Thứ Bảy, 11 tháng 9, 2021

 CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC KHÔNG CHÙNG XUỐNG TRONG BẤT CỨ HOÀN CẢNH NÀO

Năm 2021, mặc dù có nhiều khó khăn, nhất là đại dịch Covid-19 diễn biến rất phức tạp, ảnh hưởng lớn đến đời sống của nhân dân và tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng công tác phòng, chống tham nhũng không những không chùng xuống mà còn tiếp tục được đẩy mạnh.
Quyết tâm đó càng thể hiện rõ khi ngày 10/9, Bộ Chính trị đã họp cho ý kiến về Đề án “Sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng chống tham nhũng” và thống nhất tên gọi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (bổ sung từ “tiêu cực”) để bao quát được đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mặc dù đã được lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện quyết liệt, có chuyển biến rõ nét; tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp.
Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trên, theo Tổng Bí thư là do công tác phòng, chống tiêu cực tuy đã được quan tâm chỉ đạo, nhưng còn phân tán, thiếu tính tập trung; chưa gắn kết chặt chẽ giữa phòng chống tham nhũng với phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo để chỉ đạo phòng, chống cả tham nhũng và tiêu cực là hết sức cần thiết, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.
Việc Bộ Chính trị quyết định sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương tiếp tục khẳng định quyết tâm của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực quyết liệt, “không ngừng”, “không nghỉ”, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, đáp ứng yêu cầu, đòi hỏi và sự tin tưởng của nhân dân đối với vai trò lãnh đạo của Đảng.
Để phòng, chống tham nhũng hiệu quả thì kinh nghiệm quốc tế cũng như những bài học rút ra từ thực tiễn đều cho thấy phải thiết lập bằng được cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể tham nhũng", cơ chế phát hiện, xử lý hiệu quả để “không dám tham nhũng” và cơ chế bảo đảm, đãi ngộ hợp lý để “không cần, không muốn tham nhũng". Và trong năm 2021, công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm; nhiều văn bản của Đảng và Nhà nước về quản lý kinh tế- xã hội và phòng, chống tham nhũng tiếp tục được sửa đổi, bổ sung và ban hành mới, chú trọng việc cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; qua đó đã góp phần tháo gỡ những vướng mắc, bất cập từ thực tiễn, khắc phục những hạn chế trong các quy định của pháp luật, tạo cơ sở chính trị- pháp lý đồng bộ, khả thi để phòng, chống tham nhũng hiệu quả.
Quốc hội tiếp tục tăng cường việc bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và đồng bộ của hệ thống pháp luật với nhiều giải pháp mạnh mẽ. Chính phủ, các bộ, ngành, cơ quan hữu quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật về quản lý kinh tế- xã hội và phòng, chống tham nhũng; chỉ đạo tiếp tục hoàn thiện cơ chế phòng ngừa tham nhũng; tăng cường kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật nhằm phát hiện, sửa đổi, bổ sung hoặc kiến nghị sửa đổi, bổ sung những quy định mâu thuẫn, bất cập, chồng chéo, không phù hợp.
Chính vì vậy, Báo cáo của Chính phủ về công tác phòng, chống tham nhũng năm 2021 cho biết, công tác phòng chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả quan trọng, có mặt cao hơn năm trước, sự phối hợp đồng bộ giữa công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực ngày càng chặt chẽ, có hiệu quả.
Điểm quan trọng là gắn phòng chống tham nhũng với công tác tổ chức, cán bộ, xử lý nghiêm sai phạm theo quy định về kỷ luật của Đảng, Nhà nước và xử lý hình sự; khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, “không ngừng”, “không nghỉ”, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Điều đó càng được thể hiện rõ khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa họp xem xét kết quả kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm, đề nghị kỷ luật và quyết định thi hành kỷ luật hàng loạt cán bộ cả đương nhiệm và đã nghỉ công tác.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy tình trạng cán bộ, công chức lợi dụng kẽ hở về cơ chế, chính sách, pháp luật, vị trí công tác để nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp vẫn tiếp tục diễn ra trên nhiều lĩnh vực, nhất là ở cơ sở; tình hình tội phạm tham nhũng trong cơ quan bảo vệ pháp luật, cơ quan có nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng vẫn còn.
Các nghiên cứu từ cơ quan của Quốc hội cho rằng một số loại tội phạm về kinh tế, tham nhũng có chiều hướng gia tăng, tiềm ẩn nguy cơ “lợi ích nhóm”, “sân sau”. Đáng lưu ý là đã phát sinh một số tội phạm tham nhũng liên quan đến công tác phòng, chống dịch COVID-19 với một số hành vi phổ biến như: mua bán, đấu thầu trang thiết bị phòng bệnh, lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để trục lợi.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nêu rõ, phạm vi, trọng tâm thời gian tới là chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng; phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong phạm vi cả nước; trực tiếp chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm.
Chú trọng phòng, chống tham nhũng đồng thời không xem nhẹ, bỏ lọt các hành vi tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức. Quyết tâm "không ngừng, không nghỉ, không có ngoại lệ" trong công tác rất quan trọng này chắc chắn sẽ tiếp tục được thể hiện trong bất cứ hoàn cảnh nào./.


5 năm phán quyết ở Biển Đông: Giá trị lịch sử không bị lãng quên

 

5 năm phán quyết ở Biển Đông: Giá trị lịch sử không bị lãng quên

Nhận định việc Tòa Trọng tài ra phán quyết về vấn đề Biển Đông, nhiều chuyên gia cho rằng đây là một sự kiện mang tính lịch sử. Đặc biệt trong việc ra tuyên bố nhân Kỷ niệm 5 năm Phán quyết ở Biển Đông, dù có những điểm giống và khác nhau giữa tuyên bố của các nước, song nhìn tổng thể, theo đánh giá của các chuyên gia, đây vẫn là diễn biến tích cực và đáng hoan nghênh, nhất là từ phía Việt Nam, bởi điều này cho thấy phán quyết Biển Đông không bị lãng quên, giá trị của phán quyết không bị xói mòn

Ngày 12/7/2016, Tòa Trọng tài Quốc tế thành lập theo Phụ lục VII của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982 ở La Hay (gọi tắt là toà PCA) đã ra phán quyết về vụ Philippines kiện Trung Quốc liên quan đến vấn đề Biển Đông (gọi tắt là Vụ kiện Biển Đông). Theo đó, Bắc Kinh không có “quyền lịch sử” ở Biển Đông, không có cơ sở pháp lý cho cái gọi là “đường 9 đoạn”. Tòa cũng kết luận, việc Trung Quốc cải tạo, xây dựng các đảo nhân tạo trên quy mô lớn đã gây ra tác hại nghiêm trọng đến san hô và vi phạm nghĩa vụ của nước này trong việc bảo tồn môi trường biển dễ bị tổn thương. Sau 5 năm, phán quyết này vẫn là dấu mốc quan trọng và là cơ sở hữu ích để giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông.

Những tiếng nói chung

5 năm sau phán quyết, vấn đề Biển Đông vẫn phức tạp và theo các nhà phân tích “vẫn chưa tìm được lối ra khả dĩ”. Đặc biệt, từ cuối năm 2019 tới đầu năm 2021, hàng chục công hàm và văn bản đã được gửi lên Liên hợp quốc, bày tỏ lập trường phản đối yêu sách của Trung Quốc. Các nước như Mỹ, Đức, Pháp, Australia, Nhật Bản, Anh, New Zealand, Việt Nam... đều đã lên tiếng yêu cầu tuân thủ UNCLOS 1982. Nhất là năm 2020, cộng đồng quốc tế chứng kiến một cuộc chạy đua trong “cuộc chiến công hàm” - theo cách gọi của giới truyền thông - giữa các nước có liên quan đến Biển Đông.

Cũng cần nhấn mạnh rằng, mặc dù danh sách các nước lên án hành vi của Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông ngày càng kéo dài, song không phải tất cả đều có mức độ phản đối giống nhau đối với Bắc Kinh. Nhưng theo các chuyên gia, dù đưa ra các lập luận khác nhau, nhưng có một khía cạnh mà hầu hết các quốc gia đều nhất trí, đó là bác bỏ tuyên bố của Trung Quốc về “quyền lịch sử” hay “các quyền và lợi ích hàng hải” ở Biển Đông. Quan điểm này được đưa ra dựa trên phán quyết về Biển Đông của Tòa Trọng tài năm 2016. Theo phán quyết, yêu sách của Trung Quốc về "các quyền lịch sử" đối với các vùng biển nằm trong cái gọi là "đường 9 đoạn" mà nước này tự vẽ ra là trái với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS).

Trước thềm kỷ niệm 5 năm Tòa Trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông ra phán quyết cuối cùng, ngày 25/6/2021, Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin Jr. đã tuyên bố: “Ngày kỷ niệm là một dịp để nhìn lại quá khứ, đánh dấu thành tựu của hiện tại, nhìn về tương lai và tìm cách làm việc cùng nhau vì lợi ích chung, vì không thể đạt được lợi thế nhỏ nào nếu vi phạm nó”. Cũng trong tuyên bố này, Ngoại trưởng Locsin nhắc lại phát biểu mạnh mẽ của Tổng thống Duterte, nêu bật nội dung chính của phán quyết và ý nghĩa của nó. Ông nhấn mạnh: “Phán quyết đã giải quyết dứt điểm về tình trạng, địa vị của các quyền lịch sử và các thực thể ở Biển Đông. Theo phán quyết, không có hiệu lực pháp lý đối với những yêu sách vượt quá giới hạn địa lý và thực chất của các thực thể theo UNCLOS… Phán quyết đã phá tan đường chín đoạn cùng những thứ khác… Vì vậy, phán quyết của Tòa Trọng tài đã trở thành và tiếp tục là một cột mốc trong văn kiện luật quốc tế”.

Tiếp sau đó, hàng loạt tuyên bố đã được các nước đưa ra nhân Kỷ niệm 5 năm Tòa Trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông ra phán quyết cuối cùng. Những tuyên bố về Biển Đông này có những điểm chung, điểm riêng và cả những khác biệt so với tuyên bố của chính những nước này 5 năm trước. Điều này thể hiện những bước chuyển chính sách rõ rệt trong vấn đề Biển Đông. Nhìn chung, các nước nhất quán ủng hộ phán quyết, coi văn bản có giá trị ràng buộc đối với Philippines và Trung Quốc. Tất cả các tuyên bố đều đề cao tầm quan trọng của luật quốc tế, cụ thể là UNCLOS năm 1982 trong việc duy trì hòa bình và ổn định tại Biển Đông. Và điều quan trọng, các nước đều đưa ra tuyên bố rất kịp thời và hầu như đều thông qua kênh Bộ Ngoại giao.

Cụ thể, tuyên bố kỷ niệm 5 năm ngày Tòa Trọng tài ra Phán quyết ngày 12/7/2021, Bộ trưởng Quốc phòng Philippines Delfin Lorenzana coi đây là dấu mốc trong lịch sử Philippines. Cùng ngày trên Twitter, Đại sứ Đức Anke Reiffenstuel tại Philippines nhấn mạnh Philippines đã tạo ra lịch sử với Phán quyết của Tòa; trật tự biển dựa trên luật lệ, gồm UNCLOS, giúp đảm bảo sự ổn định và hợp tác quốc tế.

Trước đó, ngày 11/7/2021, Bộ Ngoại giao Canada ra tuyên bố: “Nhân kỷ niệm 5 năm Phán quyết của Tòa Trọng tài, Canada tái khẳng định các bên liên quan cần tuân thủ Phán quyết. Đây là một dấu mốc lịch sử và cơ sở quan trọng để giải quyết tranh chấp trên Biển Đông”.

Trong khi đó, trong một tuyên bố cùng ngày 11/7/2021, Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken ngày 11/7/2021 nhận định “Trật tự biển quốc tế đang gặp thách thức lớn nhất ở Biển Đông”, đồng thời nhấn mạnh rằng, “Trung Quốc có nghĩa vụ tuân thủ Phán quyết.” Ngoại trưởng Blinken khẳng định bất cứ cuộc tấn công nào vào lực lượng quân sự, tàu thuyền hay máy bay của Philippines ở Biển Đông, Mỹ can thiệp theo Hiệp ước phòng thủ giữa hai nước.

Nhân kỷ niệm 5 năm Phán quyết, Ngoại trưởng Australia Marise Payne ngày 12/7/2021 tuyên bố: “Phán quyết là chung thẩm và có giá trị ràng buộc với cả Trung Quốc và Philippines. Tòa xác định việc Trung Quốc tuyên bố quyền lịch sử hay quyền lợi biển dựa trên thực tiễn lịch sử ở Biển Đông đi ngược lại UNCLOS và không có giá trị. Australia tiếp tục ủng hộ các nước giải quyết hòa bình tranh chấp phù hợp luật quốc tế”.

Tuyên bố của Ngoại trưởng Nhật Bản Motegi Toshimitsu ngày 12/7/2021 khẳng định: “Vì Phán quyết của Tòa năm 2016 là chung thẩm và ràng buộc đối với các bên tranh chấp, Philippines và Trung Quốc cần tuân thủ Phán quyết. Việc Trung Quốc tuyên bố không chấp nhận Phán quyết đi ngược lại nguyên tắc giải quyết tranh chấp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS, và phương hại tới thượng tôn pháp luật”.

Phát biểu tại Diễn đàn toàn cầu tương lai Trung Quốc ngày 12/7/2021, Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng điều phối chính sách kinh tế Singapore Heng Swee Keat khẳng định các nước lớn hay nhỏ phải hành xử trong khuôn khổ của luật pháp quốc tế, bao gồm giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông theo luật pháp, bao gồm UNCLOS năm 1982.

Còn Phái đoàn EU tại Philippines, nhân Kỷ niệm 5 năm Phán quyết, ngày 12/7/2021 đã đăng Twitter: “Những gì xảy ra tại Biển Đông có ý nghĩa quan trọng với EU, ASEAN và toàn thế giới. EU nhấn mạnh tầm quan trọng của việc gìn giữ và thúc đẩy hòa bình, an ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải, hàng không tại Biển Đông”.

Việt Nam khẳng định quan điểm nhất quán, xuyên suốt, không thay đổi trong vấn đề Biển Đông

Ngày 12/7/2016, nhân dịp Tòa Trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông ra phán quyết cuối cùng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao lúc đó là ông Lê Hải Bình đã cho biết quan điểm của Việt Nam như sau:

“Việt Nam hoan nghênh việc Tòa Trọng tài đã đưa ra phán quyết cuối cùng ngày 12/7/2016. Việt Nam sẽ có tuyên bố về nội dung phán quyết.

Việt Nam một lần nữa khẳng định lập trường nhất quán của mình về vụ kiện này như đã được thể hiện đầy đủ trong Tuyên bố ngày 5/12/2014 của Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi Tòa Trọng tài. Trên tinh thần đó, Việt Nam ủng hộ mạnh mẽ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe dọa sử dụng vũ lực theo quy định của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, duy trì hòa bình, ổn định trong khu vực, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không ở Biển Đông, tôn trọng nguyên tắc thượng tôn pháp luật trên các vùng biển và đại dương.

Nhân dịp này, Việt Nam tiếp tục khẳng định chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, chủ quyền đối với nội thủy và lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam được xác định phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, cũng như tất cả các quyền và lợi ích pháp lý của Việt Nam liên quan đến các cấu trúc địa lý thuộc hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.

Ngày 12/7/2021, nhân Kỷ niệm 5 năm Tòa Trọng tài trong Vụ kiện Biển Đông giữa Philippines và Trung Quốc ra phán quyết cuối cùng, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho biết:

“Lập trường của Việt Nam về việc giải quyết các tranh chấp liên quan ở Biển Đông là rõ ràng và nhất quán, theo đó Việt Nam luôn ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán ở Biển Đông thông qua các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng hoặc đe doạ sử dụng vũ lực, và bằng các giải pháp, biện pháp hoà bình phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982.

Với tư cách là quốc gia thành viên UNCLOS và quốc gia ven Biển Đông, Việt Nam đề nghị tất cả các bên liên quan tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ pháp lý của mình được quy định trong Công ước, cùng nhau hợp tác, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hoà bình, ổn định, an ninh, an toàn, tự do hàng hải và hàng không và trật tự ở Biển Đông dựa trên luật pháp quốc tế.

Nhân dịp này, Việt Nam cũng khẳng định lại lập trường nguyên tắc của mình về vấn đề chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và các vùng biển thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam được xác định trên cơ sở UNCLOS năm 1982”.

Hai phát ngôn có nội dung gần như tương tự nhau, thể hiện quan điểm của Việt Nam về Vụ kiện Biển Đông và về Phán quyết là nhất quán, xuyên suốt và không thay đổi.

Thứ nhất, Việt Nam nhất quán quan điểm chỉ sử dụng các biện pháp hòa bình để giải quyết tranh chấp quốc tế, không đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương Liên hợp quốc và Công ước Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Quan điểm này phù hợp với hai trong bảy nguyên tắc cơ bản của luật quốc tế: Nguyên tắc hòa bình giải quyết tranh chấp và nguyên tắc cấm đe dọa sử dụng hay sử dụng vũ lực. Hai nguyên tắc này tồn tại trong tập quán quốc tế ràng buộc tất cả các quốc gia, đồng thời được quy định cụ thể trong Hiến chương Liên hợp quốc (Điều 2) và UNCLOS (Điều 279 và 301). Thứ hai, Việt Nam ủng hộ và sẵn sàng sử dụng tất cả các biện pháp hòa bình phù hợp với luật pháp quốc tế để giải quyết tranh chấp Biển Đông, bao gồm cả biện pháp ngoại giao và biện pháp pháp lý. Thứ ba, hai phát ngôn nhắc lại rằng Việt Nam có chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, và có các quyền trên biển phù hợp với UNCLOS. Và cuối cùng, Việt Nam mong muốn duy trì Biển Đông là một vùng biển của luật pháp quốc tế.

Nhận định việc Tòa Trọng tài ra phán quyết về vấn đề Biển Đông, nhiều chuyên gia trong nước và quốc tế tại thời điểm đó và hiện tại sau 5 năm nhìn lại, đều cho rằng đây là một sự kiện mang tính lịch sử. Đặc biệt trong việc ra tuyên bố nhân Kỷ niệm 5 năm Phán quyết ở Biển Đông, dù có những điểm giống và khác nhau khi so sánh giữa tuyên bố của các nước, song nhìn tổng thể, các chuyên gia về Biển Đông cho rằng, đây vẫn là diễn biến tích cực và đáng hoan nghênh, nhất là từ phía Việt Nam, bởi điều này cho thấy phán quyết Biển Đông không bị lãng quên, giá trị của phán quyết không bị xói mòn.

 

Cuộc chiến chống khủng bố bắt đầu tại Mỹ sau vụ khủng bố ngày 11/9

    Ngày 11/9/2001 là một điểm mốc lớn trong lịch sử nước Mỹ, khi gần 3.000 người thiệt mạng bởi một cuộc tấn công chưa từng có về quy mô khủng bố, cũng là cuộc tấn công lớn nhất của thực thể nước ngoài chống lại quốc gia lại hùng mạnh này. Sự kinh hoàng và nỗi sợ hãi của sự kiện không chỉ giới hạn trong vài tháng, vài năm mà đã phủ một cái bóng đen lên cuộc sống của người Mỹ và kéo dài cho đến ngày nay.

    Sau vụ tấn công, sự kết hợp của nỗi sợ hãi và sự thừa nhận các thất bại tình báo của công tác đã dẫn đến một loạt các thay đổi chính sách bao gồm các hạn chế về nhập cư, thành lập Bộ An ninh Nội địa và mở rộng danh sách “cấm bay”. Tuy nhiên, đó mới chỉ là khởi đầu, và dưới đây là 5 cách quan trọng mà nước Mỹ đã thay đổi sau vụ 11/9.

    Phát biểu trước Quốc hội và người dân ngày 20/9/2001, Tổng thống Mỹ George W. Bush đã đưa ra một phản ứng quân sự, không phải là một cuộc không kích có chủ đích vào một cơ sở huấn luyện hoặc hầm chứa vũ khí đơn lẻ, mà là một cuộc chiến tranh chống khủng bố toàn cầu. Ông Bush nói: “Cuộc chiến chống khủng bố của chúng ta bắt đầu với al Qaeda, nhưng nó không kết thúc ở đó, nó sẽ không kết thúc cho đến khi mọi nhóm khủng bố có phạm vi toàn cầu bị phát hiện, ngăn chặn và đánh bại".

    Chưa đầy một tháng sau ngày 11/9, quân đội Mỹ đã phát động chiến dịch quân sự kéo dài nhất trong lịch sử nước Mỹ. Cuộc chiến ở Afghanistan có sự ủng hộ của người Mỹ và sự hậu thuẫn của các đồng minh NATO nhằm tiêu diệt al Qaeda, đè bẹp Taliban và tiêu diệt Osama bin Laden - kẻ chủ mưu vụ tấn công 11/9.

    Sự ủng hộ của người Mỹ đối với cuộc chiến chống khủng bố trở nên hỗn tạp khi kéo dài trong nhiều năm với nỗ lực nhằm vào nhiều tổ chức khủng bố và các chế độ bất hảo trên khắp thế giới. Hàng nghìn lính Mỹ đã thiệt mạng trong 2 thập kỷ đầu tiên của cuộc chiến chống khủng bố, nhiều chiến binh trở về nhà với những vết thương về thể chất và tâm lý. Tuy nhiên, bóng ma vụ 11/9, đã giữ chân quân đội Mỹ ở Afghanistan và các nơi khác trong gần 20 năm.

20 NĂM SAU VỤ 11-9: NỖI ĐAU VÀ NƯỚC MẮT CỦA NHỮNG NẠN NHÂN SỐNG SÓT

Những người có mặt tại Tòa tháp đôi ở New York khi xảy ra vụ khủng bố ngày 11-9-2001 đã tiết lộ chi tiết về ngày kinh hoàng hôm đó, đồng thời cho biết sự kiện này đã ảnh hưởng đến cuộc sống của họ sau này như thế nào.
Tổng thống Mỹ Joe Biden đã tuyên bố các ngày từ 10 đến 12-9 năm nay là Ngày tưởng nhớ nhân kỷ niệm 20 năm vụ khủng bố kinh hoàng 11-9-2001. Ngày này được cả thế giới nhớ đến, bởi lúc đó họ đã vô cùng sững sốt khi chứng kiến thảm kịch xảy ra tại thành phố New York. Cuộc sống của những người sống sót từ đó được chia ra thành hai thời điểm khác nhau, trước và sau sự kiện.
Hiện nay Walter Masterson làm thuyền trưởng của một chiếc du thuyền. Tuy nhiên 20 năm về trước, ông từng là một lập trình viên giỏi, làm việc tại trung tâm Manhattan, nơi được mệnh danh là biểu tượng thành đạt của New York và giấc mơ Mỹ. Tuy nhiên, trong vài tháng sau thảm kịch xảy ra, ông không thể thốt lên lời nào về chấn thương của mình, thậm chí nhiều năm sau đó ông cũng không thể nào quên được ngày 11-9 kinh hoàng đó.
“Lúc ấy tôi nghĩ, những kẻ tấn công đang làm nổ tung tòa tháp thứ nhất, trần nhà sẽ đổ sập ngay bây giờ và cần phải làm gì đó. Vậy là tôi chui xuống gầm bàn, nhưng sau đó thì nghĩ, nếu trần nhà sập xuống thì chắc chắn chiếc bàn này cũng sẽ không cứu được”, Walter Masterson kể lại.
Trong tòa tháp thứ nhất này, ngay tầng bên dưới, tại thời điểm đó cũng có một lập trình viên khác là Igor Ratmansky đang làm việc. Hiện ông đã chuyển sang làm thanh tra viên cho tàu điện ngầm thành phố.
“Tôi đang đi dọc hành lang, liền có cảm giác như đang xảy ra động đất, lập tức nhìn ra ngoài cửa sổ tôi thấy có thứ gì đó từ trên trời lao xuống. Một đồng nghiệp của tôi hét lên: Tất cả hãy rời khỏi đây!”, Igor Ratmansky nhớ lại.
Cả Walter Masterson và Igor Ratmansky đều không thể lý giải được làm sao mà họ lại sống sót. Cả hai người cùng làm một nghề, số phận của họ giống nhau đến kinh ngạc, mặc dù trước đó họ chưa từng gặp mặt nhau. Nhưng hiện giờ họ có chung một ký ức khủng khiếp nhất về sự kiện hôm đó.
“Nhiều người rơi xuống và va đập khi chạm đất. Mọi người ngồi trên bậu cửa sổ, rồi sau đó một lúc họ bắt đầu nhảy xuống. Một số thậm chí còn nắm tay nhau cùng rơi”, Walter Masterson chia sẻ thời khắc đáng sợ của thảm kịch.
Chiếc máy bay thứ hai lao vào theo đường bay nghiêng. Bên trong một cầu thang của tòa nhà mọi người chen lấn nhau để chạy xuống dưới. Trong khi đó, chiếc máy bay thứ nhất đã đâm xuyên qua tòa tháp phía Bắc và tại đó có những người đang mắc kẹt ở các tầng trên.
Hai mươi năm qua, Igor Ratmansky luôn né tránh trả lời báo chí về những gì đã xảy ra. Đến nay ông vẫn chưa thể lấy lại sức lực và cũng chưa hề quay trở lại nơi từng xảy ra thảm kịch.
“Mọi người xung quanh khóc nức nở, có một cảnh sát đi ngang qua, tôi liền hỏi: “Tòa tháp thứ hai ở đâu vậy?” Và rồi tòa nhà bắt đầu đổ sụp xuống như trong một bộ phim đáng sợ… Tôi thường tắt tivi khi trên màn hình chiếu lại những hồi ức ngày 11-9. Tôi không thể nào xem được”, Igor Ratmansky chia sẻ.
Trên hai lục địa, người ta bày tỏ sự đau xót đối với những nạn nhân của thảm kịch đến từ các nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ. Tại quận Brooklyn của thành phố New York, cộng đồng người Nga đã dựng tượng đài ghi tên những người nói tiếng Nga tử nạn trong vụ khủng bố, trong đó có Alexander Lygin, lập trình viên tài năng gặp nạn khi mới 28 tuổi.
Lúc đó Alexander đang chuẩn bị cho đám cưới của mình sẽ diễn ra vào tháng 10. Nhưng ngày định mệnh ấy đã thay đổi cuộc đời của tất cả mọi người. Ngay sau khi máy bay đâm vào tòa tháp thứ nhất, Alexander đã gọi điện cho Anna và nói rằng, mọi thứ đều ổn với anh. Thế nhưng từ đó, anh đã không bao giờ trở về nhà nữa.
“Alexander lẽ ra đã không có mặt ở đó. Sáng hôm đó anh ngủ quên và trễ giờ làm. Vì thế, chúng tôi đã gom tiền lẻ để anh ấy đi taxi cho kịp đến cơ quan. Nếu như hôm đó không đi taxi, thì anh đã đi bằng tàu điện ngầm và có thể đã đến muộn hơn. Nhưng thật không may, anh ấy đã đến đúng lúc xảy ra thảm kịch”, cô Anna Klekl, vợ sắp cưới khi đó của lập trình viên Alexander Lygin, nhớ lại.
Vào lúc 9 giờ 37 phút sáng, chiếc máy bay thứ ba đâm vào cánh phía tây của Lầu Năm Góc. Trong khi đó, hành khách của chiếc máy bay thứ tư đã chống trả những kẻ khủng bố, và lúc 10 giờ 3 phút nó rơi xuống một cánh đồng ở bang Pennsylvania. Lúc ấy con gái của lập trình viên Igor Ratmansky đang theo học tại đó. Mọi tin tức về sự kiện này, ông chỉ còn nhớ được qua lời kể của những người chứng kiến.
Hơn một triệu tấn bê tông và thép đã bị đổ sập và vỡ vụn. Chất độc amiăng và chì vẫn còn lưu lại trong không khí thêm vài tuần sau đó. Số nạn nhân trong các tòa tháp bị sập là gần 3.000 người. Hai mươi năm trôi qua, đến nay người ta vẫn đang tiếp tục xác định danh tính những người đã chết trong vụ khủng bố kinh hoàng ngày 11-9-2001./.

TIẾP TỤC BẢO ĐẢM AN SINH XÃ HỘI CHO NHÂN DÂN; PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19 HIỆU QUẢ HƠN

Sáng 11/9, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính, Trưởng Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch Covid-19 chủ trì cuộc họp trực tuyến của Ban Chỉ đạo với 6 tỉnh, thành phố: Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai, Kiên Giang và Long An, nhằm đánh giá tình hình, bàn giải pháp phòng, chống dịch Covid-19 trong thời gian tới.
Cùng dự có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng; các điểm cầu tại 6 tỉnh, thành phố.
Phát biểu ý kiến mở đầu phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, sau một tuần triển khai chỉ đạo của Ban Chỉ đạo, chúng ta cần đánh giá xem tuần vừa qua việc tổ chức thực hiện biện pháp đạt kết quả như thế nào, cái gì làm được, chưa được, từ đó phân tích nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan để bổ sung, hoàn thiện, trong đó cần đánh giá thêm công tác giám sát, kiểm tra, nhất là của Ban Chỉ đạo các cấp để có thêm các biện pháp, giải pháp hiệu quả phòng, chống dịch; cần đánh giá chung công tác tuyên truyền, vận động một cách sâu sắc, toàn diện để cái gì làm tốt thì phát huy, cái gì còn hạn chế, bất cập thì khắc phục, đặc biệt là phải quan tâm đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; kêu gọi, vận động nhân dân nghiêm túc chấp hành các quy định trong phòng, chống dịch.
Theo Bộ Y tế, đến nay, số lượng vaccine đã có các thỏa thuận, hợp đồng và cam kết tài trợ với tổng số 159,97 triệu liều; trong đó của COVAX là 38,9 triệu liều, mua của AstaZeneca là 30 triệu liều, mua của Pfizer là 51 triệu liều, tài trợ là 25 triệu liều, viện trợ khoảng 15 triệu liều. Dự kiến số lượng vaccine về trong năm 2021 khoảng 138,4 triệu liều.
Hiện số lượng vaccine đã nhận là hơn 34 triệu liều, đã thực hiện tiêm được hơn 27 triệu liều (số vaccine chưa tiêm còn lại tập trung tại một số địa phương đơn vị, trong đó có khoảng 2 triệu liều mới được phân bổ từ ngày 08/9).
Kết quả tiêm ít nhất 1 liều cho nhóm từ 18 tuổi trở lên tại các địa phương: TP Hồ Chí Minh đã tiêm 7,4 triệu liều (đạt 100%); Bình Dương đã tiêm 1,5 triệu liều (đạt 82%); Đồng Nai đã tiêm 1,3 triệu liều (đạt 60%); Long An đã tiêm 1,5 triệu liều (đạt 100%); Hà Nội đã tiêm 4,4 triệu liều (đạt 77%). Riêng số mũi 2 đã tiêm được tại TP Hồ Chí Minh là 896.835 liều (13%) và Hà Nội là 555.481 liều (10%).
Dự kiến từ nay đến cuối năm 2021 sẽ có khoảng 103,4 triệu liều vaccine về Việt Nam, trong đó đến hết tháng 9 về khoảng 22,8 triệu liều, tháng 10 về khoảng 31,2 triệu liều, tháng 11 về khoảng 23,9 triệu liều, tháng 12 về khoảng 25,5 triệu liều.
Hiện chúng ta đang tiếp tục đàm phán với một số nước là 18,9 triệu liều gồm 10 triệu liều với Chính phủ Trung Quốc, 5 triệu với Chính phủ Cuba, 3 triệu liều với Chính phủ Ba Lan, 500.000 liều với Chính phủ Czech và 400.000 liều với Chính phủ Hungary. Bộ Y tế đã và đang đàm phán và trao đổi với các đơn vị để cung ứng vaccine cho năm 2022 theo nguyên tắc bảo đảm tiêm đủ cho toàn bộ dân số từ 5 tuổi trở lên và thực hiện việc tiêm nhắc lại theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Trong tuần qua, chúng ta đã tiếp tục hỗ trợ thêm gần 2 triệu người thụ hưởng chính sách từ Nghị quyết số 68/NQ-CP, nâng tổng số kinh phí hỗ trợ lên 12.900 tỷ đồng (tổng số là gần 16,46 triệu người lao động và gần 376.600 người sử dụng lao động) tại 23 tỉnh, thành phố thực hiện giãn cách xã hội và tăng cường giãn cách xã hội.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang ngồi, đang đứng và trong nhà