, quy trình công khai, minh bạch, cách thức triển khai, thực hiện. (3) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật. (4) Tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người dân, đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân. (5) Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp dân chủ XHCN, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, làm thất bại âm mưu chống phá, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, đật đổ chế độ ngày càng gay gắt.


   Việc vận dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bên cạnh những ưu điểm, kết quả, thành tựu đạt được thì cũng còn có hạn chế, có vấn đề đặt ra. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong nâng cao tiềm lực và sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội có việc, có lúc còn chưa đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự đã cơ bản phát triển nhưng còn đặt ra vấn đề phải xử lý, khắc phục. Qua hoạt động thực tiễn, nắm tình hình, tham mưu trên một số mặt còn chưa kịp thời, từ đó còn có những vụ việc phức tạp phải tập trung xử lý. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với pháp luật chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật, công tác phối hợp, phát huy vai trò của nhân dân bảo đảm an ninh, trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa vững chắc, còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là khu vực biên giới, vùng tôn giáo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.


   3.Quán triệt Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam": Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:


   Một là, Công an nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.


   Hai là, qua hoạt động thực tiễn bảo đảm an ninh, trật tự, Công an nhân dân kịp thời phát hiện những vướng mắc, hạn chế, sơ hở trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoàn thiện trong chủ trương, đường lối, thể chế hoá phương châm trong hệ thống pháp luật bảo đảm tính đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, hình thành cơ chế chặt chẽ, quy trình cụ thể, cách thức tiến hành khoa học, hiệu quả. Rà soát, đề nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cụ thể hoá các quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


   Ba là, gắn thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” với đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục  thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn quyền làm chủ, vai trò chủ thể của mình, thấy được mục đích hướng tới của công tác đảm bảo an ninh, trật tự là xây dựng một xã hội trật tự, an toàn, lành mạnh, an ninh xã hội, an ninh con người được đảm bảo, thành quả này nhân dân là chủ thể trực tiếp thụ hưởng, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tạo ra sự đồng thuận, ý thức tự giác thực hiện, góp phần triệt tiêu những nguyên nhân, điều kiện hình thành xung đột xã hội, giải quyết một cách căn bản từ gốc nguyên nhân, điều kiện hình thành tội phạm, vi phạm pháp luật, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.


   Bốn là, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ chế công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật, từ đó có cơ sở pháp lý, điều kiện để nhân dân thực hiện phương châm. Tiếp thu ý kiến đóng góp xác đáng, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình, giúp đỡ, phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, đem lại hiệu quả cao nhất trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho cho nhân dân khi có yêu cầu giải quyết công việc, thực hiện vai trò kiểm tra và giám sát theo quy định của pháp luật, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo của hiệu quả công việc.


    Năm là, trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, xây dựng nền an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh hoạt động lợi dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, chống phá. Công an nhân dân “dựa vào dân mà công tác, chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ”, từ đó hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao, đảm bảo xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”./.

“DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN LÀM, DÂN KIỂM TRA, DÂN GIÁM SÁT, DÂN THỤ HƯỞNG” VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG CÔNG TÁC BẢO VỆ AN NINH, TRẬT TỰ HIỆN NAY

 

   "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống.


   Định hướng phát triển đất nước những năm tiếp theo về dân chủ xã hội chủ nghĩa (XHCN), Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng chỉ rõ: Thực hành và phát huy rộng rãi quyền làm chủ của nhân dân và vai trò chủ thể của nhân dân, thực hiện tốt, có hiệu quả phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


   Trong bài viết "Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam" đăng trên Báo Nhân Dân ngày 17/5/2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: "Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH; xây dựng nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam". Làm rõ, hoàn thiện lý luận, thể chế hóa, phát huy phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn đời sống xã hội vấn đề cấp thiết, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi hiện nay.


   1. Quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về mục tiêu cách mạng vô sản là phục vụ lợi ích của quần chúng nhân dân có giá trị khoa học, thực tiễn, là nền tảng phương pháp luận trong xây dựng nền dân chủ XHCN. Theo đó, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước và giữ vai trò quyết định sự tồn tại của nhà nước, được thể hiện ra như là “một trong những tính quy định, cụ thể là sự tự quy định của nhân dân”; nhà nước dân chủ thực sự là nhà nước “ngày càng hướng tới cơ sở hiện thực của nó, tới con người hiện thực, nhân dân hiện thực và được xác định là sự nghiệp của bản thân nhân dân”. Xã hội hướng tới sự bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước. Quan điểm đó tạo ra sự thay đổi có tính chất cách mạng trong nhận thức về dân chủ, có giá trị lý luận, thực tiễn hình thành dân chủ XHCN.


   Tiếp thu, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng vai trò, vị trí, lực lượng, sức mạnh to lớn của nhân dân, là một trong những nội dung quan trọng trong tư tưởng của Người. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều là của dân”. Người nhấn mạnh: “Nước ta là một nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân vì dân là chủ”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là chủ”. Toàn bộ quyền lực nhà nước đều bắt nguồn từ nhân dân, do nhân dân, nhằm phụng sự lợi ích của nhân dân, thừa hành ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đây là tư tưởng nền tảng mà Đảng ta hướng tới, đồng thời là cách thức thực hiện mục tiêu, con đường đi lên CNXH ở nước ta.


   Thực tiễn nhiều năm thực hiện cơ chế quản lý tập trung bao cấp trước thời kỳ đổi mới, do hoàn cảnh lịch sử của thời kỳ đó, quyền làm chủ của nhân dân chưa thực sự được phát huy, việc huy động sự đóng góp và sức dân vẫn còn nặng nề, mệnh lệnh hành chính. Xuất phát từ thực tiễn đó, trong nhiệm kỳ Đại hội lần thứ V của Đảng (1981 - 1986), Đảng ta đã đề ra chủ trương “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”, đây là một trong những nội dung đặc biệt nhấn mạnh về tầm quan trọng của công tác vận động quần chúng. Ngày 28/11/1984, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa V) đã ban hành Chỉ thị số 53-CT/TW “Về tăng cường công tác quần chúng của Đảng”, trong đó nhấn mạnh: “Phải thực sự tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, thực hiện tốt khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong sản xuất, phân phối cũng như trong tất cả các công tác quan hệ trực tiếp đến quần chúng”. Có thể nói, lần đầu tiên, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được Đảng ta chính thức đề ra, trở thành một chủ trương lớn, một phương châm hành động cụ thể.


   Tiếp đó, ngày 18/02/1998, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”, trong đó nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”. Nội dung chính của Chỉ thị xoay quanh 04 khâu liên quan đến dân chủ: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Ngày 28/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW về “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” theo nội dung của phương châm căn bản trên. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển năm 2011), Đại hội XII xác định bản chất “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” là 02 trong 08 đặc trưng của thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, căn cứ vào tình hình thực tiễn và quan điểm mở rộng dân chủ, Đảng ta đã bổ sung 02 khâu trong phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” thành “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


    Như vậy, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát”, "dân thụ hưởng” vào nội dung phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.  Đây là sự phát triển tư duy lý luận, hoàn thiện chủ trương của Đảng về dân chủ. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát huy nguồn lực con người, là động lực, yếu tố sống còn, có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước giai đoạn tiếp theo. Trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vậy nội hàm của phương châm trên là gì? Phải chăng là những điều cơ bản, khái quát sau đây:


    “Dân biết” là nhân dân hiểu và nắm rõ được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật liên quan đến cuộc sống nhân dân, vận mệnh đất nước, dân tộc. Nhân dân nắm, biết để bàn bạc, đóng góp ý kiến, hoạch định, góp phần bảo đảm khi được ban hành, thực hiện trong đời sống, đem lại kết quả tốt. Nhân dân biết, nắm rõ, hiểu được chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, tạo cơ sở để thống nhất, đồng thuận, đồng lòng, đoàn kết tổ chức, thực hiện đạt kết quả cao trong cuộc sống. Nhân dân hiểu rõ mục đích cuối của chủ trương, chính sách, pháp luật là phục vụ lợi ích của chính nhân dân, thành quả của chủ trương, chính sách, pháp luật mang lại do nhân dân thụ hưởng, tạo ra xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, cuộc sống ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Để nhân dân “biết” phải sử dụng hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thuyết phục.


   “Dân bàn” là nhân dân được thảo luận, bàn bạc, ý kiến, góp ý với Đảng và Nhà nước, để việc hoạch định, thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật được thực hiện một cách chính xác, phù hợp, hiệu quả. Nhân dân bàn bạc, thống nhất cách thức, biện pháp tổ chức, triển khai thực hiện có hiệu quả vào thực tiễn công việc, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Khi nhân dân góp ý kiến đúng, xác đáng phải trân trọng, tiếp thu, hoàn thiện cho tốt hơn; khi nhân dân góp ý kiến chưa xác đáng, chưa phù hợp phải giải thích, tuyên truyền, thuyết phục để nhân dân hiểu, nắm rõ chủ trương, chính sách, pháp luật và những lợi ích đem lại. Để nhân dân “bàn” phải có cơ chế, cách thức tổ chức phù hợp.


   “Dân làm” là nhân dân làm việc, thực hiện, hành động chủ trương, nghị chính sách, pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đảm bảo hiệu quả. Nhân dân thực hiện tinh thần làm chủ, vai trò chủ thể thực hiện, triển khai hoạt động, công việc với cách thức, phương pháp, phương tiện, lực lượng thực hiện tốt các chủ trương, chính sách, pháp luật, việc làm vào đời sống đạt hiệu quả. Trong quá trình đó, cán bộ, đảng viên trước hết làm tốt vai trò là một công dân, với tinh thần là hạt nhân, đi đầu trong tổ chức, triển khai, thực hiện.


    “Dân kiểm tra” là việc nhân dân xem xét, đánh giá thực tế thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật, việc làm, qua đó phát hiện những sai lệch, thiếu sót, đề xuất, ngăn chặn, xử lý, đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đạt mục tiêu đề ra. Mặt khác, qua kiểm tra để khuyến khích, biểu dương những việc làm tốt, mô hình hay. Nhân dân kiểm tra bằng cơ chế dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện dân cử, nhất là dân chủ ở cơ sở. Để nhân dân kiểm tra được cần có cơ chế cụ thể, cách thức tiến hành phù hợp.


    “Dân giám sát” là nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá quá trình thực hiện, kết quả thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án, công việc thực hiện. Nhân dân theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình có đúng, có tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật không. Giám sát bằng hình thức, phương pháp cụ thể, thường xuyên, theo nội dung công việc, trực tiếp, hoặc gián tiếp.


   “Dân thụ hưởng” là nhân dân được nhận, thụ hưởng thành quả, kết quả của quá trình phát triển về đời sống vật chất, tinh thần mà các chủ trương, đường lối,  chính sách, pháp luật mang lại sau quá trình tổ chức, thực hiện. Nhân dân thụ hưởng lợi ích, giá trị dẫn tới xã hội có trật tự, kỷ cương, cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc; đồng thời nhân dân thấy được mục đích, động lực thực sự, cuối cùng của chủ trương, chính sách, pháp luật mà Đảng, Nhà nước đề ra và tổ chức thực hiện đều vì con người, vì nhân dân, lan toả giá trị tiến bộ, nhân văn, phẩm giá con người, bản chất chất của chế độ xã hội.


   Trên cơ sở tổng kết thực tiễn, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã bổ sung nội dung “dân giám sát” vào phương châm để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Nội dung “dân thụ hưởng” trong thực tế đời sống xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhất là trong suốt 35 năm đổi mới đất nước, nhân dân đã thụ hưởng tất cả những thành quả của cách mạng, của sự nghiệp đổi mới mang lại. Tuy nhiên, việc bổ sung nội dung “dân thụ hưởng” vào phương châm nhằm khẳng vai trò làm chủ, chủ thể nhân dân và đích cuối cùng của mọi chủ trương, chính sách, pháp luật là vì lợi ích của nhân dân, đúng với tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là “bao nhiêu lợi ích đều vì dân”, đồng thời thể hiện rõ thực tiễn, mục tiêu, con đường đi lên CNXH, dân chủ - nhân dân làm chủ là vấn đề cơ bản, là bản chất của chế độ XHCN, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam.


   Như vậy, “biết", "bàn", "làm", "kiểm tra", "giám sát", "thụ hưởng” trong nội dung phương châm là quá trình tiếp nối biện chứng, có quan hệ chặt chẽ, chuyển hoá với nhau, gắn liền với vai trò chủ thể là nhân dân, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân. Đây không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực để khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong quá trình hiện thực hóa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Đó cũng chính là động lực quan trọng để hiện thực hóa định hướng và tầm nhìn trong giai đoạn mới, hiện thực hóa khát vọng đưa đất nước phát triển phồn vinh, hạnh phúc, đồng thời đó cũng là mục tiêu hướng tới của CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta lựa chọn, xây dựng, phát triển đất nước “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.


   2. Trong những năm vừa qua, việc thực hiện phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã đạt được những kết quả tích cực. Về phương diện lý luận, phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” từng bước xây dựng, phát triển, hoàn thiện; cụ thể hóa trong chủ trương, đường lối về xây dựng, thực hiện dân chủ XHCN, trở thành phương châm hành động trong thực tiễn đời sống. Về thực tiễn, phương châm đã phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dân chủ XHCN ngày càng tốt hơn trong việc quyết định những vấn đề lớn và hệ trọng của đất nước. Tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ công dân theo Hiến pháp năm 2013; gắn quyền công dân với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân đối với xã hội. Chú trọng thực hiện dân chủ cả trực tiếp và đại diện, nhất là ở cơ sở, bảo đảm công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Người đứng đầu cấp ủy đảng, chính quyền các cấp tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe, tiếp thu, giải quyết những bức xúc và nguyện vọng chính đáng của nhân dân.


  Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã được triển khai ngày càng sâu rộng, từng bước vững chắc và thực sự đi vào cuộc sống, nhất là phát huy dân chủ ở cơ sở, đạt kết quả tích cực. Nhà nước từng bước thể chế hóa Hiến pháp, pháp luật phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước. Chế độ dân chủ đại diện được phát huy; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp ngày càng được nâng cao; cải cách hành chính đạt nhiều kết quả tích cực. Dân chủ trực tiếp ở các cấp, dân chủ ở cơ sở được mở rộng, nhân dân được bàn và quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn liền với lợi ích của nhân dân, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể được thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể nhân dân được chú trọng và đạt nhiều kết quả tốt. Phương châm đã góp phần xây dựng Đảng, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.


   Bên cạnh những kết quả quan trọng đã đạt được, việc thực thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn một số hạn chế. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện phương châm chưa thực sự thường xuyên. Công tác sơ kết, tổng kết việc thực hiện chưa được chú trọng. Một số văn bản pháp luật liên quan đến dân chủ ở cơ sở chậm được xây dựng và hoàn thiện[8]. Thực hiện phương châm chưa thực sự đi đôi với giữ gìn trật tự, kỷ cương, có tình trạng lợi dụng theo hướng tiêu cực, chống đối, xuyên tạc, gây mất an ninh, trật tự, gây mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ. Có nơi vẫn còn tình trạng dân chủ hình thức, ý kiến của nhân dân chưa thực sự được lắng nghe, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm, tệ quan liêu, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền hà cho dân nhiều nơi chưa được ngăn chặn, đẩy lùi. Việc thực hiện ở cơ sở chưa đồng đều ở các khu vực, loại hình cơ sở”. Các nguồn lực, tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc chưa được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”, trong đó nhân dân làm chủ - thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được thể chế hóa một cách cụ thể, đầy đủ, đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Việc đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị có mặt chưa theo kịp yêu cầu tình hình mới, chưa thật sự sâu sát với hơi thở cuộc sống của các tầng lớp nhân dân và bám sát cơ sở; chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát, phản biện xã hội của tổ chức chính trị, đoàn thể xã hội chưa đều. Trong doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các cơ sở dịch vụ, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập… khó thực hiện. Hệ thống chính trị cơ sở, một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức chưa gương mẫu, chưa thực sự tôn trọng, coi nhẹ ý kiến, kiến nghị của nhân dân, giải quyết chưa kịp thời các quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân.


   Từ cơ sở lý luận, thực tiễn, có thể thấy những vấn đề đặt ra là: (1) Làm sao thể chế hóa các quan điểm của Đảng, đưa phương châm thành các quy định chặt chẽ, đồng bộ, cụ thể trong hệ thống pháp luật; (2) Thực hành phương châm trong thực tiễn đời sống xã hội, xác định, phân định rõ phạm vi, quy trình công khai, minh bạch, cách thức triển khai, thực hiện. (3) Dân là chủ phải gắn với kỷ cương, phép nước, đảm bảo tinh thần thượng tôn pháp luật. (4) Tăng cường tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với người dân, đổi mới và nâng cao chất lượng các hình thức lấy ý kiến của nhân dân. (5) Phát huy tính ưu việt, bản chất tốt đẹp dân chủ XHCN, đấu tranh, phản bác quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề dân chủ, làm thất bại âm mưu chống phá, “diễn biến hòa bình”, bạo loạn, đật đổ chế độ ngày càng gay gắt.


   Việc vận dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, bên cạnh những ưu điểm, kết quả, thành tựu đạt được thì cũng còn có hạn chế, có vấn đề đặt ra. Phát huy sức mạnh của nhân dân trong nâng cao tiềm lực và sức mạnh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội có việc, có lúc còn chưa đáp ứng với yêu cầu, đòi hỏi của tình hình, nhiệm vụ hiện nay. Công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước xây dựng, thể chế hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về bảo vệ an ninh, trật tự đã cơ bản phát triển nhưng còn đặt ra vấn đề phải xử lý, khắc phục. Qua hoạt động thực tiễn, nắm tình hình, tham mưu trên một số mặt còn chưa kịp thời, từ đó còn có những vụ việc phức tạp phải tập trung xử lý. Công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân đối với pháp luật chưa cao. Ý thức chấp hành pháp luật, công tác phối hợp, phát huy vai trò của nhân dân bảo đảm an ninh, trật tự trên một số địa bàn, lĩnh vực chưa vững chắc, còn tiềm ẩn những vấn đề phức tạp, nhất là khu vực biên giới, vùng tôn giáo, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.


   3.Quán triệt Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thể hiện trong bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam": Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, lực lượng Công an nhân dân thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:


   Một là, Công an nhân dân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải quán triệt sâu sắc phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để làm tốt công tác tham mưu với Đảng, Nhà nước về bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội; thực hiện quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đấu tranh phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.


   Hai là, qua hoạt động thực tiễn bảo đảm an ninh, trật tự, Công an nhân dân kịp thời phát hiện những vướng mắc, hạn chế, sơ hở trong thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để tham mưu, đề xuất với Đảng, Nhà nước hoàn thiện trong chủ trương, đường lối, thể chế hoá phương châm trong hệ thống pháp luật bảo đảm tính đầy đủ, thống nhất, đồng bộ, hình thành cơ chế chặt chẽ, quy trình cụ thể, cách thức tiến hành khoa học, hiệu quả. Rà soát, đề nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cụ thể hoá các quy phạm pháp luật liên quan đến an ninh, trật tự theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.


   Ba là, gắn thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” với đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục  thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Nhân dân nhận thức đầy đủ, đúng đắn quyền làm chủ, vai trò chủ thể của mình, thấy được mục đích hướng tới của công tác đảm bảo an ninh, trật tự là xây dựng một xã hội trật tự, an toàn, lành mạnh, an ninh xã hội, an ninh con người được đảm bảo, thành quả này nhân dân là chủ thể trực tiếp thụ hưởng, từ đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tạo ra sự đồng thuận, ý thức tự giác thực hiện, góp phần triệt tiêu những nguyên nhân, điều kiện hình thành xung đột xã hội, giải quyết một cách căn bản từ gốc nguyên nhân, điều kiện hình thành tội phạm, vi phạm pháp luật, xây dựng xã hội trật tự, kỷ cương, an toàn, lành mạnh, vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.


   Bốn là, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” gắn với công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Xây dựng cơ chế công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật, từ đó có cơ sở pháp lý, điều kiện để nhân dân thực hiện phương châm. Tiếp thu ý kiến đóng góp xác đáng, tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình, giúp đỡ, phát huy sức mạnh vô địch của quần chúng nhân dân, đem lại hiệu quả cao nhất trong nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự. Đẩy mạnh cải cách hành chính trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự theo hướng đơn giản hóa, tạo thuận lợi cho cho nhân dân khi có yêu cầu giải quyết công việc, thực hiện vai trò kiểm tra và giám sát theo quy định của pháp luật, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo của hiệu quả công việc.


    Năm là, trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội phải thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, xây dựng nền an ninh nhân dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Đấu tranh, ngăn chặn, xử lý nghiêm minh hoạt động lợi dụng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” để hoạt động tiêu cực, vi phạm pháp luật, chống phá. Công an nhân dân “dựa vào dân mà công tác, chiến đấu, vì nhân dân mà phục vụ”, từ đó hoàn thành xuất sắc trọng trách được giao, đảm bảo xã hội trật tự, kỷ cương, an ninh, an toàn, lành mạnh, tạo môi trường hòa bình, ổn định, đưa đất nước vào giai đoạn phát triển mới trên con đường thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc”./.

NHẬN THỨC QUAN HỆ XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ

 

          Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: Trong nhận thức và giải quyết các mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi trong đường lối đổi mới của Đảng, cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn, trong đó có mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN(1).

          Quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN là mối quan hệ cơ bản, lớn nhất và có tính chất bao trùm, xuyên suốt toàn bộ sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước. Đây là mối quan hệ giữa hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam phản ánh quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam là dựng nước phải đi đôi với giữa nước.

          Xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) là phát triển toàn diện, vững mạnh tất cả các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội XHCN về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội để nước ta trở thành một nước XHCN phồn vinh, nhân dân có cuộc sống tự do, hạnh phúc, một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Bảo vệ Tổ quốc XHCN là sử dụng tổng hợp các lực lượng và các biện pháp chống lại sự xâm phạm, phá hoại dưới mọi hình thức để giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Bảo vệ Tổ quốc hiện nay được xác định một cách toàn diện là bảo vệ cả mặt tự nhiên – lịch sử và mặt chính trị - xã hội, là đảm bảo cả an ninh sinh tồn và an ninh phát triển của đất nước trong một chỉnh thể thống nhất.

          Mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN là khách quan, tất yếu, thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề, điều kiện cho nhau, cùng hướng tới một mục tiêu chung là độc lập, tự do, hạnh phúc. Xây dựng và bảo vệ là hai yếu tố, hai mặt thống nhất của một quá trình phát triển. Bất kỳ ở đâu và lĩnh vực nào có hoạt động xây dựng thì ở đó đều có hoạt động bảo vệ và ngược lại, ở đâu và lĩnh vực nào có hoạt động bảo vệ, thì ở đó có hoạt động xây dựng.

Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ được mới có đất nước để xây dựng; có giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định mới có điều kiện để xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước; bảo vệ được Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN, bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo vệ nền văn hóa dân tộc mới có tiền đề, điều kiện để xây dựng và phát triển đất nước theo con đường XHCN. Đồng thời, ngược lại, có xây dựng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao sức mạnh tổng hợp, thế và lực của đất nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân mới có nguồn lực để đầu tư củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước; tăng cường được sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc; tạo được sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế... Đây là những yếu tố có vai trò và ý nghĩa quyết định đối với việc bảo vệ Tổ quốc XHCN.

          Xây dựng là một phương thức hữu hiệu để bảo vệ Tổ quốc. Phát huy vai trò xây dựng để bảo vệ Tổ quốc, nêu cao trách nhiệm mọi lực lượng trong bảo vệ trong xây dựng đất nước; khắc phục tụt hậu về kinh tế là một trong những phương thức bảo vệ chế độ XHCN quan trọng nhất; đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ và tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng là ngăn chặn, đẩy lùi, đi đến triệt tiêu những “nhân tố tự hủy” ngay trong lòng chế độ là một trong những phương thức bảo vệ Tổ quốc có hiệu quả nhất để giữ bản chất chế độ XHCN. Xây dựng các yếu tố của CNXH, làm cho nó phát triển vững chắc, thể hiện rõ tính ưu việt và tiến bộ của CNXH, không để đất nước đi chệch định hướng XHCN chính là một mục tiêu quan trọng của bảo vệ Tổ quốc XHCN.

          Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở nước ta hiện nay đang diễn ra trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Hội nhập quốc tế trước hết và cơ bản là hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời là hội nhập trên tất cả lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Hội nhập quốc tế chính là một hình thức phát triển cao của hợp tác quốc tế nhằm đạt được một mục tiêu hoặc lợi ích chung nào đó. Đây là quá trình liên kết, gắn kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ với nhau thông qua việc tham gia các tổ chức, thiết chế, cơ chế, hoạt động hợp tác quốc tế vì mục tiêu phát triển của bản thân mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ đó và nhằm tạo thành sức mạnh giải quyết những vấn đề chung mà các quốc gia, các lực lượng xã hội cùng quan tâm.

Hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta đã và đang phát triển sâu, rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức,bằng việc ký kết nhiều hiệp định thương mại song phương, đa phương thế hệ mới; xuất, nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư nước ngoài tăng mạnh, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế và sự phát triển của đất nước.Trong hội nhập quốc tế thì hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập các lĩnh vực khác tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập kinh tế và góp phần tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố quốc phòng, bảo đảm an ninh quốc gia.

          Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN; bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.

Trải qua 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, tư duy lý luận, nhận thức và chỉ đạo thực tiễn của Đảng về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN đã phát triển toàn diện và sâu sắc hơn, góp phần đưa sự nghiệp đổi mới giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.

Thủ tướng chỉ đạo triển khai chương trình "Sóng và điện thoại cho em"

Để kịp thời hỗ trợ việc học tập theo hình thức trực tuyến và thúc đẩy phát triển xã hội số, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính giao Bộ Thông tin và Truyền thông khẩn trương xây dựng và triển khai chương trình “Sóng và điện thoại cho em”, hỗ trợ việc học tập theo hình thức trực tuyến, thúc đẩy phát triển xã hội số. Văn phòng Chính phủ vừa có văn bản 6218/VPCP-KGVX truyền đạt ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính về xây dựng và triển khai Chương trình “Sóng và điện thoại cho em”. Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 3/9/2021 về việc đẩy mạnh triển khai các nhiệm vụ, giải pháp tổ chức dạy học an toàn, bảo đảm chương trình và mục tiêu chất lượng giáo dục, đào tạo ứng phó với đại dịch COVID-19. Tại chỉ thị này, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu địa phương đang có dịch và thực hiện Chỉ thị số 15/CT-TTg và Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ trước mắt tổ chức dạy học trực tuyến; ưu tiên nguồn lực hỗ trợ học sinh khó khăn không có phương tiện học tập trực tuyến, bảo đảm công bằng trong tiếp cận phương thức dạy và học mới. Thủ tướng cũng yêu cầu Bộ Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các nhà xuất bản cung cấp sách giáo khoa (cả bản điện tử) đầy đủ, thuận lợi cho học sinh khi bước vào năm học mới, nhất là tại các địa phương tổ chức học trực tuyến. Hướng dẫn xây dựng hệ thống đề thi, bài kiểm tra, ngân hàng câu hỏi phục vụ tổ chức thi, kiểm tra đánh giá theo hình thức trực tuyến một cách phù hợp. Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành hướng dẫn về sử dụng an toàn các phần mềm, công cụ dạy học trực tuyến; chỉ đạo các tập đoàn, doanh nghiệp viễn thông, công nghệ thông tin nghiên cứu, phát triển các giải pháp, nền tảng dạy và học trực tuyến, học liệu số; hỗ trợ các nhà trường, học sinh, giáo viên tiếp cận hạ tầng số, dịch vụ truy nhập Internet tốc độ cao an toàn, dễ sử dụng; chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông xem xét miễn giảm giá cước truy cập Internet cho học sinh, sinh viên và giáo viên, giá cước sử dụng giải pháp phục vụ giáo dục, đào tạo và quản lý giáo dục cho các nhà trường, giá dịch vụ thuê máy chủ, băng thông phục vụ đào tạo từ xa cho các trường đại học. Trước đó, tại cuộc họp báo Chính phủ thường kỳ chiều 6/9, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho rằng với 20 triệu học sinh, sinh viên, chỉ cần 2 triệu lượt truy cập cùng lúc thì rất khó để đường truyền đảm bảo được. Trả lời câu hỏi của báo chí về khó khăn trong việc dạy học trực tuyến, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn cho rằng 2 khó khăn lớn nhất là thiết bị và đường truyền. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng cho rằng phương án khác trong việc dạy và học được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa ra là hướng dẫn các trường thực hiện, tận dụng các bài giảng điện tử, bài học điện tử để học sinh học ở nhà. Hiện Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chuẩn bị một kho học liệu rất lớn. Riêng với lớp 1, đã có video bài học cho môn Tiếng Việt và Tiếng Anh khá đầy đủ. Các bài giảng video cũng đã phát trên kênh truyền hình quốc gia. Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh, sau dịch bệnh, với những nơi không có học liệu tốt thì cần các giáo viên dạy phụ đạo thêm để có chất lượng tốt nhất. Ông Sơn cũng nhắc lại tinh thần của Bộ Giáo dục và Đào tạo là không lùi năm học. Nơi nào có điều kiện thì cố gắng duy trì năm học. “Cố gắng giai đoạn này tận dụng cái gì đang có để dạy và học thật tốt”, Thứ trưởng Hoàng Minh Sơn nói. Theo phản ánh của các bậc phụ huynh và học sinh, trong sáng 6/9, chỉ sau một ngày khai giảng năm học mới 2021-2022, không chỉ phụ huynh lo lắng về chất lượng dạy mà ngay cả giáo viên cũng cảm thấy khó khăn về đường truyền internet hay bị ngắt quãng. Nhiều phụ huynh cho rằng, đường truyền không ổn định, nghe bập bõm chữ được chữ không. Học sinh liên tục nhắn tin hỏi giáo viên về bài giảng nên giáo viên cũng gặp nhiều khó khăn trong giảng dạy.