Thứ Hai, 9 tháng 5, 2022

Điều giản dị lớn lao

 Ngày 20/4/2021, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam đã tiếp nhận hiện vật do các nữ quân nhân mũ nồi xanh trao tặng. Trong số rất nhiều cán bộ Cục Gìn giữ Hòa bình Việt Nam có mặt tại lễ tiếp nhận, Trung tá Đỗ Thị Hằng Nga - Phó Trưởng phòng Hợp tác quốc tế, Phó Giám đốc Bệnh viện dã chiến số cấp 2 số 4 là một trong những người có nhiều hiện vật trao tặng nhất.

Nói về Trung tá Đỗ Thị Hằng Nga, ngày 30/10/2017 là cột mốc không thể quên trong cuộc đời nữ chị bởi đó là ngày chị được Bộ Quốc phòng trao quyết định của Chủ tịch nước cử sang Nam Sudan làm nhiệm vụ Cục Gìn giữ Hòa bình của Liên Hợp quốc. Chị là sĩ quan thứ 20 của Việt Nam nhận nhiệm vụ đặc biệt này nhưng là nữ sĩ quan đầu tiên. Theo quyết định, Hằng Nga có nhiệm kỳ 12 tháng thực hiện nhiệm vụ tại phái bộ Cục Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp quốc ở Nam Sudan (UNMISS) với vai trò sĩ quan tham mưu giám sát các hoạt động quân sự.

Nhận nhiệm vụ, điều khiến chị cảm thấy hạnh phúc nhất là được sự tin tưởng và động viên từ gia đình, bạn bè, thủ trưởng đơn vị và đồng nghiệp. Song khó khăn nhất của phụ nữ vẫn là thiên chức làm mẹ. Ở thời điểm đó, chị có hai con trai đang tuổi lớn, một đang học lớp 6 và cháu nhỏ học lớp 4. Phải xa các con để lên đường làm nhiệm vụ làm trái tim người mẹ bộn bề lo lắng. Để chuẩn bị tư tưởng cho các con, hàng đêm chị kể cho các con nghe về vùng đất châu Phi, về Nam Sudan, về những em bé châu Phi cực khổ, về công việc của chị để góp phần nhỏ bé giúp ích cho hòa bình thế giới. Biết sắp phải xa mẹ nên các con tận dụng hết mọi thời gian quý giá và bày tỏ cảm xúc với mẹ. Con trai lớn Phạm Xuân Duy (11 tuổi) đưa cho chị một chiếc gối nhỏ xinh: “Con gửi cho mẹ cái gối của con từ thời con bé xíu. Mẹ nhớ mang gối để có hơi ấm của con”. Cậu em đưa mẹ chiếc chăn và dặn nếu nhớ con thì mang ra đắp.

Trước khi lên đường, chị đưa cho cậu con trai bé lúc đó đang học lớp 4 chiếc khăn của mình. Đứa trẻ xa mẹ đã quàng chiếc khăn đó mỗi khi đi ngủ mới ngon giấc. “Khi tôi đi thì con đang học lớp 4 và con nhớ mẹ đến mức cả tháng trời phải quàng cái khăn đó mới ngủ được, mới quen với cảm giác xa mẹ” – kể với phóng viên đến đây, đôi mắt đầy quyết đoán của nữ Trung tá bỗng rưng rưng. Chị đã tặng lại cho bảo tàng chiếc khăn thấm đẫm tình mẫu tử ấy. Tháng 5 này, Trung tá Đỗ Thị Hằng Nga lại tạm xa các con mình lên đường nhận nhiệm vụ mới…

Cũng có mặt tại buổi lễ trao tặng, chuẩn bị lên đường vào tháng 5/2022, Thiếu tá, bác sĩ Bùi Thị Thu Trang – Khoa Sản Bệnh viện 108 cho biết: “Tôi được Đảng và Nhà nước triệu tập tham gia Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 4 sang Nam Sudan đợt tới. Khi nhận nhiệm vụ và cảm xúc chuẩn bị lên đường rất khó tả. Về niềm vui thì rất là vinh dự, tự hào khi được tham gia đại diện cho đất nước, cho bệnh viện đóng góp công sức nhỏ nhoi của mình để giúp đỡ nước bạn đang khó khăn. Về bản thân, chuẩn bị xuất quân tôi cũng không tránh được sự bồi hồi khi đã để lại gia đình nhỏ của mình, các con đang trong giai đoạn phát triển cần bàn tay chăm sóc của mẹ. Tuy nhiên, tôi tin rằng sự lo lắng này sẽ trôi nhanh vì tôi được sự ủng hộ, hậu thuẫn của gia đình, của bạn bè, đồng nghiệp. Hiện tại tôi rất yên tâm chờ ngày lên đường, để sớm được sang Nam Sudan”…

Cần biết rằng phía sau những chia sẻ tưởng như rất giản đơn, rất đời thường của những nữ quân nhân, những người mẹ này, đó là những sự hy sinh vô cùng lớn lao và thầm lặng. Bởi trên thực tế, vướng bận việc gia đình, cộng với thời tiết, điều kiện làm việc khắc nghiệt ở châu Phi nên không ít người, kể cả nam giới e dè khi nhận nhiệm vụ. Rồi trong quá trình huấn luyện quân số cũng dần “rơi rụng” với những lý do sức khỏe, gia đình, sinh con… Thế nên, với những người phụ nữ, những người mẹ tạm gác lại việc nhà, tình riêng để lo việc nước, điều này là vô cùng trân trọng.


Những người mẹ mũ nồi xanh


Là những bông hồng của lực lượng mũ nồi xanh Việt Nam, họ tạm gác vai trò người vợ, người mẹ để tham gia huấn luyện, sẵn sàng lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế mà Đảng, Nhà nước và quân đội giao phó. Theo dòng những câu chuyện kể là biết bao sự trân quý dành cho những sự hy sinh lớn lao...

Nam Sudan là quốc gia trẻ nhất thế giới khi tuyên bố độc lập vào ngày 9/7/2011. Hơn 10 năm qua, nước này vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề từ các cuộc nội chiến và xung đột giữa các phe phái, sắc tộc nên cơ sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật và điều kiện sống vô cùng nghèo nàn, thiếu thốn. Để ngăn chặn xung đột vũ trang bùng lên thành nội chiến, trợ giúp nhân đạo cho người dân, Liên Hợp quốc đã triển khai Phái bộ Gìn giữ hòa bình ở Nam Sudan. Và, trong số khoảng 14.000 quân nhân, cảnh sát, nhân viên của lực lượng Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp quốc có những quân nhân Việt Nam. Trong số hơn 60 lá cờ vì sứ mệnh kiến tạo hòa bình ở Nam Sudan, có lá cờ đỏ sao vàng.

Tính đến tháng 12/2021, tức là sau hơn bảy năm chính thức cử lực lượng tham gia hoạt động Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp quốc tại Cộng hòa Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi và Trụ sở Liên Hợp quốc, Việt Nam đã cử hơn 60 lượt sĩ quan lên đường thực hiện nhiệm vụ theo hình thức cá nhân đảm nhiệm các vai trò: quan sát viên quân sự, sĩ quan tham mưu, cùng ba đội hình Bệnh viện dã chiến cấp 2 theo hình thức luân phiên thực hiện nhiệm vụ, với quân số 63 người trong một đội hình.

Gác lại tình riêng

Trong số các nhân sự Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 đầu tiên của Việt Nam tham gia lực lượng Gìn giữ Hòa bình Liên Hợp quốc, có 10 người là nữ. Họ đã tạm gác vai trò người vợ, người mẹ sẵn sàng lên đường thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình quốc tế. Một năm xa nhà với chị em sẽ là một thử thách khó quên trong đời, hay như lời một nữ quân y đã nói: “Là phụ nữ dù có mạnh mẽ đến mấy nhưng khi đi xa và nhớ con có thể khóc bất cứ lúc nào”.

Khi nói về những nữ quân nhân đã vượt qua chính mình để phụng sự Tổ quốc, giới truyền thông thường hay nhắc đến chị nữ quân y “chị cả” Thiếu tá chuyên nghiệp Bùi Thị Xoa thuộc đơn vị Bệnh viện Quân y 7B. Sinh năm 1975, thời điểm nhận nhiệm vụ lên đường, chị Xoa đã vượt qua ngưỡng tuổi 40, nên việc trở thành một nữ chiến sỹ quân y mũ nồi xanh với chị là cả một quá trình cân nhắc, đắn đo.

Chị kể, lúc quyết định trở thành thành viên của Bệnh viện dã chiến, chị đắn đo rất nhiều bởi con trai chị đang tuổi dậy thì, rất cần có người chăm lo, định hướng. Tuy nhiên, nhận được lời động viên của ông xã, cũng là một sỹ quan quân đội, chị đã tham gia với tâm nguyện “là một người lính, phục vụ Tổ quốc, phục vụ quân đội luôn là nhiệm đặt lên hàng đầu”.

Được biết, trong hơn 1 năm đầu tiên tham gia huấn luyện Bệnh viện dã chiến, chị Xoa đi đi về về hơn 50km mỗi ngày từ nhà ở Biên Hòa, Đồng Nai đến Bệnh viện Quân y 175, TP HCM. Những khóa huấn luyện căng thẳng và liên tục khiến chị gần như không có thời gian cho gia đình. Mọi sinh hoạt gia đình gần như bị đảo lộn khi thiếu bàn tay chăm sóc của phụ nữ. Sau này, để thuận lợi cho công tác huấn luyện, gia đình chị buộc phải chuyển nhà lên TP HCM. “Những ngày mới chuyển nhà thật khó khăn, bởi con trai không hòa nhập được với môi trường học tập mới, tôi rất lo lắng, nhưng dần dần mọi thứ cũng đi vào quỹ đạo và giờ tôi có thể yên tâm lên đường” - kể lại với truyền thông, Thiếu tá Bùi Thị Xoa cho biết.

Khi được gọi tên trong danh sách của Bệnh viện dã chiến, như mọi người mẹ khác, suy nghĩ đầu tiên đến với chị Xoa là lo lắng cho con. “Lúc làm nhiệm vụ, cả tôi và đồng đội, ai cũng quyết tâm. Nhưng khi chuẩn bị hành trang lên đường, tôi mới giật mình, con trai tôi đang tuổi dậy thì, không có mẹ bên cạnh, chắc sẽ tủi lắm. Nhưng rồi khi nghe cháu nói tự hào về tôi, tôi yên tâm. Nhiệm vụ lần này không chỉ là vinh dự bản thân, niềm tự hào của gia đình, mà có ý nghĩa rất lớn với mối quan hệ tốt của nước bạn và Việt Nam”, chị kể.

Ở một góc độ khác, câu chuyện của Đại úy Nguyễn Thị Phương Thảo thuộc đơn vị Bệnh viện Quân đoàn 4 cũng rất cảm động. Khi được phân công nhiệm vụ, chị Thảo liền gọi điện thoại cho chồng. Quá bất ngờ, anh nói anh phải suy nghĩ và tắt máy. “Tôi gọi lại rồi mô tả cho anh những công việc sẽ làm, ý nghĩa của nhiệm vụ. Từ trước đến nay, chồng tôi luôn ủng hộ, thông cảm cho công việc của vợ, nhưng lần này anh nói “từ từ nói chuyện sau” rồi tắt máy lần nữa. Quyết tâm làm nhiệm vụ, tôi nhắn tin cho anh, nói rằng tôi không có nhiều thời gian, đây là nhiệm vụ cấp bách, phải quyết định ngay. Một giờ sau, anh gọi lại nói đồng ý. Tôi bước vào khóa huấn luyện. Tôi tự nhủ, sao đồng đội đi mà mình ở nhà được”, chị Thảo kể. Trong lễ bàn giao trước ngày lên đường, Đại úy Nguyễn Thị Phương Thảo gọi điện thoại về cho con trai 4 tuổi ở nhà, con trai khá tự lập, nhưng chị vẫn có chút chạnh lòng…



LÒNG DÂN TRONG CHIẾN DỊCH HỒ CHÍ MINH LỊCH SỬ

 Trong chiến dịch Hồ Chí Minh 1975, Quân đoàn 3 (Binh đoàn Tây Nguyên) được giao nhiệm vụ đánh chiếm căn cứ Đồng Dù ở huyện Củ Chi và Sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham mưu của địch, Dinh Độc Lập.

Chiều 29/4/1975, sau khi làm chủ căn cứ Đồng Dù, quân ta tiến theo quốc lộ 22 vào đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu địch. Hồi ấy, xung quanh Sân bay Tân Sơn Nhất, địch lập “vành đai trắng”, không có nhà cửa, dân cư như hiện nay, dọc đường quanh sân bay là vùng đất trống trải, được rào bằng những hàng rào dây thép gai dày đặc. 

Giải phóng về thì còn sơ tán gì nữa

Theo chỉ dẫn của chị Trung Kiên (nữ biệt động thành được giao làm nhiệm vụ dẫn đường cho Quân đoàn đánh vào nội thành Sài Gòn), bộ đội Quân đoàn 3 tiến theo hướng quốc lộ 22 đến ngã tư Bảy Hiền thì rẽ theo đường Hoàng Văn Thụ (ngày nay) đánh thẳng vào Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu địch. 

Nhưng khi quân ta tiến đến ngã tư Bảy Hiền, quân địch chống cự rất quyết liệt. Ba chiếc xe tăng của ta bị địch bắn cháy, một số bộ đội hi sinh và bị thương. Trời tối, cấp trên ra lệnh tạm dừng tấn công, củng cố đội hình. 

Từ ngã ba An Sương nhìn về hướng Nam thấy có ánh đèn, Trung tá Huỳnh Nghĩ – Trưởng Phòng tác chiến Quân đoàn 3 (sau này là Thiếu tướng, Phó giám đốc Học viện Lục quân ở Đà Lạt) liền cùng một số anh em trinh sát và cán bộ tác chiến cắt đường đi tới. Đến nơi thấy một cụ già râu tóc đã điểm bạc ngồi cạnh bàn dưới ánh đèn. 

Thấy bộ đội ta vào, súng ống lỉnh kỉnh, cụ vẫn bình thản. Sau khi chào hỏi thấy cụ cười đáp lễ vui vẻ, anh Huỳnh Nghĩ thưa: “Sao ông không đi sơ tán, đánh nhau, bom đạn thế này, ngộ nhỡ…”. “Giải phóng về thì còn sơ tán gì nữa”, cụ bình thản trả lời. 

Anh Huỳnh Nghĩ hỏi và biết cụ là dân sở tại lâu năm thì rất mừng, liền thưa: “Từ đây vào Sân bay Tân Sơn Nhất có đường nào khác không hay chỉ có đường đi qua ngã tư Bảy Hiền hả ông?”.

Cụ nói ngay: “Nhiều đường chớ, có đường tắt vô Sân bay Tân Sơn Nhất. Bây giờ đang mùa khô, xe cộ đi lại được mà. Con tôi hàng ngày vẫn đi đường tắt vô làm trong sân bay. Sáng nó đi, chiều nó về. Nhiều bữa nó còn lấy honda chở tôi vô nhậu với anh em tụi nó ở trong đó nữa đấy”.

Người dẫn đường - ân nhân của Quân đoàn 3

Mừng quá, anh Huỳnh Nghĩ mạnh dạn hỏi: “Chúng tôi đang bị kẹt ở ngã tư Bảy Hiền, ông có thể dẫn chúng tôi đi đường tắt để đánh vào Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu địch được không ạ?”. 

Cụ đăm chiêu suy nghĩ ít phút rồi khảng khái nói: “Được, để qua đóng bộ (mặc quần áo đàng hoàng) rồi dẫn các ông đi”. 

Nhờ có cụ già Nam Bộ dẫn đường, bộ đội Quân đoàn 3 đổi hướng tấn công, chỉ để một bộ phận nghi binh địch ở ngã tư Bảy Hiền, còn đại quân đánh thẳng từ hướng nhà máy dệt Thắng Lợi ngày nay, từ ngã ba An Sương tốc chiến tốc thắng vào Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu địch vào sáng 30/4/1975. 

Mũi thọc sườn bằng lực lượng xe tăng, bộ binh thiện chiến dũng mãnh ào ào xung trận, tấn công bằng con đường ngắn nhất vào mục tiêu khiến địch vô cùng bất ngờ nên hoảng loạn, trở tay không kịp, chỉ đầu hàng và tháo chạy. Quân đoàn 3 hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. 

Lúc còn sống, Thiếu tướng Huỳnh Nghĩ tâm sự với tôi: “Mình ân hận và tiếc mãi vì đánh nhau xong, thắng lợi rồi, Quân đoàn 3 rút về Tây Nguyên tảo trừ Fulro, trấn giữ miền Trung, chiến đấu bảo vệ biên giới và giúp nước bạn Campuchia khỏi họa diệt chủng, ra Bắc đánh quân Trung Quốc xâm lược… nên không có dịp gặp lại để tri ân cụ già Nam Bộ anh hùng ở ngã ba An Sương ngày ấy. 

Cụ là ân nhân của Binh đoàn Tây Nguyên ta. Nhờ có cụ dũng cảm dẫn đường mà Quân đoàn 3 sớm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đánh chiếm Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu địch, giảm thiểu thương vong cho bộ đội. Công ơn của cụ lớn lắm. Đó là lòng dân trong cuộc đấu tranh giành và giữ độc lập tự do của Tổ quốc mà cụ già Nam Bộ ấy là đại diện. Nó bừng sáng lên trong thời điểm khó khăn nhất, cần kíp nhất”. 


"BỘ ĐỘI CỤ HỒ" - DANH HIỆU CAO QUÝ, GIÁ TRỊ CỐT LÕI CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM

“Bộ đội Cụ Hồ” - tên gọi bình dị nhưng vô cùng cao quý mà Nhân dân dành tặng, tôn vinh Quân đội ta. Đó là hình tượng cao đẹp, tập trung những phẩm chất ưu tú của người quân nhân cách mạng, một giá trị văn hóa - đạo đức của con người Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Phẩm chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” được xây đắp nên từ sự phấn đấu, hy sinh vô bờ của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ; được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh dày công tổ chức, giáo dục, rèn luyện; được Nhân dân hết lòng thương yêu đùm bọc, giúp đỡ, nuôi dưỡng. Những phẩm chất quý giá đó càng được tô thắm thêm qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, thực tiễn xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của Quân đội, được các thế hệ lưu truyền, kế tục và phát huy. Đó là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào và là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ Quân đội không ngừng phấn đấu, rèn luyện để xứng đáng với danh hiệu cao quý, với niềm tin yêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân; lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”1.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện ở các phương diện, trên mọi hoạt động của cán bộ, chiến sĩ, trước hết ở lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân. Được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức, giáo dục và rèn luyện, Quân đội ta mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc; chiến đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân; luôn tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng; không quản hy sinh, gian khổ, chiến đấu anh dũng, kiên cường, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ trong các cuộc chiến tranh giải phóng trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Sự trung thành của “Bộ đội Cụ Hồ” đã và đang thể hiện sâu sắc ở tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, luôn xung kích đi đầu, đứng vững ở nơi “đầu sóng ngọn gió”: vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, nơi khó khăn, gian khổ và chiến tranh ác liệt nhất; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh tuổi xuân và tính mạng của mình để bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc còn được biểu hiện: Quân đội luôn là lực lượng đi đầu, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vững mạnh; đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, những luận điệu xuyên tạc, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “phi chính trị hóa” Quân đội của các thế lực thù địch, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ đường lối đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.

Luôn “sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” là giá trị cốt lõi, phản ánh chức năng, nhiệm vụ của quân đội cách mạng. Trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; nhất là những hy sinh của cán bộ, chiến sĩ trong Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954 “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; trên những cung đường Trường Sơn huyền thoại, Ngã ba Đồng Lộc bất tử, thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; “Vòng tròn bất tử” trên đảo Gạc Ma - Trường Sa xanh thẳm,… là minh chứng cho phẩm chất sẵn sàng chiến đấu, chấp nhận hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội của “Bộ đội Cụ Hồ”. Kế thừa truyền thống hào hùng đó, hiện nay, cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn ra sức phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện, huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, làm chủ các loại vũ khí, trang bị mới, hiện đại; thường xuyên nêu cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, công tác, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân trong thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, v.v. Ở bất kỳ cương vị, công việc nào, mục đích trên hết, trước hết và tất cả đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội là vì nền độc lập, lợi ích quốc gia, dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; luôn thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất” trong tình hình mới, thể hiện rõ vai trò nòng cốt trong bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, “Bộ đội Cụ Hồ” luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân chở che, đùm bọc, kề vai, sát cánh cả trong đấu tranh cách mạng cũng như trong thời bình. Thể hiện cụ thể và sâu đậm ở tình cảm yêu mến, sự kính trọng, gắn bó với nhân dân của cán bộ, chiến sĩ Quân đội; tinh thần hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì tự do, hạnh phúc của nhân dân trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành. Ngày nay, phẩm chất, nhân cách đó càng được khẳng định trong thực tiễn thông qua công tác dân vận của Quân đội và được thể hiện rõ bằng những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ trong giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, “thế trận lòng dân” vững chắc2.

“Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”3, càng trong khó khăn, gian khổ, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” càng tỏa sáng. Với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường và dịch bệnh, cán bộ, chiến sĩ Quân đội không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ. Hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội lăn lộn trong gian khó, sáng tạo trong tổ chức giải cứu 12 công nhân bị sập hầm ở thủy điện Đạ Dâng (Lâm Đồng); 11 cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã anh dũng hy sinh khi trên đường hành quân đi cứu hộ, cứu nạn các công nhân tại khu vực Thủy điện Rào Trăng 3 (Thừa Thiên - Huế), v.v. Đặc biệt, trong các đợt cao điểm phòng, chống đại dịch Covid-19 vừa qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã nêu cao tinh thần dấn thân, sẵn sàng hy sinh, chấp nhận gian khổ, khắc phục mọi khó khăn để bảo vệ tốt nhất sức khỏe, tính mạng của nhân dân với phương châm “tìm đến nhân dân để biết nhân dân cần gì, không để nhân dân phải tìm đến bộ đội”, và “Không để ai bị bỏ lại phía sau”4, là minh chứng sống động cho tinh thần ấy; đã thể hiện “mối quan hệ máu thịt”, tình quân dân như “cá với nước” của cán bộ, chiến sĩ Quân đội với Nhân dân. Qua đó, viết tiếp thiên anh hùng ca bất hủ của Quân đội “bách chiến bách thắng”, “đi dân nhớ, ở dân thương” là “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, khẳng định: “Quân đội luôn là trụ cột quốc gia, nhất là khi đất nước lâm nguy, dịch dã, thiên tai”.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” còn thể hiện ở tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung. Hàng vạn bộ đội tình nguyện Việt Nam đã hy sinh cả máu xương, tính mạng để cứu nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng của Khơme đỏ để nhân dân Campuchia xúc động gọi Bộ đội Việt Nam - “Bộ đội Cụ Hồ” là “Bộ đội nhà Phật”. Hơn bảy năm qua, Việt Nam đã cử gần 250 lượt cán bộ, nhân viên Quân đội tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại các phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, v.v. Vượt lên những khó khăn, bất đồng ngôn ngữ, tình hình an ninh ở các phái bộ bất ổn, điều kiện sinh hoạt hạn chế, khí hậu khắc nghiệt,… những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ. Qua đó, hình ảnh cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam cùng phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” đã vượt khỏi những giới hạn về thời gian và không gian để lan tỏa, nhập sâu vào ánh mắt, trái tim bạn bè quốc tế, góp phần nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam, Quân đội nhân dân Việt Nam.

Gần tám thập kỷ qua, dưới sự chăm lo, rèn luyện, lãnh đạo của Đảng ta, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, kể cả trong thời điểm khó khăn, phức tạp và cam go nhất, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn tỏa sáng, góp phần quan trọng để Quân đội nhân dân hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đây là danh hiệu cao quý được nhân dân tôn vinh; là giá trị cốt lõi để xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, luôn giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, giữ vững lý tưởng cách mạng, mục tiêu chiến đấu, bản lĩnh chính trị, thực sự là công cụ sắc bén, lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Giá trị đó cần được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội hôm nay tiếp tục gìn giữ, bảo vệ, phát huy và phát triển lên tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới…


PHẢI XỬ LÝ NGHÊM PHAN XUÂN TRUNG, KẺ LUÔN CÔNG KÍCH, NÓI XẤU CHẾ ĐỘ, ĐE DỌA ĐẾN ANCT TTAT XÃ HỘI!

         Nổi lên trên mạng xã hội với vai trò là Kols quy tụ rất nhiều "fan" là những thành phần phản động, bất mãn, ác cảm với chủ nghĩa cộng sản... Hắn lợi dụng các vấn đề mặt trái của xã hội, dịch Covid-19... để đăng bài đâm thọc, xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền nhân dân. Đặc biệt, tên Trung này luôn xoáy sâu vào việc kích động, cổ súy phân biệt, miệt thị vùng miền, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Mới đây, lợi dụng sự việc về bức tranh vẽ chiến sỹ Điện Biên, tại triển lãm vừa bị tạm dừng của tay "HỌA sỹ" phản động Mai Duy Minh, tên Phan Xuân Trung đã trơ trẽn ngụy tạo dưới luận điệu "kiến thức y khoa" để tiếp tục đâm thọc, xuyên tạc, phân biệt vùng miền, chia rẽ đoàn kết... 

Hành động chống phá, khiêu khích, đâm thọc của tên Phan Xuân Trung như liều thuốc độc làm sói mòn niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; như tế bào ung thư, càng ngày càng lây lan, phát triển rộng, đe dọa đến sự ổn định của xã hội.

Tên này nguy hiểm ở chỗ hắn khôn khéo kích động, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc nhưng lại không để đến mức vi phạm pháp luật. Vì vậy, đề nghị cần phải có phương pháp đấu tranh hiệu quả hơn với thành phần nguy hiểm này. Trước mắt thì cộng đồng mạng cần tập hợp các bằng chưng, viết bài vạch mặt hắn, báo cáo những bài viết phản động của hắn./.





Yêu nước ST.

SỰ CỐ KHÔNG CỬ HÀNH QUỐC CA TRẬN U23 VIỆT NAM - U23 PHILIPPINES, PHẢI TIẾP THU, CẦU THỊ CHỨ KHÔNG NÊN NGỤY BIỆN!

         Ngày 9-5, liên quan đến việc không thể thực hiện nghi thức hát Quốc ca trước trận U23 Việt Nam-U23 Philippines trong khuôn khổ bảng A môn bóng đá nam SEA Games 31 diễn ra trên sân Việt Trì tối 8-5, UBND tỉnh Phú Thọ đã có thông tin chính thức. Theo đó, nguyên nhân bước đầu dẫn đến sự cố này được xác định là do thời tiết diễn biến xấu, có sự xung đột giữa các thiết bị điện tử, ảnh hưởng đến việc truyền tải âm thanh trong khoảng thời gian 2 phút. Đồng thời, sự phối hợp giữa bộ phận âm thanh và bộ phận giám sát, điều khiển trận đấu chưa nhịp nhàng, chặt chẽ.

Người Việt Nam nổi tiếng thế giới với tinh thần cố gắng vươn lên, vượt qua mọi khó khăn gian khổ để hướng về phía trước. Chúng ta có tinh thần học hỏi, lắng nghe với tinh thần cầu thị cao nhất. Tiếp thu để hoàn thiện, cầu thị để tiến bộ. Chính phủ Việt Nam đã tin tưởng, giao phó cho Phú Thọ tổ chức các trận đấu trong khuôn khổ bảng A, Sea Games 31. Đó là niềm vinh hạnh của nhân dân và Đảng bộ tỉnh nhưng cũng là trách nhiệm rất nặng nề trong vai trò là địa phương đứng ra tổ chức bộ môn thể thao Vua (cùng với Nam Định). Vấn đề ở đây không phải là do thời tiết hay do Điện Lực Phú Thọ mà là việc thiếu chủ động, không có kế hoạch đảm bảo cụ thể, chi tiết và không có phương án thay thế. Không lý cả tỉnh Phú Thọ, đất phát tích của đại gia đình các dân tộc Việt Nam lại không có nổi một vài cái máy phát điện, đề phòng sự cố mất điện hay thời tiết. Giải thích hay tìm nguyên nhân để trả lời dư luận như thế là không hợp lý, là ngụy biện. 

Quốc kỳ và Quốc ca là linh hồn, là hồn thiêng sông núi của mỗi quốc gia. Người Philippines sẽ nghĩ như thế nào, đánh giá thế nào về công tác chuẩn bị, công tác tổ chức của Việt Nam? Họ có cảm thấy bị tổn thương vì sự cố này hay không? Nguyên nhân chính là do chủ quan, do cẩu thả, thiếu chu đáo. Đừng lôi ông trời vào đây. Đó là sự mất thể diện của một quốc gia chứ không đơn thuần là sự cố do thời tiết hay mất điện. Rõ ràng BTC Phú Thọ đã thiếu chu đáo dẫn đến sự cố đáng tiếc này. Thiết nghĩ, BTC Phú Thọ cần công khai xin lỗi nhân dân Việt Nam và nhân dân dân Philippines trên các phương tiện thông tin đại chúng về việc này, đồng thời chuẩn bị tốt hơn cho các trận tiếp theo. Ở đời ai cũng có sai lầm, khuyết điểm, vấn đề là sai có biết nhận sai để sửa sai hay không mà thôi. Đổ cho thời tiết và điện lực là không thoả đáng, là ngụy biện./.


Yêu nước ST.

 

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu trong quá trình xây dựng, phát triển tổ chức đảng và phong trào cách mạng ở Trung Kỳ

Đồng chí Phan Đăng Lưu thuộc thế hệ chiến sĩ cộng sản đầu tiên được giao trọng trách Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ, sau là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ cách mạng Việt Nam phải đối mặt với sự chống phá quyết liệt của chính quyền thực dân và phong kiến phản động, đồng chí Phan Đăng Lưu đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng, khôi phục tổ chức đảng và quần chúng, tham gia lãnh đạo cuộc vận động dân chủ, góp phần đưa phong trào cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển cao hơn.

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu trong những năm đầu gây dựng cơ sở cách mạng ở Trung Kỳ

Đồng chí Phan Đăng Lưu sinh ngày 5-5-1902 tại thôn Đông, xã Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trong một gia đình nông dân khá giả, có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Năm 1923, sau khi tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành với tấm bằng xuất sắc, đồng chí Phan Đăng Lưu được bổ nhiệm làm nhân viên tập sự tại Sở Canh nông Bắc Kỳ. Ngày 10-10-1924, đồng chí đến nhận việc tại Trại nuôi tằm Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ). Một năm sau, đồng chí chuyển công tác về Sở Canh nông Nghệ An và được bổ nhiệm làm viên chức tập sự ở Sở Canh nông Bắc Kỳ  (vì vậy, đồng chí còn được gọi là ông Phán Tằm). Cuối năm 1925, đồng chí Phan Đăng Lưu chuyển công tác về thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An), theo Quyết định số 1418 của Khâm sứ Trung Kỳ. Tại đây, đồng chí đã gặp gỡ và trao đổi thường xuyên với những người trí thức yêu nước, như: Trần Mộng Bạch, Ngô Đức Diễn, Hà Huy Tập, Trần Phú, Trần Văn Tăng (lúc này đã chuyển về dạy học ở Trường tiểu học Vinh), rồi tham gia Hội Phục Việt - một tổ chức cách mạng do các trí thức yêu nước thành lập ngày 14-7-1925

Nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối Phan Đăng Lưu (ảnh trái) và Báo Dân Tiến do đồng chí Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo_Ảnh: Tư liệu

Đầu năm 1927, mật thám Pháp nghi ngờ đồng chí Phan Đăng Lưu liên quan đến các hoạt động chính trị chống Pháp, tuy chưa có bằng chứng cụ thể, nhưng Khâm sứ Trung Kỳ vẫn ra quyết định chuyển đồng chí Phan Đăng Lưu vào trại sản xuất trứng tằm ở Phú Phong (tỉnh Bình Định). Ngày 7-4-1927, Khâm sứ Trung Kỳ tiếp tục điều đồng chí Phan Đăng Lưu vào làm việc tại trại nghiên cứu cây trồng Canh Kina  Lang Hanh, Đồng Nai Thượng (nay là tỉnh Lâm Đồng), nhằm cắt đứt mối liên hệ của đồng chí với những hoạt động chính trị chống Pháp. Ngày 30-6-1927, Khâm sứ Trung Kỳ sa thải Phan Đăng Lưu. Lúc này, đồng chí Phan Đăng Lưu đã tìm đến tổ chức để nhận nhiệm vụ, bắt đầu cuộc đời hoạt động trong phong trào cách mạng ở Trung Kỳ.

Trở về Nghệ Tĩnh - nơi đang có phong trào cách mạng của Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - Phan Đăng Lưu cùng thầy giáo Trần Văn Tăng trực tiếp xây dựng cơ sở cách mạng ở quê nhà . Đồng chí được Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí cử vào Huế hoạt động và đã nỗ lực cùng đồng chí Nguyễn Sỹ Sách - Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Trung Kỳ - vừa xây dựng tổ chức, vừa củng cố để thống nhất hai tổ chức cách mạng đang phát triển và có xu thế tranh giành ảnh hưởng trong quần chúng, không có lợi cho cách mạng.

Trong những năm 1927 - 1928, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã phát triển đều khắp ở các Kỳ bộ Bắc, Trung, Nam và Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí ở Huế đã được thành lập. Ngày 14-7-1928, tại Huế, Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí tiến hành đại hội và quyết định đổi tên thành Tân Việt Cách mạng Đảng. Đây là Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Tân Việt Cách mạng Đảng. Đồng chí Đào Duy Anh được cử làm Bí thư Đảng và đồng chí Phan Đăng Lưu được bầu làm Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn của Tổng bộ .

Giữa tháng 3-1928, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Sỹ Sách ở trong nước sang báo cáo, Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu (Trung Quốc) đã viết thư gửi Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí (Tân Việt Cách mạng Đảng) để đồng chí Nguyễn Sỹ Sách mang về triển khai nhiệm vụ hợp nhất trong nước: “Đảng ở Quảng Châu gửi về nước đồng chí Phong (tức Nguyễn Sỹ Sách) cũng vẫn với mệnh lệnh làm trong sạch hai đảng. Nội dung bức thư viết: “THÂN GỬI: CÁC ĐỒNG CHÍ Ở TRONG NƯỚC… Hội chúng tôi lập lên ở hải ngoại là cốt để gây một cuộc cách mệnh ở đất nước Việt Nam. Vậy bất cứ đảng cách mệnh Việt Nam nào, không phân biệt màu sắc chính trị, chúng tôi đều vui lòng hợp nhất… Ngày nay, không nên để tình trạng phân biệt, chúng tôi đề nghị các đồng chí là đem toàn hội của các đồng chí sáp nhập vào hội chúng tôi hiện có ở khắp mọi nơi trong ba kỳ, làm được như thế là chúng ta hợp nhất. Ngoài một số ý kiến lớn nói trên, còn các chi tiết khác đồng chí Nguyễn Sỹ Sách sẽ bàn thêm. Sau đó, đồng chí Nguyễn Sỹ Sách bị thực dân Pháp bắt và giam ở nhà tù Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị).

Trước tình hình đó, những người có tư tưởng cấp tiến trong Tân Việt Cách mạng Đảng thấy được sự cần thiết phải thống nhất cả về đường lối chính trị, phương pháp hoạt động và tổ chức lực lượng cách mạng tiếp tục đề xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tân Việt là tích cực kiên trì, chủ động tìm gặp Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để bàn bạc. Ban Thường vụ Trung ương Đảng Tân Việt đã chấp thuận và cử đồng chí Phan Đăng Lưu sang Trung Quốc. Giữa tháng 9-1929, đồng chí Phan Đăng Lưu bí mật sang Trung Quốc, nhưng bị mật thám theo dõi do có kẻ phản bội, nên đã bị bắt đưa về giam ở nhà lao Vinh, sau đó bị thực dân Pháp kết án 3 năm tù khổ sai.

Mặc dù đồng chí Phan Đăng Lưu bị bắt, nhưng thành quả hoạt động cách mạng của đồng chí với trọng trách là Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn của Tân Việt Cách mạng Đảng đã góp phần quan trọng đối với sự ra đời của Bản Tuyên đạt thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 9-1929) - đánh dấu bước chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng chính trị hướng theo con đường cách mạng vô sản của Tân Việt Cách mạng Đảng - để đến cuối tháng 12-1929, hoàn tất quá trình thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Đây là một trong ba tổ chức cộng sản - tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thời gian ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn tiếp tục tổ chức đấu tranh, chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, vì vậy, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và tham gia ban lãnh đạo nhà tù (10). Lợi dụng công việc được cai ngục giao ghi chép sổ sách tại văn phòng Tòa sứ Buôn Ma Thuột, đồng chí Phan Đăng Lưu đã cùng các đồng chí trí thức yêu nước khác bí mật xuất bản tờ báo viết tay bằng hai thứ tiếng Kinh và Ê-đê, lấy tên là “Doãn Đê tuần báo”, sau đó được đổi tên là “Bôn-sê-vích”. Từ năm 1932 - 1934, đồng chí Phan Đăng Lưu còn cho ra đời tờ báo “Xích sắt”.

Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu với trọng trách Ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ  

Từ năm 1936, trước những chuyển biến mới của tình hình Đông Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thực hiện theo Nghị quyết của Đại hội VII Quốc tế Cộng sản, xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát-xít, chống chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo và hòa bình; “lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi chính để bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân chủ đơn sơ” (11). Đảng cũng chủ trương chuyển hình thức tổ chức bí mật, không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp. Đặc biệt, đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3-1938, Đảng chỉ rõ: “Lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại” (12). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào vận động dân chủ diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với những hình thức đấu tranh phong phú.

Đồng chí Phan Đăng Lưu được ra tù trong bối cảnh thực dân Pháp buộc phải thả một số tù chính trị. Được ra tù, nhưng đồng chí Phan Đăng Lưu không được về quê, mà bị quản thúc ở Huế. Đồng chí lại tiếp tục hoạt động cách mạng và là một người tham gia tích cực vào cuộc vận động Đông Dương Đại hội (13) ở Huế. Giữa tháng 8-1936, đồng chí Phan Đăng Lưu bắt liên lạc được với Trung ương Đảng và được chỉ định vào Ban Chấp hành lâm thời Xứ ủy Trung Kỳ, được Đảng phân công phụ trách phong trào đấu tranh công khai, bán công khai ở Huế và Trung Kỳ, nơi trung tâm đầu não của thực dân Pháp và lực lượng phong kiến Nam triều. Với nhãn quan chính trị sáng suốt, đồng chí Phan Đăng Lưu đã cùng các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Bùi San,… thể hiện rõ vai trò là linh hồn của cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ ở Huế và Trung Kỳ, góp phần đưa phong trào trở thành một cao trào cách mạng sôi nổi, rộng khắp của quần chúng.

Theo sáng kiến của Xứ ủy Trung Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu và đồng chí Tôn Quang Phiệt cùng nhiều đồng chí trí thức yêu nước nhận thấy cần xuất bản một tờ báo để vận động cho các ứng cử viên của phong trào bình dân. Ngày 19-6-1937, tờ báo “Sông Hương tục bản” ra đời dưới sự phụ trách của đồng chí Ngô Đức Mậu. Các tờ báo do Xứ ủy Trung Kỳ chủ trương xuất bản còn phải kể đến các tờ “Dân muốn” (số 1 ra ngày 20-12-1938, số cuối ngày 25-1-1939), “Dân tiến” cơ quan liên hiệp tất cả các lực lượng cấp tiến (số 1 ra ngày 27-10-1938, số cuối ra ngày 12-12-1938, tổng cộng là 5 số). Cả hai tờ báo này đều do đồng chí Phan Đăng Lưu chỉ đạo (14). Đồng chí Phan Đăng Lưu đã trực tiếp viết các bài xã luận, bình luận chính trị, tiểu phẩm, thông qua báo chí công khai vạch mặt những tên tay sai hại nước, hại dân, dùng mọi mánh khóe để được trúng cử. Nhiều bài viết có sức thuyết phục, như các bài: “Lời khuyên các cử tri”, “Phơi gan trải ruột cho quốc dân biết”, “Câu chuyện hàng tuần”... Nhờ công tác tuyên truyền thông qua báo chí, đồng chí Phan Đăng Lưu đã hướng cử tri bầu những người tốt vào Viện Dân biểu Trung Kỳ. Những ứng cử viên do báo “Sông Hương tục bản” giới thiệu đều trúng cử.

Cuộc đấu tranh vào Viện Dân biểu ở Trung Kỳ do đồng chí Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo cũng giành thắng lợi (tất cả 18 ứng cử viên do Đảng đưa ra tranh cử đều trúng cử ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ chủ chốt trong Viện). Đánh giá về thắng lợi này, Văn kiện Đảng toàn tập đã nêu rõ: “18 candidats ở Trung Kỳ xu hướng về Mặt trận bình dân được đắc cử là những sự thắng lợi rất vẻ vang của Đảng ta” (15). Đánh giá về công lao, đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu, Bùi San - người đồng chí, người trong cuộc cùng ngồi tù, cùng hoạt động tại Huế - đã viết: “Trong thời kỳ Mặt trận dân chủ, anh Lưu ở trong Xứ ủy Trung Kỳ và được giao lãnh đạo các công tác công khai như báo chí hợp pháp của Đảng, lực lượng Mặt trận dân chủ ở Viện dân biểu Trung Kỳ. Anh đã trực tiếp lãnh đạo vào Viện dân biểu này. Cuộc đấu tranh khá gay go…” . Đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu trong phong trào đấu tranh đòi dân sinh dân chủ ở Trung Kỳ đã được ghi vào sử sách: “Đây là thời kỳ đồng bào, đồng chí ở các tỉnh Trung Kỳ biết đến Phan Đăng Lưu nhiều nhất, nhiệt liệt hưởng ứng lời kêu gọi của anh, dũng cảm tiến bước trong các cuộc đấu tranh chống phản động thuộc địa và tay sai do anh dẫn đầu và tin tưởng vào thắng lợi” (17). Những hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu đã góp phần thổi bùng lên phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương giai đoạn 1936 - 1939 do Đảng lãnh đạo. Trong cao trào cách mạng sôi động đó, năm 1938, đồng chí Phan Đăng Lưu được bầu vào Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.

Cuộc vận động dân chủ giai đoạn 1936 - 1939 ở Trung Kỳ đã góp phần cùng phong trào cả nước buộc đế quốc Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách về dân sinh, dân chủ. Quần chúng được giác ngộ về chính trị, trở thành lực lượng chính trị mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam. Đội quân chính trị quần chúng gồm hàng triệu người được tập hợp, giác ngộ và rèn luyện. Uy tín và ảnh hưởng của Đảng được mở rộng. Tổ chức Đảng được củng cố và phát triển. Đến tháng 4-1938, Đảng có 1.597 đảng viên hoạt động bí mật và hơn 200 đảng viên hoạt động công khai. Số hội viên trong các tổ chức quần chúng công nhân, nông dân, phụ nữ, học sinh, cứu tế là 35.009 người (18). Qua cuộc vận động dân chủ, trận địa và lực lượng cách mạng được mở rộng ở cả nông thôn và thành thị, thực sự là một bước chuẩn bị quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 sau này. Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương trò chuyện, thăm hỏi đại diện gia đình, dòng họ đồng chí Phan Đăng Lưu bên lề Hội thảo khoa học: “Đồng chí Phan Đăng Lưu với cách mạng Việt Nam và quê hương Nghệ An” do Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức_Nguồn: baonghean.vn

Người trực tiếp góp phần hoạch định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng Việt Nam

Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp phát-xít hóa bộ máy chiến tranh. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp trong ba ngày 6, 7 và 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Hội nghị được tổ chức tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay gắt nhất ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông Dương, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập. Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu là chống chiến tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu “tịch ký ruộng đất của những địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”. Vì vậy, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp chuyển sang hoạt động bí mật và bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân tộc”. Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất ý chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý luận cách mạng; phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Bộ, Trung Bộ và Nam Bộ; phải khuếch trương và củng cố cơ sở đảng ở các thành thị, các trung tâm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền; thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên hai mặt trận chống tả khuynh và hữu khuynh, đặc biệt chú trọng sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đánh dấu bước phát triển quan trọng về lý luận và đường lối, phương pháp cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo của các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có đồng chí Phan Đăng Lưu. Từ sau Hội nghị, phong trào cách mạng ở Trung kỳ nói riêng và cả nước nói chung đã có những chuyển biến mới, làm tiền đề thúc đẩy cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc.

Trước tình hình cách mạng gặp khó khăn, hầu hết các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, giữa tháng 10-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu bí mật rời Nam Kỳ ra họp và thống nhất với Xứ ủy Trung Kỳ cùng Bắc Kỳ tổ chức Hội nghị tái thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị diễn ra từ ngày 6 đến 9-11-1940 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Nghị quyết Hội nghị tiếp tục thực hiện đường lối do Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đề ra, nhằm tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân khi thời cơ xuất hiện; đồng thời, chủ trương hoãn cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu - Ủy viên Trung ương Đảng, được giao nhiệm vụ truyền đạt chủ trương này của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ. Tuy nhiên, đêm ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu về Sài Gòn mang theo chỉ thị của Trung ương Đảng, đúng vào lúc thực dân Pháp đang phá tan cuộc khởi nghĩa sắp bùng nổ, vây bắt những chiến sĩ cách mạng và đồng chí Phan Đăng Lưu cũng bị bắt (19). Theo lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930 - 1975): “Đồng chí Phan Đăng Lưu trên đường về còn có nhiệm vụ phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 cho các cấp bộ Đảng Trung Kỳ, do đó đến ngày 22-11-1940 mới về tới Sài Gòn, chưa gặp được đồng chí Tạ Uyên, trong khi đó Xứ ủy đã gửi lệnh khởi nghĩa đi khắp các tỉnh rồi” (20).

Như vậy, trong bối cảnh thực dân Pháp đang truy lùng bắt bớ gắt gao những đảng viên cộng sản, đồng chí Phan Đăng Lưu không chỉ can đảm vượt vòng vây của địch, bí mật đi ra Bắc để tham dự Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1940, mà trên đường vào Nam, vẫn còn tiếp tục truyền đạt Nghị quyết Trung ương Đảng cho các cấp Đảng bộ Trung Kỳ. Những chủ trương của Đảng đã đi vào phong trào cách mạng của quần chúng. Khi khói lửa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ chưa tan, ngày 13-1-1941, một cuộc binh biến nổ ra ở đồn Chợ Rạng (huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An) dưới sự chỉ huy của Đội Cung. Có thể thấy, các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương là “những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc ở một nước Đông Dương” (21). Đây cũng là sự chuẩn bị quan trọng cho Đảng bộ Trung Kỳ để sau đó tiếp nhận chủ trương đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941), hoàn chỉnh đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, đưa đến thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Đồng chí Phan Đăng Lưu - người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam, đã “lấy cái chết của mình để bảo vệ sống còn của dân tộc, của giai cấp và của Đảng Cộng sản Đông Dương”(22). Sớm đi theo con đường cách mạng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã hiến dâng cuộc đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Dù trong những lúc phong trào cách mạng đầy cam go, thách thức, song đồng chí vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, chí khí chiến đấu. Ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu kiên quyết đấu tranh và lãnh đạo các chiến sĩ cách mạng, yêu nước chống chế độ lao tù dã man, tàn khốc của kẻ thù bằng nhiều hình thức. Khi ra tù, đồng chí tiếp tục tham gia ngay vào hoạt động cách mạng, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, vì sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Đánh giá về công lao và đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu và nhiều nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như ngày nay” (23). Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí Phan Đăng Lưu là một tấm gương sáng ngời về lòng kiên trung, bất khuất; về niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào thắng lợi của cách mạng; về sự hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc Việt Nam./

 

CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI NHẬN THỨC ĐÚNG, ĐẤU TRANH VỚI QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ VẤN ĐỀ TÔN GiÁO!

         Việc nhận diện và đấu tranh với hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, bởi vì trong quá trình thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” chống Việt Nam, các thế lực thù địch, đối tượng phản động trong và ngoài nước luôn chú ý lợi dụng vấn đề tôn giáo, coi đây là một trong những mũi tiến công chủ đạo nhằm thay đổi thể chế chính trị tại Việt Nam. Nổi lên hiện nay là một số hoạt động:
Một là, tuyên truyền xuyên tạc, vu cáo Đảng, Nhà nước ta vi phạm quyền tự do tôn giáo. Hai là, lợi dụng các vấn đề tiêu cực trong xã hội, các vụ việc phức tạp liên quan tôn giáo để kích động chức sắc, tín đồ gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Ba là, gắn vấn đề tôn giáo với vấn đề dân tộc để kích động tư tưởng ly khai, tự trị.
    Trên cơ sở nhận diện đúng, CB,CS trong QĐ chúng ta cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung: 
      Tăng cường công tác tuyền truyền về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực tôn giáo và âm mưu, hoạt động lợi dụng tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. 
       Nâng cao cảnh giác, tuân thủ nghiêm pháp luật về tín ngưỡng tôn giáo cũng như quy định khác liên quan. Công tác tuyên truyền cần được tiến hành thường xuyên, liên tục và với nhiều hình thức đa dạng.
       VTổ chức tốt việc nắm bắt tâm tư, giải quyết những nguyện vọng chính đáng của quân nhân theo các tôn giáo khác nhau..
         Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ An ninh Tổ quốc, nhất là địa bàn trọng điểm, phức tạp về tôn giáo.
       Kiên quyết đấu tranh với các hoạt động lợi dụng vấn đề tôn giáo chống Đảng, Nhà nước. Trong đó, tập trung nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch; kiên quyết xử lý các hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật, đảm bảo tính thượng tôn pháp luật./.



Môi Trường ST.

KHÔNG ĐỂ PHẢN ĐỘNG LỘNG HÀNH!

HOAN HÔ SỞ VĂN HÓA - THỂ THAO HÀ NỘI KỊP THỜI NGĂN CHẶN NHỮNG BỨC TRANH BIẾM HỌA CỦA TÊN CHIÊN PHẢN ĐỘNG.

Những bức tranh biếm họa đả kích các chiến sĩ Điện Biên Phủ và đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được ngăn chặn.

Tại sao bọn chúng dám ngang nhiên đả kích một sự kiện đặc biệt của lịch sử chiến thắng Điện Biên Phủ; đả kích anh bộ đội Cụ Hồ với tư thế phất cao lá quân kỳ QUYẾT THẮNG trong chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu này?

Các cơ quan chức năng nhà nước ở đâu?

Ai đã phê duyệt triển lãm phản động này ? 

---

Ngày 7/5, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã yêu cầu tạm dừng Triển lãm Hội hoạ Điện Biện Phủ (dự kiến khai mạc chiều 7/5/2022 tại Hà Nội) để thẩm định một số bức tranh trong triển lãm. Theo báo Tuổi trẻ, một trong các nội dung thẩm định có liên quan đến bức tranh dưới đây, do có những ý kiến cho rằng bức tranh chính của triển lãm Điện Biên Phủ vẽ "lá cờ bị rách quá" và anh bộ đội gầy khô, không một chút thần thái hiên ngang của ngày chiến thắng. 


Về hình ảnh lá cờ, đồng ý rằng, trong chiến tranh, lá cờ có thể bị rách, nhưng không đến nỗi tan nát như hình tên phản động Mai Duy Minh này vẽ.

Hình người lính Điện Biên dù khó khăn gian khổ "khoét núi ngủ hầm mưa dầm cơm vắt" cũng phải toát lên sự anh dũng kiên cường chứ không phải há mồm trợn mắt như tên phản động thợ vẽ này.


Đề nghị cơ quan chức năng tóm cổ tên phản động này.

Ai ký quyết định phê duyệt triển lãm này phải chịu trách nhiệm.

Báo chí, truyền thông PR tranh biếm họa, phỉ báng chiến thắng Điện Biên Phủ của tên phản động này cũng không ngoại lệ.

Cần xử lý mạnh mẽ và dứt điểm vụ việc này.

Không thể để tiền lệ xấu cho bọn phản động lộng hành.!










Yêu nước ST.

TẠM DỪNG LÀ ĐÚNG!

(Vạch mặt tên thợ vẽ phản động cố tình bôi nhọ lịch sử dân tộc, biếm với chả họa cái mả tổ nhà nó).
-------
Ngày 7/5, Sở Văn hóa - Thể thao Hà Nội đã yêu cầu tạm dừng Triển lãm Hội hoạ Điện Biện Phủ (dự kiến khai mạc chiều 7/5/2022 tại Hà Nội) để thẩm định một số bức tranh trong triển lãm. Theo báo Tuổi trẻ, một trong các nội dung thẩm định có liên quan đến bức tranh dưới đây, do có những ý kiến cho rằng bức tranh chính của triển lãm Điện Biên Phủ vẽ "lá cờ bị rách quá" và anh bộ đội không đẹp, "không đúng về giải phẫu".

Sau quyết định trên, một số nghệ sĩ cho rằng Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội đã quá cứng nhắc, rập khuôn và không hiểu hết được giá trị nghệ thuật của bức tranh, có anh nhà báo còn phát biểu "thật quá kinh ngạc vì mức độ tối tăm của một số người!".

Còn phía cá nhân, với tư cách là cựu chiến binh, tôi nghĩ rằng, quyết định của Sở Văn hoá – Thể thao Hà Nội là hợp lý. Trước hết, về hình ảnh người lính trong bức tranh, thần thái toát lên là gì? Có nét nào gợi lên sự bất khuất, kiên định, dũng cảm của người lính không, hay chỉ gây tiếng cười cho người xem (nhiều người so sanh hình ảnh người lính với hình ảnh Zoobie trong phim phương Tây). Kể cả minh tinh điện ảnh thì trong 1 loạt các khoảnh khắc vẫn có những khung hình rất xấu. Nhưng khi đã vẽ ra, thì việc lựa chọn khung hình nào để vẽ sẽ là đại diện thần thái cho cả bức ảnh, huống gì đây là khuôn mặt, thần thái của cả 1 chiến dịch. Người chiến sỹ có thể gầy gò, ốm yếu, nhưng ánh mắt, khuôn mặt phải toát lên thần thái. Đây là điều mà người hoạ sỹ chưa làm được.

Về hình ảnh lá cờ, đồng ý rằng, trong chiến tranh, lá cờ có thể bị rách nát, bị đạn bắn hay ám mùi thuốc súng. Nhưng rách theo kiểu tan nát như thế này thì thực sự là quá lố và phi thực tế rồi. Video cắm cờ trên hầm Đờ Cát là được dàn dựng sau này, nhưng hãy nhìn video cờ quân Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc lập hay hình ảnh người lính Hồng quân cắm cờ trên nóc toà nhà Quốc hội Đức năm 1945 để xem liệu sự sáng tạo của người nghệ sĩ có quá lố bịch hay không.

Nghệ thuật có thể sáng tạo, có thể đi theo hướng “hiện thực hoá”. Nhưng không có nghĩa là anh sáng tạo một cách lố lăng, phi thực tế, nhất là những tác phẩm về lịch sử. Chúng ta không tô hồng, không hình tượng hoá lịch sử, nhưng xin hãy TÔN TRỌNG LỊCH SỬ./.


Môi Trường ST.

Luận điệu xuyên tạc của Đài Châu Á tự do về Nhân quyền tại Việt Nam.


Nhân quyền tại Việt Nam là điều luôn được quan tâm, ngay từ khi khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở đầu tuyên ngôn độc lập với lý lẽ đanh thép về nhân quyền: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA HIỆN NAY

Hiện nay, thế giới đang bước vào thời kỳ toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng trên mọi lĩnh vực xã hội. Với chủ trương làm bạn với tất cả các quốc gia, dân tộc, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Tuy vậy, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng đối với nước ta không thay đổi, trái lại ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Chúng triệt để lợi dụng những thành tựu cách mạng khoa học - công nghệ, khai thác không gian mạng để tuyên truyền các quan điểm sai trái, thù địch, những thông tin xấu, độc hại, bịa đặt hòng xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, từng bước thay đổi chế độ chính trị ở nước ta. Qua đó, nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, từng bước đưa nước ta đi theo quỹ đạo của các nước phương Tây. Để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” đối với nước ta, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, các thế lực thù địch ráo riết đẩy mạnh các hoạt động chống phá, công kích, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tìm cách đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Chúng cho rằng, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam là sai lầm, là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển của đất nước. Đặc biệt, chúng triệt để lợi dụng, khoét sâu những hạn chế, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên để xuyên tạc thành tựu đổi mới của đất nước, cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã lỗi thời, Việt Nam nên thay đổi chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bằng hệ tư tưởng dân chủ tư sản cho “phù hợp với xu thế phát triển”. Điển hình như: khi dịch bệnh Covid -19 vừa mới bùng phát trên thế giới, dù ở Việt Nam chưa có ca mắc bệnh nhưng nước ta đã làm rất tốt công tác phòng, chống dịch; tuy nhiên, các thế lực bên ngoài đã tung tin rằng: “Chính quyền che giấu, bưng bít, không minh bạch thông tin dịch bệnh với người dân”. Đặc biệt, khi phát hiện bệnh nhân thứ 17 nhiễm Covid-19, các thế lực thù địch đã lợi dụng tình hình tung tin “Việt Nam bùng phát dịch”, “Hà Nội sắp thất thủ”…gây tâm lý hoang mang, bất ổn trong xã hội; hay lợi dụng việc ca sĩ thủy Tiên đi vận động cứu trợ người dân miền Trung bị thiệt hại do lũ lụt tháng 11/2020, các tổ chức phản động đã tuyên truyền xuyên tạc rằng: “Ca sĩ Thủy Tiên làm từ thiện hiệu quả hơn các cơ quan Nhà nước; cần giải tán các cơ quan làm công tác cứu trợ; Đảng, Nhà nước rất thờ ơ”… Các thế lực thù địch ra sức đẩy mạnh tuyên truyền, ca ngợi chủ nghĩa tư bản, cổ xúy cho chủ nghĩa cá nhân, lối sống thực dụng, cho rằng chủ nghĩa tư bản đã thay đổi bản chất, không còn là xã hội áp bức, bóc lột. Thông qua đó, nhằm làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhân dân dao động, hoài nghi về vai trò lãnh đạo của Đảng, về mục tiêu, con đường đi lên xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam; kích động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, lôi kéo, kích động nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định chính trị, xã hội ở nước ta. Chúng còn phê phán rằng, đường lối phát triển của ta lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo tức là tập trung vào khu vực kinh tế kém hiệu quả, khó tránh khỏi tụt hậu, yêu cầu ta phát triển thị trường tự do tư bản, khuyến khích tư nhân phát triển…Những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của nước ta chẳng qua vì những người cách mạng Việt Nam đã quá độ sang chủ nghĩa tư bản…Lợi dụng kết quả cuộc đấu tranh chống tham những do Đảng ta tiến hành, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu khống, bóp méo sự thật về cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam, nhất là sau khi Đảng, Nhà nước đưa ra xử lý một số vụ tham nhũng kinh tế, chúng cho rằng đó là “thanh trừng phe phái”, “đấu đá nội bộ Đảng”, “trả thù cá nhân” giữa người này với người kia, nhóm này với nhóm khác vì “lợi ích nhóm…” “Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, công bằng thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”…Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch vẫn cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam không thể chống tham nhũng thành công vì chế độ độc đảng cầm quyền sẽ thủ tiêu đấu tranh”… Các thế lực thù địch còn tuyên truyền nội dung xấu, độc, trá hình, bơi móc, thổi phòng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, thiếu sót trong quản lý nhà nước để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của các cấp ủy, chính quyền địa phương, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp dân tộc, tôn giáo. Chúng ra sức kêu gọi thúc đẩy “dân chủ đa nguyên”, thay đổi thể chế chính trị, đổi tên Đảng, tên nước, sửa Cương lĩnh, Hiến pháp, “phi chính trị hóa”, quân đội, công an; thực hiện “tam quyền phân lập” ở Việt Nam; tác động, chia rẽ nội bộ để chống phá Đảng, Nhà nước, kích động, lôi kéo nhân dân vào các hoạt động biểu tình, gây mất ổn định an ninh chính trị ở địa phương. Các thế lực thù địch còn “bịa đặt” đời tư cá nhân các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước; tuyên truyền xuyên tạc tình hình sức khỏe; bình phẩm, phán xét về trình độ, năng lực; xuyên tạc nhân phẩm, đạo đức lối sống…nhằm bôi nhọ thanh danh, uy tín của các đồng chí lãnh đạo, nhất là các đồng chí là ứng viên cho cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp khóa mới. Chúng cho rằng, việc đại hội lựa chọn, bầu các vị trí quan trọng trong Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị chỉ mang tính hình thức, chỉ người nhà các lãnh đạo mới được lựa chọn mà thôi, thực chất chỉ là việc “củng cố hay thâu tóm quyền lực” của các lãnh đạo trong Đảng, Nhà nước. Qua đó, hòng thúc đẩy phong trào “bất tuân dân sự”, tạo tiền đề để “tập dượt cách mạng màu” ở nước ta. Đặc biệt, chúng tập trung xuyên tạc nội dung dự thảo văn kiện của Đại hội Đảng các cấp, nhất là dự thảo văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc. Các thế lực thù địch soạn thảo các tài liệu mạo danh, nặc danh hoặc công khai xuyên tạc tình hình và thành tựu phát triển của đất nước; thổi phồng những tồn tại, hạn chế trong phát triển kinh tế, xã hội, đổ lỗi nguyên nhân của những hạn chế là do thể chế chính trị nhằm gây sức ép buộc các cơ quan chức năng sửa đổi, bổ sung văn kiện Đại hội theo quan điểm phương Tây. Tựu trung lại, để đạt được hiệu quả trong tuyên truyền phá hoại tư tưởng đối với nước ta, các thế lực thù địch triệt để sử dụng mọi phương pháp thủ đoạn để tuyên truyền “lý luận phản khoa học” bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, qua đó nhằm tạo ra “khoảng trống” về mục tiêu, lý tưởng, lịch sử dân tộc và thành tựu cách mạng đối với cán bộ, đảng viên, nhân dân. Chúng kết hợp “nội công” là các phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với Nhà nước với “ngoại kích”, là các cá nhân tổ chức phản động lưu vong ở bên ngoài nhằm chống phá Việt Nam. Chúng đặc biệt chú trọng lôi kéo, tác động, mua chuộc cán bộ, đảng viên trong các cơ quan trọng yếu của Đảng, Nhà nước, Chính phủ…làm cho họ phai nhạt lý tưởng, “tự diễn biến, tự chuyển hóa” từ đó tự hình thành “ngọn cờ” chống đối, hình thành các tổ chức chính trị đối lập với Đảng, Nhà nước trong các cơ quan, ban, ngành ở nước ta. 2. Thời gian qua, bên cạnh những kết quả đạt được, công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc, thù địch còn có hạn chế, bất cập như: Một bộ phận cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, chức năng nhận thức chưa đúng, đầy đủ về vị trí, vai trò của công tác nên chưa quan tâm, chú trọng thực hiện; còn có tổ chức đảng, đảng viên còn lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh, ngăn chặn “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Sự phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính hình thức, thụ động chưa phát huy được sức mạnh tổng hợp trong công tác này. Công tác đấu tranh phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch còn nặng về hình thức, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài, vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân…là những yếu tố để các thế lực thù địch lợi dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái về Việt Nam. Nhằm góp phần khắc phục hạn chế, thiếu sót, nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng đối với nước ta, theo tác giả, cần tập trung thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó chú trọng một số giải pháp trọng tâm như sau: Một là, cần xác định, cuộc đấu tranh, bảo vệ nền tảng tư tưởng, lý luận hiện nay là một trong những nhiệm vụ chính trị mang tính cấp bách, thường xuyên và lâu dài nhằm bảo vệ quan điểm của Đảng, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo vệ giá trị tư tưởng, lý luận đúng đắn; bảo vệ những thành quả cách mạng mà nhân dân ta đã dày công xây dựng. Do vậy, công tác này phải luôn phải được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng và Nhà nước nhằm phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị trong triển khai công tác này một cách thực chất, thường xuyên, liên tục với quyết tâm chính trị lớn, sức thuyết phục cao, sức mạnh lan tỏa mạnh mẽ; được triển khai rộng khắp với nội dung phong phú, phù hợp với từng đối tượng. Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu và hiệu quả của công tác tuyên truyền, tư tưởng, lý luận, làm cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng vững chắc của đời sống xã hội, xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên, nhân dân nhằm nâng cao sức đề kháng, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch. Ba là, tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận trong hoạch định đường lối xây dựng và phát triển đất nước; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh có sức sống mãnh liệt và giữ vai trò chủ đạo trong đời sống của xã hội Việt Nam. Qua đó, cung cấp luận cứ khoa học cho cuộc đấu tranh, phê phán quan điểm sai trái, thù địch chống phá Việt Nam. Gắn kết chặt chẽ cuộc đấu tranh bảo vệ hệ tư tưởng g của xã hội Việt Nam với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh; nêu cao vai trò tiên phong, gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu. Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính chủ động, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tuyên truyền và tư tưởng, lý luận; gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống” trong công tác này nhằm tạo sức “tự đề kháng”trước những luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bốn là, tiếp tục thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, làm cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc; không ngừng nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Đó là minh chứng sinh động nhất nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ta, đập tan các luận điệu sai trái, thù địch chống phá nước ta. Giải quyết kịp thời, dứt điểm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện, các vụ đình công, lãn công…ngay từ cơ sở, không để hình thành “điểm nóng”, không để kẻ địch lợi dụng chống phá. Trong xử lý các vấn đề nhạy cảm cần tính toán, cân nhắc thời điểm phù hợp, đảm bảo các yêu cầu đặt ra theo hướng kiên định về nguyên tắc nhưng khôn khéo, linh hoạt về phương pháp, tranh thủ được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân trong và ngoài nước, kiên quyết không tạo sơ hở để kẻ địch lợi dụng, vu cáo, xuyên tạc. Năm là, tiếp tục tăng cường công tác quản lý nhà nước về báo chí, truyền thông, Internet và thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trên lĩnh vực này. Chủ động, phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các trang mạng độc hại, các blog “đen” thường đăng tải các tin, bài, phim có nội dung xấu, độc hại, trái ngược với quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Sử dụng các giải pháp công nghệ thông tin để ngăn chặn các tin tức xấu, độc trên các trang mạng và vô hiệu hóa hoặc ngăn chặn việc truy cập vào các trang mạng có nội dung “độc hại”. Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực thông tin, tuyên thông, quản lý Internet. Cần xác định những quan hệ xã hội nảy sinh trên lĩnh vực này chưa được pháp luật điều chỉnh để kiến nghị cơ quan chức năng xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn. Phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền, luận điệu xuyên tạc chống phá Đảng và Nhà nước ta của các thế lực thù địch, phản dộng là cuộc chiến đầy khó khăn, thách thức. Để khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy những kết quả đã đạt được trong công tác này, trong thời gian tới, các cơ quan chức năng cần triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm, có hệ thống các giải pháp cơ bản nêu trên để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc, thù địch đối với nước ta.

Thủ tướng Nhật không phải là “con rối” của tổ chức Theo dõi Nhân quyền


Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch) có thể coi là đại diện điển hình, đơn cử là ngày 26/4/2022 vừa qua, văn phòng của tổ chức này tại thủ đô Tokyo, Nhật Bản đã kêu gọi