Chủ Nhật, 12 tháng 9, 2021

Không lơ là, mất cảnh giác khi chống dịch đạt kết quả bước đầu


          Tình hình dịch Covid-19 tuy đã có những tín hiệu tích cực nhưng vẫn diễn biến phức tạp. Do vậy để sớm trở lại trạng thái bình thường mới, ổn định các hoạt động kinh tế - xã hội vẫn còn rất nhiều việc phải làm.

          Theo báo cáo của Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thanh Long, tỷ lệ mắc mới Covid-19 tại cộng đồng trong tuần qua đã giảm so với tuần trước tại một số địa phương có số mắc cao như: Đà Nẵng giảm 60%, Bình Dương giảm 27%, Long An giảm 3%. Số người chết trung bình theo ngày trên toàn quốc cũng đã giảm 30%, trong đó TP Hồ Chí Minh giảm 30%, Đồng Nai giảm 50%, Long An giảm 30%, Tiền Giang giảm 70%. Dựa trên các tiêu chí kiểm soát dịch, trong số 23 địa phương đang thực hiện giãn cách có tám địa phương (nhóm 1) đang kiểm soát tốt dịch (Hậu Giang, Bạc Liêu, Vĩnh Long, Phú Yên, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau); 12 địa phương (nhóm 2) đang tiếp tục lộ trình thực hiện đạt các tiêu chí kiểm soát dịch (Cần Thơ, Long An, Tiền Giang, Đồng Nai, Đồng Tháp, Hà Nội, Khánh Hòa, Đà Nẵng, Tây Ninh, Bình Phước, An Giang, Bà Rịa - Vũng Tàu); nhóm cần tiếp tục nỗ lực, triển khai quyết liệt các giải pháp phòng, chống dịch (nhóm 3) để có thể thực hiện được các tiêu chí kiểm soát dịch còn ba địa phương (TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Kiên Giang).

          So với tuần trước, các địa phương thực hiện tốt hơn công tác kiểm soát dịch là: Vĩnh Long, Trà Vinh, chuyển từ nhóm 2 lên nhóm 1; Long An, Tiền Giang chuyển từ nhóm 3 lên nhóm 2. Riêng Kiên Giang có số ca mắc mới trong cộng đồng gia tăng (69,7%) so với tuần trước đó (chuyển từ nhóm 2 xuống nhóm 3). Tại TP Hồ Chí Minh, trong tuần qua tình hình dịch Covid-19 giảm rõ rệt trên cả hai tiêu chí: số mắc trong cộng đồng và số người chết, giảm 30%. Các quận, huyện đã kiểm soát được dịch là quận 7, Củ Chi và Cần Giờ. Trên địa bàn tỉnh Bình Dương, số ca mắc và số người chết tiếp tục giảm. Còn tại Hà Nội sẽ ghi nhận một số ca mắc, chùm ca bệnh rải rác trong cộng đồng, vẫn sẽ còn các ca lây nhiễm không rõ nguồn lây... cho nên cần đẩy nhanh tốc độ xét nghiệm để phát hiện sớm các ca nhiễm trong cộng đồng.

          Đáng chú ý, công tác xét nghiệm đang được đẩy mạnh đã phát huy vai trò là then chốt trong phòng, chống dịch. Xét nghiệm thần tốc toàn dân, nhanh hơn tốc độ lây lan của vi-rút trong thời gian thực hiện giãn cách xã hội, tăng cường giãn cách xã hội; xét nghiệm nhiều vòng (1 vòng trong 2 đến 3 ngày) tại các khu vực nguy cơ cao, nguy cơ rất cao từ đó phát huy hiệu quả trong việc phát hiện sớm nguồn lây, cách ly, khoanh vùng, dập dịch kịp thời, hạn chế giãn cách xã hội kéo dài, trên phạm vi rộng và tổ chức chăm sóc, điều trị người nhiễm Covid-19 phù hợp, hiệu quả. Trong tuần qua, cả nước tiến hành xét nghiệm RT-PCR cho 5,2 triệu lượt người, tăng 7,4% so với tuần trước, và chủ yếu tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Tỷ lệ ca dương tính trên tổng số người xét nghiệm trong cộng đồng trong cả nước giảm từ 1,9% xuống còn 1,6%, trong đó, một số tỉnh có số mắc cao, tỷ lệ này cũng giảm mạnh là: TP Hồ Chí Minh (giảm từ 3,7% xuống 1,4%), Long An (giảm từ 2% xuống 0,5%), Tiền Giang (giảm từ 1,2% xuống 0,2%)… Các địa phương đã triển khai xét nghiệm cơ bản đạt tiến độ theo yêu cầu, TP Hồ Chí Minh, Bình Dương, Long An, Đồng Nai các vùng đỏ đã được quét xét nghiệm đến lần thứ 3 và tỷ lệ hiện nhiễm qua 3 vòng xét nghiệm giảm rõ rệt. Riêng quận 7, huyện Củ Chi và Cần Giờ tại TP Hồ Chí Minh gần như không phát hiện thêm ca nhiễm mới sau 5 vòng xét nghiệm.

          Thống kê cho thấy số người mắc mới Covid-19 trong tuần qua vẫn dao động từ 12 nghìn đến 14 nghìn ca/ngày, đến 18 giờ ngày 11/9 cả nước có 601.349 ca nhiễm Covid-19, đứng thứ 49 trong tổng số 222 quốc gia và vùng lãnh thổ. Do vậy công tác ứng phó dịch cần tiếp tục được triển khai mạnh mẽ. Các địa phương tiếp tục quán triệt và triển khai hiệu quả công tác phòng, chống dịch ngay tại xã, phường, thị trấn; khi thực hiện xã, phường, thị trấn phải thật sự là “pháo đài”; người dân phải thật sự là “chiến sĩ”. Đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát để phát hiện, kịp thời xử lý nghiêm các hành vi vi phạm quy định phòng, chống dịch. Đặc biệt cần tránh hai khuynh hướng: lơ là, mất cảnh giác khi phòng, chống dịch mới đạt được kết quả ban đầu và khi đã giãn cách trong thời gian dài; chủ quan, nóng vội muốn mở lại các hoạt động sản xuất, kinh doanh.

          Với tình hình dịch vẫn tiềm ẩn những nguy cơ lây lan, các địa phương cần thực hiện hiệu quả “hai mũi giáp công”: xét nghiệm tầm soát trên diện rộng và tăng độ phủ vắc-xin phòng Covid-19 cho những người từ 18 tuổi trở lên. Tại một số địa phương tốc độ xét nghiệm chậm hơn tốc độ lây lan, không đáp ứng yêu cầu phòng, chống dịch. Bên cạnh đẩy nhanh tốc độ xét nghiệm thì việc xét nghiệm tầm soát trên diện rộng cần triển khai để bóc tách được các ca nhiễm ra khỏi cộng đồng; đồng thời phát hiện sớm nguồn lây nhiễm để cách ly, khoanh vùng, dập dịch, không để tiếp tục lây lan… tránh việc giãn cách kéo dài trên phạm vi rộng, ảnh hưởng đến đời sống người dân. Để giảm thời gian giãn cách, phải phát hiện bằng được, tầm soát bằng được các trường hợp lây nhiễm trong cộng đồng, cách ly, khoanh vùng, dập dịch một cách triệt để, từ đó nới lỏng dần dần việc giãn cách để đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới.

          Mặc dù đã có gần 60% số ca mắc Covid-19 được công bố khỏi bệnh, nhưng cũng đã có 15.018 người chết, chiếm tỷ lệ 2,5% so với tổng số ca mắc và cao hơn 0,4% so với tỷ lệ người chết do Covid-19 trên thế giới (2,1%). Do vậy, nâng cao hiệu quả điều trị để giảm người chết cần được các địa phương chú trọng hơn nữa. Tập trung điều trị sớm tại gia đình, trạm y tế cũng như khu cách ly tập trung, bệnh viện dã chiến... hạn chế thấp nhất tình trạng bệnh chuyển nặng phải đưa vào các trung tâm hồi sức tích cực.

          Không kể các địa phương vẫn đang là “điểm nóng” thì tại 12 tỉnh Tây Nam Bộ, tình hình dịch cơ bản đang từng bước kiểm soát, tuy nhiên vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xuất hiện các ổ dịch trong cộng đồng. Do đó, các địa phương tuyệt đối không được chủ quan, lơ là, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch và thường xuyên xét nghiệm tầm soát phát hiện sớm, xử trí kịp thời. Đáng chú ý, trong bảy ngày qua, số mắc trong khu phong tỏa chiếm 22,1%, ở khu cách ly chiếm 41,9%... cho nên các tỉnh cần rà soát lại, bắt tay ngay vào chống dịch với các giải pháp căn cơ trong khu vực phong tỏa, cách ly. Trên cơ sở đánh giá mức độ nguy cơ để áp dụng việc giãn cách xã hội phù hợp... Thực hiện phương án điều trị theo ba tầng, trong đó ưu tiên tầng điều trị thứ 1 và thứ 2, để hạn chế thấp nhất người bệnh chuyển nặng phải chuyển lên tầng 3; đồng thời rà soát lại việc xây dựng và phê duyệt phương án thực hiện cách ly F1, F0 tại nhà… Các địa phương xây dựng, triển khai kế hoạch thực hiện bình thường mới, theo lộ trình phù hợp với tình hình dịch song song với việc tiếp tục thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch, không để dịch bùng phát trở lại.

          Hiện trên địa bàn huyện Bàu Bàng (Bình Dương), các doanh nghiệp đã và đang đưa ra các phương án chuyển đổi tổ chức sản xuất để phù hợp với tình hình giãn cách nới lỏng.

 

Khả năng chống biến thể Delta của 3 loại vắc xin phổ biến


          Hiệu quả của vắc xin Pfizer, Moderna, AstraZeneca phai dần theo thời gian nhưng vẫn ngăn ngừa được nhập viện, tử vong.

          Hơn 90% số ca mắc Covid-19 ở Mỹ nhiễm biến thể Delta tạo nên đợt bùng phát trong hai tháng qua. Ngày càng có nhiều trường hợp đã chủng ngừa nhưng vẫn mắc bệnh dẫn đến câu hỏi về khả năng chống lại biến thể Delta của vắc xin.

          Nhiều nghiên cứu cho thấy, biến thể Delta có thể tránh được một phần kháng thể do vắc xin tạo ra. Như vậy, những người đã tiêm chủng có mức kháng thể bảo vệ chống lại Delta thấp hơn so với các biến thể khác.

          Trang Insider đã xem xét hơn một chục nghiên cứu và thông báo từ các nhà sản xuất vắc xin, tổ chức y tế công cộng và giới khoa học ở nhiều quốc gia để phân tích mức độ hiệu quả của vắc xin Pfizer, Moderna và AstraZeneca chống lại Delta.

          Kết quả đầy hứa hẹn. Trong khi hiệu quả của vắc xin chống lại Covid-19 đang giảm dần theo thời gian, khả năng bảo vệ chống lại bệnh nặng, nhập viện và tử vong vẫn còn cao.

            Vivek Murthy, Tổng Y sĩ Mỹ, đánh giá: “Chúng ta đã may mắn có được vắc xin an toàn và hiệu quả giúp bảo vệ vượt trội khỏi những hậu quả tồi tệ nhất của virus SARS-CoV-2”.

          Hiệu quả của vắc xin đang giảm dần theo thời gian, đó là lý do tại sao Mỹ và nhiều nước khác có kế hoạch tiêm mũi tăng cường.

          Tuy nhiên, biến thể Delta không phải là lý do duy nhất khiến khả năng bảo vệ của vắc xin có vẻ yếu hơn so với cách đây vài tháng.

          Giám đốc Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa dịch bệnh Mỹ (CDC) Rochelle Walensky cho biết, sự gia tăng các ca nhiễm Covid-19 dù đã tiêm phòng có thể do cả khả năng miễn dịch suy yếu và sức mạnh của biến thể Delta.

          Giới chuyên môn đã phát hiện ra khả năng chống lại Covid-19 thể nhẹ hoặc trung bình của vắc xin giảm dần theo thời gian. Theo dữ liệu từ Bộ Y tế Israel, vắc xin Pfizer có hiệu quả 75% ở những người đã tiêm phòng vào tháng 4, trong khi mức bảo vệ đó giảm xuống còn 16% ở những người đã tiêm vào tháng 1.

          Một nghiên cứu của Đại học Oxford (Anh) xem xét những người tiêm vắc xin Covid-19 nhưng vẫn nhiễm bệnh, có tải lượng virus cao. Kết quả cho thấy tiêm Pfizer có hiệu quả 92% trong việc ngăn ngừa nhiễm bệnh với tải lượng virus cao hai tuần sau liều thứ hai. Chỉ số này còn 78% ở mốc ba tháng. Hiệu quả của AstraZeneca giảm từ 69% xuống 61% trong cùng khung thời gian.

          Những phát hiện như vậy, cùng với dữ liệu gần đây từ Pfizer cho thấy, liều thứ ba giúp tăng cường khả năng bảo vệ chống lại biến thể Delta. Hãng dược Pfizer cũng thông báo lần tiêm thứ 3 tạo ra lượng kháng thể chống lại biến thể Delta nhiều hơn từ 5 đến 8 lần.


Chống sùng bái cá nhân


          Sùng bái cá nhân là đề cao đến mực cực đoan, thần thánh hóa, tuyệt đối hóa vai trò cá nhân của người đứng đầu, xem đó là người không ai có thể thay thế được. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thái độ phục tùng tiêu cực, mù quáng; triệt tiêu vai trò của tập thể và quần chúng. Vì thế, phòng chống sùng bái cá nhân được coi là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.

          QUAN ĐIỂM CỦA CÁC NHÀ KINHĐIỂN MÁC - LÊNIN VÀ HỒ CHÍ MINH

          Các nhà kinh điển Mác - Lênin luôn coi tệ sùng bái cá nhân là một hiện tượng hoàn toàn xa lạ với bản chất, mục đích, lý tưởng của giai cấp vô sản; đi ngược lại với lợi ích của tập thể và nhân dân lao động. Hệ lụy của nó là tư tưởng “cuồng tín”, quan liêu mệnh lệnh, “vô hiệu hóa” dân chủ...

          C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I.Lênin luôn đấu tranh không mệt mỏi nhằm chống lại mưu toan đưa tư tưởng và thực tiễn sùng bái cá nhân vào phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

          Trong nhiều bức thư gửi G.B.Svai-xơ và V.Líp-nếch, C.Mác đã phê phán gay gắt sự sùng bái cá nhân. Một trong số đó, ông đã viết: “Sự gia nhập lần đầu tiên của Ăngghen và tôi vào hội bí mật của những người cộng sản diễn ra với một điều kiện không thể thiếu được là phải gạt bỏ khỏi điều lệ tất cả những gì góp phần vào sự mê tín sùng phục những cá nhân có uy tín”.

          Đồng quan điểm của C.Mác, trong Thư của Ph.Ăngghen gửi Bê-ben, bên cạnh việc chỉ ra những sai lầm của một số thành viên trong Ban lãnh đạo Đảng Dân chủ - Xã hội Đức, Ph.Ăngghen đã nhấn mạnh đến ý nghĩa tác phẩm “Phê phán cương lĩnh Gô-ta” của C.Mác đối với việc nâng cao trình độ lý luận - tư tưởng của đảng viên và khắc phục ảnh hưởng của tệ sùng bái cá nhân trong đảng. Theo đó, đảng cần quan tâm nắm vững lý luận cách mạng và sự phát triển của nó, mở rộng các cuộc thảo luận khoa học...

          Nhất quán với quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I.Lênin là một mẫu mực trong đấu tranh với tệ sùng bái cá nhân. Trong tác phẩm Bệnh ấu trĩ ʺtả khuynh” trong phong trào cộng sản, V.I.Lênin phê phán sai lầm của một số người cộng sản “tả khuynh”, do lẫn lộn các khái niệm “lãnh tụ”, “đảng”, “giai cấp”, “quần chúng”, nên đem đảng đối lập với giai cấp, đưa ra những lý lẽ mị dân về “chuyên chính của lãnh tụ” và “chuyên chính của quần chúng”.

          Cùng với triệt để lên án tệ sùng bái cá nhân - điều xa lạ với tinh thần của chủ nghĩa Mác và làm hạ thấp ý nghĩa của đảng, V.I.Lênin cũng kiên quyết lên án những hành động phá hoại sự thống nhất của đảng; lên án một số cá nhân phái “tả” nấp dưới khẩu hiệu “đả đảo lãnh tụ” để chiếm lấy cương vị lãnh đạo và gán ép ý chí cá nhân cho đảng, bỏ qua vai trò và ý kiến tập thể.

          Theo quan điểm duy vật của chủ nghĩa Mác - Lênin, điều tai hại của tệ sùng bái cá nhân trước hết là ở chỗ nó hạ thấp vai trò của nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, hạ thấp vai trò của Đảng Cộng sản là người lãnh đạo tập thể quần chúng nhân dân. Về mặt công tác tư tưởng, tệ sùng bái cá nhân dẫn tới chủ nghĩa giáo điều, bệnh sách vở... Sùng bái cá nhân, thần thánh hóa cá nhân người lãnh đạo sẽ dẫn đến hậu quả là chỉ thấy vai trò quyết định tất cả của cá nhân người đó, phủ nhận cơ bản vai trò của quần chúng và cấp dưới, làm cho họ thiếu tin tưởng, không phát huy được năng lực sáng tạo. Cán bộ mắc “bệnh” sùng bái cá nhân thường đề cao vai trò của bản thân, coi mình trên cả tập thể, cao hơn tập thể; thậm chí còn có tư tưởng đứng trên và ngoài sự kiểm soát của tổ chức. Nguy hiểm hơn, những người này còn có tư tưởng nâng đỡ, đề bạt những kẻ thích xu nịnh, ca tụng, đề cao mình; đồng thời, có hành động khống chế, chèn ép những người trung thực, dám đấu tranh, nói thẳng, nói thật...

          Thực tiễn đấu tranh chống sùng bái cá nhân I.V.Xta-lin của Đảng Cộng sản Liên Xô trước đây đã chứng minh tính tất yếu phải loại bỏ tệ này. Sau khi trở thành lãnh đạo tối cao của Đảng và Nhà nước, mặc dù đã có những cống hiến lớn, song I.V.Xta-lin đã xem thường những lời cảnh báo của các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin. Vì vậy, ở Liên Xô đã xuất hiện tình trạng chủ yếu dựa vào nghe báo cáo, xem công văn, gửi chỉ thị, ra mệnh lệnh để tìm hiểu tình hình và giải quyết vấn đề mà rất ít đi vào thực tế, tiếp xúc quần chúng. Sau thắng lợi của Chiến tranh Vệ quốc, tư tưởng sùng bái đối với I.V.Xta-lin trong Đảng ngày càng nặng, khiến cho lãnh đạo lớp trên khó nghe được ý kiến của quần chúng, ý kiến của cấp dưới cũng khó đến cấp trên. Ngoài dẫn đến sự xa rời nguyên tắc tập thể lãnh đạo, tệ sùng bái cá nhân còn gây nên những vi phạm pháp chế xã hội chủ nghĩa, đưa lại không ít tổn thất cho xã hội Xô-viết. Trước tình hình đó, Đảng cộng sản Liên Xô đã áp dụng các biện pháp nhằm loại trừ những hậu quả của tệ sùng bái cá nhân. Trước hết là nới rộng quyền của tập thể và lãnh đạo trong giải quyết những vấn đề về xây dựng kinh tế và văn hóa; nâng cao vai trò của các Xô-viết ở Trung ương và địa phương, phát huy vai trò của các tổ chức xã hội trong hệ thống chính trị; tiến hành những biện pháp củng cố pháp chế, mở rộng quyền hạn và tự do của công dân...

          Thấu triệt quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn gương mẫu và chủ trương lên án, phê phán mạnh mẽ tệ sùng bái cá nhân. Cùng với đề cao vai trò là chủ, làm chủ của nhân dân, Hồ Chí Minh rất coi trọng vai trò của Đảng, vai trò tập thể lãnh đạo trong việc phát huy dân chủ; khẳng định sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng luôn là yếu tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam... Vì vậy, Người thường xuyên quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Người nhắc nhở: “Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp”. Trong Đảng phải nhất quyết tẩy trừ cho bằng được tư tưởng sùng bái cá nhân, “không thể nào dung túng tệ sùng bái cá nhân và những hậu quả tai hại của nó”(3).

          Trong Lời bế mạc Hội nghị lần thứ chín (mở rộng) của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (tháng 4/1956) khi nói về Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Đại hội đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc Mác - Lênin về việc thực hiện lãnh đạo tập thể và phản đối sùng bái cá nhân… Về vấn đề chống sùng bái cá nhân, chúng ta cần có sự nhận định toàn diện đối với đồng chí Xtalin. Đồng chí Xtalin có công lao to lớn với cách mạng, nhưng cũng có sai lầm nghiêm trọng. Đại hội đã dạy cho chúng ta một bài học phê bình và tự phê bình rất dũng cảm...”.

          Theo Hồ Chí Minh, những thiếu sót và căn nguyên của tệ sùng bái cá nhân là: “Vì chúng ta còn kém về trình độ lý luận và về mặt nắm tình hình thực tế. Vì trong Đảng ta chưa xây dựng hẳn hoi các chế độ công tác thích hợp. Vì dân chủ nội bộ chưa thật mở rộng; vì phê bình và tự phê bình chưa được phát huy, nhất là phê bình từ dưới lên”. Nguyên nhân khách quan dẫn đến tư tưởng sùng bái cá nhân là: “Đảng ta lớn lên trong hoàn cảnh thuộc địa và nửa phong kiến, một nửa nước vừa mới thoát khỏi ách đế quốc và phong kiến, cho nên dễ bị những tư tưởng xấu, tư tưởng không vô sản, ảnh hưởng vào trong Đảng”.

          Hồ Chí Minh chỉ rõ nguyên tắc Mác - Lênin trong lãnh đạo của Đảng và chống sùng bái cá nhân: “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống cái tệ sùng bái cá nhân và quan liêu mệnh lệnh; đều phải thật thà tự phê bình và phê bình thẳng thắn; đều phải thật sự dân chủ”.

          Muốn phòng chống tệ sùng bái cá nhân, Hồ Chí Minh cho rằng phải vận dụng tổng hợp, linh hoạt các hình thức và phương pháp; song, phương pháp giáo dục là chủ yếu: “Để sửa chữa hiện tượng sùng bái cá nhân, chủ yếu là dùng phương pháp giáo dục; đồng thời nâng cao vai trò của Đảng, của tập thể, của nhân dân”. Đối với nội bộ Đảng, Người nhấn mạnh: “Phải khắc phục hiện tượng thiếu tập thể, thiếu dân chủ, khắc phục tác phong quan liêu mệnh lệnh, phải nghe ngóng ý kiến của cán bộ và nhân dân”. Người cũng yêu cầu: “Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc. Người đảng viên phải khiêm tốn, thành khẩn. Không có đảng viên nào có thể đứng trên Đảng, tự cho mình là hơn Đảng”.

          BIẾT ƠN TIỀN NHÂN, TÔN VINH LÃNH TỤ KHÔNG PHẢI LÀ SÙNG BÁI CÁ NHÂN

          Biết ơn tiền nhân, tôn vinh những cá nhân có nhiều cống hiến cho độc lập, tự do, hạnh phúc của Tổ quốc và nhân dân là một đức tính tốt đẹp của nhân loại. Điều đó thể hiện sự biết ơn người có công, biết học tập điều tốt đẹp của những người đi trước.

          Mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều có truyền thống biết ơn với những hình thức thể hiện khác nhau. Đơn cử như tại Hoa Kỳ, người ta đã tạc lên núi Rushmore chân dung 4 vị tổng thống để tôn vinh những người có công “mở nền độc lập” “chấn hưng đất nước”.

          Truyền thống biết ơn là một nét văn hóa của người Việt Nam. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã luôn vô cùng biết ơn C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin - những người đã chỉ ra con đường cứu nước bằng cách mạng vô sản và xây dựng xã hội mới tốt đẹp, nhưng Người không áp dụng cứng nhắc mà vận dụng linh hoạt Chủ nghĩa Mác - Lênin vào tình hình thực tế ở Việt Nam để mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc mình.

          Trong khi kiên quyết đấu tranh chống tệ sùng bái cá nhân, những người theo chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn luôn thừa nhận, tôn vinh vai trò của những người lãnh đạo, những nhà tổ chức quần chúng. Bởi, nếu không có Đảng, không có những cán bộ lãnh đạo giàu kinh nghiệm, được đào tạo và tích cực thì giai cấp tiền phong không thể giành được sự thống trị về chính trị, không thể giữ vững và củng cố được chính quyền, không thể tiến hành đấu tranh thắng lợi chống kẻ thù của mình.

          V.I.Lênin từng nhấn mạnh: “Trong lịch sử, chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiền phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào”; “... Thông thường thì các chính đảng đều nằm dưới quyền lãnh đạo của những nhóm ít nhiều có tính chất ổn định, gồm những người có uy tín nhất, có ảnh hưởng nhất, có kinh nghiệm nhất, được bầu ra giữ những trách nhiệm trọng yếu nhất và người ta gọi đó là các lãnh tụ”.

          Đảng Cộng sản Việt Nam cũng từng nhấn mạnh việc chống sùng bái cá nhân cần tránh đi đến một sai lầm là phủ nhận vai trò của lãnh tụ, bởi “Nhân dân và chính đảng của nhân dân cần phải có những người tiên tiến, có thể đại biểu cho lợi ích và ý chí của nhân dân (...). Phủ nhận tác dụng của cá nhân, phủ nhận tác dụng của những người tiên tiến và những người lãnh đạo là hoàn toàn sai...”.

          Việc ghi nhận và tôn vinh vai trò lãnh tụ Hồ Chí Minh luôn được Đảng ta thực hiện trên quan điểm duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin. Điều này bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc, cho rằng Đảng ta luôn “thần thánh hóa” và “sùng bái cá nhân” Hồ Chí Minh!

          Trong Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương 9 khóa II (tháng 4/1956) về việc quán triệt nguyên tắc lãnh đạo tập thể, đề cao vai trò của Đảng, đã nêu rõ: “Vấn đề giữ vững các nguyên tắc căn bản trong sinh hoạt của Đảng có liên quan mật thiết với vấn đề thái độ đối với lãnh tụ. Hiện nay trong Đảng ta, trong thái độ đối với lãnh tụ, có hiện tượng sùng bái cá nhân hay không, và nếu có thì hiện tượng đó đã ảnh hưởng đến sự lãnh đạo của Đảng như thế nào?”. Trả lời cho câu hỏi này, Đảng ta khẳng định: “Hồ Chủ tịch là lãnh tụ của Đảng ta. Hồ Chủ tịch đã có công lớn trong việc sáng lập và giáo dục Đảng. Người đã cống hiến trọn đời cho cách mạng, có một tinh thần đấu tranh triệt để. Người đã có tác dụng to lớn trong việc cổ vũ đoàn kết toàn dân, đã giáo dục chúng ta về tinh thần quốc tế chủ nghĩa, về đạo đức cách mạng. Sự nghiệp cách mạng của Đảng là một sự nghiệp vĩ đại, do công lao to lớn của toàn Đảng và toàn dân, công lao to lớn của Trung ương, của Hồ Chủ tịch. Hồ Chủ tịch là vị lãnh tụ sáng suốt của Đảng, của nhân dân, của dân tộc, Đảng ta đề cao vai trò của Hồ Chủ tịch, tôn kính Hồ Chủ tịch là đúng”; “Trong sinh hoạt của Đảng, Hồ Chủ tịch ở vào cương vị người lãnh đạo chủ yếu, đã tôn trọng những nguyên tắc lãnh đạo tập thể, không xảy ra hiện tượng độc đoán. Trong những vấn đề quan trọng và nhiều khi ngay cả những vấn đề không quan trọng lắm, Hồ Chủ tịch cũng tôn trọng ý kiến của Trung ương và Bộ Chính trị, Hồ Chủ tịch lại có đức tính chí công vô tư, quên mình vì sự nghiệp chung, đồng cam cộng khổ, giản dị, khiêm tốn. Nhiều lần Bộ Chính trị đã đề nghị tặng huân chương cho Hồ Chủ tịch, Hồ Chủ tịch đều từ chối. Chúng ta có thể kể ra nhiều việc như thế”.

          PHÒNG, CHỐNG SÙNG BÁI CÁ NHÂN - NGUYÊN TẮC TRONG CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐẢNG

          Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về đấu tranh phòng, chống tệ sùng bái cá nhân, coi đây là vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng.

          Xác định “Bệnh sùng bái cá nhân cũng là một nhân tố ngăn trở sự tiến bộ (...) đưa đến chỗ coi thường mặt trận, coi thường chính quyền, coi thường cả Đảng...”, Đảng ta đã từng nêu ra những nguyên nhân dẫn đến tệ sùng bái cá nhân, như: Do cán bộ và đảng viên trình độ kém, kinh nghiệm đấu tranh cách mạng còn non. Vì thế mà sinh ra ỷ lại, rụt rè, sợ sệt; ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến vẫn tồn tại trong đầu óc; chưa được giáo dục sâu sắc về những nguyên tắc căn bản về xây dựng đảng, những nguyên tắc và chế độ của sự lãnh đạo tập thể; chưa có ý thức về sự tai hại của sùng bái cá nhân... .

          Đảng ta chủ trương: “...khi nói đến vấn đề chống sùng bái cá nhân (...) cần phải thấu triệt hai điều sau đây: một là cải tiến sự lãnh đạo của Đảng theo những nguyên tắc xây dựng đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin; hai là có một nhận thức chính xác về vai trò của cá nhân trong lịch sử và trong đời sống của nhân dân(...). Để tăng cường sự lãnh đạo tập thể của Đảng (...) cần phải làm những việc sau đây:

          1. Nắm vững và tăng cường sự lãnh đạo tập thể ở Trung ương và ở các cấp của Đảng và của chính quyền.

          2. Thực hiện tự phê bình và phê bình một cách thường xuyên trong Đảng.

          3. Kiên quyết tiếp tục giải quyết vấn đề cải tiến tổ chức và lề lối làm việc (...).

          4. ...tiến hành giáo dục cho toàn Đảng và toàn dân nhận rõ vai trò của Đảng, vai trò của nhân dân”.

          Về xử lý mối quan hệ giữa lãnh đạo tập thể với cá nhân phụ trách trong nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng ta chỉ rõ phải đề phòng sự lệch lạc của hai thái cực quá tả khuynh hoặc hữu khuynh; đồng thời, không tạo sơ hở để kẻ thù lợi dụng chống phá: “...Thấy sự lãnh đạo tập thể còn thiếu sót mà không kiên quyết vạch khuyết điểm ra để sửa chữa, thấy có hiện tượng sùng bái cá nhân nhưng dè dặt không tìm cách sửa chữa, đó là một sai lầm. Nhưng nếu hiểu nhầm tăng cường tập thể rồi đi đến việc gì cũng thảo luận phạm vào dân chủ cực đoan, như thế cũng sai lầm. Tập thể lãnh đạo đi đôi với cá nhân phụ trách. Dân chủ cao độ đi đôi với tập trung cao độ...”.

          “Đơn thuốc” hiệu quả nhất để phòng, chống tệ sùng bái cá nhân vẫn là trở lại với những chỉ dẫn của Hồ Chí Minh: “Từ Trung ương đến chi bộ xã đều phải làm đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách; đều phải chống cái tệ sùng bái cá nhân và quan liêu mệnh lệnh; đều phải thật thà tự phê bình và phê bình thẳng thắn; đều phải thật sự dân chủ”.

          Để khắc phục tệ sùng bái cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, trước hết cần thường xuyên quan tâm giáo dục và tự giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng giáo dục và tự giáo dục cho cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay là biện pháp quyết định, có ảnh hưởng đến hiệu quả của việc tự giác hóa quá trình hình thành, phát triển đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong khắc phục các biểu hiện sùng bái cá nhân, dẫn đến xu nịnh...

          Cần phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, nhất là cán bộ chủ trì trong việc đấu tranh với tệ sùng bái cá nhân. Bên cạnh đó, việc phát huy vai trò các tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng trong thực hiện nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng nhằm bài trừ tệ sùng bái cá nhân. Tập thể lãnh đạo là một nguyên tắc lãnh đạo của Đảng, nhằm bảo đảm và phát huy dân chủ trong Đảng một cách cao nhất. Thực hiện tốt nguyên tắc này là cơ sở vững chắc để đấu tranh chống sùng bái cá nhân, chuyên quyền, độc đoán trong quá trình lãnh đạo của Đảng và cán bộ, đảng viên, công chức hiện nay.

          Những quan điểm, tư tưởng của các nhà kinh điển Mác - Lênin và chỉ dẫn của Hồ Chí Minh về chống sùng bái cá nhân vẫn giữ nguyên giá trị trong tình hình hiện nay, nhất là trong điều kiện Đảng ta đẩy mạnh xây dựng và chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII) và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng./.

 

Phê phán âm mưu, thủ đoạn phủ nhận Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam


          Trong lịch sử phát triển của các quốc gia, dân tộc trên thế giới, dù là nước lớn hay bé, giàu hay nghèo, phát triển hay đang phát triển, đều xây dựng cho mình những chủ thuyết, bao gồm hệ thống các quan điểm, nhận thức, tư tưởng mang tính lý thuyết nhằm định hướng cho sự phát triển của quốc gia.

          Ở nước ta, ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng nắm ngọn cờ lãnh đạo cách mạng Việt Nam, tiến hành giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, giành độc lập cho dân tộc, xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.

          1. Những tư tưởng cơ bản của nhà nước pháp quyền đã được V.I.Lênin đề cập và vận dụng vào thực tiễn xây dựng và củng cố nhà nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới-nhà nước kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, bao gồm các vấn đề cơ bản như: Xây dựng một nhà nước hợp hiến, hợp pháp, dân chủ; nhà nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và pháp luật được thực hiện nghiêm minh, bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nhà nước là công cụ của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản; nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

          Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước pháp quyền và xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là quá trình đúc kết, kế thừa có chọn lọc và vận dụng sáng tạo tư tưởng nhà nước pháp quyền trong lịch sử tư tưởng nhân loại và quan điểm Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật kiểu mới vào thực tiễn xây dựng nhà nước kiểu mới ở nước ta.

          Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011) thông qua tại Đại hội XI của Đảng, đã xác định: “Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

          Thực tiễn 35 năm đổi mới đã khẳng định yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng như một xu thế khách quan, tất yếu mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện phát triển nền dân chủ chân chính của nhân dân, xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, hội nhập quốc tế.

          Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là nguyên tắc hiến định mang tính giai cấp sâu sắc, bảo đảm thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước thể hiện ở các khía cạnh: Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành hiến pháp, pháp luật, chính sách cụ thể và lãnh đạo tổ chức nhân dân thực thi Hiến pháp, pháp luật, chính sách; Đảng lãnh đạo Nhà nước tổ chức bộ máy tinh gọn, hiệu quả, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức; Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng công tác kiểm tra việc quán triệt, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước làm tham mưu cho Đảng; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các tổ chức xã hội và nhân dân trong việc tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước và bảo vệ Nhà nước.

          2. Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đưa ra nhiều quan điểm, luận điệu hòng bác bỏ, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với Nhà nước và xã hội, họ rêu rao rằng, ở Việt Nam không có “pháp trị”, chỉ có “đảng trị”. Đây là thủ đoạn nham hiểm của các lực lượng chống đối Đảng Cộng sản lãnh đạo các nước XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Âu thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện nay, một số đối tượng vẫn cổ xúy cho thủ đoạn trên mà nếu không đấu tranh thì có thể để lại những hậu quả khôn lường đối với đất nước, đối với xã hội, đối với người dân khi vai trò lãnh đạo của Đảng bị đặt ngoài Hiến pháp.

          Những người có lương tri trên thế giới không thể không nhớ đến sự kiện Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã năm 1991, khi mà những người dân chủ cấp tiến hả hê vì vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã bị đặt ngoài hiến pháp, khi Điều 6 Hiến pháp Liên Xô năm 1977 (sửa đổi, bổ sung năm 1988) bị phá bỏ. Trên đất nước đó, sau những biến cố thăng trầm, chính Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong cuộc gặp các đảng phái chính trị của Nga tại Điện Kremlin ngày 23-9-2016, cho rằng sự kiện Liên Xô sụp đổ không chỉ là thảm họa địa chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20 mà rất có thể là cả trong lịch sử chính trị thế giới, để lại những hậu quả có tính toàn cầu về tư tưởng, văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh.

          3. Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng trong từng nước, khi giải quyết các vấn đề tổ chức quyền lực của nhà nước thì xuất phát từ đặc điểm thực tiễn riêng của mỗi nhà nước. Ở một số nhà nước trên thế giới, do xuất phát từ thể chế chính trị, đặc điểm lịch sử hình thành, có nhà nước theo nguyên tắc “tam quyền phân lập”, tức là phân lập các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp với những hình thức và mức độ khác nhau. Về bản chất, dưới khoa học chính trị học, đây thực chất là sự phân chia quyền lực giữa các đảng phái. Tuy vậy, trên thực tế cũng chưa có một nước tư bản nào thực hiện đúng nguyên tắc tam quyền phân lập, mà vẫn phải áp dụng linh hoạt, phù hợp với tình hình của mỗi nước.

          Trước đây, khi thảo luận vấn đề cải cách tổ chức và hoạt động của nhà nước ở nước ta, từng có ý kiến cho rằng cần phải xây dựng nhà nước pháp quyền trên cơ sở nguyên tắc tam quyền phân lập dưới sự lãnh đạo của Đảng. Tuy nhiên, Đại hội IX của Đảng đã dứt khoát khẳng định: “Quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội tiếp tục khẳng định vấn đề trên.

          Như vậy, điểm khác nhau cơ bản trong tổ chức quyền lực của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam với các nhà nước tư sản, đó là: Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không tổ chức theo nguyên tắc tam quyền phân lập mà tổ chức quyền lực theo nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất”, không thể phân quyền theo lối phân chia, cắt khúc, đối chọi lẫn nhau giữa các quyền, mà chỉ có sự phân công trên cơ sở thống nhất và tập trung quyền lực cao nhất ở Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

          Mô hình xây dựng bộ máy nhà nước pháp quyền ở nước ta chưa khi nào và không bao giờ bị coi là bản sao mô hình bộ máy nhà nước pháp quyền giống như một quốc gia nào đó. Các nhà tư tưởng chính trị-pháp lý như Aristoteles đã từng chỉ ra rằng, cần phải làm ra các đạo luật để áp dụng vào điều kiện cụ thể của từng quốc gia chứ không thể đem các quốc gia vào cho phù hợp với pháp luật đã có sẵn. Trong tác phẩm “Tinh thần của pháp luật”, Montesquieu cũng đã nhắc đến yêu cầu “lấy tinh thần của luật”, từ "tinh thần của nhân dân". “Các đạo luật phải nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các đặc điểm của dân tộc mà vì dân tộc đó mới cần làm ra những đạo luật này. Và chỉ trong những trường hợp rất đặc biệt luật của dân tộc này mới có thể thích ứng được với dân tộc khác”.

          Mô hình nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quan điểm của Đảng về việc vận dụng một cách sáng tạo và có chọn lọc những kinh nghiệm khác nhau của các dân tộc về cách thức tổ chức nhà nước pháp quyền, ưu tiên những giá trị có tính phổ biến, kết hợp hài hòa với các giá trị truyền thống, những đặc điểm phát triển và lịch sử phát triển đất nước. Do đó, mọi yêu cầu, đòi hỏi hay kiến nghị Việt Nam phải thực hiện mô hình “tam quyền phân lập” là không phù hợp, thậm chí tiếp tay cho các thế lực thù địch, phản động thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước ta.

          Quyền lực nhà nước là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng cũng không kém phần phức tạp. Việc nắm giữ, tổ chức và sử dụng quyền lực nhà nước có hiệu quả sẽ là điều kiện để thực hiện được những mục đích đã đề ra, mang lại lợi ích cho nhân dân, đất nước. Tuy nhiên, trong quá trình nắm giữ, tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ như tham nhũng, lãng phí, lạm quyền... Vì vậy, vấn đề kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhiệm vụ cấp bách, quan trọng trong quản lý nhà nước trên thế giới nói chung, ở nước ta nói riêng. Ở nước ta, thuật ngữ “kiểm soát” được ghi trong văn kiện của Đảng và thể chế hóa quan điểm đó, tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 hiến định: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

          Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta bắt nguồn từ nguồn gốc và bản chất của nhà nước pháp quyền XHCN: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”. Kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta không cần phải áp dụng cơ chế tam quyền phân lập, bởi các nhánh quyền lực của Nhà nước ta không phải nhánh quyền lực của phe nhóm này chống lại phe nhóm kia, vốn là gốc rễ của cơ chế tam quyền phân lập.

          Sức mạnh, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta trong những năm qua là minh chứng sinh động về Nhà nước ta đã, đang thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân; do nhân dân xây dựng; hoạt động vì mục tiêu ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Thực tế này sẽ phủ nhận những ý đồ đen tối muốn thay đổi thể chế nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam bằng mô hình nhà nước “tam quyền phân lập” mà thực chất là muốn xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước, tách rời Nhà nước với chính trị rồi làm suy yếu, tan rã Nhà nước.

 

          Đại tá, TS NGUYỄN HỮU PHÚC, Chủ nhiệm Khoa Nhà nước và Pháp luật, Học viện Chính trị