Đoàn kết là yếu tổ hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến
Chủ Nhật, 8 tháng 5, 2022
Biết đồng sức, biết đồng lòng, việc gì khó, cũng làm xong
Đoàn kết là yếu tổ hạt nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài thơ “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh được Người sáng tác trong thời kỳ cách mạng khó khăn, gian khổ bởi các thế lực thực dân, phong kiến
ĐẤU TRANH BẢO VỆ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Cuộc đấu tranh bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên, hệ trọng, có ý nghĩa sống còn của công tác tư tưởng chính trị, công tác lý luận của Đảng, đòi hỏi phải ngày càng toàn diện
77 năm Ngày Chiến thắng phát xít: Chiến thắng lịch sử mang ý nghĩa thời đại
Vào ngày này 77 năm về trước, ngày 9/5/1945 mãi mãi đi vào lịch sử nhân loại khi cuộc chiến chống chủ nghĩa phát xít kết thúc với chiến thắng vang dội của Hồng quân Liên Xô và các nước Đồng minh, tạo tiền đề quan trọng chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ II, giúp loài người thoát khỏi thảm họa diệt vong. Với ý nghĩa hào hùng, mang tính thời đại đó, ngày này hằng năm trở thành Ngày Chiến thắng của tất cả các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý; ngày tưởng nhớ, tri ân những người đã chiến đấu, hy sinh vì lý tưởng bảo vệ Tổ quốc.
Chiến thắng vĩ đại của nhân loại
Nhân loại sẽ còn nhắc tới Chiến tranh Thế giới thứ II (1939-1945) như một cuộc chiến tàn khốc nhất, đẫm máu nhất, đau thương nhất với quy mô rộng lớn nhất. Chiến tranh Thế giới thứ II là cuộc chiến tranh lớn nhất trong lịch sử nhân loại do liên minh phát xít Đức, Ý và quân phiệt Nhật Bản phát động, tập trung chủ yếu tại chiến trường châu Âu và bao trùm trên hầu hết các châu lục, liên quan đến hơn 70 nước với 1,7 tỷ người, trong đó có tới 110 triệu quân tham chiến.
Sau khi đánh chiếm hàng loạt nước châu Âu, phát xít Đức tập trung lực lượng lớn tiến công Liên Xô, mở ra cuộc chiến tranh Xô-Đức (1941-1945) với những đòn tấn công khốc liệt và chớp nhoáng, song đã nhận lại sự chống trả quyết liệt của quân và dân Liên Xô. Sau khi chuyển từ phòng ngự sang chiến lược phản công, Hồng quân Liên Xô tấn công dồn dập quân Đức trên mặt trận phía Đông, giải phóng Tổ quốc và nhiều quốc gia trong khu vực. Đúng 0h43 ngày 9/5/1945 (theo giờ Moskva), đại diện Đức quốc xã đã phải ký biên bản xác nhận đầu hàng vô điều kiện Liên Xô và các nước Đồng minh.
Ở thời kỳ đó, đã có tới 27 triệu chiến sĩ Hồng quân và người dân Liên Xô ngã xuống để tạo nên hòa bình, tạo nên chiến tích vẻ vang cho nước Nga và cho cả nhân loại. Chủ nghĩa phát xít lúc bấy giờ là “kẻ thù chung” của cả thế giới, đe dọa sự an nguy, thậm chí là sự sống còn của nhân loại. Chính vì vậy, chiến thắng của Liên Xô và các nước yêu chuộng hòa bình còn là động lực quan trọng thúc đẩy các dân tộc bị áp bức đứng lên giành lại độc lập, tự do chính đáng của mình.
Từ đây, các dân tộc bị áp bức đã vùng lên mạnh mẽ giành độc lập, tự do và quyền tự quyết định vận mệnh của mình, làm lung lay, sụp đổ hệ thống thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc, thực dân tại châu Á, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Trong đó, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã làm nên Cách mạng Tháng Tám thành công, lập ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á, mở ra một chặng đường lịch sử mới đầy tự hào và vẻ vang.
Chiến thắng phát xít của Hồng quân Liên Xô cũng đã tạo nên nền tảng cho chủ nghĩa đa phương thế giới ngày nay, tạo bước chuyển mạnh mẽ đối với cục diện chính trị thế giới. Nổi bật nhất là sự ra đời của Liên hợp quốc với những nguyên tắc quan hệ quốc tế như tôn trọng quyền bình đẳng, quyền tự quyết giữa các quốc gia; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình...

Với những ý nghĩa vẻ vang và cao cả ấy nên dù đã 77 năm trôi qua với biết bao thăng trầm, biến cố của thời cuộc, nhưng cuộc chiến tranh vĩ đại chiến thắng chủ nghĩa phát xít vẫn luôn được người dân yêu chuộng hòa bình trên khắp thế giới vinh danh, bởi đó chính là nền móng vững chắc kiến tạo nên thế giới phát triển tốt đẹp, bền vững như ngày nay.
Những bài học còn nguyên giá trị
77 năm đã qua đi kể từ khi kết thúc Chiến tranh Thế giới thứ II và Chiến tranh giữ nước vĩ đại của nhân dân Xô Viết, nhưng những bài học về cuộc chiến chống phát xít thì vẫn còn nguyên vẹn ý nghĩa thiết thực đối với thế giới đương đại và sẽ luôn được mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới bảo vệ và mãi trường tồn.
Bài học thứ nhất, tổn thất, thương vong lớn về con người luôn nhắc nhở nhân dân thế giới ngày nay cần phải trân trọng và giữ gìn nền hòa bình thế giới như thế nào để không tái diễn thảm họa phát xít dưới bất kỳ hình thức nào.
Bài học thứ hai, cần thấy rằng nhân dân Liên Xô trong cuộc chiến đấu chống phát xít đã tổn thất rất nặng nề và làm nên một sứ mệnh lịch sử, cứu loài người thoát khỏi thảm họa của chủ nghĩa phát xít, và sau chiến thắng ấy, nhân dân Liên Xô trở thành thành trì của Chủ nghĩa xã hội, đặt ra một xu hướng phát triển của các dân tộc bị áp bức trên thế giới và dẫn đến sụp đổ từng phần của chủ nghĩa thực dân, đề quốc. Vì thế, những bài học về cuộc chiến tranh chống phát xít 77 năm trước vẫn có ý nghĩa thiết thực đối với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì mục tiêu hoà bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội.
Ngày nay, trong bối cảnh thời thế đã đổi thay, thế giới đã và đang bước vào thời đại toàn cầu hóa, lợi ích quốc gia và quốc tế được xây dựng trên nền tảng các mối quan hệ đa phương, đa dạng với mong muốn cùng tồn tại hoà bình và phát triển. Tuy nhiên, tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc cùng với sản phẩm của nó là chủ nghĩa phát xít mới đang hình thành và biến tướng dưới nhiều hình thức như: chạy đua vũ trang, xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, khủng bố… Nhưng có một sự thật không thể chối cãi, đó là chiến thắng chủ nghĩa phát xít là chiến thắng của nhân dân và quân đội Xô Viết dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, của các nước đồng minh và các lực lượng tiến bộ thế giới. Trong đó vai trò quyết định thuộc về những người Xô Viết anh hùng, mà nhờ đó đã cứu loài người thoát khỏi thảm hoạ phát xít, đem lại cuộc sống hoà bình cho nhiều dân tộc và tạo nên những chuyển biến mang tính bước ngoặt của tình hình thế giới - thời đại không dung thứ tội ác và chiến tranh. Trong Thông điệp Liên bang năm 2020, Tổng thống Vladimir Putin từng nhấn mạnh, đối với nước Nga, Ngày 9/5 là Ngày lễ vĩ đại nhất, thiêng liêng nhất, khẳng định quyết tâm “dùng sự thật để chống lại những luận điệu dối trá trắng trợn và những mưu đồ viết lại lịch sử”.
Trong những ngày đầu tháng 5 này, nhiều nơi trên thế giới trong đó đi đầu là nước Nga đã diễn ra nhiều hoạt động kỷ niệm Ngày Chiến thắng vẻ vang năm xưa để nhắc lại sự kiện tự hào và tưởng nhớ những con người đã hy sinh trong những năm tháng tàn khốc nhất lịch sử loài người, cũng như tri ân những cống hiến cho hòa bình thế giới, nhắc nhở phải luôn đấu tranh chống lại những mầm mống đe dọa tới nhân loại trong hiện tại.
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI PHƯƠNG CHÂM KIÊN ĐỊNH, SÁNG TẠO, PHÁT TRIỂN
Trước Hồ Chí Minh, các bậc tiền bối đã “cố đi tìm đường cứu nước theo lối mới” nhưng đều thất bại. Chính lúc đó, Hồ Chí Minh với lòng yêu nước thương dân cháy bỏng nên đã quyết tâm phải tìm cách
Công tác tôn giáo luôn được đổi mới, thực hiện tốt hơn
Trên cơ sở đặc
điểm tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam ngay từ khi mới
thành lập đã xác định đường lối tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo để giải
phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Trong cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân
dân, chính sách “Tín ngưỡng, tự do, lương giáo đoàn kết” do Chủ tịch Hồ Chí
Minh đề ra đã góp phần to lớn vào thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh giành độc
lập dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Đế quốc Mỹ, đường
lối đại đoàn kết toàn dân, tự do tín ngưỡng đã động viên hàng chục vạn tín đồ
các tôn giáo tham gia cuộc đấu tranh giành và bảo vệ đất nước, đã có hàng vạn
bộ đội thanh niên xung phong; hàng ngàn liệt sỹ, thương binh, hàng trăm bà mẹ
Việt Nam anh hùng là tín đồ các tôn giáo. Trong sự nghiệp xây dựng đất nước sau
chiến tranh, Đảng ta đã quan tâm đến công tác tôn giáo. Năm 1990 Bộ Chính trị
khóa VI đã ra nghị quyết 24 về công tác tôn giáo. Các Đại hội Đảng VII, VIII
tiếp tục khẳng định quan điểm đó. Năm 1998, Bộ Chính trị ban hành chỉ thị 37 -
CT/TW về “Công tác tôn giáo trong tình hình mới” .Trong thời kỳ đổi mới, Đảng
tiếp tục thực hiện quan điểm đó bằng Nghị quyết trung ương 7, khóa IX, với 5
quan điểm cơ bản. Từ quan điểm của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa bằng pháp luật
đối với các hoạt động tôn giáo. Hướng dẫn giúp đỡ các tôn giáo xây dựng đường
hướng hành đạo tiến bộ, gắn bó với dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, sống
“tốt đời, đẹp đạo”. Điều đó, được ghi nhận trong hiến pháp đầu tiên năm 1946.
Trong Điều 10 quy định “Công dân Việt Nam có quyền…tự do tín ngưỡng”; Hiến pháp
năm 1959, Điều 26 quy định “Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền tự
do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”; Hiến pháp 1980, Điều 68
quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo
nào không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà
nước”; Hiến pháp năm 1992, Điều 70 “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước
pháp luật…không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp
luật và chính sách của Nhà nước”; Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo năm 2004, Điều
1 quy định “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo
một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công
dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước
pháp luật. Công dân có tín ngưỡng tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng tôn giáo
cũng như công dân có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau”;
hiến pháp năm 2013, xác định “tôn giáo là quyền con người”
Củng cố, phát triển cơ sở xã hội của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Hiện nay, trong các văn kiện, Đảng ta đã xác định cơ sở
kinh tế, cơ sở chính trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để nền dân chủ xã hội chủ
nghĩa vận hành đồng bộ, cần thống nhất nhận thức cơ sở xã hội - đó là các tổ chức xã hội tự nguyện, hợp pháp của nhân dân. Hình thức tồn tại của tổ chức này là các hội,
hiệp hộì, câu lạc bộ, nhóm xã hội. Yêu cầu các tổ chức này không trái với các
quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội. Chức năng các tổ chức
này vừa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vừa tham gia các
hoạt động cộng đồng. Trước hết, cần có lộ trình cụ thể thể chế hóa các quyền tự
do dân chủ trong Hiến pháp năm 2013 thành các quy định pháp luật cụ thể. Tiếp
theo, để rút kinh nghiệm với các bản hiến pháp trước đây, cần có quy định về
các quyền tự do, dân chủ của công dân, nhưng các cơ quan nhà nước không thể chế
hóa các quyền đó thành các luật cụ thể; từ đó, người dân không được hưởng các
quyền làm chủ trên thực tế.
Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường của vai trò nòng
cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội
trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hành dân chủ, tăng cường đồng
thuận xã hội...Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ
quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực
tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước...”
Văn hóa đọc sách theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn coi trọng sách báo. Nhưng với Người, đọc sách không chỉ đơn thuần là để giải trí hay nâng cao các hiểu biết thông thường. Mà với Người đọc sách còn chủ yếu là để
Các tôn giáo ở Việt Nam hoạt động ôn hòa, hòa quyện mà không hợp nhất. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo mang đậm nét cảm tính, tâm lý.
Trong lịch sử các tôn giáo ở Việt Nam có
lúc chung sống không thật yên ả, nhưng về cơ bản tôn trọng lẫn nhau, không đối
đầu, không có chiến tranh tôn giáo, chỉ có các lực lượng chính trị lợi dụng vấn
đề tôn giáo để hòng chia rẽ khối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, nhưng chúng
đều thất bại. Tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có tính dung hợp, đan xen, hòa
đồng, dễ chấp nhận sự hiện diện của các vị thần, thánh của các tôn giáo khác. Những
người theo tôn giáo khác nhau không xa lánh người mình thờ phụng; có thể sống
chung trong một làng, một dòng họ, thậm chí một gia đình.
Đa số tín đồ các tôn giáo là người lao
động, trong đó chủ yếu là nông dân. Từ lối sống mang đậm nét tiểu nông, nên
nhiều tín đồ tôn giáo ở Việt Nam tuy khá sùng đạo nhưng lại không hiểu rõ giáo
lý, thậm chí ra nhập đạo chỉ do sự lan truyền tâm lý, do sự lôi kéo. Đối với bộ
phận khá lớn cư dân Việt nam, tôn giáo thuần tuý là lĩnh vực tình cảm, tâm lý,
nó như cái gì bình thường tự nhiên, đây cũng là một nguyên nhân khiến người
Việt Nam có thái độ dung hoà, cởi mở khi tiếp nhận các tôn giáo. Tín đồ các tôn
giáo ở Việt Nam có nhu cầu cao trong sinh hoạt tôn giáo, nhất là những sinh
hoạt tôn giáo mang tính chất lễ hội. Một bộ phận tín đồ của một số tôn giáo vẫn
còn mê tín dị đoan, thậm trí cuồng tín dễ bị các phần từ thù địch lôi kéo.
PHỦ NHẬN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH – LƯƠNG TÂM NHÀU ÚA, DANH DỰ TÀN PHAI
Không phải là người ta không biết, mà trái lại, biết rất rõ nhưng cố tình làm ngơ, “đội mũ phớt lờ”, tự cho mình là “khách quan”, “trung thực” khi phán xét, phủ nhận bản chất khoa học, cách mạng của chủ
Xây dựng hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân theo hướng “kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động”.
Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ
xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính
khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật.
Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện
pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có
cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát
cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân.
Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc
thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền,
giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy
quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và
nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường
trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ
có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ
lợi ích của nhân dân.
Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử
là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập
bởi nhân dân và nhân dân tự
thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân
chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các
quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực
thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó
thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng.
Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn
chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu
hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.
Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm
cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần
thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng viên trong việc tranh cử vào các vị trí
lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh giữa đảng viên với người không phải đảng
viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh
lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động
của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh không công
khai, cạnh tranh ngầm trong lựa chọn, bổ nhiệm
cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh
thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn sự phát hiện và giới thiệu
của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá nhân được giới thiệu không
hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức không ai chịu trách nhiệm về sự
giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử, cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm
trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ
thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát
tính hiệu quả trong hoạt động của các vị trí trên. Đây có thể coi là hình thức
mới của thực hiện dân chủ xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.
Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn
két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy
chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế
như điều lệ Đảng.
Nghiên cửu phân định
quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước và quyền lực tối
cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực công của Nhà nước đã được quy định
khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực
tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác
định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò
làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
+ Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở,
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu
tố hợp lý, điều chỉnh những quy định không phù hợp.
Hiện nay, cần tổng kết kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở cơ sở
để mở rộng phạm vi, mức độ ở cấp cao hơn, rộng hơn, nhất là trong thực hiện quyền
dân chủ trực tiếp của nhân dân.
+ Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu cử trực
tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm kỳ
2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm.
+ Hoàn thiện thể chế chính trị đáp ứng yêu cầu của xây dựng,
thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tình hình mới. Trước hết,
phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành có hiệu quả các chuẩn mực
dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ
ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì dân.
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời
và phát triển từ hàng ngàn năm nay. Quá trình tồn tại và phát triển của tôn
giáo ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống chính trị, văn hóa, xã hội, đến tâm lý,
đạo đức, lối sống, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc, quốc gia. Việt Nam là
quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng, tôn giáo. Với vị trí nằm ở khu vực Đông
Nam Á có ba mặt giáp biển, Việt Nam rất thuận lợi trong mối giao lưu với các
nước trên thế giới và cũng là nơi rất dễ cho việc thâm nhập các luồng văn hóa,
các tôn giáo trên thế giới.
Về mặt dân cư, Việt Nam là quốc gia đa dân
tộc. Mỗi dân tộc đều lưu giữ các hình thức tín ngưỡng, tôn giáo riêng của mình.
Người Việt có các hình thức dân gian như thờ cúng ông bà tổ tiên, thờ Thành
hoàng, thờ những người có công với cộng đồng, dân tộc, thờ thần, thờ thánh,
nhất là tục thờ Mẫu của cư dân nông nghiệp lúa nước. Đồng bào các dân tộc thiểu
số với hình thức tín ngưỡng nguyên thủy (còn gọi là tín ngưỡng sơ khai) như Tô
tem giáo, Bái vật giáo, Sa man giáo.
Ở Việt Nam có những tôn giáo có nguồn gốc
từ phương Đông như Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo; có tôn giáo có nguồn gốc từ
phương Tây như Thiên chúa giáo, Tin Lành; có tôn giáo sinh ra tại Việt Nam như
Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo; có tôn giáo hoàn chỉnh (có hệ thống giáo lý, giáo
luật, lễ nghị và tổ chức giáo hội), có những hình thức tôn giáo sơ khai. Có tôn
giáo đã phát triển và hoạt động ổn định; có tôn giáo chưa ổn định, đang trong
quá trình tìm kiếm đường hướng mới cho phù hợp.
Ước tính đến nay ở Việt Nam có khoảng 95%
dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Tín ngưỡng ở Việt Nam rất đa dạng, bao
gồm: Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên; tín ngưỡng thờ Thành hoàng; tín ngưỡng thờ
anh hùng dân tộc; tín ngưỡng thờ Mẫu. Về tôn giáo, ở Việt Nam hiện
nay có 43 tổ chức, hệ phái tôn giáo thuộc 16 tôn giáo, với trên 24 triệu tín đồ,
chiếm khoảng 27% dân số cả nước; hiện có 6 tôn giáo lớn, trong đó có 2 tôn giáo
nội sinh là Phật giáo Hoà hảo và Đạo Cao đài.
Với sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng,
tôn giáo nói trên, người ta thường ví Việt Nam như bảo tàng tôn giáo của thế
giới. Về khía cạnh văn hóa, sự đa dạng các loại hình tín ngưỡng tôn giáo đã góp
phần làm cho nền văn hóa Việt Nam phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên đó là những
khó khăn đặt ra trong việc thực hiện chủ trương, chính sách đối với tôn giáo
nói chung và đối với từng tôn giáo cụ thể.
ĐÓ LÀ TINH THẦN DÂN TỘC VÀ CHƯA BAO GIỜ DÂN TỘC VIỆT NAM ĐÁNH MẤT ĐI BẢN SẮC RIÊNG CỦA MÌNH CẢ".
Có một nhà báo Mỹ đã từng hỏi Hồ Chủ tịch: Làm thế nào để Việt Nam có thể duy trì cuộc chiến tranh chống lại người Pháp khi mà Việt Nam không có đủ vũ khí, nhất là vũ khí tối tân, cuộc chiến như vậy là vô vọng?
Xây dựng, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo cơ sở kinh tế vững chắc cho xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thể chế hóa quan điểm
của Đảng về phát triển đa dạng các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế, loại hình doanh
nghiệp; bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu tài sản thuộc các hình thức sở hữu,
loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Xây dựng hoàn thiện luật pháp về sở hữu
đối với các tài sản mới như sở hữu trí tuệ cồ phiếu, trái phiếu... quy định rõ,
quyền trách nhiệm của các chủ sò hữu đối vói xã hội.
Thể chế môi trường kinh doanh cũng như thể chế kinh tế nói
chung chỉ phát huy tác dụng có hiệu quả khi tạo được sự đổi mới triệt để nhận
thức đúng đắn của xã hội về vai trò quan trọng của thể chế, “...phấn đấu đến
năm 2030 môi trường kinh doanh của Việt Nam được xếp vào nhóm 30 quốc gia hàng
đầu” đồng thời xây dựng và hoàn thiện thể chế phải được tiến hành đồng bộ cả ba
khâu: 1) Ban hành văn bản, quy định của thể chế 2) Xây dựng cơ chế vận hành, thực
thi thể chế trong hoạt động kinh doanh cụ thể; 3) Hoàn thiện tổ chức bộ máy
theo dõi, giám sát việc thi hành thể chế, xử lý vi phạm và tranh chấp trong thực
thi thể chế. Trong khi triển khai đồng bộ thể chế môi trường kinh doanh phải tập
trung cải cách hành chính, từ bộ máy hành chính đến thủ tục hành chính để tạo môi trường kinh
doanh thuận lợi đúng pháp luật.
Phát triển đồng bộ
các yếu tố thi trường và các loại thị trường. Sớm hình thành việc rà soát, bổ
sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về kinh doanh phù hợp với Việt Nam.
Trong điều kiện hiện nay, để hoàn thiện thể chế môi trường kinh doanh dân chủ,
cần tập trung khắc phục thực trạng yếu kém của một số văn bản luật pháp. Đôi mới,
hoàn thiện các quy định về giá, canh tranh, kiểm soát độc quyền, về ký kết, thực
hiện hợp đồng và giải quyết tranh chấp. Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường
có sự điều tiết của Nhà nước.
Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc công tác tôn giáo ở Việt Nam
Thời gian gần đây, các thế lực thù địch thường
tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng là: “ở Việt Nam các tôn
giáo bị ngược đãi, phân biệt đối xử”(!). Đây là luận điệu hoàn toàn bịa đặt, vu
khống, đi ngược lại truyền thống đạo lý dân tộc và bản chất chế độ ta; hoàn
toàn bịa đặt sai sự thật những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về
tín ngưỡng, tôn giáo.
Như chúng ta đã biết tôn giáo là những vấn đề phức
tạp có liên quan chặt chẽ với nhau không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc
gia trên thế giới, nhất là các quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Lịch sử thế
giới cho thấy, khi nào vấn đề tôn giáo được giải quyết thành công thì xã hội
mới có sự ổn định và phát triển; nếu giải quyết không tốt sẽ dẫn đến xung đột,
làm mất ổn định xã hội. Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm thực hiện
tốt công tác tôn giáo, tạo động lực to lớn góp phần thực hiện thắng lợi các
nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh trong những năm vừa qua.
Đặc biệt trong
tình hình hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh
chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá cách mạng Việt Nam với phương châm
lấy chống phá về chính trị, tư tưởng làm hàng đầu, chống phá về kinh tế làm mũi
nhọn, chống phá về ngoại giao làm hậu thuẫn, tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân
quyền làm ngòi nổ, kết hợp với bạo loạn lật đổ, uy hiếp, răn đe, gây sức ép về
quân sự. Vì vậy, công cuộc đổi mới theo
định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chỉ có thể thành công trên cơ sở lấy chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam
cho mọi hành động, đồng thời phải xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể của đất nước và
gắn với đặc điểm của thời đại hiện nay. Tiến hành công cuộc đổi mới đất nước,
trước hết đòi hỏi Đảng phải đổi mới tư duy, nhìn nhận và đánh giá đúng những
vấn đề lý luận và thực tiễn, trong đó có vấn đề dân tộc đang và sẽ có nhiều
biểu hiện mới, đa dạng, phức tạp, cần giải quyết đúng đắn.
TÍCH CỰC HƯỞNG ỨNG CUỘC THI VIẾT CHÍNH LUẬN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH
Cuộc thi được tổ chức với mục đích khẳng định tính đúng đắn, ý nghĩa quan trọng, sức mạnh lan tỏa của Nghị quyết số 35-NQ/TƯ, phản bác trực diện, vạch trần tính phản khoa học, phản cách mạng các luận
ĐẨY MẠNH THỰC HÀNH TIẾT KIỆM, CHỐNG LÃNG PHÍ
Trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hành tiết kiệm và chống lãng phí là một nội dung quan trọng được các ngành, các địa phương đặc biệt coi trọng trong quá trình thực hiện.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, tiết kiệm là sử dụng hợp lý, có hiệu quả tiền của, thời gian, công sức lao động nhằm tích lũy thêm vốn cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, nâng cao mức sống của người dân. Tiết kiệm phải từ cái nhỏ đến cái to, không xa xỉ, hoang phí, phô trương, hình thức. Để thực hành tiết kiệm có hiệu quả thì phải ra sức chống lãng phí, coi đây là việc làm thường xuyên của mỗi cơ quan, đơn vị, mỗi cá nhân.
Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ lãng phí là một căn bệnh phải được khắc phục triệt để. Những năm qua, hệ thống chính trị từ trung ương đến cơ sở luôn xác định thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là nhiệm vụ cấp bách. Nhiều quy định cụ thể về vấn đề này đã được thể hiện rõ trong Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Hầu hết các cơ quan, đơn vị đã xây dựng chương trình thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của mình và có nhiều giải pháp thiết thực để thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ này. Nhờ vậy, hàng năm, các địa phương, các ngành đã cắt giảm đáng kể kinh phí thực hiện các nhiệm vụ chưa cần thiết, tiết kiệm nguồn kinh phí không nhỏ, thêm nguồn lực cho đầu tư phát triển, đảm bảo an sinh xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế việc lãng phí vẫn còn xảy ra ở nhiều cơ quan, địa phương, đơn vị. Nhiều nguyên nhân đã được chỉ ra, từ nhận thức đến thực hiện, đến việc xử lý sai phạm chưa nghiêm. Trong bối cảnh hiện nay, đại dịch COVID-19 vẫn có diễn biến khó lường, việc thích ứng linh hoạt đòi hỏi phải có nguồn lực cần thiết để phát triển. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí chính là một giải pháp thiết thực góp phần giải bài toán về nguồn vốn cho phát triển.
Để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí thực chất và đạt hiệu quả rất cần chú trọng nâng cao nhận thức cho toàn xã hội để việc này trở thành việc làm thường xuyên của mỗi tập thể, mỗi cá nhân. Đẩy nhanh quá trình xây dựng chính quyền điện tử, hướng tới chính quyền không giấy tờ, tạo giải pháp hữu hiệu để chống lãng phí. Đồng thời xử lý nghiêm các trường hợp cố tình để xảy ra tình trạng lãng phí, không có ý thức thực hành tiết kiệm.
ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA
🌿🌿🌿
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam luôn là một trong những chủ đề thu hút rất nhiều nhà nghiên cứu lý luận trong và ngoài nước quan tâm. Vấn đề này một lần nữa được đề cập và phân tích sâu sắc, đầy sức thuyết phục trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.
🌿 Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội?
Trên cơ sở tổng kết lịch sử phát triển của nhân loại, và từ bản chất của chế độ tư bản chủ nghĩa, C. Mác cho rằng: chủ nghĩa tư bản là chế độ áp lức bóc lột, tất yếu sẽ bị lịch sử vượt qua, thay thế nó bằng chủ nghĩa cộng sản, mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Trên cơ sở đó, C. Mác, Ph. Ănghen, và sau này là V.I. Lênin đã chỉ rõ quy luật ra đời của chủ nghĩa xã hội trong những điều kiện lịch sử cụ thể. Vậy, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội trong điều kiện nào? Vì sao Việt Nam lại lựa chọn con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để đi lên chủ nghĩa xã hội? Về vấn đề này, trong cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Trước đây, khi còn Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa thế giới thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam dường như không có gì phải bàn, nó mặc nhiên coi như đã được khẳng định. Nhưng từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào thì vấn đề đi lên chủ nghĩa xã hội lại được đặt ra và trở thành tâm điểm thu hút mọi sự bàn thảo, thậm chí tranh luận gay gắt. Các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị hí hửng, vui mừng, thừa cơ dấn tới để xuyên tạc, chống phá. Trong hàng ngũ cách mạng cũng có người bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn, khoa học của chủ nghĩa xã hội, quy kết nguyên nhân tan rã của Liên Xô và một số nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu là do sai lầm của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đó họ cho rằng chúng ta đã chọn sai đường, cần phải đi con đường khác. Có người còn phụ họa với các luận điệu thù địch, công kích, bài bác chủ nghĩa xã hội, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản. Thậm chí có người còn sám hối về một thời đã tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin và con đường xã hội chủ nghĩa! Thực tế có phải như vậy không? Thực tế có phải hiện nay chủ nghĩa tư bản, kể cả những nước tư bản chủ nghĩa già đời vẫn đang phát triển tốt đẹp không? Có phải Việt Nam chúng ta đã chọn con đường đi sai không?”.
Xã hội Việt Nam vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX là chế độ nữa phong kiến, nữa thuộc địa, đã thối nát và lạc hậu. Mâu thuẫn giai cấp, mâu thuẫn dân tộc hết sức sâu sắc, không thể điều hòa, điều kiện cho một cuộc cách mạng xã hội đang đến gần. Trong bối cảnh đó, đã có rất nhiều phong trào yêu nước chống thực dân Pháp diễn ra sôi nổi khắp Bắc, Trung, Nam. Từ phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX, cuộc khởi nghĩa Yên Thế kéo dài đến đầu thế kỷ XX, phong trào cách mạng có xu hướng bạo động của Phan Bội Châu, phong trào có xu hướng cải cách của Phan Chu Trinh, đến cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học. Các phong trào này đều sáng ngời tinh thần yêu nước theo những ý thức hệ khác nhau, từ những phong trào theo hệ tư tưởng phong kiến, theo lập trường nông dân, hoặc theo hệ tư tưởng tư sản, đều đã được lịch sử kiểm nghiệm, song tất cả đều lâm vào bế tắc và cuối cùng thất bại. Thực tiễn đó cho thấy, muốn cứu nước và giải phóng dân tộc phải tìm con đường khác, phù hợp với thực tiễn dân tộc và xu thế phát triển khách quan của thời đại.
Trong bối cảnh lịch sử đó, Nguyễn Ái Quốc (sau này là Chủ tịch Hồ Chí Minh) ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911), theo tiếng gọi của ngọn cờ “Tự do, bình đẳng, bác ái” của cách mạng tư sản, với mong muốn sang các nước tư bản phát triển để học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây để về giúp đồng bào thực hiện cuộc cách mạng giải phóng dân tộc. Vì vậy, Người đã đến các nước tư bản phát triển như: Pháp, Anh, Mỹ và nhiều nước thuộc địa của các nước đế quốc, quan sát và tìm hiểu chủ nghĩa tư bản, tìm hiểu cuộc sống của người dân ở chính quốc và các nước thuộc địa. Từ đó, Người nhận ra rằng, các cuộc cách mạng dân chủ tư sản là không triệt để, vì cách mạng thành công nhưng chỉ đem lại lợi ích cho thiểu số giai cấp tư sản, còn đông đảo quần chúng lao động vẫn chịu cảnh áp bức bóc lột. Vì vậy, nếu đi theo con đường dân chủ tư sản cùng lắm chỉ giải phóng được dân tộc. Điều đó không đem lại tự do, hạnh phúc cho nhân dân.
Khi Cách mạng tháng Mười Nga thành công đã mở ra thời đại mới - quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên toàn thế giới. Chính từ “tiếng vang” của Cách mạng tháng Mười, Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Sau này như Người nói: giống như một mặt trời chói lọi, cách mạng Nga đã chiếu rọi khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người đứng lên đấu tranh giải phóng dân tộc. Chính vì vậy, chỉ khi Nguyễn Ái Quốc đến với Cách mạng tháng Mười, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, từ đó Người tin rằng: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Trong bối cảnh lịch sử đó, khi chủ nghĩa Mác - Lênin được truyền bá vào Việt Nam, thì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội được cả dân tộc đón nhận như là hệ quả tất yếu. Bởi vì, “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, “cá lớn nuốt cá bé”, vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và, chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu. Trong đó, có nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp là, trong cải tổ, Ðảng Cộng sản Liên Xô đã mắc những sai lầm rất nghiêm trọng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Ðó là đường lối xét lại, phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin của một số nhân vật lãnh đạo đảng. Chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những khó khăn và sai lầm về đường lối của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Ðông Âu, chúng đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, “không đánh mà thắng”.” cực kỳ thâm độc, can thiệp toàn diện, vừa tinh vi, vừa trắng trợn vào nội bộ các nước xã hội chủ nghĩa. Dĩ nhiên, chúng không thể làm được điều này, nếu cải tổ có đường lối đúng đắn, nếu hơn 20 triệu đảng viên cộng sản Liên Xô có tinh thần cảnh giác cách mạng và sức chiến đấu cao, không để nội bộ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” khiến cho bọn cơ hội, xét lại và phản bội thao túng cơ quan lãnh đạo của Ðảng, nếu có sự cố kết chặt chẽ giữa Ðảng, Nhà nước và nhân dân Liên Xô.
Trước hiện thực đó, Đảng ta chỉ rõ, sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đó là sự sụp đổ của một mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, chứ không phải là sự lạc hậu hay sụp đổ của một học thuyết khoa học và cách mạng, của chủ nghĩa xã hội khoa học. Tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (tháng 6/1991), trước những khó khăn và phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế, Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định con đường cách mạng của nước ta là “nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đây cũng là lần đầu tiên trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Đảng ta phác thảo ra mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đã đưa ra quan niệm, cách thức, biện pháp, bước đi phù hợp với điều kiện cụ thể đất nước. Để từ đó, chúng ta định hướng con đường, để không mắc phải những sai lầm, đồng thời khẳng định Việt Nam kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011), trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), chúng ta một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.
🌿 Một vấn đề rất quan trọng được đề cập trong cuốn sách là, nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam như thế nào cho đúng và đầy đủ?
Như V.I.Lênin từng nhắc nhở: các dân tộc sẽ tùy vào điều kiện cụ thể sẽ có những hình thức và bước đi khác nhau, song sớm hay muộn tất cả các dân tộc sẽ đi lên chủ nghĩa xã hội. Nếu chủ nghĩa xã hội trước Mác nó chỉ là mơ ước, khó trở thành hiện thực, thì chủ nghĩa xã hội khoa học đã chỉ ra con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức, bước đi để thực hiện được mục tiêu. Vấn đề đặt ra là, chúng ta phải nhận thức đúng bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo vào điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu, những hạn chế, khó khăn của quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta không phải là bắt nguồn từ bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà là do cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực không tuân theo những nguyên lý chỉ dẫn của chủ nghĩa xã hội khoa học và sự nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội chưa đầy đủ. Vì vậy, “trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...”.
Từ quá trình đổi mới đất nước cho thấy, bên cạnh những thành tựu đạt được, thì còn có nhiều khó khăn, thách thức. “Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới. Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển”. Chính điều đó, Đảng ta đã đưa ra đường lối lãnh đạo đúng đắn, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa, “nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tương đối cao trong suốt 35 năm qua với mức tăng trưởng trung bình khoảng 7% mỗi năm. Quy mô GDP không ngừng được mở rộng, năm 2020 đạt 342,7 tỉ đôla Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỉ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỉ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỉ USD vào năm 2020. Đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đăng ký đạt gần 395 tỉ USD vào cuối năm 2020. Về cơ cấu nền kinh tế xét trên phương diện quan hệ sở hữu, tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam hiện nay gồm khoảng 27% từ kinh tế nhà nước, 4% từ kinh tế tập thể, 30% từ kinh tế hộ, 10% từ kinh tế tư nhân trong nước và 20% từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài…Như vậy, có thể nói, việc thực hiện đường lối đổi mới đã đem lại những chuyển biến rõ rệt, hết sức sâu sắc và tích cực ở Việt Nam: Kinh tế phát triển, lực lượng sản xuất được tăng cường; nghèo đói giảm nhanh, liên tục; đời sống nhân dân được cải thiện, nhiều vấn đề xã hội được giải quyết; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được mở rộng; thế và lực của quốc gia được tăng cường; niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng được củng cố”. Những thành tựu đạt được đó đã chứng minh tính đúng đắn của đường lối đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chủ nghĩa tư bản hiện có điểm chung là sự phát triển không đều và không phải cứ quốc gia nào đi theo chủ nghĩa tư bản thì đều phát triển, mà phần lớn là đói nghèo, xã hội bất ổn. Chính chủ nghĩa tư bản đang tạo ra khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc, dựa trên bóc lột người lao động, đó là bản chất của chủ nghĩa tư bản. Mặc dù, “từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ XX và nhất là từ sau khi Liên Xô tan rã, để thích ứng với điều kiện mới, chủ nghĩa tư bản thế giới đã ra sức “tự điều chỉnh”, thúc đẩy các chính sách “tự do mới” trên quy mô toàn cầu, nhờ đó hiện vẫn còn tiềm năng phát triển. Tuy nhiên, chủ nghĩa tư bản vẫn không thể khắc phục được những mâu thuẫn cơ bản vốn có của nó… Kinh tế suy thoái đã làm phơi bày sự thật của những bất công xã hội trong các xã hội tư bản chủ nghĩa: Đời sống của đa số dân cư lao động bị giảm sút nghiêm trọng, thất nghiệp gia tăng; khoảng cách giàu - nghèo ngày càng lớn, làm trầm trọng thêm những mâu thuẫn, xung đột giữa các sắc tộc. Những tình huống “phát triển xấu”, những nghịch lý “phản phát triển”, từ địa hạt kinh tế - tài chính đã tràn sang lĩnh vực xã hội, làm bùng nổ các xung đột xã hội và ở không ít nơi từ tình huống kinh tế đã trở thành tình huống chính trị với các làn sóng biểu tình, bãi công, làm rung chuyển cả thể chế…Thực tế là các thiết chế dân chủ theo công thức “dân chủ tự do” mà phương Tây ra sức quảng bá, áp đặt lên toàn thế giới không hề bảo đảm để quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân - yếu tố bản chất nhất của dân chủ…”. Vì thế, chủ nghĩa tư bản không phải là mục tiêu của nhân loại, chỉ có chủ nghĩa xã hội mới giải quyết được những tồn tại, bất công mà chủ nghĩa tư bản đã và đang tạo ra, đưa xã hội loài người đến dân chủ, công bằng, văn minh.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa đi lên chủ nghĩa xã hội. Nghĩa là, chỉ bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa, hay nói cách khác là bỏ qua việc xác lập thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, còn những thành tựu nhân loại đạt được dưới chủ nghĩa tư bản chúng ta phải kế thừa để xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nhất là những thành tựu về kinh tế, khoa học và công nghệ. Do đó, chúng ta bỏ qua mà không bỏ qua, chỉ bỏ qua chế độ chính trị áp bức bóc lột. Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới. Để thực hiện được mục tiêu đó, chúng ta phải: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, kết hợp với sức mạnh thời đại; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện.
Đặc biệt, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: hiện nay Việt Nam đang trong quá trình xây dựng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội, các nhân tố xã hội chủ nghĩa được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi xã hội chủ nghĩa, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố xã hội chủ nghĩa để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng… Và điều hết sức quan trọng là phải luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống.
Dù thời thế có đổi thay, nhưng mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở nước ta là không bao giờ thay đổi. Độc lập dân tộc là điều kiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, ngược lại chủ nghĩa xã hội là điều kiện để đảm bảo độc lập dân tộc. Vì đây là mục tiêu đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Đương nhiên, vấn đề không chỉ là mục tiêu, lý tưởng, mà điều không kém phần quan trọng là phải tìm ra giải pháp, bước đi, cách làm khoa học, sáng tạo nhằm thực hiện cho bằng được mục tiêu, lý tưởng đã xác định. Chủ nghĩa xã hội của chúng ta xây dựng là chủ nghĩa xã hội khoa học, chủ nghĩa xã hội đổi mới đúng đắn trên tinh thần phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn đất nước. Với những đặc trưng và phương hướng, nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cuốn sách “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có giá trị khoa học và thực tiễn rất to lớn, là định hướng chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong quần chúng nhân dân, để tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động, phát huy sức mạng tổng hợp trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay.














