Hoạt động của
đồng chí Phan Đăng Lưu trong quá trình xây dựng, phát triển tổ chức đảng và
phong trào cách mạng ở Trung Kỳ
Đồng chí Phan Đăng Lưu thuộc thế hệ chiến sĩ cộng sản đầu
tiên được giao trọng trách Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ, sau là Ủy viên Ban Chấp
hành Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong thời kỳ cách mạng Việt Nam phải đối mặt
với sự chống phá quyết liệt của chính quyền thực dân và phong kiến phản động,
đồng chí Phan Đăng Lưu đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng,
khôi phục tổ chức đảng và quần chúng, tham gia lãnh đạo cuộc vận động dân chủ,
góp phần đưa phong trào cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển cao
hơn.
Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu trong những năm đầu gây
dựng cơ sở cách mạng ở Trung Kỳ
Đồng chí Phan Đăng Lưu sinh ngày 5-5-1902 tại thôn Đông, xã
Tràng Thành (nay là xã Hoa Thành), huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, trong một gia
đình nông dân khá giả, có truyền thống hiếu học và khoa bảng. Năm 1923, sau khi
tốt nghiệp Trường Canh nông thực hành với tấm bằng xuất sắc, đồng chí Phan Đăng
Lưu được bổ nhiệm làm nhân viên tập sự tại Sở Canh nông Bắc Kỳ. Ngày
10-10-1924, đồng chí đến nhận việc tại Trại nuôi tằm Thanh Ba (tỉnh Phú Thọ).
Một năm sau, đồng chí chuyển công tác về Sở Canh nông Nghệ An và được bổ nhiệm
làm viên chức tập sự ở Sở Canh nông Bắc Kỳ (vì vậy, đồng chí còn được gọi
là ông Phán Tằm). Cuối năm 1925, đồng chí Phan Đăng Lưu chuyển công tác về
thành phố Vinh (tỉnh Nghệ An), theo Quyết định số 1418 của Khâm sứ Trung Kỳ.
Tại đây, đồng chí đã gặp gỡ và trao đổi thường xuyên với những người trí thức
yêu nước, như: Trần Mộng Bạch, Ngô Đức Diễn, Hà Huy Tập, Trần Phú, Trần Văn
Tăng (lúc này đã chuyển về dạy học ở Trường tiểu học Vinh), rồi tham gia Hội
Phục Việt - một tổ chức cách mạng do các trí thức yêu nước thành lập ngày
14-7-1925
Nhà lãnh đạo cách mạng tiền bối Phan Đăng Lưu (ảnh trái)
và Báo Dân Tiến do đồng chí Phan Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo_Ảnh:
Tư liệu
Đầu năm 1927, mật thám Pháp nghi ngờ đồng chí Phan Đăng Lưu liên
quan đến các hoạt động chính trị chống Pháp, tuy chưa có bằng chứng cụ thể,
nhưng Khâm sứ Trung Kỳ vẫn ra quyết định chuyển đồng chí Phan Đăng Lưu vào trại
sản xuất trứng tằm ở Phú Phong (tỉnh Bình Định). Ngày 7-4-1927, Khâm sứ Trung
Kỳ tiếp tục điều đồng chí Phan Đăng Lưu vào làm việc tại trại nghiên cứu cây
trồng Canh Kina Lang Hanh, Đồng Nai Thượng (nay là tỉnh Lâm Đồng), nhằm
cắt đứt mối liên hệ của đồng chí với những hoạt động chính trị chống Pháp. Ngày
30-6-1927, Khâm sứ Trung Kỳ sa thải Phan Đăng Lưu. Lúc này, đồng chí Phan Đăng
Lưu đã tìm đến tổ chức để nhận nhiệm vụ, bắt đầu cuộc đời hoạt động trong phong
trào cách mạng ở Trung Kỳ.
Trở về Nghệ Tĩnh - nơi đang có phong trào cách mạng của Hội Việt
Nam Cách mạng Đồng chí và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - Phan Đăng Lưu
cùng thầy giáo Trần Văn Tăng trực tiếp xây dựng cơ sở cách mạng ở quê nhà .
Đồng chí được Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí cử vào Huế hoạt động và
đã nỗ lực cùng đồng chí Nguyễn Sỹ Sách - Bí thư Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên Trung Kỳ - vừa xây dựng tổ chức, vừa củng cố để thống nhất hai tổ
chức cách mạng đang phát triển và có xu thế tranh giành ảnh hưởng trong quần
chúng, không có lợi cho cách mạng.
Trong những năm 1927 - 1928, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng
Thanh niên đã phát triển đều khắp ở các Kỳ bộ Bắc, Trung, Nam và Tổng bộ Hội
Việt Nam Cách mạng Đồng chí ở Huế đã được thành lập. Ngày 14-7-1928, tại Huế,
Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí tiến hành đại hội và quyết định đổi tên thành
Tân Việt Cách mạng Đảng. Đây là Đại hội toàn quốc lần thứ nhất của Tân Việt
Cách mạng Đảng. Đồng chí Đào Duy Anh được cử làm Bí thư Đảng và đồng chí Phan
Đăng Lưu được bầu làm Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn của Tổng bộ .
Giữa tháng 3-1928, sau khi nghe đồng chí Nguyễn Sỹ Sách ở trong
nước sang báo cáo, Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Quảng Châu
(Trung Quốc) đã viết thư gửi Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Đồng chí (Tân Việt
Cách mạng Đảng) để đồng chí Nguyễn Sỹ Sách mang về triển khai nhiệm vụ hợp nhất
trong nước: “Đảng ở Quảng Châu gửi về nước đồng chí Phong (tức Nguyễn Sỹ Sách)
cũng vẫn với mệnh lệnh làm trong sạch hai đảng. Nội dung bức thư viết: “THÂN
GỬI: CÁC ĐỒNG CHÍ Ở TRONG NƯỚC… Hội chúng tôi lập lên ở hải ngoại là cốt để gây
một cuộc cách mệnh ở đất nước Việt Nam. Vậy bất cứ đảng cách mệnh Việt Nam nào,
không phân biệt màu sắc chính trị, chúng tôi đều vui lòng hợp nhất… Ngày nay,
không nên để tình trạng phân biệt, chúng tôi đề nghị các đồng chí là đem toàn
hội của các đồng chí sáp nhập vào hội chúng tôi hiện có ở khắp mọi nơi trong ba
kỳ, làm được như thế là chúng ta hợp nhất. Ngoài một số ý kiến lớn nói trên,
còn các chi tiết khác đồng chí Nguyễn Sỹ Sách sẽ bàn thêm. Sau đó, đồng chí
Nguyễn Sỹ Sách bị thực dân Pháp bắt và giam ở nhà tù Lao Bảo (tỉnh Quảng Trị).
Trước tình hình đó, những người có tư tưởng cấp tiến trong Tân
Việt Cách mạng Đảng thấy được sự cần thiết phải thống nhất cả về đường lối
chính trị, phương pháp hoạt động và tổ chức lực lượng cách mạng tiếp tục đề
xuất với Ban Chấp hành Trung ương Đảng Tân Việt là tích cực kiên trì, chủ động
tìm gặp Tổng bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để bàn bạc. Ban Thường vụ
Trung ương Đảng Tân Việt đã chấp thuận và cử đồng chí Phan Đăng Lưu sang Trung
Quốc. Giữa tháng 9-1929, đồng chí Phan Đăng Lưu bí mật sang Trung Quốc, nhưng
bị mật thám theo dõi do có kẻ phản bội, nên đã bị bắt đưa về giam ở nhà lao
Vinh, sau đó bị thực dân Pháp kết án 3 năm tù khổ sai.
Mặc dù đồng chí Phan Đăng Lưu bị bắt, nhưng thành quả hoạt động
cách mạng của đồng chí với trọng trách là Ủy viên phụ trách công tác tuyên huấn
của Tân Việt Cách mạng Đảng đã góp phần quan trọng đối với sự ra đời của Bản
Tuyên đạt thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn (tháng 9-1929) - đánh dấu
bước chuyển biến mạnh mẽ về tư tưởng chính trị hướng theo con đường cách mạng
vô sản của Tân Việt Cách mạng Đảng - để đến cuối tháng 12-1929, hoàn tất quá
trình thành lập Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Đây là một trong ba tổ chức cộng
sản - tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thời gian ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu vẫn tiếp tục tổ
chức đấu tranh, chống chế độ hà khắc của nhà tù đế quốc, biến nhà tù đế quốc
thành trường học cách mạng, vì vậy, được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và
tham gia ban lãnh đạo nhà tù (10). Lợi dụng công việc được cai
ngục giao ghi chép sổ sách tại văn phòng Tòa sứ Buôn Ma Thuột, đồng chí Phan
Đăng Lưu đã cùng các đồng chí trí thức yêu nước khác bí mật xuất bản tờ báo
viết tay bằng hai thứ tiếng Kinh và Ê-đê, lấy tên là “Doãn Đê tuần báo”, sau đó
được đổi tên là “Bôn-sê-vích”. Từ năm 1932 - 1934, đồng chí Phan Đăng Lưu còn
cho ra đời tờ báo “Xích sắt”.
Hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu với trọng trách Ủy viên Xứ
ủy Trung Kỳ
Từ năm 1936, trước những chuyển biến mới của tình hình Đông
Dương, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thực hiện theo Nghị quyết của Đại
hội VII Quốc tế Cộng sản, xác định nhiệm vụ trước mắt là chống phát-xít, chống
chiến tranh đế quốc, chống phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do, dân chủ,
cơm áo và hòa bình; “lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi chính để bao gồm
các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tín ngưỡng tôn giáo khác
nhau, các dân tộc ở xứ Đông Dương để cùng nhau tranh đấu để đòi những điều dân
chủ đơn sơ” (11). Đảng cũng chủ trương chuyển hình thức tổ chức
bí mật, không hợp pháp sang các hình thức tổ chức và đấu tranh công khai, nửa
công khai, hợp pháp, nửa hợp pháp, kết hợp với bí mật, bất hợp pháp. Đặc biệt,
đến Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3-1938, Đảng chỉ rõ: “Lập Mặt trận
dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện
tại” (12). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào vận động dân
chủ diễn ra trên quy mô rộng lớn, lôi cuốn đông đảo quần chúng tham gia với
những hình thức đấu tranh phong phú.
Đồng chí Phan Đăng Lưu được ra tù trong bối cảnh thực dân Pháp
buộc phải thả một số tù chính trị. Được ra tù, nhưng đồng chí Phan Đăng Lưu
không được về quê, mà bị quản thúc ở Huế. Đồng chí lại tiếp tục hoạt động cách
mạng và là một người tham gia tích cực vào cuộc vận động Đông Dương Đại
hội (13) ở Huế. Giữa tháng 8-1936, đồng chí Phan Đăng Lưu
bắt liên lạc được với Trung ương Đảng và được chỉ định vào Ban Chấp hành lâm
thời Xứ ủy Trung Kỳ, được Đảng phân công phụ trách phong trào đấu tranh công
khai, bán công khai ở Huế và Trung Kỳ, nơi trung tâm đầu não của thực dân Pháp
và lực lượng phong kiến Nam triều. Với nhãn quan chính trị sáng suốt, đồng chí
Phan Đăng Lưu đã cùng các đồng chí Lê Duẩn, Nguyễn Chí Diểu, Hải Triều, Bùi
San,… thể hiện rõ vai trò là linh hồn của cuộc đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ
ở Huế và Trung Kỳ, góp phần đưa phong trào trở thành một cao trào cách mạng sôi
nổi, rộng khắp của quần chúng.
Theo sáng kiến của Xứ ủy Trung Kỳ, đồng chí Phan Đăng Lưu và
đồng chí Tôn Quang Phiệt cùng nhiều đồng chí trí thức yêu nước nhận thấy cần
xuất bản một tờ báo để vận động cho các ứng cử viên của phong trào bình dân.
Ngày 19-6-1937, tờ báo “Sông Hương tục bản” ra đời dưới sự phụ trách của đồng
chí Ngô Đức Mậu. Các tờ báo do Xứ ủy Trung Kỳ chủ trương xuất bản còn phải kể
đến các tờ “Dân muốn” (số 1 ra ngày 20-12-1938, số cuối ngày
25-1-1939), “Dân tiến” - cơ quan liên hiệp tất cả các lực
lượng cấp tiến (số 1 ra ngày 27-10-1938, số cuối ra ngày 12-12-1938, tổng cộng
là 5 số). Cả hai tờ báo này đều do đồng chí Phan Đăng Lưu chỉ đạo (14).
Đồng chí Phan Đăng Lưu đã trực tiếp viết các bài xã luận, bình luận chính trị,
tiểu phẩm, thông qua báo chí công khai vạch mặt những tên tay sai hại nước, hại
dân, dùng mọi mánh khóe để được trúng cử. Nhiều bài viết có sức thuyết phục,
như các bài: “Lời khuyên các cử tri”, “Phơi gan trải ruột cho quốc dân biết”,
“Câu chuyện hàng tuần”... Nhờ công tác tuyên truyền thông qua báo chí, đồng chí
Phan Đăng Lưu đã hướng cử tri bầu những người tốt vào Viện Dân biểu Trung Kỳ.
Những ứng cử viên do báo “Sông Hương tục bản” giới thiệu đều trúng cử.
Cuộc đấu tranh vào Viện Dân biểu ở Trung Kỳ do đồng chí Phan
Đăng Lưu trực tiếp chỉ đạo cũng giành thắng lợi (tất cả 18 ứng cử viên do Đảng
đưa ra tranh cử đều trúng cử ngay từ vòng đầu và đều nắm các chức vụ chủ chốt
trong Viện). Đánh giá về thắng lợi này, Văn kiện Đảng toàn tập đã nêu rõ: “18
candidats ở Trung Kỳ xu hướng về Mặt trận bình dân được đắc cử là những sự
thắng lợi rất vẻ vang của Đảng ta” (15). Đánh giá về công lao,
đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu, Bùi San - người đồng chí, người trong cuộc
cùng ngồi tù, cùng hoạt động tại Huế - đã viết: “Trong thời kỳ Mặt trận dân
chủ, anh Lưu ở trong Xứ ủy Trung Kỳ và được giao lãnh đạo các công tác công
khai như báo chí hợp pháp của Đảng, lực lượng Mặt trận dân chủ ở Viện dân biểu
Trung Kỳ. Anh đã trực tiếp lãnh đạo vào Viện dân biểu này. Cuộc đấu tranh khá
gay go…” . Đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu trong phong trào đấu tranh
đòi dân sinh dân chủ ở Trung Kỳ đã được ghi vào sử sách: “Đây là thời kỳ đồng
bào, đồng chí ở các tỉnh Trung Kỳ biết đến Phan Đăng Lưu nhiều nhất, nhiệt liệt
hưởng ứng lời kêu gọi của anh, dũng cảm tiến bước trong các cuộc đấu tranh
chống phản động thuộc địa và tay sai do anh dẫn đầu và tin tưởng vào thắng
lợi” (17). Những hoạt động của đồng chí Phan Đăng Lưu đã góp
phần thổi bùng lên phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương giai đoạn 1936 - 1939
do Đảng lãnh đạo. Trong cao trào cách mạng
sôi động đó, năm 1938, đồng chí Phan Đăng Lưu được bầu vào Ủy viên Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương.
Cuộc vận động dân chủ giai đoạn 1936 - 1939 ở Trung Kỳ đã góp
phần cùng phong trào cả nước buộc đế quốc Pháp phải nhượng bộ một số yêu sách
về dân sinh, dân chủ. Quần chúng được giác ngộ về chính trị, trở thành lực
lượng chính trị mạnh mẽ của cách mạng Việt Nam. Đội quân chính trị quần chúng
gồm hàng triệu người được tập hợp, giác ngộ và rèn luyện. Uy tín và ảnh hưởng
của Đảng được mở rộng. Tổ chức Đảng được củng cố và phát triển. Đến tháng
4-1938, Đảng có 1.597 đảng viên hoạt động bí mật và hơn 200 đảng viên hoạt động
công khai. Số hội viên trong các tổ chức quần chúng công nhân, nông dân, phụ
nữ, học sinh, cứu tế là 35.009 người (18). Qua cuộc vận động
dân chủ, trận địa và lực lượng cách mạng được mở rộng ở cả nông thôn và thành
thị, thực sự là một bước chuẩn bị quan trọng cho thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 sau này. Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám
đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý
luận Trung ương trò chuyện, thăm hỏi đại diện gia đình, dòng họ đồng chí Phan
Đăng Lưu bên lề Hội thảo khoa học: “Đồng chí Phan Đăng Lưu với cách mạng Việt
Nam và quê hương Nghệ An” do Học viên Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối
hợp với Ban Tuyên giáo Trung ương, Tỉnh ủy Nghệ An tổ chức_Nguồn: baonghean.vn
Người trực tiếp góp
phần hoạch định chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng Việt
Nam
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, thực dân Pháp phát-xít
hóa bộ máy chiến tranh. Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương
Đảng họp trong ba ngày 6, 7 và 8-11-1939, nhằm giải quyết vấn đề chuyển hướng
đường lối và phương pháp cách mạng trong tình hình mới. Hội nghị được tổ chức
tại Bà Điểm (Hóc Môn, Gia Định). Sau khi phân tích rõ mâu thuẫn chủ yếu, gay
gắt nhất ở Đông Dương lúc này là mâu thuẫn giữa đế quốc và các dân tộc Đông
Dương, Hội nghị xác định mục tiêu chiến lược trước mắt của cách mạng Đông Dương
là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng các dân tộc Đông Dương, làm cho Đông
Dương hoàn toàn độc lập. Nhằm tập trung mọi lực lượng phục vụ nhiệm vụ chủ yếu
là chống chiến tranh đế quốc, giành độc lập dân tộc, Hội nghị chủ trương tạm gác
khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu “tịch ký ruộng đất của những
địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc”. Vì vậy, Hội nghị quyết định chuyển từ đấu
tranh đòi quyền dân sinh, dân chủ sang đấu tranh trực tiếp đánh đổ chính quyền
của đế quốc và tay sai, từ hoạt động hợp pháp, nửa hợp pháp chuyển sang hoạt
động bí mật và bất hợp pháp “bước tới bạo động làm cách mạng giải phóng dân
tộc”. Hội nghị đặc biệt chú trọng đến công tác xây dựng Đảng, đề ra những
nguyên tắc và biện pháp cụ thể nhằm củng cố Đảng về mọi mặt. Phải thống nhất ý
chí và hành động, phải mật thiết liên lạc với quần chúng, phải có vũ trang lý
luận cách mạng; phải lập tức khôi phục hệ thống tổ chức Đảng ở Bắc Bộ, Trung Bộ
và Nam Bộ; phải khuếch trương và củng cố cơ sở đảng ở các thành thị, các trung
tâm kỹ nghệ và các hầm mỏ, đồn điền; thực hiện tự phê bình và đấu tranh trên
hai mặt trận chống tả khuynh và hữu khuynh, đặc biệt chú trọng sự thống nhất ý
chí và hành động trong toàn Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng tháng
11-1939 đánh dấu bước phát triển quan trọng về lý luận và đường lối, phương
pháp cách mạng của Đảng, thể hiện sự nhạy bén về chính trị và năng lực sáng tạo
của các đồng chí trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có đồng chí Phan
Đăng Lưu. Từ sau Hội nghị, phong trào cách mạng ở Trung kỳ nói riêng và cả nước
nói chung đã có những chuyển biến mới, làm tiền đề thúc đẩy cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc.
Trước tình hình cách mạng gặp khó khăn, hầu hết các đồng chí
trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng bị bắt, giữa tháng 10-1940, đồng chí Phan
Đăng Lưu bí mật rời Nam Kỳ ra họp và thống nhất với Xứ ủy Trung Kỳ cùng Bắc Kỳ
tổ chức Hội nghị tái thành lập Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Hội nghị diễn ra
từ ngày 6 đến 9-11-1940 tại làng Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh. Nghị quyết Hội
nghị tiếp tục thực hiện đường lối do Hội nghị Trung ương Đảng tháng 11-1939 đề
ra, nhằm tích cực chuẩn bị mọi mặt tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền
về tay nhân dân khi thời cơ xuất hiện; đồng thời, chủ trương hoãn cuộc khởi nghĩa
Nam Kỳ. Đồng chí Phan Đăng Lưu - Ủy viên Trung ương Đảng, được giao nhiệm vụ
truyền đạt chủ trương này của Trung ương đến Đảng bộ Nam Kỳ. Tuy nhiên, đêm
ngày 22-11-1940, đồng chí Phan Đăng Lưu về Sài Gòn mang theo chỉ thị của Trung
ương Đảng, đúng vào lúc thực dân Pháp đang phá tan cuộc khởi nghĩa sắp bùng nổ,
vây bắt những chiến sĩ cách mạng và đồng chí Phan Đăng Lưu cũng bị bắt (19). Theo
lịch sử Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh (1930 - 1975): “Đồng chí Phan Đăng Lưu
trên đường về còn có nhiệm vụ phổ biến Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 cho các
cấp bộ Đảng Trung Kỳ, do đó đến ngày 22-11-1940 mới về tới Sài Gòn, chưa gặp
được đồng chí Tạ Uyên, trong khi đó Xứ ủy đã gửi lệnh khởi nghĩa đi khắp các
tỉnh rồi” (20).
Như vậy, trong bối cảnh thực dân Pháp đang truy lùng bắt bớ gắt
gao những đảng viên cộng sản, đồng chí Phan Đăng Lưu không chỉ can đảm vượt
vòng vây của địch, bí mật đi ra Bắc để tham dự Hội nghị Trung ương Đảng tháng
11-1940, mà trên đường vào Nam, vẫn còn tiếp tục truyền đạt Nghị quyết Trung
ương Đảng cho các cấp Đảng bộ Trung Kỳ. Những chủ trương của Đảng đã đi vào
phong trào cách mạng của quần chúng. Khi khói lửa của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ
chưa tan, ngày 13-1-1941, một cuộc binh biến nổ ra ở đồn Chợ Rạng (huyện Đô
Lương, tỉnh Nghệ An) dưới sự chỉ huy của Đội Cung. Có thể thấy, các cuộc khởi
nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và binh biến Đô Lương là “những tiếng súng báo hiệu cho
cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng võ lực của các dân tộc ở
một nước Đông Dương” (21). Đây cũng là sự chuẩn bị
quan trọng cho Đảng bộ Trung Kỳ để sau đó tiếp nhận chủ trương đặt nhiệm vụ
giải phóng dân tộc lên hàng đầu, khi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước, trực
tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam (Hội nghị Trung ương Đảng tháng 5-1941), hoàn
chỉnh đường lối chiến lược cách mạng giải phóng dân tộc, đưa đến thắng lợi của
cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Đồng chí Phan Đăng Lưu - người cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo
tiền bối tiêu biểu của Đảng và cách mạng Việt Nam, đã “lấy cái chết của mình để
bảo vệ sống còn của dân tộc, của giai cấp và của Đảng Cộng sản Đông Dương”(22). Sớm
đi theo con đường cách mạng, đồng chí Phan Đăng Lưu đã hiến dâng cuộc đời mình
cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Dù trong những lúc phong trào cách
mạng đầy cam go, thách thức, song đồng chí vẫn giữ vững tinh thần lạc quan, chí
khí chiến đấu. Ở trong tù, đồng chí Phan Đăng Lưu kiên quyết đấu tranh và lãnh
đạo các chiến sĩ cách mạng, yêu nước chống chế độ lao tù dã man, tàn khốc của
kẻ thù bằng nhiều hình thức. Khi ra tù, đồng chí tiếp tục tham gia ngay vào
hoạt động cách mạng, chiến đấu mưu trí, dũng cảm, vì sự nghiệp giải phóng dân
tộc.
Đánh giá về công lao và đóng góp của đồng chí Phan Đăng Lưu và
nhiều nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng
định: “Các đồng chí ấy đã vui vẻ hy sinh hết thảy, hy sinh cả tính mệnh mình
cho Đảng, cho giai cấp, cho dân tộc. Các đồng chí ấy đã đem xương máu mình vun
tưới cho cây cách mạng, cho nên cây cách mạng đã khai hoa, kết quả tốt đẹp như
ngày nay” (23). Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của đồng chí Phan Đăng
Lưu là một tấm gương sáng ngời về lòng kiên trung, bất khuất; về niềm tin tuyệt đối vào Đảng, vào thắng lợi của cách
mạng; về sự hy sinh trọn đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của
dân tộc Việt Nam./