Thứ Tư, 20 tháng 4, 2022

Môn Lịch sử, xin đừng trở thành 'kép phụ'

 

           Suốt nhiều ngày qua, thậm chí nhiều năm qua, xung quanh việc dạy và học môn Lịch sử ở cấp THPT thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận.

          Phải chăng người đời rỗi việc mà lại bận tâm nhiều đến việc con trẻ nên được học lịch sử theo cách nào, học nhiều hay ít? Xin thưa, hoàn toàn không phải như vậy. Bởi, kiến thức về lịch sử dân tộc không chỉ góp phần hình thành nhân cách mà còn tạo nên nền móng vững chắc xây đắp tình yêu Tổ quốc trong mỗi người con đất Việt. Không hiểu lịch sử, không biết lịch sử của dân tộc, sao có thể đòi hỏi thế hệ tiếp sau yêu được đất nước mình, yêu được quê hương của mình. Giá trị của lịch sử làm nên giá trị của dân tộc.

          Nhìn lại, hẳn không phải ngẫu nhiên, ngay từ năm 1942, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã viết bài diễn ca "Lịch sử nước ta" gồm 210 câu về lịch sử hào hùng của dân tộc với hai câu thơ mở đầu: "Dân ta phải biết sử ta/ Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam". Bài diễn ca của Người không chỉ khái quát những trang lịch sử vẻ vang của dân tộc mà chính là một cách dạy lịch sử phù hợp trong điều kiện phần lớn người Việt Nam lúc bấy giờ đều không biết đọc, biết viết. Chính từ những vần thơ ấy, chính hiểu rõ được lịch sử của dân tộc mà lớp lớp người Việt Nam tự nguyện hiến dâng thân xác của mình đi theo cách mạng, đi theo Bác Hồ làm nên những thắng lợi mang ý nghĩa thời đại sâu sắc.

          Vậy, việc học lịch sử hiện nay của các em học sinh cấp THPT ra sao? Thật khó có thể nói hết thực trạng về vấn đề này, chỉ xin dẫn ra một vài số liệu để bạn đọc suy ngẫm. Theo số liệu được công bố trên Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam qua đánh giá của nhiều cán bộ trực tiếp chấm thi, phổ điểm môn Lịch sử năm 2021 của thí sinh chỉ từ 0 đến 3 điểm. Nhiều trường đại học có trên 98% bài thi môn Lịch sử dưới điểm trung bình, thậm chí có trường chỉ một thí sinh đạt điểm trung bình môn này. Số lượng bài đạt điểm trên trung bình chỉ hơn 25%, còn lại gần 75% là điểm dưới trung bình. Trong đó, số lượng học sinh bị điểm 0 tương đối nhiều. Số học sinh đạt 7, 8 điểm chiếm chưa đến 5%. Trong số 10.000 bài thi môn Lịch sử thì may ra mới có một bài đạt điểm 9.

          Vị trí, vai trò, tầm quan trọng của môn học Lịch sử chắc hẳn ai cũng hiểu rõ. Thực trạng chất lượng học tập môn Lịch sử cũng chẳng cần phải mất nhiều công nghiên cứu, khảo sát cũng đủ để minh chứng về kết quả và niềm đam mê của học sinh đối với môn học này. Kết quả đó là khi Lịch sử còn được nhiều địa phương chọn là môn thi tốt nghiệp THPT bắt buộc thì liệu tới đây, tự chọn sẽ ra sao? Câu trả lời này chắc phải dành cho ngành giáo dục.

          Dân tộc Việt Nam có bề dày lịch sử hào hùng và những giá trị văn hóa hết sức đặc sắc. Lịch sử và giá trị văn hóa dân tộc tạo nên cốt cách, hình hài của người Việt. Nhờ vào lịch sử, dựa chính vào lịch sử, tôn trọng lịch sử mà dân tộc ta đứng vững không bị đồng hóa và thôn tính. Bởi vậy, là người Việt Nam, không học lịch sử Việt Nam, không biết lịch sử nước nhà thì sao có thể xây đắp được tình yêu quê hương, đất nước. Vậy nên xin hãy, đừng để môn Lịch sử trở thành “kép phụ” trong việc trang bị kiến thức và bồi dưỡng nhân cách cho một thế hệ tương lai.

Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng

 


Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua.

Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống.

Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp.

Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân.

Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay.

HAIVAN (St)

TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG SỰ QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC VỚI BÁO CHÍ TRONG ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG “DIẾN BIẾN HÒA BÌNH”

 Thời gian qua, lợi dụng báo chí điện tử, mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị coi đây là “mảnh đất” màu mỡ để chống phá cách mạng Việt Nam, xuyên tạc, phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng. Chính vì vậy, báo chí cách mạng cần phải nâng cao năng lực, trình độ, tính chuyên nghiệp, xung kích, đi đầu trong đấu tranh bảo vệ và phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng, xứng đáng là vũ khí sắc bén đi đầu trong phòng chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới.

Thực tiễn đã cho thấy, chỉ khi nào có sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng mới thực sự là vũ khí sắc bén, phát huy tốt chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền, định hướng dư luận; nâng cao nhận thức của toàn dân, tạo “thế trận tư tưởng” vững chắc trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Do đó, các cơ quan lãnh đạo, quản lý nhà nước về báo chí, cơ quan báo chí tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trong tình hình mới. Trọng tâm là, Chỉ thị số 22/CT-TW, ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị (khóa VIII ) về tiếp tục đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo quản lý công tác báo chí; Nghị quyết số 16-NQ/TW, ngày 01/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trong tình hình mới; Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Tăng  cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong tình hình mới”. Từ đó, thống nhất ý chí, hành động, thực hiện nhất quán quan điểm hoạt động báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Cấp ủy, người đứng đầu các cơ quan báo chí thường xuyên coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo để các ấn phẩm của mình thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, quy định của Luật Báo chí, phát huy tốt vai trò định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội, cổ vũ, động viên các tầng lớp nhân dân thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc; đấu tranh phản bác tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch của các thế lực phản động đang điên cuồng chống phá Đảng và Nhà nước ta.

Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của xã hội, báo chí luôn vận động, phát triển liên tục, nhưng đi kèm với đó là phát sinh những vấn đề mới, bất cập, đòi hỏi phải đổi mới, hoàn thiện phương thức lãnh đạo của Đảng, công tác quản lý của Nhà nước phù hợp với yêu cầu thực tiễn hoạt động báo chí và theo xu hướng mới. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách của Nhà nước đối với báo chí, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo môi trường thuận lợi để báo chí phát triển đúng hướng, đóng góp tích cực vào việc quản lý, giám sát, phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả trong công cuộc đổi mới của đất nước trong tình hình hiện nay./.

PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH VỀ “NÓI ĐI ĐÔI VỚI LÀM” BÀI HỌC VẪN CÒN NGUYÊN GIÁ TRỊ

 Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là tấm gương sáng ngời về phong cách “nói đi đôi với làm”. Hồ Chí Minh cho rằng: “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước…”tự mình phải chính trước mới giúp người khác chính, mình không chính mà muốn người khác chính là vô lý. Người còn nói: “Nếu chính mình tham ô bảo người ta liêm khiết có được không? Không được. Mình trước hết phải siêng năng, trong sạch thì mới bảo người ta trong sạch, siêng năng được…”. Phong cách “nói đi đôi với làm của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ chính quan niệm, từ lòng dạ trong sáng, chính tâm, thật sự nêu gương của Người. Hình ảnh về vị Chủ tịch nước mặc quần áo giản dị, đi dép cao su, làm việc trong ngôi nhà sàn đơn sơ, hay mỗi tuần Người nhịn ăn một bữa để ủng hộ phong trào “Hũ gạo kháng chiến” là biểu hiện sinh động về “nói đi đôi với làm”Chính vì lẽ đó, tấm gương mẫu mực về phong cách “nói đi đôi với làm” đã làm cho Hồ Chí Minh trở thành một hình ảnh mẫu mực về một con người cộng sản chân chính và đã làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành bất tử trong lòng dân tộc, mãi mãi là tấm gương sáng ngời để mọi thế hệ người Việt Nam học tập và noi theo.

Như chúng ta đã biết, công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế tiếp tục phát triển sâu rộng; Do đó, cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng trong sáng, có năng lựcdám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệmdám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chungthực sự tiên phong, gương mẫu trong thực hiện các nhiệm vụ. Vì vậy, cán bộ, đảng viên trong quân đội cần học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về nói đi đôi với làm”, xem đây là biểu hiện sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, tư tưởng và hành động, nhận thức và việc làm; đồng thời, là nguyên tắc về đạo đức, lẽ sống, phương châm hoạt động trong thực hiện mọi chức trách, nhiệm vụ được giaoĐể học tập và làm theo có hiệu quả; cán bộ, đảng viên trong quân đội cần phải nhận thức và nói đúng cương lĩnhquan điểm, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, không được xuyên tạc, nói sai; Học tập và làm theo phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm”, tức là, lời nói đi đôi với việc làm, nói được làm được sẽ mang lại những hiệu quả lớn, được nhiều người hưởng ứng và làm theo. Đồng thời, khi nói phải gắn với công việc, nhiệm vụ cụ thể, không được nói chung chung, đại khái, nghe thì hay nhưng không biết thực hiện thế nào. Nói đi đôi với làm yêu cầu phải đi sâu, đi sát, kiểm tra, đôn đốc, gắn với kết quả thực hiện công việc được giao.

Đẩy mạnh việc thực hiện “nói đi đôi với làm” đối với cán bộ, đảng viên chính là cái gốc tạo nên hiệu quả công việc, niềm tin, uy tín trước tập thểTừ đó, cán bộ, đảng viên mỗi chúng ta sẽ tạo ra sự lan tỏa tích cực về “nói đi đôi với làm nói” cụ thể, thiết thực đi vào thực tiễn. Cán bộ, đảng viên cần đấu tranh chống lại tình trạng “nói không đi đôi với làm”, “nói một đàng làm một nẻo”, “nói mà không làm”, “nghĩ một đằng, nói một đằng”, “nói với cấp trên khác, nói với cấp dưới khác”gây bức xúc trong dư luận, làm mất niềm tin trước tập thể. Cần đấu tranh chống lại cách nói chung chung, đại khái và khó hiểunói không cụ thể, thiết thựcphải nói đi đôi với làm, không được nói nhiều làm ít hoặc nói mà không làm.

Từ những giá trị to lớn của phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm”, mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng nhân dân, cần nhận thức đầy đủ hơn nữa về giá trị của bài học này. Từ đó, trong mỗi chúng ta hãy tự soi, tự sửa, tự gọt, từ mài để ngày một hoàn chỉnh hơn về nhân cách; mỗi cán bộ đảng viên phải có nhân cách tốt thì mới làm tốt công bộc của nhân dân, còn nói không đi đôi với làm thì trước sau cũng chỉ là nói suông, có khi còn làm hại đến lợi ích của nhân dân. Chính vì vậy, bài học về phong cách Hồ Chí Minh về “nói đi đôi với làm” mãi mãi vẫn còn nguyên giá trị, là bài học to lớn để mỗi chúng ta học tập và noi theo./.

NGĂN CHĂN, ĐẨY LÙI NHỮNG TIÊU CỰC CỦA VĂN HÓA NGOẠI LAI ĐỐI VỚI THẾ HỆ TRẺ HIỆN NAY

 Ở nhiều cách tiếp cận khác nhau có những quan niệm khác nhau về văn hoá. Nhưng theo Hồ Chí Minh, văn hóa hiểu một cách khái quát và toàn diện nhất, đó là: Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó được gọi là văn hoá. Vì vậy, văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn.

          Mỗi châu lục, quốc gia có nền văn hoá riêng, khác biệt, có thể xem đó là bản sắc hay là sắc thái riêng. Chính điều đó đã tạo nên “bức tranh văn hoá” nhân loại vô cùng phong phú, đa sắc màu. Văn hoá phương Tây có điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều khác biệt so với văn hoá phương Đông, do sự khác biệt về những điều kiện xã hội - lịch sử sáng tạo ra nó. Thực tế cho thấy, trong mỗi nền văn hóa ở từng quốc gia, dân tộc có sự tồn tại đan xen những giá trị tiến bộ, tích cực với lạc hậu, tiêu cực, phản văn hóa và văn hóa phương Tây không phải ngoại lệ. Có nhà nghiên cứu từng đề cập đến sự tương phản, xung đột văn hóa Đông - Tây trước bối cảnh toàn cầu hóa, đồng thời đề xuất biện pháp nhuốm màu tiêu cực, nghĩa là kỳ thị, chối bỏ văn hóa ngoại lai, trong đó có văn hóa phương Tây.

          Như chúng ta đã biết, giữa các nền văn hoá luôn có sự giao thoa, tiếp biến, nhưng rất dễ xung đột với nhau do những bất đồng, khác biệt, thậm chí dị biệt. Trước đây, các nước phương Đông, trong đó có Việt Nam chịu ảnh hưởng của văn hoá phương Tây bởi quá trình xâm lược, thống trị của  thực dân, đế quốc phương Tây. Dã tâm đồng hoá văn hoá bản địa là mục tiêu không thể chối bỏ của thực dân, đế quốc. Vì vậy, đồng thời với quá trình thống trị về mặt chính trị, vơ vét tài nguyên khoáng sản, bóc lột sức lao động, thì thực dân, đế quốc còn tìm mọi cách nô dịch về tinh thần, truyền bá tư tưởng, áp đặt giá trị văn hoá phương Tây; biến các nước thuộc địa trở thành bản sao văn hoá của phương Tây. Phong trào đấu tranh giành độc lập, tự do ở nhiều nước thuộc Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ - Latinh mà Việt Nam là tấm gương sáng đã chấm dứt ách đô hộ của thực dân, đế quốc, mở ra kỷ nguyên mới để xây dựng, bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc.

          Hiện nay, các nước phương Tây không từ bỏ tham vọng truyền bá những giá trị văn hoá trên toàn cầu. Văn hoá phương Tây tìm mọi cách du nhập vào Việt Nam bằng nhiều con đường và cách thức khác nhau. Đó là: Thông qua các loại hình nghệ thuật như điện ảnh, sân khấu, âm nhạc, hội họa, văn học; thông qua sách, báo, tạp chí; đặc biệt mạng Internet trở nên phổ cập trên toàn cầu; thông qua giao lưu văn hoá, hợp tác kinh tế và khoa học - công nghệ; thông qua việc du học của học sinh, sinh viên Việt Nam ở các nước phương Tây; thông qua con đường du lịch của khách phương Tây đến Việt Nam v..v. Như vậy, hàng ngày, hàng giờ văn hoá ngoại lai du nhập, thẩm thấu, tác động  đa chiều đến con người và xã hội Việt Nam. Không thể phủ nhận là cùng với tác động tích cực, thì tác động tiêu cực đối với thanh, thiếu niên không hề nhỏ, đó là: Sùng bái những giá trị vật chất và tinh thần của phương Tâyxem đồng tiền là trên hết “tiền là Tiên là Phật”, quay lưng với những giá trị và truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc; tôn thờ lối sống vị kỷ và chủ nghĩa cá nhân, cái tôi lấn lướt các giá trị cộng đồng, tập thể; thực dụng, chạy theo cám dỗ vật chất, đồng tiền; vì lợi nhuận, vì tiền, vì dục vọng cá nhân sẵn sàng gây hại, tước đoạt mạng sống người khác; sa đọa về đạo đức, tha hoá về nhân cách; tình trạng sống thử trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng; mờ nhạt, xem nhẹ lý tưởng cách mạng... Qua các kết quả khảo sát thực tế cho thấy, hiện nay có một bộ phận không nhỏ thanh, thiếu niên bị tác động tiêu cực của văn hoá ngoại lai, nên có nhận thức và hành động sai trái, phản cảm, gây mối lo ngại sâu sắc trong cộng đồng xã hội.

          Từ những hệ lụy nêu trên, chúng ta cần phải nhận thức đúng đắn giá trị của bản sắc văn hóa của dân tộc; đồng thời phải có những giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa những tiêu cực của trào lưu văn hóa ngoại lai từ bên ngoài, đã và đang ảnh hưởng đến Việt Nam nói chung và giới trẻ nói riêng. Bởi lẽ, văn hoá thuộc về con người, xã hội loài người, do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình lịch sử sinh tồn. Sự tác động của văn hoá ngoại lai đối với nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam là một thực tế không thể phủ nhận. Đây là vấn đề rất hệ trọng, không thể xem nhẹ, lảng tránh mà đòi hỏi trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội. Cần phải tiến hành nhiều giải pháp hữu hiệu nhằm góp phần quan trọng đẩy lùi những tác động tiêu cực của văn hoá ngoại lai đến thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay./.

PHÒNG CHỐNG “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG

 Thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch, tuy chưa thể làm cho quân đội ta “suy yếu”, mất phương hướng và mục tiêu lý tưởng, nhưng tác động của nó vô cùng to lớn. Bởi vì, âm mưu “phi chính trị hóa quân đội” của các thế lực thù địch đã và đang tác động không nhỏ và ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm lực chính trị - tinh thần của quân đội ta, đến tư tưởng, đạo đức lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Để phòng chống “Diễn biến hòa bình” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch chống phá trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng trong quân đội ta hiện nay, cần chú ý một số vấn đề sau đây:

Nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. V.I. Lênin đã từng khẳng định: “Thắng lợi hay thất bại của cuộc chiến tranh phụ thuộc vào tâm trạng của người cầm súng đang đổ máu trên chiến trường”. Chính vì lẽ đó, sức mạnh chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ trong quân đội ta đều bắt nguồn từ một “niềm tin” vững chắc với bản lĩnh chính trị vững vàng. Đó là niềm tin sắt đá vào con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn, niềm tin tất thắng vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã tạo nên sức mạnh vĩ đại trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội của quân đội và nhân dân ta trong suốt gần một thế kỷ qua.

Nhận thức đúng đắn về vấn đề cốt lõi của chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là thực hiện “chiến thắng không cần chiến tranh”. Chúng đã tập trung phá hoại về chính trị, tư tưởng của quân đội ta. Vì vậy,  phải nâng cao bản lĩnh chính trị cũng cố và giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng cho mỗi cán bộ, chiến sĩ là tất yếu trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Yêu cầu bản lĩnh chính trị của bộ đội hiện nay là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội, có niềm tin vững chắc vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng xã hội chủ nghĩa và thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Phải luôn nhạy bén về chính trị, ứng xử kịp thời và đúng đắn các vấn đề thực tiễn đặt ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị của quân đội và từng đơn vị.

Nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị, trước hết phải tăng cường và giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong mọi tình huống, đặc biệt trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, nâng cao hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị. Xây dựng bản lĩnh chính trị, cũng cố và giữ vững trận địa chính trị tư tưởng cho bộ đội phải thường xuyên quán triệt vào trong quá trình giáo dục, huấn luyện để nâng cao tri thức và hiểu biết toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; phải gắn chặt thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị và các mặt công tác khác. Trong đó, nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu và trình độ sẵn sàng chiến đấu của các đơn vị là vấn đề rất cần thiết hiện nay.

Xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xây dựng mọi phương án chiến đấu, luyện tập thành thạo các phương án không để bị động, bất ngờ khi có tình huống xảy ra. Đồng thời, đây còn là giải pháp trực tiếp đánh bại âm mưu thủ đoạn của kẻ thù hòng phá hoại quân đội về tổ chức, làm suy giảm khả năng chiến đấu, vô hiệu hóa sức mạnh chiến đấu của quân đội ảnh hưởng trực tiếp đến yếu tố chính trị, tư tưởng của mỗi cán bộ, chiến sĩ trong quân đội. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện với xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội trong sạch vững mạnh, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở, xây dựng tổ chức đảng là then chốt. Duy trì chặt chẽ đơn vị theo nền nếp chính quy và các chế độ sẵn sàng chiến đấu, bảo đảm đơn vị luôn nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

Phòng chống “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị, trước hết là ở các đơn vị cơ sở trong quân đội. Quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá, từ đó phát triển chống phá ta trên phạm vi rộng lớn hơn. Đặc biệt coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong mọi tình huống.

Phát huy vai trò của tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội đồng quân nhân là nơi tập trung mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Hiệp đồng chặt chẽ với với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương và các đơn vị bạn xây dựng địa bàn vững mạnh, an toàn, kịp thời ngăn chặn và đập tan các tình huống bạo loạn xảy ra. Xây dựng cơ sở vững mạnh là vấn đề có ý nghĩa chiến lược trong tình hình hiện nay, là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Tham gia xây dựng cơ sở địa phương vững mạnh là một nhiệm vụ của các đơn vị quân đội, là một nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong phòng chống “Diễn biến hòa bình” và trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội ta.

Trong tình hình hiện nay, các thế lực thù địch thực hiện chiến lược “Diễn biến hào bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng đối với quân đội bằng nhiều thủ đoạn vô cùng tinh vi, xảo quyệt. Vì vậy, chúng ta phải thực hiện đồng bộ những giải pháp có tính chiến lược lâu dài nhằm góp phần phòng, chống và làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, giữ vững trận địa chính trị, tư tưởng trong quân đội, góp phần xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, thực sự là lực lượng chính trị đáng tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

Cùng bàn luận về cách sống chậm ở giới trẻ trong xã hội hiện nay

Cùng bàn luận về cách sống chậm ở giới trẻ trong xã hội hiện nay Xã hội ngày càng phát triển thì chúng ta dường như cảm thấy hài lòng về cuộc sống hiện tại với sự đầy đủ về vật chất. “Sống nhanh” gần như đã gắn liền với cuộc sống hằng ngày của chúng ta chẳng hạn như thức ăn nhanh, cửa hàng tiện lợi, xe đua,…Tuy nhiên chúng ta hãy thử nghĩ lại xem có phải là bản thân mình đang sống phụ thuộc vào những thứ này mà bỏ qua nhiều thời gian để dành cho gia đình, bạn bè. Bài viết sau đây mình sẽ chia sẻ cho các bạn những hiểu biết tổng quát nhất về sống chậm để các bạn cùng tham khảo. Những cuộc cách mạng về công nghệ đã khiến cho con người càng trở nên “kiêu căng” hơn về trí thông minh của mình khi có thể không chế được mọi thứ,chúng ta thay thế thiên nhiên bằng những tòa nhà chọc trời, thay thế những trò chơi dân gian bằng Playstation, thay thế những cuộc gặp mặt trực tiếp thành các cuộc nhắn tin chóng vánh trên mạng,…Tuy nhiên thực tế dường như đang đi ngược lại với kỳ vọng. Tất cả những thứ ban đầu được cho là để phục vụ cho chúng ta và giúp tiết kiệm thời gian cho chúng ta lại khiến cho chúng ta làm việc cật lực hơn. Những thứ ban đầu được cho là dùng để kết nối mọi người lại với nhau lại khiến chúng ta cô lập nhiều hơn. Những thứ ban đầu được cho là để tốt cho sức khỏe lại khiến chúng ta mất đi khả năng kéo dài sự sống. 1. Sống chậm được hiểu như thế nào? Bàn luận về cách sống chậm Sống chậm không phải là lãng phí thời gian mà là sống một cách “kỹ lưỡng” hơn để có thời gian cảm nhận những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Những điều tốt đẹp đó đôi khi rất đơn giản chỉ là tiếng chim hót trên bầu trời xanh, vẻ đẹp của những giọt sương mai đọng trên những cánh hoa hồng, vẻ đẹp của tia nắng bình minh khi bạn tỉnh giấc,…Đơn giản thế thôi, nó diễn ra hằng ngày và rất quen thuộc với chúng ta nhưng có lẽ vì sự vội vàng của cuộc sống nên chúng ta đã bỏ lỡ và cảm thấy nó thật sự xa lạ. sống chậm là sống kỹ lưỡng hơn Sống chậm giúp chúng ta cảm nhận về cuộc sống và những người xung quanh chúng ta nhiều hơn. Cuộc sống vội vã đã làm cho con người đánh mất đi những giá trị thiêng liêng của gia đình, của các mối quan hệ xã hội và thậm chí là đánh mất chính mình. Thời gian quả là có sức mạnh vô cùng ghê gớm, nó ám ảnh chúng ta và buộc chúng ta phải đẩy nhanh tốc độ ở mọi việc, phần lớn thời gian trong ngày của chúng ta là bỏ ra để làm việc và nhiều khi phải làm việc đến kiệt sức. Trong khi chúng ta hối hả , chạy đua để hoàn thành mục tiêu thì chúng ta lại vô tình bỏ lỡ những điều thú vị của cuộc sống,chúng ta phải làm gì khi chợt nhận ra bản thân chúng ta đang bị giam cầm trong một vỏ bọc do mình tạo ra, câu trả lời là một phong trào đang nổi lên và lan truyền trên cả thế giới như một nỗ lực để kết nối chúng ta với mọi thứ xung quanh – phong trào sống chậm. Đừng hiểu nhầm rằng sống chậm có nghĩa là làm tất cả mọi thứ với tốc độ chậm chạp. Ta có thể hiểu là dùng một tốc độ hợp lý để làm một việc mà luôn đặt chất lượng lên trên số lượng, đặt lợi ích lâu dài lên trên lợi ích trước mắt, đặt lợi ích của nhiều người lên trên lợi ích của bản thân. Về ý nghĩa sâu xa hơn, chậm lại để nhanh hơn và hiệu quả hơn trong mọi việc, nó khiến cho chúng ta đưa ra những quyết định chắc chắn hơn, hành động cẩn thận hơn dẫn đến kết quả tuyệt vời hơn. Những người hưởng ứng phong trào sống chậm nói rằng tốc độ mà họ muốn nói ở đây không chỉ bao hàm nghĩa đen là vận tốc địa lý mà còn phụ thuộc vào tư duy mỗi người. Nếu nói trên mức độ cá nhân, nó bao hàm nhiều hoạt động bình thường mà chúng ta thường không để ý chẳng hạn như ăn thức ăn nhanh thay vì các thực phẩm dinh dưỡng, dùng các chất kích thích tăng cơ, giảm cân thay vì tập thể dục thể thao, bỏ ngủ để làm thật nhiều công việc… Trong khi chúng ta đang cố gắng để đạt được những mục đích mình muốn thì chúng ta lại bỏ quên những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Cũng vì lẽ đó mà phong trào sống chậm ra đời, nó bắt nguồn từ phong trào “thức ăn chậm” của nước Ý (1986) và khi người ta hiểu được ý nghĩa của cụm từ “thức ăn chậm” cũng như hiệu quả mà nó mang lại thì những hoạt động ở các lĩnh vực khác gắn với chứ “ chậm” ra đời như du lịch chậm, giáo dục chậm, các mối quan hệ chậm, thành phố chậm,..Theo khía cạnh khoa học, việc sống chậm mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích khác bên cạnh những giá trị tinh thần mà nó mang lại. Ví dụ như tập aerobic mức độ chậm giúp cải thiện trí nhớ và tăng tuổi thọ, giảm nguy cơ bị ung thư vú cũng như các bệnh về tim mạch; “nông nghiệp chậm” chỉ cho chúng ta cách tăng sản lượng mà không cần đến thuốc trừ sâu,… Sau cùng sống chậm có nghĩa là chúng ta sống một cách sâu sắc, nuôi dưỡng tâm hồn cho bản thân, sống chậm giúp chúng ta cảm nhận cuộc sống một cách đầy đủ nhất và theo cách tự nhiên nhất. Bỏ qua những lời ngụy biện của những người lười biếng thì sống chậm theo cách hiểu tích cực là làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi bạn sống chậm và tìm được sự cân bằng giữa cuộc sống, công việc và tình yêu bạn sẽ cảm nhận được sự hạnh phúc mà cuộc sống này mang lại. 2. Phương pháp sống chậm lại để giảm bớt căng thẳng 2.1. Thở sâu Thở sâu chính là động tác giúp chúng ta có thể đối diện với những sự căng thẳng hay mâu thuẫn trong cuộc sống mà chúng ta gặp phải. Thở sâu giúp nén những cảm xúc tức giận tránh xảy ra những hành động hay lời nói thiếu kiểm soát. Sau khi cảm xúc đã lắng xuống thì chúng ta sẽ bình tĩnh xem xét, quyết định một cách minh mẫn, tránh ân hận, hối tiếc sau này. hít thở sâu 2.2. Nghe nhạc không lời Nếu hiện tại bạn phải suy nghĩ rất nhiều thứ và trải qua nhiều cảm xúc lẫn lộn thì bạn hãy thử nghe nhạc không lời, nhạc không lời sẽ làm nhẹ dịu tâm hồn của bạn, giúp bạn cân bằng các luồng suy nghĩ khác nhau. 2.3. Viết nhật ký Viết nhật ký là một cách để giải tỏa cảm xúc rất tốt khi chúng ta không tìm được bạn tri kỉ hay ai hiểu được những chuyện mà mình đang trải qua, hãy viết về những điều tốt đẹp đến với bạn mỗi ngày và từ đó những cảm xúc tích cực sẽ làm bạn giảm bớt những nỗi lo âu, mệt mỏi hằng ngày. 2.4. Đọc sách Khi bạn căng thẳng hãy tìm đến những cuốn sách về đạo đức, về cách sống, về tâm linh như “hạt giống tâm hồn” hay sách về tôn giáo,…Những cuốn sách này sẽ mang lại những tác dụng vô cùng kỳ diệu khiến bạn sống chậm lại suy nghĩ sâu hơn về cuộc sống. 2.5. Tắt điện thoại hoặc để ở chế độ im lặng Hãy thử bắt đầu một ngày với việc tắt điện thoại hoặc để nó ở chế độ im lặng, kết thúc một ngày với việc tắt nguồn điện thoại và cắt internet, hãy để các giác quan của bạn được nghỉ ngơi nhiều nhất có thể, sự mệt mỏi, buồn bực và căng thẳng sẽ vơi đi rất nhiều. 2.6. Liệt kê tất cả những thứ gây ra căng thẳng để dừng lại Nếu các bạn chợt nhận thấy bản thân thường xuyên nóng nảy, giận dỗi, buồn bực thì bạn đang bị stress làm bạn mất kiểm soát, hãy tạm dừng tất cả các hoạt động hằng ngày mà bạn thường phải làm một cách hối hả và kiểm tra xem việc gì làm bạn cảm thấy khó chịu nhất để thôi không làm nữa, ai làm bạn cảm thấy không thoải mái hãy tạm thời đừng gặp mặt. Hãy tạo cho mình một danh sách những việc làm cho bạn cảm thấy căng thẳng rồi sau đó giải quyết chúng dần dần, căng thẳng sẽ lùi xa bạn. 2.7. Trò chuyện với người đáng tin cậy Không phải dễ dàng để bạn có thể tìm được một người đáng tin cậy để chia sẻ nỗi lòng của bản thân bởi ngay cả bạn thân của bạn cũng chưa chắc đã hiểu được bạn, hãy tìm những người đang gặp phải tình trạng tương tự như bạn hoặc tìm đến những chuyên viên tư vấn để bày tỏ hết nỗi lòng từ đó lắng nghe những lời khuyên khách quan nhất, tránh tâm sự với những người không phù hợp dù cho người đó là bạn thân từ nhỏ hay là gia đình bởi một khi họ không hiểu bạn sẽ khiến bạn thêm mệt mỏi. 2.8. Xem chương trình mình yêu thích Khi các bạn căng thẳng vì những lý do như chậm thanh toán các hóa đơn cuối tháng, mất việc, cãi nhau với đồng nghiệp, hãy về nhà và bật chiếc tivi lên thưởng thức hết những chương trình mà mình yêu thích hay thậm chí là bạn đi ra ngoài đến các rạp hát, rạp chiếu phim để thưởng thức các màn trình diễn hay, nỗi buồn của các bạn nhất định sẽ lắng xuống. xem những gì mình thích 2.9. Làm việc nội trợ Rửa bát, quét nhà, đi chợ chuẩn bị các bữa ăn là những việc làm tưởng chừng như không hề khó nhưng lại chiếm của bạn nhiều thời gian đòi hỏi cần sự nhẫn nại, kiên trì. Vì vậy việc nội trợ giúp các bạn giảm được căng thẳng rất tốt. Khi bạn xào nấu hãy dành tâm huyết vào món ăn, những ưu phiền sẽ đi qua khi bạn nhìn thấy các món ăn nóng hổi, đẹp mắt; căn bếp sạch sẽ, tươm tất; bồn rửa gọn gàng, ngăn nắp,… mọi mệt mỏi sẽ tan biến theo từng vị ngon của món ăn cũng như sự vui vẻ của các thành viên trong gia đình. 2.10. Làm từ thiện Khi bạn tham gia các hoạt động tình nguyện ở những vùng bị lũ lụt, những khu vực bị tắc nghẽn giao thông, những địa bàn có hoàn cảnh khó khăn chúng ta sẽ cảm thấy tâm hồn mình thật đẹp. Tất nhiên mọi thứ đều tuân theo quy luật tự nhiên, khi chúng ta trao đi yêu thương thì chúng ta cũng sẽ được nhận lại yêu thương. Mong rằng bài chia sẻ trên sẽ giúp cho các bạn có thêm những kiến thức hữu ích để lựa chọn cho mình cách sống khiến cho bản thân ngày một yêu đời hơn.

KHÔNG ĐỂ NHỮNG THÔNG TIN XẤU ĐỘC LAN TRUYỀN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 Thông tin xấu độc, giả mạo lan truyền trên không gian mạng gây tác động tiêu cực đến dư luận xã hội, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; ảnh hưởng xấu đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân, cộng đồng và văn hóa dân tộc. Do vậy, cần vạch trần những thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu lợi dụng không gian mạng đưa thông tin xấu độc, giả mạo trên không gian mạng, qua đó chủ động phòng ngừa, đấu tranh, năng cao sức đề kháng cho mỗi cán bộ đảng viên và quần chúng trong đơn vị nhằm góp phần vào cuộc đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam.   

Trong tình hình hiện nay, khi lĩnh vực truyền thông được hưởng lợi ích từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, bị tác động không mong muốn, ngoài sự kiểm soát bởi “lợi ích phi truyền thống” từ truyền thông đưa lại. Cụ thể, các thế lực thù địch, phản động và phần tử xấu đã và đang tiếp tục lợi dụng, khai thác tính lan tỏa nhằm đưa các thông tin xấu độc, giả mạo, kích động bạo lực, kêu gọi hình thành các hội nhóm trái phép, lực lượng chính trị đối lập hoạt động đối trọng với Đảng, kích động hận thù dân tộc; bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, mục tiêu làm chuyển biến, thay đổi nhận thức chính trị, không phân biệt được thông tin thật và giả, dần dần tin vào những thông tin giả mạo, xấu độc dẫn đến mất niềm tin vào cuộc sống, xa rời sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, với nhiều thủ đoạn tinh vi ngày sảo quyệt.

Lợi dụng các trang thông tin điện tử, mạng xã hội để đăng tải, đưa các thông tin sai sự thật hoặc các thông tin có phần đúng nhưng sai lệch về bản chất thông tin trên các trang mạng xã hội để đánh lừa người đọc, làm người đọc lầm tưởng là thông tin chính thống để đăng nhập, chia sẻ trạng thái, bình luận gây hiệu ứng tâm lý xã hội trước những vấn đề có tính thời sự “nóng” của đất nước. Khi đã thu hút được sự quan tâm, theo dõi của người đọc thì các thế lực thù địch và phần tử xấu sẽ đưa vào những thông tin giả mạo, xấu độc, lồng ghép với các nội dung chống Đảng, Nhà nước, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối phát triển kinh tế của đất nước, làm người đọc không phân biệt được những thông tin thật - giả, gây hoang mang, tiềm ẩn nguy cơ gây bất ổn về an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội.

Ngoài ra, chúng lợi dụng thành quả khoa học của cuộc Cách mạng công nghiệp (4.0), ứng dụng miễn phí trong các trang mạng xã hội để chia sẻ trạng thái, kết bạn, quản lý nhóm bạn bè trên không gian mạng. Từ đó, đưa thông tin xấu độc, thông tin thật, giả lẫn lộn nhằm tuyên truyền, gây hoài nghi trong xã hội, tác động đến tư tưởng, tình cảm, đạo đức của cán bộ, đảng viên và nhân dân, gây mơ hồ, mất cảnh giác, dao động mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.

Điều nên biết, chúng còn khai thác lỗ hổng bảo mật của các website, cổng thông tin điện tử để sửa chữa, chèn thêm đường (link) đăng tải nội dung, thông tin giả mạo, xấu độc, văn hóa đồi trụy, tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, vi phạm thuần phong mỹ tục, văn hóa truyền thống của dân tộc; chèn, chỉnh sửa nội dung bài viết, hình ảnh trên các website, cổng thông tin điện tử làm sai lệch bản chất thông tin, làm người đọc mơ hồ mất cảnh giác, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tác động đến tư tưởng, đạo đức và lối sống, tâm tư, tình cảm của các giai tầng xã hội; tạo lập các blog, website, mạng xã hội kết hợp với các loại hình thông tin khác báo viết, báo hình, báo nói... để thu hút lượng người truy cập, qua đó truyền bá các quan điểm, tư tưởng phản động.

Đảng Nhà nước ta đã nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của không gian mạng; thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; Kết luận số 53-KL/TW ngày 04/6/2019 của Ban Bí thư về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu, độc trên Internet, mạng xã hội. Các đơn vị thường xuyên quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhận thức đúng đắn tình hình, nâng cao khả năng phòng, chống đối với những thông tin xấu độc của các thế lực phản động, thù địch lan truyền trên không gian mạng./.   

Lời Bác dạy ngày này năm xưa “Biết đồng sức, biết đồng lòng, việc gì khó, cũng làm xong”


Đoàn kết là yếu tố hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến cấu kết với nhau hòng ngăn chặn làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Người đã dùng hòn đá làm nên một hình tượng văn học rất gần gũi, giản dị khiến mọi người, từ già đến trẻ ai cũng hiểu “Hòn đá” ấy là những thế lực nào; bọn chúng dù có xảo quyệt, ngoan cố và tàn bạo đến đâu thì với sự đoàn kết, nhất trí, triệu người như một, đồng lòng hiệp lực nhất định cuối cùng nhân dân ta cũng sẽ giành được thắng lợi.

Vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người luôn chăm lo xây dựng sự đoàn kết thống nhất của toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết toàn quân và đoàn kết với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Thực tế lịch sử đã chứng minh, nhờ đoàn kết, chung sức, chung lòng, nhân dân Việt Nam đã luôn chiến thắng trước mọi kẻ thù xâm lược, dù đó là kẻ địch lớn mạnh hơn ta gấp nhiều lần.

Đoàn kết thống nhất là một vấn đề thuộc về truyền thống, bản chất và nguyên tắc xây dựng của Quân đội ta. Việc quán triệt và vận dụng những quan điểm về đoàn kết, thống nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải là một nhiệm vụ thường xuyên, là nền tảng quan trọng làm nên bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội, là lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng; là nguồn cội tạo nên sức mạnh để Quân đội ta “nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.

Thực tế đã chỉ rõ, thành công trong xây dựng và thắng lợi trong chiến đấu là bắt nguồn từ sự đoàn kết thống nhất trong tổ chức, giữa lãnh đạo và quần chúng, giữa nhân dân và bộ đội, tiền tuyến và hậu phương, cán bộ và chiến sĩ. Quân đội ta là một quân đội cách mạng. Cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội ta là những người cùng lý tưởng, bình đẳng về chính trị, thống nhất về mục tiêu và nhiệm vụ chiến đấu. Mối quan hệ trên dưới, quan hệ cán bộ và chiến sĩ trong Quân đội ta được xây dựng trên cơ sở tình cảm cách mạng, tình thương yêu giai cấp, tình đồng chí giữa những người bạn chiến đấu chung một lý tưởng.

Vì vậy, trong quan hệ hằng ngày đối với đồng chí, đồng đội thì phải thực sự thương yêu, lấy tập thể làm gia đình, lấy đồng chí, đồng đội làm anh em, đơn vị là nhà; cán bộ, chiến sĩ đoàn kết, đồng cam cộng khổ, tin tưởng lẫn nhau, quan tâm giúp đỡ để cùng nhau tiến bộ, cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ. Kiên quyết đấu tranh với bệnh thờ ơ, vô cảm, quân phiệt… làm ảnh hưởng đến truyền thống đoàn kết tốt đẹp trong cán bộ, chiến sĩ, ảnh hưởng đến thanh danh, uy tín của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.

HAIVAN (St)

NHẬN DIỆN VÀ ĐẨY LÙI NHỮNG NGUY CƠ “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG MỖI CHÚNG TA

 Vào những thập niên 60, 70 của thế kỷ XX, “Chủ nghĩa xét lại” đã xuất hiện ở Liên Xô, một trào lưu tư tưởng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin. Những kẻ theo “Chủ nghĩa xét lại” đã công khai phê phán và đòi “xét lại Học thuyết Mác -Lênin”. Ở thời kỳ đó, ở Việt Nam cũng đã có một số cán bộ, đảng viên, trí thức đi theo “Chủ nghĩa xét lại”. Sau khi Liên Xô và một loạt các nước Đông Âu sụp đổ, nước ta lại xuất hiện các đối tượng cơ hội chính trị mà thực chất đó là những cán bộ, đảng viên đã bị thoái hóa, biến chất và họ đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đặc biệt tình hình là hiện nay, khi mà kẻ thù đang thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” để chống phá cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong đó, chúng luôn coi các yếu tố thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều kiện tiên quyết để thực hiện Chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với Việt Nam.

Để thực thi Chiến lược “diễn biến hòa bình” chúng đang tìm mọi cách làm cho đất nước ta từng bước suy yếu trên tất cả các phương diện: kết hợp với một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống; tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết, thiếu dân chủ; sự tụt hậu xa hơn về kinh tế,… làm cho quần chúng bất bình, mất lòng tin vào Đảng và chính quyền, tạo ra mâu thuẫn gay gắt từ bên trong; kết hợp với các hoạt động chống phá, mua chuộc, lôi kéo những kẻ cơ hội chính trị của các thế lực phản động thù địch là những yếu tố tạo ra “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, dẫn tới những biến động về chính trị trong nước, đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sn, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta một cách từ từ, khó nhận biết và cực kỳ nguy hiểm.

Đối với Việt Nam khi nói tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là nói tới sự suy thoái, thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng ở một bộ phận cán bộ, đảng viên hay trong một số tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội… “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thường do sự tác động từ bên ngoài thông qua các hoạt động tuyên truyền thù địch, sự tác động từ những biến động tiêu cực của tình hình thế giới như: sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Đông Âu hay gần đây là “Cách mạng màu”, “Cách mạng hoa”; Kết hợp với sự tác động từ bên trong bởi tình trạng mất dân chủ, quan liêu, tham nhũng, sự phân hóa giàu nghèo,… dẫn tới sự bất mãn, bất bình nghiêm trọng trong xã hội. Nhưng trước hết và chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ chính bản thân những cán bộ, đảng viên có lập trường chính trị - tư tưởng không vững vàng, sự bất mãn hay do buông lỏng trong quản lý, giáo dục của các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, Đoàn thể xã hội trong hệ thống chính trị của Nhà nước ta. Đặc biệt thời gian vừa qua Ủy ban kiểm tra Trung ương đã tiến hành xử lý kỷ luật một số cán bộ đảng viên, trong đó có cả cán bộ Ủy viên Bộ chính trị, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang; do thoái hóa biến chất, tham nhũng vụ lợi hoặc buông lỏng quản lý gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng làm thất thoát tài sản của Nhà nước…vv. Lợi dụng những vấn đề này, những kẻ cơ hội chính trị, bọn phản động, xuyên tác càng điên cuồng chống phán, nhất là trên các diễn đàn chính trị ở hải ngoại.

Như chúng ta đã biết, nhận diện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một con người hoàn toàn không đơn giản chỉ căn cứ vào một vài biểu hiện bề ngoài. Bởi vì, hiện tượng bề ngoài không phải lúc nào cũng phản ánh đúng bản chất bên trong. Chính vì vậy, việc kết luận một tổ chức, cá nhân nào đó có vấn đề về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” cần phải hết sức thận trọng, khách quan trên cơ sở phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các dấu hiệu và hành vi diễn ra trong một quá trình. Trong đó, mấu chốt của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là sự thay đổi quan điểm, lập trường chính trị - tư tưởng theo hướng đối lập, thù địch với Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chế độ xã hội chủ nghĩa của chúng ta.

Để nhận diện đúng nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và để phòng, chống và ngăn chặn có hiệu quả đòi hỏi các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể xã hội và cả hệ thống chính trị cần phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp; áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm kịp thời ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đối với từng cán bộ, đảng viên và cơ quan, đơn vị từ sớm, từ xa từ khi họ chưa có tư tưởng đó. Vì vậy, đòi hỏi phải có quyết tâm cao, sự đồng thuận trong toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và bằng những biện pháp quyết liệt hơn nữa với tinh thần thái độ kiên quyết hơn nữa, không khoan nhượng thì mới đạt được hiệu quả cao. Nhất là trong tình hình hiện nay./.