Xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật làm công cụ điều chỉnh các quan hệ
xã hội cơ bản. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng pháp luật, trước hết là quy trình xây dựng luật, pháp 1ệnh; luật, pháp lệnh cần quy định cụ thể, tăng tính
khả thi đề đưa nhanh vào cuộc sống. Tăng tính ổn định, bền vững của pháp luật.
Xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước. Đây là biện
pháp để hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền và là cơ sở khách quan yêu cầu phải có
cơ chế, phương thức kiểm soát, giám sát quyền lực nhà nước. Kiểm soát, giám sát
cả từ các nhánh quyền lực lẫn nhau, cả từ nhân dân và các tổ chức của nhân dân.
Ở đây, nhân dân vừa ủy quyền, vừa kiểm soát, đánh giá hiệu lực, hiệu quả việc
thực hiện các quyền mà mình đã ủy thác. Tăng cường các biện pháp tuyên truyền,
giáo dục, áp dụng các hình thức thưởng phạt nghiêm minh đối với người được ủy
quyền. Cán bộ, công chức cần được giáo dục tốt, nhận thức được đầy đủ quyền và
nghĩa vụ; vinh dự với vị trí công tác của mình được nhân dân giao phó, lường
trước được hậu quả bất lợi khi vi phạm lợi ích chính đáng của nhân dân... để họ
có năng lực tự điều chỉnh hành vi, thực hiện đúng chức trách được giao, phục vụ
lợi ích của nhân dân.
Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử
là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập
bởi nhân dân và nhân dân tự
thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân
chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các
quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực
thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó
thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng.
Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn
chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu
hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.
Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm
cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần
thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng viên trong việc tranh cử vào các vị trí
lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh giữa đảng viên với người không phải đảng
viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh
lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động
của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh không công
khai, cạnh tranh ngầm trong lựa chọn, bổ nhiệm
cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh
thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn sự phát hiện và giới thiệu
của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá nhân được giới thiệu không
hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức không ai chịu trách nhiệm về sự
giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử, cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm
trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ
thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát
tính hiệu quả trong hoạt động của các vị trí trên. Đây có thể coi là hình thức
mới của thực hiện dân chủ xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.
Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn
két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy
chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế
như điều lệ Đảng.
Nghiên cửu phân định
quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước và quyền lực tối
cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực công của Nhà nước đã được quy định
khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực
tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác
định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò
làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
+ Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở,
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu
tố hợp lý, điều chỉnh những quy định không phù hợp.
Hiện nay, cần tổng kết kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở cơ sở
để mở rộng phạm vi, mức độ ở cấp cao hơn, rộng hơn, nhất là trong thực hiện quyền
dân chủ trực tiếp của nhân dân.
+ Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu cử trực
tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm kỳ
2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm.
+ Hoàn thiện thể chế chính trị đáp ứng yêu cầu của xây dựng,
thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tình hình mới. Trước hết,
phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành có hiệu quả các chuẩn mực
dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ
ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét