Giao lưu văn hóa - quan điểm nhất quán,
cởi mở và có hệ thống của Đảng ta
Từ khi ra đời đến nay, trong quá trình
lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đều có những quan điểm nhất quán,
cởi mở và có hệ thống về giao lưu văn hóa với nước ngoài. Đóng cửa, khép kín và
kỳ thị văn hóa nước ngoài là những xu hướng xa lạ với Đảng ta.
Ngay từ
khi chưa giành được chính quyền, việc Đảng vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào
thực tiễn Việt Nam để đề ra đường lối tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ và
cách mạng xã hội chủ nghĩa đã là một dấu ấn in đậm giao lưu văn hóa. Hồ Chí
Minh coi V.I.Lênin là “hiện thân của tình bác ái”, còn chủ nghĩa Lênin là “Cẩm
nang thần kỳ… là mặt trời soi sáng đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối
cùng” tức là văn hóa. Giao lưu văn hóa trong bối cảnh hội nhập
và toàn cầu hóa ngày nay đòi hỏi bản lĩnh văn hóa Việt Nam, bởi nó là phẩm chất
tự quyết định một cách độc lập thái độ, hành động của chúng ta, không vì áp lực
bên ngoài mà thay đổi quan điểm. Bản lĩnh, bản sắc dân tộc là cơ sở của giao
lưu văn hóa. Trong mọi hoạt động văn hóa, Đảng ta bao giờ cũng quan tâm đến
truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhiều
nhà hoạt động văn hóa trong những thập niên 20, 30 của thế kỷ trước đã giới
thiệu trên báo chí công khai sự nghiệp, sáng tác của M.Gorki, Lỗ Tấn, R.Rôlăng,
H,Bácbuytx. Tiểu thuyết Người mẹ được một số nhà chính trị dịch trong
nhà tù đế quốc và truyền tay nhau để đọc. Chủ nghĩa duy vật lịch sử và phép
biện chứng của chủ nghĩa Mác được truyền bá, được coi là cơ sở lý luận cho các
cuộc tranh luận học thuật trên báo chí công khai.v.v..
GIAO LƯU
VĂN HÓA LÀ MỘT QUY LUẬT CỦA THỜI ĐẠI
Giao
lưu văn hóa là một hiện tượng phổ biến của xã hội loài người, là quy luật vận
động, phát triển của mọi nền văn hóa. Giao lưu văn hóa phản ánh sự học hỏi và
tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm của các quốc gia trên nhiều lĩnh vực, trước hết
là những thành tựu về trí tuệ, khoa học, công nghệ, về kinh nghiệm tổ chức,
quản lý nhà nước. Lịch sử giao lưu văn hóa quốc tế đưa lại cho nhân loại ánh
sáng trí tuệ, những phát minh, những kinh nghiệm trong lao động sáng tạo. Nhờ
giao lưu văn hóa đúng hướng mà các nước chậm phát triển có cơ hội trở thành
những nước phát triển trong thời gian ngắn.
Do hoàn
cảnh lịch sử, việc giao lưu văn hóa với thế giới của Việt Nam bị chậm trễ cả về
không gian và thời gian so với nhiều nước. Nhưng bù lại, chúng ta có kinh
nghiệm hội nhập văn hóa mà không bị đồng hóa. Trong quá trình tiếp xúc với văn
hóa Pháp, khoảng từ năm 1919 trở đi, một phong trào canh tân các loại hình văn
hóa - nghệ thuật được dấy lên: từ văn tự, ngôn ngữ, báo chí, giáo dục, văn thơ,
hội họa, âm nhạc đến sân khấu, điện ảnh nhằm chuyển tải những giá trị dân tộc,
nói lên tâm hồn, lối sống, tập quán, tâm lý, thị hiếu của người Việt Nam vào
những thập niên đầu thế kỷ. Trong hàng ngàn năm dưới ách đô hộ của phong kiến
Trung Hoa, khi tiếp xúc với văn hóa phương Bắc, các văn nhân, trí sĩ của ta
luôn sáng tạo với phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến” để hôm nay chúng ta có
được một nền văn hóa riêng, độc lập mà không biệt lập, hội nhập mà không hòa
tan.
Tuy
nhiên, nhiều năm gần đây, những quan niệm về giao lưu văn hóa cũng có chỗ bất
cập. Giao lưu văn hóa phải có nhận và cho. Song,
cái không cần thiết, thậm chí độc hại thì lại đang có xu hướng “nhận” - nhập
vào ồ ạt theo nhiều con đường khác nhau. Điều này đã được nêu lên trong Văn
kiện Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII: “Giao lưu văn hóa với nước ngoài chưa
tích cực và chủ động, còn nhiều sơ hở. Số văn hóa phẩm độc hại, phản động xâm
nhập vào nước ta quá lớn; trong khi đó, số tác phẩm văn hóa có giá trị của nước
ta đưa ra bên ngoài còn quá ít”.
Đảng
Cộng sản Việt Nam từ Đề cương
văn hóa 1943 cho đến những văn kiện Đại hội XIII
(năm 2021), ở những mức độ khác nhau và tùy theo điều kiện lịch sử khách quan
đã coi giao lưu văn hóa là một nội dung chiến lược quan trọng, bao chứa nhiều
quan điểm nhất quán, nhưng với phương châm hành động khác nhau. Trong Đề cương văn hóa 1943, chúng ta chưa thấy xuất hiện thuật ngữ
“giao lưu văn hóa”, bởi bấy giờ phương châm chủ yếu của văn hóa Việt Nam
là chống. Chống
nguy cơ chính sách văn hóa của thực dân Pháp và phát xít Nhật nhằm giết chết
văn hóa nước ta; chống việc Âu hóa một cách lố lăng, Nhật hóa một cách xô bồ,
việc học Tống Nho một cách mê muội; đấu tranh với các triết thuyết và tông phái
văn nghệ trái với chủ nghĩa Mác. Những yếu tố xây như ba nguyên tắc: dân tộc
hóa, khoa học hóa, đại chúng hóa, xây dựng văn hóa tân dân chủ Đông Dương,
trong đó có Việt Nam… là những yếu tố đặt điều kiện giao lưu văn hóa cho các
giai đoạn tiếp theo.
Ngày
24/11/1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội, Hội nghị văn hóa toàn quốc khai mạc, Hồ Chủ
tịch lên diễn đàn với những kiến giải sâu sắc: “Văn hóa có liên quan mật thiết
với chính trị. Văn hóa soi đường cho quốc dân, phải làm thế nào để văn hóa ăn
sâu vào tâm lý quốc dân… và phải lấy tự do, độc lập làm gốc”; theo Người: “Có
cái gì tốt của Đông phương hay Tây phương ta phải học lấy để tạo nên một nền
văn hóa Việt Nam. Lại phải lấy kinh nghiệm tốt của văn hóa xưa và văn hóa nay,
trau dồi văn hóa Việt Nam có tinh thần thuần túy Việt Nam, hợp với tinh thần
dân chủ”. Như vậy, quy luật giao lưu văn hóa thường mang phương châm biện
chứng: học tập cái tốt của văn hóa bên ngoài, học tập cái hay của văn hóa quá
khứ là để xây dựng nền văn hóa hiện nay mang bản sắc dân tộc. Đồng thời, nền
văn hóa mang bản sắc dân tộc là tiền đề điều kiện, cơ sở để giao lưu thuận lợi
với văn hóa nước ngoài.
Tại Đại hội Văn nghệ toàn quốc lần thứ ba
(năm 1962), Trung ương đã nhắc nhở các nhà văn hóa, văn nghệ sĩ hiểu đúng tính chất dân tộc và nhiệm vụ quốc tế của nền văn hóa nước nhà. Đó là hai
vế bổ sung cho nhau, làm phong phú lẫn nhau để xây dựng nền văn nghệ mới. Những
tư tưởng hư vô, tâm lý dân tộc hẹp hòi, chủ nghĩa sôvanh, sùng bái quá khứ đều
xa lạ với quan điểm của Đảng. Mặt khác, những tư tưởng sùng ngoại, lai căng
hoặc bài ngoại đều là những quan điểm thiển cận. Tính chất dân tộc dưới chế độ
xã hội chủ nghĩa là kết tinh những giá trị Chân - Thiện - Mỹ của dân tộc, là
bản lĩnh biết tiếp thu, chọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại để làm giàu
cho văn hóa dân tộc.
Vào đầu
thập niên 70 của thế kỷ XX, trong tiểu luận “Mấy vấn đề văn nghệ Việt Nam hiện
nay”, Tổng Bí thư Trường Chinh đặt câu hỏi: “Chúng ta học tập gì ở văn nghệ thế
giới?” và trả lời: “...Chúng ta cũng cần học hỏi văn nghệ tiến bộ và cách mạng
của các nước phương Tây nữa. Chúng ta nghiên cứu cả kỹ thuật của một số trường
phái văn nghệ ở các nước ấy, nhưng nghiên cứu với con mắt phê bình, không thần
thánh hóa kỹ thuật đó, cũng không bắt chước một cách nô lệ, mà nghiên cứu để
giúp vào việc sáng tạo hình thức nghệ thuật dân tộc...”(5).
Đại hội
VI của Đảng (năm 1986) đánh dấu một cột mốc mới trong lịch sử và văn hóa dân
tộc. Đảng đã khởi xướng đường lối đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy kinh tế.
Đó là một luồng gió mới làm thoáng mát và sống động mọi lĩnh vực đời sống.
Thành tựu lớn nhất của giai đoạn này là giữ vững ổn định chính trị, tiếp tục mở
rộng giao lưu văn hóa.
Từ sau
Đại hội VI, các nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đã bổ sung và phát triển đường lối
đổi mới, trong đó có lĩnh vực giao lưu văn hóa, với những quan điểm cơ bản như:
xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; mục tiêu và động lực
chính của sự phát triển là vì con
người, do con
người; kế thừa và phát huy truyền thống văn hóa
tốt đẹp của các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại;
chống tư tưởng, văn hóa phản tiến bộ, trái với truyền thống tốt đẹp dân tộc và
những giá trị cao quý của loài người; nhấn mạnh những nội dung: nhân đạo, dân
chủ, tiến bộ trong đời sống tinh thần xã hội và tính chất nền văn hóa mới;
chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa...
Nghị
quyết Trung ương 5 khóa VIII về xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đã đi vào đời sống vào hợp lòng dân.
Về vị thế, vai trò, tác dụng của văn hóa và giao lưu văn hóa của Nghị quyết này
được các nhiệm kỳ Đại hội Đảng sau đó tiếp thu một cách cơ bản và làm sáng rõ
hơn trong điều kiện lịch sử mới của thế kỷ XXI. Đại hội IX của Đảng ghi rõ:
“Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập - tự chủ, rộng mở, đa phương
hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng làm bạn, là đối tác tin
cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế...; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong
nghiên cứu khoa học và công nghiệp...; tiếp thu tinh hoa và góp phần làm phong
phú thêm nền văn hóa nhân loại. Đấu tranh chống sự xâm nhập của văn hóa độc
hại”.
Kế thừa
nội dung trong các nghị quyết, văn kiện, nhất là Nghị quyết Hội nghị Trung ương
5 khóa VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người
Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, Văn kiện Đại hội XII về xây dựng, phát
triển văn hóa, con người, trong Văn kiện Đại hội XIII, quan điểm của Đảng về
xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam được trình
bày trong mối quan hệ thống nhất, biện chứng khi khẳng định: “Giữ gìn và phát
huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, hội nhập quốc tế”.
NHỮNG
NGUYÊN LÝ VÀ NỘI DUNG GIAO LƯU VĂN HÓA
Một là, tiếp thu có chọn lọc những cái hay,
cái tiến bộ của các dân tộc khác.
Bàn về
mối quan hệ giữa các dân tộc và vai trò các thành tựu tinh thần của dân tộc,
Mác và Ăngghen đã viết: “Những thành quả hoạt động tinh thần của một dân tộc
trở thành sở hữu chung của tất cả các dân tộc khác. Tính chất hẹp hòi, phiến
diện dân tộc ngày càng không tồn tại được nữa; và từ những nền văn học dân tộc
và địa phương muôn hình muôn vẻ, đang nảy nở một nền văn học chung toàn thế
giới... Một nước có thể và phải học hỏi kinh nghiệm lịch sử của một nước khác”.
Trong
quá trình tiếp thu cái bên ngoài, đặc biệt là trong bối cảnh, tình hình hiện
nay, chúng ta phải tiếp tục đẩy mạnh, bền bỉ tuyên truyền, giáo dục, nhất là
trong thế hệ trẻ, đề phòng tâm lý sính ngoại, phục ngoại vô cớ; mặt khác, cũng
tránh tâm lý khép kín, coi thường những giá trị các dân tộc. Thái độ đúng đắn
nhất để ứng xử mối quan hệ giữa cái bên
ngoài và cái bên trong là: Càng đi vào dân tộc sâu sắc bao
nhiêu, thì nhanh chóng hiểu biết, dễ tiếp nhận cái hay, cái đẹp của thế giới
bấy nhiêu. Thật đúng chỗ khi dẫn ra đây kiến giải của Hồ Chí Minh: “Văn hóa của
các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới
có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của mình”; “Mỗi một dân tộc cần phải
chăm lo đặc tính dân tộc trong nghệ thuật”; “Càng thấm nhuần chủ nghĩa Mác -
Lênin, càng phải coi trọng những truyền thống tốt đẹp của cha ông”.
Hai là, giới thiệu lịch sử, đất nước, con người,
văn hóa Việt Nam với thế giới.
Các giá
trị văn hóa truyền thống của nước ta có rất nhiều. Ở đây chỉ xin nêu 3 bình
diện nổi trội, đó là: chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; nền văn hóa Việt Nam và con
người Việt Nam. Trong đó, chủ nghĩa yêu nước, ý thức tự cường dân tộc là tài
sản vô giá của truyền thống văn hóa Việt Nam. Nói dân tộc ta có sức sống trường
tồn, không bị đồng hóa trước âm mưu thôn tính của kẻ thù, đồng lòng đứng lên
chống ngoại xâm là nói sức mạnh của dân, trách nhiệm của dân và lợi ích của
dân. Thời nào cũng vậy, lúc bình cũng như lúc biến, các
bậc minh quân đều lấy dân làm gốc, lấy nhân nghĩa làm đức, lấy hòa hiếu để
ứng xử bang giao; đối nội thì thuận lòng người, đối ngoại thì mềm dẻo, linh
hoạt. Truyền thống hòa hiếu là cơ sở chính cho chính sách ngoại giao đa phương
để hội nhập với thế giới trong thời đại Hồ Chí Minh. Tổng Bí thư Lê Duẩn có lần
nói: “Phải có một nghìn năm văn hóa trước đó, mới có chuyện Hai Bà Trưng thắng
quân Hán... Dân tộc Việt Nam, con người Việt Nam, không bị đồng hóa là vì sao?
Vì sớm có nền văn hóa của mình mà cao nhất là chủ nghĩa yêu nước...”.
Người
Việt Nam với những tố chất tích cực như tính cộng đồng cao, ý thức đồng thuận,
tính cần cù, cường độ lao động hóa, truyền thống hiếu học.v.v.. đã và sẽ làm
được nhiều việc phi thường. Nhưng, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng,
cần khắc phục một số nhược điểm: người Việt Nam thông minh, nhưng mới ở từng cá
nhân, chưa đến độ thông minh cộng đồng, người có trí tuệ lỗi lạc rất hiếm; não
bộ người Việt Nam phát triển, nhưng não sáng
tạo ít hơn não thích ứng, thói quen bắt chước rất nhanh.v.v..
Nguyên nhân vì sao? Cho đến nay, về cơ bản, tinh thần cốt lõi của văn hóa Việt
Nam vẫn nặng về tư tưởng nông dân, tâm lý tiểu nông, tầm nhìn hạn hẹp, chưa
thật sự tôn trọng quyền cá nhân, chấp nhận cá tính, ý thức dân chủ chưa cao,
mặc dù Nghị quyết của Đảng, các văn bản pháp quy của Nhà nước đã ngăn ngừa, phê
phán không phải một lần.
Ba là, ngăn ngừa và đấu tranh chống sự xâm nhập
các sản phẩm văn hóa độc hại.
Những
yếu tố độc hại, suy đồi của các sản phẩm văn hóa ngoại lai (dù có chủ ý của các
thế lực thù địch hay “vô tư” “vô tâm” du nhập) đã và đang như những đợt sóng ngầm va đập
âm ỉ vào bến bờ của nhiều nước đang phát triển như Việt Nam. Nó có những đặc
điểm sau: truyền bá phương châm tiêu dùng, lối sống thực dụng, trước hết là lớp
trẻ; dùng các hình thức từ thiện, du lịch, tôn giáo để đạt mục đích chính trị;
tuyên truyền sùng bái văn hóa phương Tây - coi đó là mô hình chuẩn; tổ chức và
bảo trợ cho một số trí thức, văn nghệ sĩ, biến họ thành những “cái loa”, “chất
men” phản kháng, chống sự nghiệp đổi mới của ta. Những chiến dịch ồn ào về đa
nguyên chính trị, đa đảng đối lập, “chuyển lửa về quê hương” đã được thay thế
bằng “bàn tay bọc nhung” nắm lấy hoạt động từ thiện, du lịch, “giao lưu văn
hóa” giả hiệu để giương cao những tuyên ngôn, tuyên cáo về nhân quyền, tự do,
dân chủ với mục đích chính trị đen tối.
Bốn là, giao lưu văn hóa trong thời kỳ hội nhập
quốc tế, công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH-HĐH), cần coi trọng hàng đầu các
quy luật đặc thù sau:
1) Xây
dựng con người Việt Nam phát triển cao về trí tuệ, phong phú
về tinh thần, trong sáng về đạo đức, cường tráng về thể chất. Con người không
phải là phương tiện của quá trình CNH-HĐH mà là trung tâm, là động lực và mục
tiêu của phát triển;
2) Xây
dựng môi sinh văn hóa, tức là “thiên nhiên thứ hai” do con
người xây dựng trong quá trình CNH-HĐH và đô thị hóa;
3) Đảm
bảo điều kiện văn hóa, tức là chính sách, thể chế, pháp lý cần
và đủ cho hoạt động văn hóa và xã hội hóa văn hóa;
4) Phát
triển, nâng tầm về “chất” đội ngũ quản lý văn hóa.
Giao
lưu văn hóa là sự đối thoại giữa các nền văn hóa nhiều khi đóng vai trò quan
trọng, thậm chí quyết định cho những cuộc đàm phán về biên giới, lãnh thổ, xung
đột sắc tộc. Quá trình giao lưu văn hóa cần tính đến giá trị chung, giá trị
nhân loại, đồng thời thừa nhận cái khác biệt của người, để các dân tộc khác thừa
nhận cái khác biệt của ta. Lo sợ về “cơn lốc toàn cầu
hóa” là có thật, nhưng việc dân chủ hóa công nghệ, dân chủ hóa tài chính, dân
chủ hóa thông tin là không thể không chấp nhận. Vấn đề còn lại là bản sắc, bản
lĩnh, đạo lý dân tộc./.
Nguồn:TG
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét