Thứ Sáu, 6 tháng 5, 2022

Quan hệ Việt-Nhật bước vào giai đoạn mới thực chất, hiệu quả

 

Quan hệ Việt-Nhật bước vào giai đoạn mới thực chất, hiệu quả

Ngày 6/5, Thủ tướng Nhật Bản Kishida Fumio đã kết thúc chuyến công du nước ngoài dài ngày đầu tiên kể từ khi nhậm chức.

Trong chuyến công du này, Thủ tướng Kishida đã tới thăm 5 quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Nhân dịp này, Đại sứ Việt Nam tại Nhật Bản Vũ Hồng Nam đã trả lời phỏng vấn của TTXVN về kết quả chuyến thăm, trong đó khẳng định các hoạt động của Thủ tướng Kishida trong 23 giờ lịch sử tại Hà Nội đã đưa quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước đi vào giai đoạn mới ‘thực chất, hiệu quả.

Dưới đây là nội dung cuộc phỏng vấn.

- Đại sứ đánh giá như thế nào về kết quả chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Kishida? Theo Đại sứ, đâu là kết quả quan trọng nhất của chuyến thăm này?

Đại sứ Vũ Hồng Nam: Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần này của Thủ tướng Kishida có ý nghĩa to lớn, đặt dấu mốc quan trọng cho quan hệ hai nước, khẳng định quyết tâm của lãnh đạo hai bên mở ra một giai đoạn mới của quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và thịnh vượng ở châu Á.

Nền tảng của mối quan hệ gắn bó và mật thiết giữa hai nhà nước bắt đầu từ mối quan hệ giữa lãnh đạo cấp cao hai nước. Đây là dịp để Thủ tướng Kishida gặp gỡ các lãnh đạo cấp cao của Việt Nam, thiết lập quan hệ cá nhân, làm tiền đề cho quan hệ hai nước bền chặt theo phương châm “chân thành, tình cảm và tin cậy.”

Chuyến thăm trong chưa đầy 23 giờ nhưng Thủ tướng Kishida đã có tới 12 hoạt động. 23 giờ lịch sử này đã đưa quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng giữa hai nước đi vào giai đoạn mới thực chất, hiệu quả.

Đã nhiều lần thăm Việt Nam trên các cương vị khác nhau trong suốt hơn 20 năm tham gia Liên minh Nghị sỹ hữu nghị Việt-Nhật, trong chuyến thăm này, Thủ tướng Kishida đã một lần nữa gặp gỡ, trao đổi với các lãnh đạo chủ chốt của Việt Nam như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ.

Tình cảm cá nhân tốt đẹp, nồng ấm giữa các lãnh đạo hai nước tiếp tục được củng cố và khắc sâu. Điều này chắc chắn sẽ tạo nền tảng vững chắc và định hướng xuyên suốt cho sự phát triển lâu bền của quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa hai đất nước, hai dân tộc.

Nội dung kinh tế là trọng tâm của cuộc hội đàm giữa các nhà lãnh đạo cấp cao hai nước.

23 văn kiện quan trọng đã được ký kết, bao trùm các lĩnh vực trọng điểm như kinh tế-thương mại, khoa học công nghệ, giao thông vận tải, chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo.

Hai bên nhấn mạnh ba lĩnh vực ưu tiên trong hợp tác là đa dạng hóa nguồn cung ứng, chuyển đổi số và đổi mới công nghệ.

Chính phủ Nhật Bản xác định và cam kết hỗ trợ 39 doanh nghiệp trong lĩnh vực này đầu tư vào Việt Nam (trong tổng số 92 doanh nghiệp ở cả khu vực châu Á).

Các nội dung hợp tác mà Việt Nam quan tâm như thúc đẩy Nhật Bản triển khai Chương trình sử dụng ODA thế hệ mới cho Việt Nam với ưu đãi cao, thủ tục tinh giản, linh hoạt trong 4 lĩnh vực kết cấu hạ tầng chiến lược về giao thông, chống biến đổi khí hậu, chuyển đổi số và y tế; tháo gỡ vướng mắc trong các dự án hợp tác lớn trên cơ sở hài hòa lợi ích của hai bên cũng đã nhận được sự phản hồi tích cực từ phía Nhật Bản.

Trong các cuộc tiếp xúc, lãnh đạo hai bên đều khẳng định tầm quan trọng của năm 2023 kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam-Nhật Bản. Hai nước đã nhất trí thành lập Ban tổ chức quốc gia, tổ chức các sự kiện lớn trong năm 2023 nhằm đánh giá 50 năm quan hệ, rút ra các bài học sâu sắc và thảo luận các phương hướng cho các năm tiếp theo.

Trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi, vấn đề an ninh chính trị cũng được chú trọng trong chương trình nghị sự.

Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn quốc tế và khu vực như ASEAN, Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Liên hợp quốc, hợp tác Mekong-Nhật Bản; cùng các nước thành viên khác thực thi, mở rộng Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), thực thi hiệu quả Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP); chia sẻ quan điểm chung về giải quyết các tranh chấp, bất đồng bằng các biện pháp hòa bình, bao gồm tôn trọng đầy đủ các tiến trình ngoại giao và pháp lý, trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) năm 1982; thực hiện toàn diện, đầy đủ, hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), sớm hoàn tất Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC) hiệu quả, thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế.

Một kết quả nữa là hai bên đã đạt được quyết tâm sớm hoàn tất việc mở cửa thị trường Nhật Bản cho quả nhãn của Việt Nam. Đây là tin vui cho bà con nông dân các vùng trồng nhãn, có cơ hội tiếp cận thị trường to lớn. Theo đà đó, các loại hoa trái khác của Việt Nam như nho, bưởi, bơ, chôm chôm... sẽ tiếp tục sớm được đàm phán để vào thị trường Nhật.

- Chuyển đổi số và đa dạng hóa các chuỗi cung ứng là hai trong số các nội dung đã được các thủ tướng hai nước tập trung thảo luận tại cuộc hội đàm ở Hà Nội. Theo Đại sứ, hai nước cần làm gì để thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong các lĩnh vực này?

Đại sứ Vũ Hồng Nam: Trước mắt, Nhật Bản đã hỗ trợ 39 doanh nghiệp đầu tư vào Việt Nam nhằm tạo nguồn cung ổn định cho nền kinh tế Nhật Bản.

Về lâu dài, số doanh nghiệp Nhật Bản sẽ tăng lên nhiều hơn nữa. Tôi cho rằng nền kinh tế Việt Nam dần trở thành một nền kinh tế liên kết bổ trợ với nền kinh tế Nhật Bản bởi hai nước có nhiều lợi thế bù trừ.

Trước hết, tôi cho rằng các lĩnh vực quan trọng như thiết bị, máy móc, điện tử sẽ coi Việt Nam là cơ sở cho nền kinh tế Nhật Bản. Hàng tiêu dùng sản xuất từ Việt Nam như dệt may và da giày đang có ưu thế chiếm tỷ trọng cao trong xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật Bản. Sắp tới, hàng nông sản từ Việt Nam cung cấp cho thị trường Nhật sẽ chiếm tỷ trọng quan trọng trong xuất khẩu từ Việt Nam sang Nhật Bản.

Tuy nhiên, để hàng nông sản của Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thị trường Nhật Bản và đòi hỏi của khách hàng Nhật Bản, chúng ta cần chú trọng phát triển nông nghiệp cao, tăng cường chuỗi hợp tác sản xuất để tạo ra các sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường và đòi hỏi của khách hàng Nhật Bản.

- Tại cuộc hội đàm ở Hà Nội, các thủ tướng hai nước đã nhất trí đẩy nhanh các thủ tục để Nhật Bản công bố mở cửa thị trường cho quả nhãn Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản vào tháng 9/2022. Theo Đại sứ, các nhà sản xuất và xuất khẩu quả nhãn Việt Nam cần làm gì để tận dụng cơ hội này?

Đại sứ Vũ Hồng Nam: Hai Thủ tướng đã hạ quyết tâm đưa quả nhãn của Việt Nam sớm tiếp cận thị trường Nhật Bản. Tại Nhật Bản, quả nhãn không có đối thủ cạnh tranh.

Tuy nhiên, cũng như quả vải, vấn đề chất lượng sản phẩm, khâu khử khuẩn và diệt côn trùng, cũng như bảo quản sau thu hoạch để giữ được hương vị và mùi thơm của nhãn khi tới tay người tiêu dùng lại là vấn đề thuộc về phía doanh nghiệp Việt Nam. Tôi mong rằng các doanh nghiệp Việt Nam chuẩn bị sớm kế hoạch để tháng 9 tới có thể đưa quả nhãn lên hệ thống siêu thị ở Nhật.

- Việt Nam và Nhật Bản sẽ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 2023. Theo Đại sứ, hai nước cần làm gì để đưa quan hệ đối tác chiến lược song phương phát triển sâu rộng và thực chất hơn?

Đại sứ Vũ Hồng Nam: Năm 2023 sẽ là mốc lớn trong quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản khi hai dân tộc đón chào các sự kiện lớn kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Chúng ta tự hào về lịch sử 50 năm đã tạo dựng nên cơ đồ cho quan hệ song phương trải rộng trên các mặt và sâu sắc tới tận đáy lòng của mỗi người dân.

Một cơ ngơi như vậy cần được các thế hệ hai nước tiếp bước. Việc tuyên truyền, khơi dậy lòng hãnh diện về mối quan hệ gắn bó, sẻ chia như vậy cần được các thế hệ trẻ tiếp nối. Tuyên truyền cho thế hệ trẻ về quan hệ “chân thành, tình cảm và tin cậy” là nghĩa vụ của hai nước để các thế hệ trẻ chung tay vun đắp cho quan hệ hai nước.

Liên kết kinh tế trên cơ sở nguyên tắc thiết thực, hiệu quả sẽ là chất keo vững chắc để đưa quan hệ hợp tác, phát triển song phương đi vào thực chất, bền chặt. Nền kinh tế hai nước phải gắn bó trên cơ sở nguyên tắc hai bên cùng có lợi, hỗ trợ và bù đắp. Đó sẽ là nền tảng vững chắc đưa hai nước cùng tiến trên con đường phồn thịnh, hạnh phúc.

Một điều không thể thiếu là mối quan hệ gần gũi, thân thiết, chân thành giữa các thế hệ lãnh đạo hai nước. Tình cảm quý trọng lẫn nhau của nhân dân hai nước cũng sẽ là chất keo kết dính lâu bền, đưa hai dân tộc cùng nhau sánh vai tới phồn vinh, không chỉ cho hai dân tộc, mà còn vì sự thịnh vượng chung của cả khu vực.

- Xin trân trọng cảm ơn Đại sứ./.

 

HÃY ĐOÀN KẾT ĐỂ XÂY DỰNG ĐẤT NƯỚC!

         Chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh có hiệu quả với tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan, làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch chống phá Việt Nam là trách nhiệm của mỗi chúng ta. Để công việc ấy tiến hành có hiệu quả, trước hết cần tuyên truyền cho nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa và đồng bào tôn giáo có nhận thức sâu sắc về “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo”, sự nguy hại của nó để chủ động phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh. Đồng thời qua tuyên truyền, làm cho nhân dân thấy rõ ý đồ đen tối của các thế lực thù địch sử dụng chiêu bài kích động “Chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan tôn giáo” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Chú trọng tuyên truyền về truyền thống quý báu trong lịch sử dân tộc ta; mỗi dân tộc, mỗi loại hình tín ngưỡng, tôn giáo có nguồn gốc, đặc điểm và thời điểm hình thành, sự phát triển khác nhau, nhưng đều có điểm chung đó là tinh thần bao dung, đoàn kết giữa các thành phần dân tộc, đoàn kết lương giáo trong đại gia đình dân tộc Việt Nam. Trong các giai đoạn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng, các dân tộc, các tín đồ ở mỗi tôn giáo đã không tiếc sức người, sức của góp phần to lớn làm nên thắng lợi hào hùng trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, nhiều chức sắc tôn giáo, tăng ni, phật tử đã hướng dẫn tín đồ chấp hành tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sống “tốt đời, đẹp đạo”, “kính Chúa yêu nước” được vinh danh.
Trong lịch sử dân tộc, nhân dân ta bao giờ cũng rất công bằng, nếu những ai đó có công với nước, với dân đều được ghi danh, những ai “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chấp nhận làm tay sai cho các thế lực thù địch, có dã tâm bán rẻ đồng bào và lợi ích quốc gia-dân tộc thì chúng ta kiên quyết đấu tranh lên án và bác bỏ./.

Môi Trường ST.

ĐỪNG NGHĨ SAI THẾ!

     Ông Hùng là công nhân nông trường về hưu. Gần nhà ông, có công ty sản xuất linh kiện điện tử do nước ngoài đầu tư.
Nắm bắt cơ hội, ông xây dãy phòng trọ cho công nhân thuê. Dịp kỷ niệm Ngày Quốc tế Lao động (1-5), đại diện công đoàn công ty đến tận phòng trọ thăm hỏi công nhân có hoàn cảnh khó khăn, ông thấy mừng.

Ấy thế mà sáng nay, hai vợ chồng trẻ cùng là công nhân ở cuối dãy trọ lại cãi nhau. Anh chồng kiên quyết bắt vợ đem túi quà đi trả lại cho công đoàn công ty. Ông hỏi nguyên nhân thì người vợ ấm ức mách:

- Ông ơi, chồng cháu nghe ở đâu về, không cho cháu nhận quà, bắt mang đi trả. Anh ấy còn bảo là mấy anh chị công đoàn chỉ làm hình thức để lợi dụng, tiếp tay cho công ty bóc lột sức lao động của công nhân chứ chẳng có ý tốt gì.

Nghe vợ nói thế, anh chồng trong phòng nói vọng ra:

- Ông thấy cháu nói thế có đúng không? Đấy, lần trước cùng tổ cháu có anh bị công ty trừ lương chỉ vì đi muộn mấy phút. Anh ấy báo với công đoàn cũng không có tác dụng gì mà lại còn giáo huấn là mình sai này nọ. Họ chỉ làm bù nhìn thôi.

Nghe đến đây, ông Hùng hiểu nguyên nhân cuộc đấu khẩu của cặp vợ chồng công nhân trẻ. Ông ôn tồn nói:

- Cháu nghĩ như vậy là sai rồi! Công đoàn là tổ chức đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Vì vậy, công đoàn sẽ đứng bên cháu khi cháu làm đúng, thực hiện đầy đủ chức trách, nhiệm vụ của người lao động. Làm sao người ta bảo vệ cho cái sai được!

Anh chồng chưa hài lòng, lý sự:

- Nhưng ông ơi, lương mấy ông bà công đoàn hưởng mà công ty trả cho họ cũng là từ mồ hôi nước mắt của người lao động. Thế mà họ có bảo vệ gì công nhân đâu, toàn bảo vệ cho ông chủ công ty thôi! Trên mạng xã hội, người ta đang kêu gọi tẩy chay công đoàn đấy ông ạ.

Ông Hùng giật mình bởi suy nghĩ của anh công nhân trẻ, nhưng vẫn kiên nhẫn giảng giải:

- Cháu phải hiểu đúng bản chất vấn đề. Công đoàn ngoài bảo vệ quyền, lợi chính đáng của người lao động, tổ chức vận động người lao động tham gia học tập, nâng cao kỹ năng nghề nghiệp thì còn là tổ chức chính trị-xã hội trực tiếp tham gia giám sát, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển. Vì thế, việc doanh nghiệp trả lương cho họ cũng là bình thường. Hơn nữa, cháu thấy đấy, công đoàn công ty cháu đến tận phòng trọ thăm, tặng quà là thể hiện sự quan tâm của họ dành cho công nhân, giúp công nhân có động lực để phấn đấu lao động tốt hơn, đóng góp cho doanh nghiệp nhiều hơn để công nhân cũng được hưởng thành quả đó. Như vậy, họ vừa mang lại lợi ích cho cả công ty, vừa góp phần động viên, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người lao động. Công đoàn mà bênh cả cái sai của công nhân thì công ty không thể phát triển được, thậm chí ngày càng làm ăn thua lỗ thì công nhân sẽ mất việc làm và giảm thu nhập. Cháu thấy có đúng không?
Nghe đến đây, anh chồng trẻ hiểu ra, thừa nhận là đã suy nghĩ sai về vai trò và nhiệm vụ của công đoàn./.
Môi Trường ST.

 

Giao lưu văn hóa - quan điểm nhất quán, cởi mở và có hệ thống của Đảng ta

 Từ khi ra đời đến nay, trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những quan điểm nhất quán, cởi mở và có hệ thống về giao lưu văn hóa với nước ngoài. Đóng cửa, khép kín và kỳ thị văn hóa nước ngoài là những xu hướng xa lạ với Đảng ta.

Ngay từ khi chưa giành được chính quyền, việc Đảng vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam để đề ra đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một dấu ấn in đậm giao lưu văn hóa. Hồ Chí Minh coi V.I.Lênin là “hiện thân của tình bác ái”, còn chủ nghĩa Lênin là “Cẩm nang thần kỳ… là mặt trời soi sáng đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng” tức là văn hóa. Giao lưu văn hóa trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa ngày nay đòi hỏi bản lĩnh văn hóa Việt Nam, bởi nó là phẩm chất tự quyết định một cách độc lập thái độ, hành động của chúng ta, không vì áp lực bên ngoài mà thay đổi quan điểm. Bản lĩnh, bản sắc dân tộc là cơ sở của giao lưu văn hóa. Trong mọi hoạt động văn hóa, Đảng ta bao giờ cũng quan tâm đến truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhiều nhà hoạt động văn hóa trong những thập niên 20, 30 của thế kỷ trước đã giới thiệu trên báo chí công khai sự nghiệp, sáng tác của M.Gorki, Lỗ Tấn, R.Rôlăng, H,Bácbuytx. Tiểu thuyết Người mẹ được một số nhà chính trị dịch trong nhà tù đế quốc và truyền tay nhau để đọc. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép biện chứng của chủ nghĩa Mác được truyền bá, được coi là cơ sở lý luận cho các cuộc tranh luận học thuật trên báo chí công khai.v.v..

GIAO LƯU VĂN HÓA LÀ MỘT QUY LUẬT CỦA THỜI ĐẠI

Giao lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là quy luật vận động, phát triển của mọi nền văn hóa. Giao lưu văn hóa phản ánh sự học hỏi và tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết là những thành tựu về trí tuệ, khoa học, công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức, quản lý nhà nước. Lịch sử giao lưu văn hóa quốc tế đưa lại cho nhân loại ánh sáng trí tuệ, những phát minh, những kinh nghiệm trong lao động sáng tạo. Nhờ giao lưu văn hóa đúng hướng mà các nước chậm phát triển có cơ hội trở thành những nước phát triển trong thời gian ngắn.

Do hoàn cảnh lịch sử, việc giao lưu văn hóa với thế giới của Việt Nam bị chậm trễ cả về không gian và thời gian so với nhiều nước. Nhưng bù lại, chúng ta có kinh nghiệm hội nhập văn hóa mà không bị đồng hóa. Trong quá trình tiếp xúc với văn hóa Pháp, khoảng từ năm 1919 trở đi, một phong trào canh tân các loại hình văn hóa - nghệ thuật được dấy lên: từ văn tự, ngôn ngữ, báo chí, giáo dục, văn thơ, hội họa, âm nhạc đến sân khấu, điện ảnh nhằm chuyển tải những giá trị dân tộc, nói lên tâm hồn, lối sống, tập quán, tâm lý, thị hiếu của người Việt Nam vào những thập niên đầu thế kỷ. Trong hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của phong kiến Trung Hoa, khi tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, các văn nhân, trí sĩ của ta luôn sáng tạo với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” để hôm nay chúng ta có được một nền văn hóa riêng, độc lập mà không biệt lập, hội nhập mà không hòa tan.

Tuy nhiên, nhiều năm gần đây, những quan niệm về giao lưu văn hóa cũng có chỗ bất cập. Giao lưu văn hóa phải có nhận và cho. Song, cái không cần thiết, thậm chí độc hại thì lại đang có xu hướng “nhận” - nhập vào ồ ạt theo nhiều con đường khác nhau. Điều này đã được nêu lên trong Văn kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII: “Giao lưu văn hóa với nước ngoài chưa tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hóa phẩm độc hại, phản động xâm nhập vào nước ta quá lớn; trong khi đó, số tác phẩm văn hóa có giá trị của nước ta đưa ra bên ngoài còn quá ít”.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ Đề cương văn hóa 1943 cho đến những văn kiện Đại hội XIII (năm 2021), ở những mức độ khác nhau và tùy theo điều kiện lịch sử khách quan đã coi giao lưu văn hóa là một nội dung chiến lược quan trọng, bao chứa nhiều quan điểm nhất quán, nhưng với phương châm hành động khác nhau. Trong Đề cương văn hóa 1943, chúng ta chưa thấy xuất hiện thuật ngữ “giao lưu văn hóa”, bởi bấy giờ phương châm chủ yếu của văn hóa Việt Nam là chống. Chống nguy cơ chính sách văn hóa của thực dân Pháp và phát xít Nhật nhằm giết chết văn hóa nước ta; chống việc Âu hóa một cách lố lăng, Nhật hóa một cách xô bồ, việc học Tống Nho một cách mê muội; đấu tranh với các triết thuyết và tông phái văn nghệ trái với chủ nghĩa Mác. Những yếu tố xây như ba nguyên tắc: dân tộc hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa, xây dựng văn hóa tân dân chủ Đông Dương, trong đó có Việt Nam… là những yếu tố đặt điều kiện giao lưu văn hóa cho các giai đoạn tiếp theo.

Ngày 24/11/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Hội nghị văn hóa toàn quốc khai mạc, Hồ Chủ tịch lên diễn đàn với những kiến giải sâu sắc: “Văn hóa có liên quan mật thiết với chính trị. Văn hóa soi đường cho quốc dân, phải làm thế nào để văn hóa ăn sâu vào tâm lý quốc dân… và phải lấy tự do, độc lập làm gốc”; theo Người: “Có cái gì tốt của Đông phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên một nền văn hóa Việt Nam. Lại phải lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay, trau dồi văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, hợp với tinh thần dân chủ”. Như vậy, quy luật giao lưu văn hóa thường mang phương châm biện chứng: học tập cái tốt của văn hóa bên ngoài, học tập cái hay của văn hóa quá khứ là để xây dựng nền văn hóa hiện nay mang bản sắc dân tộc. Đồng thời, nền văn hóa mang bản sắc dân tộc là tiền đề điều kiện, cơ sở để giao lưu thuận lợi với văn hóa nước ngoài.

Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba (năm 1962), Trung ương đã nhắc nhở các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ hiểu đúng tính chất dân tộc và nhiệm vụ quốc tế của nền văn hóa nước nhà. Đó là hai vế bổ sung cho nhau, làm phong phú lẫn nhau để xây dựng nền văn nghệ mới. Những tư tưởng hư vô, tâm lý dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh, sùng bái quá khứ đều xa lạ với quan điểm của Đảng. Mặt khác, những tư tưởng sùng ngoại, lai căng hoặc bài ngoại đều là những quan điểm thiển cận. Tính chất dân tộc dưới chế độ xã hội chủ nghĩa là kết tinh những giá trị Chân - Thiện - Mỹ của dân tộc, là bản lĩnh biết tiếp thu, chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu cho văn hóa dân tộc.

Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ XX, trong tiểu luận “Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện nay”, Tổng Bí thư Trường Chinh đặt câu hỏi: “Chúng ta học tập gì ở văn nghệ thế giới?” và trả lời: “...Chúng ta cũng cần học hỏi văn nghệ tiến bộ và cách mạng của các nước phương Tây nữa. Chúng ta nghiên cứu cả kỹ thuật của một số trường phái văn nghệ ở các nước ấy, nhưng nghiên cứu với con mắt phê bình, không thần thánh hóa kỹ thuật đó, cũng không bắt chước một cách nô lệ, mà nghiên cứu để giúp vào việc sáng tạo hình thức nghệ thuật dân tộc...”(5).

Đại hội VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu một cột mốc mới trong lịch sử và văn hóa dân tộc. Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế. Đó là một luồng gió mới làm thoáng mát và sống động mọi lĩnh vực đời sống. Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục mở rộng giao lưu văn hóa.

Từ sau Đại hội VI, các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đã bổ sung và phát triển đường lối đổi mới, trong đó có lĩnh vực giao lưu văn hóa, với những quan điểm cơ bản như: xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là vì con ngườido con người; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại; chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp dân tộc và những giá trị cao quý của loài người; nhấn mạnh những nội dung: nhân đạo, dân chủ, tiến bộ trong đời sống tinh thần xã hội và tính chất nền văn hóa mới; chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa...

Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đi vào đời sống vào hợp lòng dân. Về vị thế, vai trò, tác dụng của văn hóa và giao lưu văn hóa của Nghị quyết này được các nhiệm kỳ Đại hội Đảng sau đó tiếp thu một cách cơ bản và làm sáng rõ hơn trong điều kiện lịch sử mới của thế kỷ XXI. Đại hội IX của Đảng ghi rõ: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập - tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế...; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học và công nghiệp...; tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc hại”.

Kế thừa nội dung trong các nghị quyết, văn kiện, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Văn kiện Đại hội XII về xây dựng, phát triển văn hóa, con người, trong Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được trình bày trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng khi khẳng định: “Giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”.

NHỮNG NGUYÊN LÝ VÀ NỘI DUNG GIAO LƯU VĂN HÓA

Một là, tiếp thu có chọn lọc những cái hay, cái tiến bộ của các dân tộc khác.

Bàn về mối quan hệ giữa các dân tộc và vai trò các thành tựu tinh thần của dân tộc, Mác và Ăngghen đã viết: “Những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành sở hữu chung của tất cả các dân tộc khác. Tính chất hẹp hòi, phiến diện dân tộc ngày càng không tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học chung toàn thế giới... Một nước có thể và phải học hỏi kinh nghiệm lịch sử của một nước khác”.

Trong quá trình tiếp thu cái bên ngoài, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình hiện nay, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh, bền bỉ tuyên truyền, giáo dục, nhất là trong thế hệ trẻ, đề phòng tâm lý sính ngoại, phục ngoại vô cớ; mặt khác, cũng tránh tâm lý khép kín, coi thường những giá trị các dân tộc. Thái độ đúng đắn nhất để ứng xử mối quan hệ giữa cái bên ngoài và cái bên trong là: Càng đi vào dân tộc sâu sắc bao nhiêu, thì nhanh chóng hiểu biết, dễ tiếp nhận cái hay, cái đẹp của thế giới bấy nhiêu. Thật đúng chỗ khi dẫn ra đây kiến giải của Hồ Chí Minh: “Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của mình”; “Mỗi một dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc trong nghệ thuật”; “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác - Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”.

Hai là, giới thiệu lịch sử, đất nước, con người, văn hóa Việt Nam với thế giới.

Các giá trị văn hóa truyền thống của nước ta có rất nhiều. Ở đây chỉ xin nêu 3 bình diện nổi trội, đó là: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; nền văn hóa Việt Nam và con người Việt Nam. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự cường dân tộc là tài sản vô giá của truyền thống văn hóa Việt Nam. Nói dân tộc ta có sức sống trường tồn, không bị đồng hóa trước âm mưu thôn tính của kẻ thù, đồng lòng đứng lên chống ngoại xâm là nói sức mạnh của dân, trách nhiệm của dân và lợi ích của dân. Thời nào cũng vậy, lúc bình cũng như lúc biến, các bậc minh quân đều lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm đức, lấy hòa hiếu để ứng xử bang giao; đối nội thì thuận lòng người, đối ngoại thì mềm dẻo, linh hoạt. Truyền thống hòa hiếu là cơ sở chính cho chính sách ngoại giao đa phương để hội nhập với thế giới trong thời đại Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Lê Duẩn có lần nói: “Phải có một nghìn năm văn hóa trước đó, mới có chuyện Hai Bà Trưng thắng quân Hán... Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, không bị đồng hóa là vì sao? Vì sớm có nền văn hóa của mình mà cao nhất là chủ nghĩa yêu nước...”.

Người Việt Nam với những tố chất tích cực như tính cộng đồng cao, ý thức đồng thuận, tính cần cù, cường độ lao động hóa, truyền thống hiếu học.v.v.. đã và sẽ làm được nhiều việc phi thường. Nhưng, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, cần khắc phục một số nhược điểm: người Việt Nam thông minh, nhưng mới ở từng cá nhân, chưa đến độ thông minh cộng đồng, người có trí tuệ lỗi lạc rất hiếm; não bộ người Việt Nam phát triển, nhưng não sáng tạo ít hơn não thích ứng, thói quen bắt chước rất nhanh.v.v.. Nguyên nhân vì sao? Cho đến nay, về cơ bản, tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt Nam vẫn nặng về tư tưởng nông dân, tâm lý tiểu nông, tầm nhìn hạn hẹp, chưa thật sự tôn trọng quyền cá nhân, chấp nhận cá tính, ý thức dân chủ chưa cao, mặc dù Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ngăn ngừa, phê phán không phải một lần.

Ba là, ngăn ngừa và đấu tranh chống sự xâm nhập các sản phẩm văn hóa độc hại.

Những yếu tố độc hại, suy đồi của các sản phẩm văn hóa ngoại lai (dù có chủ ý của các thế lực thù địch hay “vô tư” “vô tâm” du nhập) đã và đang như những đợt sóng ngầm va đập âm ỉ vào bến bờ của nhiều nước đang phát triển như Việt Nam. Nó có những đặc điểm sau: truyền bá phương châm tiêu dùng, lối sống thực dụng, trước hết là lớp trẻ; dùng các hình thức từ thiện, du lịch, tôn giáo để đạt mục đích chính trị; tuyên truyền sùng bái văn hóa phương Tây - coi đó là mô hình chuẩn; tổ chức và bảo trợ cho một số trí thức, văn nghệ sĩ, biến họ thành những “cái loa”, “chất men” phản kháng, chống sự nghiệp đổi mới của ta. Những chiến dịch ồn ào về đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “chuyển lửa về quê hương” đã được thay thế bằng “bàn tay bọc nhung” nắm lấy hoạt động từ thiện, du lịch, “giao lưu văn hóa” giả hiệu để giương cao những tuyên ngôn, tuyên cáo về nhân quyền, tự do, dân chủ với mục đích chính trị đen tối.

Bốn là, giao lưu văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH), cần coi trọng hàng đầu các quy luật đặc thù sau:

1) Xây dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, cường tráng về thể chất. Con người không phải là phương tiện của quá trình CNH-HĐH mà là trung tâm, là động lực và mục tiêu của phát triển;

2) Xây dựng môi sinh văn hóa, tức là “thiên nhiên thứ hai” do con người xây dựng trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa;

3) Đảm bảo điều kiện văn hóa, tức là chính sách, thể chế, pháp lý cần và đủ cho hoạt động văn hóa và xã hội hóa văn hóa;

4) Phát triển, nâng tầm về “chất” đội ngũ quản lý văn hóa.

Giao lưu văn hóa là sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan trọng, thậm chí quyết định cho những cuộc đàm phán về biên giới, lãnh thổ, xung đột sắc tộc. Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến giá trị chunggiá trị nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của người, để các dân tộc khác thừa nhận cái khác biệt của ta. Lo sợ về “cơn lốc toàn cầu hóa” là có thật, nhưng việc dân chủ hóa công nghệ, dân chủ hóa tài chính, dân chủ hóa thông tin là không thể không chấp nhận. Vấn đề còn lại là bản sắc, bản lĩnh, đạo lý dân tộc./.

Nguồn:TG

 

30/4/1975 SẼ VIẾT CHO NHAU "HẠNH PHÚC LÀ THẾ NÀO" - MÃI MÃI TUỔI 20!

     Ngày 30/4/1971, trong thư hồi âm gửi chị Phạm Như Anh, người lính trẻ Nguyễn Văn Thạc đã viết: 
"Hạnh phúc của Thạc và Như Anh chỉ có thể gắn chặt với niềm vui chung của dân tộc mà thôi. 4 năm nữa, biết bao nhiêu sự kiện đã xảy ra. 30/4/1975, thì Như Anh và Thạc đang ở trong tình trạng nào? Như Anh ơi, hứa với Thạc đi, 30/4/1975, dù chúng ta có thể giận, ghét nhau đến đâu đi nữa, dù thế nào cũng sẽ viết cho nhau những dòng chữ 'Hạnh phúc là thế nào' nhé!”.

Trong nhiều bức thư khác, anh Thạc nói mình mơ ước viết được một tác phẩm để đời, kiểu như “Chiến tranh và Hòa bình”, nhưng anh cũng viết: “Như Anh ngày mai làm tiếp cho Thạc, những điều Thạc còn bỏ dở, Như Anh là ngày mai, là tương lai của Thạc”, anh đã linh cảm mình sẽ không còn sống để trở về...

Lá thư cuối cùng Nguyễn Văn Thạc gửi cho chị Như Anh đề ngày 11/7/1972, như một lời từ biệt: “Chiến tranh đã và sẽ lấy đi nhiều hơn của Thạc. Chả có gì là bi kịch đâu. Trong cuộc sống, cái đổ vỡ, cái bi thảm thường sâu thẳm hơn niềm vui nông nổi”.

Và từ đó, chị Như Anh không nhận được thêm bức thư nào của anh Nguyễn Văn Thạc nữa. Ngày 30/7/1972, anh đã hy sinh, nằm lại nơi Thành cổ Quảng Trị.

Nỗi buồn, bi kịch, bi thảm của những người anh hùng là như vậy. Nhưng 30/4 của những năm gần đây, lại có những kẻ lại nhìn nhận "triệu người vui cũng có triệu người buồn" theo hướng "bên thắng cuộc, bên thua cuộc" mà lại dẫn dắt "phải vượt qua, đừng nói chuyện thắng thua, đừng kỷ niệm 30/4 hoành tráng nữa", vì lo cho nỗi buồn của... những kẻ bán nước! Lại có những kẻ nói "gọi nguỵ quân nguỵ quyền là miệt thị, hạ nhục đồng bào bên kia chiến tuyến"!
Bác Hồ vĩ đại đã dạy "nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một" - tại sao lại có những kẻ ở bên kia chiến tuyến để bây giờ đòi được vinh danh? Chúng là những kẻ nào, tại sao cần phải "vinh danh vì họ theo giặc nhưng cũng yêu nước"?
Yêu nước ST.