Trước Hồ Chí Minh, các bậc tiền bối đã “cố đi tìm đường cứu nước theo lối mới” nhưng đều thất bại. Chính lúc đó, Hồ Chí Minh với lòng yêu nước thương dân cháy bỏng nên đã quyết tâm phải tìm cách làm sao “cứu lấy dân ta, cứu lấy nước ta”. Người bôn ba qua nhiều châu lục, tìm tòi trải nghiệm và đã bắt đúng mạch thời đại. Người đã tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin “cái cẩm nang thần kỳ” cần thiết cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của Nhân dân ta. Kể từ đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là “kim chỉ nam” cho con đường giải phóng dân tộc.
Có
thể nói, không có chủ nghĩa Mác-Lênin sẽ không có thắng lợi của cách mạng Việt
Nam như ngày nay. Cốt lõi của chủ nghĩa Mác-Lênin là phương pháp luận để từ đó
vận dụng vào thực tiễn cách mạng, Hồ Chí Minh đã nắm vững cốt lõi ấy và linh hồn
sống của nó để vận dụng vào hoàn cảnh Việt Nam, làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin
thích ứng và phù hợp với nhu cầu cách mạng của dân tộc ta. Thiên tài của Người
là ở chỗ đã chuyển được chủ nghĩa Mác-Lênin thành tài sản, thành động lực và sức
mạnh của dân tộc một cách tự nhiên và nhuần nhuyễn để soi đường cho cách mạng
Việt Nam. Không những thế, với góc nhìn từ thực tiễn của một dân tộc bị áp bức,
nô lệ, Hồ Chí Minh đã có sự bổ sung rất quan trọng vào kho tàng lý luận chủ
nghĩa Mác-Lênin về con đường giải phóng dân tộc cho các nước thuộc địa.
Khi
nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khái quát: “Cốt
lõi tư tưởng Hồ Chí Minh là ba giải phóng: Giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội,
giải phóng con người; gắn giai cấp với dân tộc, quốc gia với quốc tế, cá nhân với
cộng đồng và xã hội, mà xuyên suốt tất cả là độc lập dân tộc gắn với CNXH”.
Có
thể nói, chiều sâu và giá trị đóng góp to lớn của tư tưởng Hồ Chí Minh bao trùm
từ những vấn đề chung cho nhân loại và thực tiễn ở chủ nghĩa tư bản của chủ
nghĩa Mác-Lênin, Người đã vận dụng vào điều kiện nước thuộc địa. Sự độc đáo này
là kết tinh của thiên tài trí tuệ với phẩm chất nhân văn trên cơ sở tiếp thu
tinh hoa của nhân loại gắn với dân tộc mang sức sống thời đại. Từ đó Người đã
nhào nặn vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam để biến thành của mình,
thành tư tưởng của mình, của đất nước mình, của Đảng mình một cách phù hợp, dễ
hiểu, dễ thực hiện và gần gũi với mọi người, được mọi người tin và là động lực
to lớn để giải phóng dân tộc.
Trên
cơ sở “ba giải phóng” vận dụng vào cách mạng Việt Nam, có thể đúc kết thành hệ
thống nội dung lý luận vô cùng sâu sắc và phong phú.
Tư
tưởng “làm tư sản dân quyền cách mạng, thổ địa cách mạng đi tới xã hội cộng sản”.
Đó là tư tưởng về cách mạng thuộc địa theo con đường cách mạng vô sản, là tư tưởng
chủ đạo độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Tư
tưởng thống nhất đại đoàn kết dân tộc, là đường lối xây dựng mặt trận thống nhất
lấy công - nông - trí làm nền tảng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của
Nhân dân.
Tư
tưởng về xây dựng chế độ mới, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vìTư
tưởng về xây dựng chế độ mới, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân
“bao nhiêu lợi ích cũng đều của dân”. Nhà nước pháp quyền XHCN.
Tư
tưởng về xây dựng quân đội nhân dân, chiến tranh nhân dân và quốc phòng toàn
dân. “Bác cháu ta cùng nhau giữ lấy nước”.
Tư
tưởng về xây dựng con người Việt Nam, “con người XHCN làm chủ về mọi mặt, chính
trị, kinh tế, văn hóa, xã hội; là động lực và mục tiêu của CNXH”.
Tư
tưởng về những giá trị bình đẳng, bác ái, tự do, hạnh phúc mà cốt lõi là sự
công bằng định hướng cho phát triển xã hội.
Tư
tưởng về xây dựng Đảng, “muốn làm cách mạng thì trước hết phải có Đảng cách mạng”.
Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc.
Tư
tưởng đoàn kết quốc tế “muốn làm bạn với tất cả các nước dân chủ”, đoàn kết
nhân dân thế giới thành một mặt trận chống đế quốc, giành độc lập, tự do.
Toàn
bộ kho tàng tư tưởng của Hồ Chí Minh cùng với sự nghiệp cách mạng vĩ đại của
Người sống mãi cùng với dân tộc, là di sản quý báu nhất mà Người để lại cho
nhân loại và Nhân dân ta.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét