Thứ Ba, 10 tháng 5, 2022

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa.

     Gần đây, quá trình toàn cầu hóa càng trở nên mạnh mẽ hơn cùng với sự phát triển của phương tiện truyền thông mới khiến thế giới trở thành một “ngôi làng toàn cầu” và thúc đẩy quá trình tiếp biến, biến đổi văn hóa nhanh hơn: Phương thức giải trí mới tràn đến dồn dập, lan tỏa nhanh chóng, rộng khắp từ thành thị đến nông thôn.

 Tăng cường sức đề kháng văn hóa để chống xâm lăng văn hóa

Cùng với đó là âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, đang từng ngày, từng giờ làm vẩn đục các giá trị văn hóa, đạo đức xã hội, thúc đẩy sự nảy nở các biểu hiện tiêu cực, lệch chuẩn và thúc đẩy "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ... 

Năm 2005, UNESCO thông qua Công ước về Bảo vệ và phát huy sự đa dạng của các biểu đạt văn hóa. UNESCO nhấn mạnh, các quốc gia có quyền chủ quyền về văn hóa. Để bảo vệ văn hóa, các quốc gia phải xây dựng hệ thống chính sách và pháp luật về văn hóa. Tinh thần công ước cho thấy UNESCO đã ý thức được về ảnh hưởng của sự xâm lăng văn hóa đi kèm với quá trình toàn cầu hóa.

Hạn chế tiêu cực bởi xâm lăng văn hóa
Du khách trải nghiệm nghề dệt truyền thống của làng Bùng, Phùng Xá, Thạch Thất, Hà Nội. Ảnh: cand.com.vn 

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ là kết tinh của chủ nghĩa yêu nước và tinh thần văn hóa quân sự Việt Nam, thể hiện ở sự kính trọng lãnh tụ, sự yêu thương, quan hệ gắn bó giữa quân với dân; đặc trưng bởi các phẩm chất của người quân nhân vì nước quên thân, vì dân phục vụ; phản ánh sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc của Quân đội nhân dân Việt Nam trung với nước, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Truyền thống văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được hình thành từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, được củng cố, phát triển qua cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước; được gìn giữ, phát huy và hoàn thiện trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đã định hình thành một hệ thống giá trị văn hóa-chính trị-đạo đức tốt đẹp, bền vững, phản ánh bản chất, truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam và tư tưởng, phong cách, đạo đức Hồ Chí Minh, giúp định hướng sự phát triển nhân cách cho bộ đội.

Vì vậy, việc chống lại sự xâm lăng văn hóa, giữ gìn giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam là xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm được điều đó, chúng ta cần phải nhận diện hiện tượng xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ ở những phương diện sau:

Thứ nhất, tác động đến nhận thức, tư tưởng.

Cuộc chiến xâm lăng văn hóa rất khác so với cuộc chiến thông thường. Đây là một cuộc chiến tranh tâm lý, ngấm dần dần vào bộ đội, bắt đầu từ sự lung lay, lệch lạc trong nhận thức, tư tưởng. Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Trong ngày Di sản văn hóa Việt Nam năm 2019, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc (nay là Chủ tịch nước) đã phát biểu: “Đáng sợ hơn mọi sự xâm lăng, đó là xâm lăng văn hóa, là mất gốc”. Thực tế đã xuất hiện tình trạng đáng báo động về việc nhiều người dân Việt Nam, đặc biệt là giới trẻ, có cả một bộ phận chiến sĩ trẻ có nhận thức lệch lạc, sống thực dụng, buông thả, phai nhạt lý tưởng và đạo đức, có dấu hiệu bị đồng hóa, tôn sùng thần tượng và văn hóa nước ngoài mà quay lưng lại với truyền thống văn hóa tốt đẹp và lịch sử dân tộc.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, sự phát triển của nền kinh tế thị trường và truyền thông mới, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để đưa những tư tưởng, thực hành, lối sống xa lạ, không phù hợp của phương Tây đến với giới trẻ cũng như bộ đội. Việc tôn thờ tiền bạc thái quá, lối sống cá nhân ích kỷ chính là những biểu hiện đi ngược lại truyền thống văn hóa tôn trọng yếu tố tinh thần, đoàn kết cộng đồng của dân tộc. Chúng ta chứng kiến việc chạy theo giá trị đồng tiền, lối sống cá nhân ích kỷ đã tạo ra rất nhiều hệ lụy trong xã hội, cũng như đang manh nha trong chính môi trường quân đội. Đây là những nỗ lực làm cho cán bộ, chiến sĩ có ý chí yếu, dao động, có thể dẫn đến đầu hàng trước sự tấn công của văn hóa nước ngoài và làm lung lay niềm tin vào chủ nghĩa xã hội.

Dưới một hình thức khác, đó là sự lan truyền của các sản phẩm văn hóa nước ngoài, ảnh hưởng tiêu cực đến nhận thức của bộ đội. Chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy những sản phẩm văn hóa ngoại lai, không phù hợp, thậm chí đi ngược lại những giá trị văn hóa truyền thống dân tộc, được phổ biến rộng rãi trên các phương tiện truyền thông mới. Thậm chí, kể cả những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ sĩ cũng đã có nhiều người “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, không giữ được chuẩn mực đạo đức cá nhân, bê bối đời tư, phát ngôn tục tĩu, hành xử kiểu giang hồ. Một số sản phẩm nghệ thuật chạy theo thị hiếu, đề cao yếu tố chiêu trò, đồi trụy... đã vô tình hay cố ý trở thành đối tượng tác động xấu đến nhận thức cho giới trẻ, trong đó có bộ đội.

Thứ hai, tác động đến lối sống, tác phong sinh hoạt.

Văn hóa Bộ đội Cụ Hồ được đặc trưng bởi những chuẩn mực trong tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phong cách của người quân nhân cách mạng. Đó là lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp, chính nghĩa, yêu nước, yêu chế độ, trung thành, tận tụy với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân; tinh thần quyết chiến quyết thắng, ý chí vượt qua khó khăn, gian khổ, hiểm nguy, sự gan dạ, dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo trong chiến đấu, lao động và công tác; tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn, tình đoàn kết quân dân như cá với nước; tính kỷ luật tự giác, nghiêm minh... Phẩm chất, truyền thống tốt đẹp ấy phản ánh bản chất cách mạng và là sức mạnh nội sinh được tích hợp ở một trình độ cao trong quá trình xây dựng, chiến đấu của Quân đội ta.

Trong khoảng một thập niên vừa qua, chúng ta thấy những biểu hiện xâm lăng văn hóa đối với bộ đội diễn ra đa dạng. Biểu hiện này đến từ những sản phẩm, sự kiện văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là các sản phẩm, sự kiện có yếu tố nước ngoài, được phổ biến trên các phương tiện truyền thông, sau khi tác động đến nhận thức sẽ được cụ thể hóa ở những thực hành lối sống của giới trẻ, trong đó có bộ đội. Sự thực hành các sự kiện du nhập từ nước ngoài như ngày Lễ tình nhân Valentine (14-2), ngày Cá tháng Tư (1-4)... có mặt tích cực là làm phong phú hơn sinh hoạt văn hóa của người dân, góp phần hội nhập quốc tế, nhưng nếu không có bản lĩnh, bộ đội rất dễ bị ảnh hưởng bởi văn hóa đề cao lối sống ích kỷ cá nhân, thực dụng, vật chất, xa lạ với văn hóa dân tộc.

Lối sống, cách sinh hoạt dựa vào các phương tiện truyền thông mới, đặc biệt là các mạng xã hội cũng ảnh hưởng không nhỏ đến nhận thức, tư tưởng của bộ đội. Thực tế đã chứng kiến một số quân nhân sử dụng mạng xã hội để đăng thông tin, hình ảnh liên quan đến nội bộ đơn vị, gây ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, gây nguy cơ mất an toàn thông tin, nhất là nguy cơ lộ, lọt bí mật Nhà nước, bí mật quân sự. Âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội được thực hiện bằng cách lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý, chỉ huy; khai thác thông tin từ một số vụ việc tiêu cực đơn lẻ rồi xuyên tạc sự thật, thổi phồng thiếu sót, khuyết điểm; lấy hiện tượng quy kết thành bản chất; đăng tải thông tin thật, giả lẫn lộn để đả kích, phủ nhận truyền thống, bản chất cách mạng của quân đội, bôi nhọ hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân, kích động đòi phi chính trị hóa quân đội, từ đó thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong quân đội; truyền bá lối sống thực dụng, thẩm thấu tư tưởng văn hóa ngoại lai vào đời sống văn hóa, tinh thần, làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, mục ruỗng về tổ chức, băng hoại về đạo đức của quân nhân. Các thông tin được nhào nặn rất tinh vi, trộn lẫn thật-giả, tốt-xấu, khó nhận diện, trở nên nguy hiểm.

Để ứng phó với tác động của xâm lăng văn hóa đối với văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, trước hết, chúng ta cần phải hình thành nhận thức đúng đắn, đầy đủ và bản lĩnh văn hóa, giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ trong quân đội. Điều đó phải đến từ việc hiểu rõ về văn hóa dân tộc. Về nhận thức, chúng ta cần xác định rằng văn hóa rất phức tạp, vì thế, hiện tượng xâm lăng văn hóa cũng khó nhận biết rõ ràng. Việc xác định và giữ gìn văn hóa dân tộc cần phải hết sức cụ thể để phù hợp với hoàn cảnh quân đội.

Về hành động thì chúng ta nên chuyển văn hóa, bản sắc văn hóa từ những khái niệm trừu tượng thành những nội hàm cụ thể, tồn tại trong các sản phẩm và dịch vụ văn hóa. Những câu chuyện về lòng yêu nước, giá trị nhân văn, tấm lòng cao cả sẽ được truyền cảm hứng tốt hơn qua những bộ phim, cuốn truyện, bài hát, sự kiện thể thao, nghệ thuật trong quân đội. Các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, đặc biệt là hoạt động biểu diễn nghệ thuật, là một kênh quan trọng trong quá trình nâng cao nhận thức, tri thức toàn diện cho cán bộ, chiến sĩ; đồng thời trang bị cho bộ đội những kiến thức cơ bản trong cuộc đấu tranh với các quan điểm văn hóa, văn nghệ lệch lạc, xấu độc, phản động cùng các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng văn hóa của các thế lực thù địch. Kết quả hoạt động văn hóa, văn nghệ là nguồn động lực to lớn cổ vũ, động viên bộ đội trong cuộc sống, chiến đấu, lao động, học tập và công tác; trực tiếp góp phần nuôi dưỡng những phẩm chất cao đẹp của người lính; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước và những giá trị văn hóa; giáo dục, rèn luyện nhân cách quân nhân theo chuẩn mực con người mới xã hội chủ nghĩa. Qua các hoạt động văn hóa-nghệ thuật, bộ đội sẽ hiểu rõ hơn, dễ dàng hơn về những giá trị văn hóa dân tộc, từ đó có sức đề kháng đối với văn hóa ngoại lai.

Bên cạnh đó, chúng ta cần làm tốt hơn nữa công tác giáo dục đạo đức, lối sống trong quân đội. Đây là công việc cần phải thực hiện thường xuyên, kiên trì lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy tấm gương tích cực để cổ vũ, lan tỏa những hành vi đạo đức, lối sống chuẩn mực của bộ đội, từ đó lan tỏa ra toàn xã hội, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Tiếp theo đó, cần thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình để rèn luyện đạo đức, lối sống của bộ đội. Đó cũng là biện pháp để chủ động ngăn ngừa, đẩy lùi sự suy thoái từ sớm, từ xa, đưa hoạt động xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng đi vào thực chất, đạt chất lượng, hiệu quả cao.

Nhìn chung, xây dựng và phát triển văn hóa là một sự nghiệp lâu dài, cần kiên trì, thận trọng. Xâm lăng văn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị văn hóa Bộ đội Cụ Hồ nhưng cũng là cơ hội để chúng ta nhìn nhận, đánh giá toàn diện hơn về những giá trị văn hóa đặc biệt này, từ đó có những biện pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài để gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, trở thành tấm gương tiêu biểu cho đạo đức cách mạng và văn hóa dân tộc Việt Nam.

Tăng cường kiểm tra, giám sát để Đảng thêm vững mạnh.

 

LTS: Kiểm tra, giám sát (KTGS) vừa là chức năng lãnh đạo, vừa là phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. 

Trong tình hình mới, phần việc này cần được đặc biệt coi trọng, thực hiện triệt để, thực chất trong toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần xây dựng Đảng ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ, đủ sức gánh vác, lãnh đạo thành công sự nghiệp cách mạng vẻ vang.

Bài 1: Không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo

Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng nói chung, các nhiệm vụ chính trị cụ thể nói riêng đạt được đến đâu, hiệu lực, hiệu quả ra sao, đều chịu sự ảnh hưởng, tác động sâu sắc của công tác KTGS. Từ các nhà kinh điển Chủ nghĩa Mác-Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh, các nhà lãnh đạo đương nhiệm của Đảng, Nhà nước ta và cả trong hệ thống các văn kiện của Đảng đều thể hiện rất rõ tinh thần nhất quán: Lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo.

Khi bàn về xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, V.I.Lênin khẳng định kiểm tra như là nội dung, phương thức lãnh đạo quan trọng của Đảng; vì có chủ trương đúng, có tổ chức thực hiện nhưng thiếu kiểm tra cũng rất khó đạt kết quả tốt được. Lênin còn nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác kiểm tra, kiểm soát và coi đây là công cụ chắc chắn nhất để bảo vệ những mầm mống của xã hội mới. Người yêu cầu Đảng, Nhà nước phải nắm chắc công tác kiểm tra và gợi ý: Theo ý tôi, điều chủ yếu là chuyển trọng tâm từ việc soạn thảo các sắc lệnh và mệnh lệnh sang lựa chọn người và kiểm tra việc thực hiện. Đó là vấn đề then chốt nhất... nếu không thế thì tất cả mọi mệnh lệnh và quyết định sẽ chỉ là mớ giấy lộn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh càng đặc biệt quan tâm đến công tác KTGS, bởi theo Người "Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ được năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời". Hồ Chí Minh chỉ rõ, "Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra". Tại Hội nghị tổng kết công tác kiểm tra của Đảng (ngày 29-7-1964), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm trọn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương mẫu tốt cho nhân dân. Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức”.

Tăng cường kiểm tra, giám sát để Đảng thêm vững mạnh
Ảnh minh họa: Qdnd.vn 

Là chính đảng tiền phong cách mạng, ngay từ khi mới thành lập, cũng như trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, nhất là khi đã trở thành đảng cầm quyền, Đảng ta đặc biệt coi trọng công tác kiểm tra và giữ gìn kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, đồng thời xác định: Công tác kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; muốn lãnh đạo thì phải kiểm tra, không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Điều lệ Đảng tháng 10-1930 đã ghi rõ: "Trách nhiệm của đảng viên và các đảng bộ là giữ theo kỷ luật của Đảng một cách rất nghiêm khắc".

Trước yêu cầu nhiệm vụ chính trị của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, sự phát triển của tổ chức đảng, công tác KTGS luôn được Đảng chú trọng. Ngày 16-10-1948, tại Chiến khu Việt Bắc, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Quyết nghị số 29-QN/TW về việc thành lập Ban Kiểm tra Trung ương-cơ quan kiểm tra chuyên trách đầu tiên của Đảng. Quyết nghị có đoạn ghi: "... Trung ương quyết định thành lập Ban kiểm tra đi xuống các khu xét xem chủ trương của Đảng có được thi hành và có sát đúng không, đồng thời, xem xét sự thi hành kỷ luật trong Đảng để thu thập kinh nghiệm giúp Trung ương bổ khuyết chính sách của Đảng". Sau đó, các ban kiểm tra của khu ủy, liên khu ủy lần lượt được thành lập.

Từ khi ra đời đến nay, cơ quan kiểm tra chuyên trách của Đảng đã nhiều lần được bổ sung, điều chỉnh về chức năng, nhiệm vụ, phát triển về tổ chức và đội ngũ để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (tháng 3-1982), Điều lệ Đảng quy định đảng ủy cơ sở được cử ủy ban kiểm tra (UBKT). Từ đó, UBKT được thành lập thành một hệ thống hoàn chỉnh và thống nhất từ Trung ương đến đảng ủy cơ sở. Cùng với sự phát triển của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác KTGS được tiến hành thường xuyên, hiệu quả góp phần phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng, như: Thực hiện 3 chống (chống tham ô, lãng phí, quan liêu) ở ngành mậu dịch trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp; thực hiện Nghị quyết số 228-NQ/TW của Bộ Chính trị, khóa III về chống và bài trừ tệ lấy cắp tài sản XHCN, tệ làm ăn phi pháp; thực hiện Chỉ thị số 192-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương, khóa III về việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng; kiểm tra thực hiện “chế độ lãnh đạo có kiểm tra” theo Chỉ thị số 34-CT/TW của Ban Bí thư khóa V; thực hiện Chỉ thị số 15-CT/TW của Bộ Chính trị, khóa VII về ngăn chặn và bài trừ tệ tham nhũng, buôn lậu; thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2), khóa VIII...; thực hiện các Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI và khóa XII), Kết luận của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; cùng hàng loạt các chủ trương, nghị quyết, kết luận, quy định quan trọng khác về công tác KTGS của Đảng.

Thực tiễn cách mạng cho thấy, bất kỳ lúc nào, bất kỳ đâu mà công tác KTGS bị buông lỏng hoặc xem nhẹ, thì việc cụ thể hóa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng sẽ bị lệch lạc, chỉ đạo tổ chức thực hiện dễ dẫn đến sai lầm. Đồng thời, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng sẽ không đạt hiệu quả cao, mọi dấu hiệu, biểu hiện vi phạm kỷ luật không được phát hiện từ sớm để ngăn chặn kịp thời. Hệ quả tất yếu là dẫn đến tình trạng đảng viên thoái hóa, biến chất, tham ô, tham nhũng, vi phạm tư cách, đạo đức cách mạng. Những điển hình như vụ Đại tá Trần Dụ Châu, Cục trưởng Cục Quân nhu (năm 1950) hay Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp Trương Việt Hùng (năm 1964) bị tử hình vì những vi phạm pháp luật là minh chứng cho việc cán bộ, đảng viên sai phạm trong thời gian dài nhưng không được phát hiện, ngăn chặn kịp thời để phải xử lý. Thời gian gần đây, ở một số bộ, ban, ngành, địa phương không thực hiện tốt công tác KTGS, dẫn đến tình trạng thực hiện sai chủ trương, nghị quyết của Đảng, Chính phủ, vi phạm pháp luật, “lợi ích nhóm”, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của cán bộ, đảng viên, có cả cán bộ chủ trì các cấp. Điều đó không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ ta.

Tăng cường công tác KTGS để phát hiện, ngăn chặn, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí là quyết tâm chính trị lớn của Đảng. Đặc biệt, những năm gần đây, kết quả công tác KTGS đã thực sự góp phần đưa kỷ cương, kỷ luật Đảng được tăng cường thêm một bước; nhiều cơ chế mới phòng ngừa vi phạm được bổ sung, nhận thức về trách nhiệm của cán bộ, đảng viên được nâng lên; góp phần củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Mỗi kỳ họp của UBKT Trung ương đều mang lại những kết quả cụ thể, rõ rệt trong việc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; được đông đảo nhân dân quan tâm, đồng tình ủng hộ. Xử lý đúng người, đúng vụ việc không phải là cuộc đấu đá, thanh trừng nội bộ, mà là “chặt những cành sâu để cây xanh tốt”, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Chính điều đó đã tạo hiệu ứng lan tỏa đến các tổ chức cơ sở đảng, đưa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng trở thành hành động cách mạng quyết liệt, hiệu quả cao ở mọi cấp, mọi ngành và toàn xã hội.

Khẳng định những kết quả nổi bật của công tác KTGS, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Công tác KTGS, kỷ luật đảng được tăng cường, có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả được nâng lên. Hoạt động KTGS của cấp ủy, UBKT các cấp được đẩy mạnh, đạt kết quả khá toàn diện, nhất là cấp Trung ương. Qua công tác KTGS, kỷ luật đảng, kỷ cương, kỷ luật Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên”. Trên cơ sở đó, Đại hội XIII của Đảng xác định: Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác KTGS, kỷ luật Đảng. Triển khai quyết liệt, thường xuyên, toàn diện, đồng bộ công tác KTGS, kỷ luật đảng, phục vụ thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh.

Trong bối cảnh tình hình mới, cùng với những tác động đa chiều của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; ảnh hưởng tiêu cực của mặt trái nền kinh tế thị trường; sự chống phá quyết liệt, nguy hiểm của các thế lực thù địch; cuộc chiến chống “giặc nội xâm” trở nên phức tạp, cấp bách... Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, đòi hỏi công tác KTGS phải được đổi mới, tăng cường, hiệu quả thiết thực hơn nữa. Tinh thần đó thể hiện sâu sắc trong phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị tổng kết công tác KTGS nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng (ngày 27-11-2020): KTGS là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng, một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng. Đảng ta khẳng định, kiểm tra là một chức năng lãnh đạo của Đảng, là nhiệm vụ của toàn Đảng; lãnh đạo mà không kiểm tra coi như không lãnh đạo. Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự KTGS, thi hành kỷ luật của Đảng. KTGS là “thanh bảo kiếm để chữa lành các vết thương”.

Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, ngày 18-4-2022, Bộ Chính trị ban hành Kết luận số 34-KL/TW về Chiến lược công tác KTGS của Đảng đến năm 2030. Đây là chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tiếp tục khẳng định vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác KTGS trong tình hình mới. Kết luận được ban hành tạo ra định hướng lớn, thể hiện tầm nhìn dài hạn nhằm tiếp tục nâng cao nhận thức, trách nhiệm và hành động của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong công tác KTGS, kỷ luật đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, sự đoàn kết, thống nhất và giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng; chủ động phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, kiên quyết xử lý suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực trong Đảng và hệ thống chính trị. Kết luận thể hiện rõ nét những bước thay đổi và phát triển tư duy, thích ứng kịp thời của Đảng nhằm đưa công tác KTGS đi vào nền nếp, thực hiện có chiều sâu, đạt hiệu quả, tạo sự đồng thuận trong toàn Đảng, hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Nhấn mạnh vị trí, vai trò đặc biệt của công tác KTGS, chúng ta cần tiếp tục nêu bật, phân tích và làm sâu sắc hơn những kết quả, dấu ấn to lớn trong công tác KTGS của Đảng ở những nhiệm kỳ gần đây; đồng thời không được thỏa mãn dừng lại trước những gì đã đạt được, mà cần sớm nhận diện tồn tại, vướng mắc, khó khăn để sớm có giải pháp tháo gỡ đồng bộ, triệt để. Tất cả những vấn đề này sẽ được đề cập ở những bài viết tiếp theo.

Cựu chiến binh hồi sinh Hộc Đồng Eo.

 

Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, ông Khương Hữu Niên, thôn Tân Tự, phường Đông Tân, thành phố Thanh Hóa đã hy sinh một phần xương máu của mình góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đất nước thống nhất, trở về quê hương ông lại vượt qua khó khăn, chiến thắng bệnh tật trở thành tấm gương điển hình trên “mặt trận” phát triển kinh tế, giảm nghèo bền vững. Với những “chiến công” trên mặt trận xóa đói giảm nghèo, đặc biệt từ bản lĩnh người lính ông đã dám đương đầu với khó khăn, hồi sinh “vùng đất chết” Hộc Đồng Eo trở thành mô hình trang trại, vườn-ao-chuồng được nhiều người dân đến tham quan học tập.

Những ngày trung tuần tháng Tư khu trang trại của gia đình cựu chiến binh Khương Hữu Niên có rất nhiều người đến tham quan và nhiều bạn trẻ đến để nghe ông kể lại những câu chuyện trong những năm tháng chiến đấu giải phóng đất nước. Hòa mình vào dòng bạn trẻ Trường Phổ thông Trung học Đông Tân, chúng tôi được nghe những câu chuyện bi hùng về những năm tháng trên các chiến trường của cựu chiến binh Khương Hữu Niên.

Sinh ra trong một gia đình nghèo ở vùng quê Đông Tân, năm 1966, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, chàng trai 19 tuổi Khương Hữu Niên lên đường nhập ngũ và trực tiếp chiến đấu tại huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị. Giữa năm 1968, trong khi tham gia trận đánh tại dốc Miếu thuộc xã Gio Phong, huyện Gio Linh, người lính trẻ Khương Hữu Niên bị thương và được chuyển về điều trị tại Quân y viện C20. Sau khi phục hồi sức khỏe, Khương Hữu Niên được biên chế về Trung đoàn 14, Bộ CHQS tỉnh Thanh Hóa để tiếp tục huấn luyện sẵn sàng chiến đấu. Cuối năm 1968, chiến sĩ Khương Hữu Niên được bổ sung vào Trung đội 1, Tiểu đoàn 2, Sư đoàn 338 tham gia chiến đấu ở mặt trận Tây Nguyên. Sau đó ông được biên chế vào đội hình Sư đoàn 316 tham gia tiến công vào thị xã Buôn Ma Thuột. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, chiến sĩ Khương Hữu Niên xuất ngũ trở về địa phương.

Cựu chiến binh hồi sinh Hộc Đồng Eo
 Cựu chiến binh Khương Hữu Niên theo dõi, chăm sóc vườn cây ăn quả.

Giống như nhiều đồng đội khác, hành trang của ông khi trở về quê hương không có gì ngoài chiếc ba lô với vài bộ quân phục đã bạc màu theo năm tháng, cùng nhiều vết thương trên thân thể. Vì hoàn cảnh gia đình nghèo khó nên ông đã phải làm nhiều nghề để kiếm sống. Năm 1984, ông tham gia vào Hợp tác xã (HTX) Đông Tân với mong muốn giúp gia đình có cuộc sống ổn định hơn. Tuy nhiên, sau 2 năm sản xuất ở HTX, “cái nghèo” vẫn cứ đeo bám gia đình ông.

Trăn trở, suy nghĩ tìm lối thoát nghèo cho gia đình, ông Niên đã thành lập tổ nuôi cá cho HTX. Qua 2 năm sản xuất, 3 hộ dân trong tổ nuôi cá lần lượt xin ra khỏi HTX, còn ông mang thêm khoản nợ HTX với 4 tạ lúa, 40kg cá. Lâm cảnh nợ nần, lại thêm chuyện người con trai thứ không may bị nhiễm chất độc da cam đã khiến ông Niên có phần dao động. Thế nhưng với phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, ông quyết tâm bám trụ với khu Hộc Đồng Eo. Cuộc đời dường như đã mỉm cười với gia đình ông, bởi cuối năm 2004, huyện Đông Sơn thực hiện giao đất cho các hộ gia đình khai hoang, phục hóa. Tiếp đó, ông được xã Đông Tân lúc bấy giờ mời lên giao gần 1,4ha đất khu Hộc Đồng Eo để xây dựng mô hình trang trại vườn-ao-chuồng.

Ông Niên kể: “Ngày xưa khu Hộc Đồng Eo được các cụ trong thôn đặt cho là mảnh đất “voi sa lầy, ngựa chết chẹt”, vì quá hoang hóa, rậm rạp, nhiều đất đá và cả đầm lầy”. Xác định hướng đi của mô hình là thế “3 chân” gồm cá – lúa – gia cầm, ông đã vào tỉnh Đồng Nai để tìm hiểu, đưa giống lúa chuyên trồng ở vùng đầm lầy về sản xuất, đồng thời, hằng ngày miệt mài cải tạo đất hoang trồng cây bạch đàn, xoan. Chỉ trong vòng 6 tháng, từ mảnh đất hoang hóa, khu Hộc Đồng Eo đã thành mô hình trang trại vườn-ao-chuồng. Thành quả cũng dần đến sau nhiều nỗ lực không biết mệt mỏi của gia đình ông Niên. “Vụ lúa Đông Xuân 2004-2005, 7 sào lúa của gia đình tôi đã cho sản lượng hơn 2 tấn. Thấy trong thôn còn nhiều gia đình khó khăn hơn, tôi đã đem số lúa đó chia cho họ và chỉ giữ lại 500kg. Từ đây gia đình tôi cũng đã thoát được cảnh khó khăn, nghèo đói”, ông Niên nhớ lại.

Với sự nhạy bén của mình, ông Niên nhận thấy trồng cây ăn quả có thể mang lại hiệu quả kinh tế cao. Do đó, năm 2008, ông mạnh dạn đưa cây bưởi Diễn vào trồng thử nghiệm trên một phần diện tích của trang trại. Thấy được hiệu quả, ông quyết định tận dụng hết diện tích đất của trang trại để trồng cây ăn quả và những thay đổi này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao. Hiện nay, trang trại của gia đình ông Niên có hơn 500 cây ăn quả, 2 ao cá, nuôi hơn 700 con gà, vịt, mỗi năm cho doanh thu từ 200 đến 350 triệu đồng. Sau khi trừ chi phí, gia đình ông thu lãi từ 100 đến 150 triệu đồng. Trang trại của ông Niên đã trở thành một mô hình điểm của hội cựu chiến binh địa phương.

Đánh giá về người đồng đội, ông Nguyễn Doãn Minh, Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Đông Tân, cho biết: “Mặc dù là bệnh binh, nạn nhân chất độc da cam nhưng cựu chiến binh Khương Hữu Niên là tấm gương tiêu biểu về ý chí, nghị lực vượt lên khó khăn để thoát nghèo của người lính thời bình".

Trong Đại hội thi đua “Cựu chiến binh gương mẫu” của thành phố Thanh Hóa lần thứ VI, giai đoạn 2014-2019, ông được mời báo cáo điển hình tại đại hội. Không chỉ làm kinh tế giỏi, cựu chiến binh Khương Hữu Niên còn tạo việc làm thời vụ cho 20 đến 22 lao động địa phương, giúp đỡ các gia đình khác cùng vươn lên thoát nghèo”.

Sức cuốn hút của văn chương phi hư cấu về người lính.

 

Trong dòng chảy văn học Việt Nam qua các thời kỳ, người lính luôn là hình ảnh trung tâm chiếm giữ một vị trí quan trọng trong sáng tác của các nhà văn nhiều thế hệ. Họ là nguồn cảm hứng bất tận, là đối tượng để người nghệ sĩ hướng tới. Văn chương nghệ thuật đã khắc họa đậm nét hình ảnh người lính, góp phần xây dựng bản lĩnh và nhân cách anh Bộ đội Cụ Hồ.

 ​Nhìn lại, đi tới và phát triển

Với chức năng chân-thiện-mỹ, văn học đã giáo dục, bồi đắp cho người lính những giá trị tinh thần cao quý, góp phần hình thành phẩm chất người lính cách mạng. Phẩm chất ấy được vun đắp từ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc kết hợp với lý tưởng tiên tiến của thời đại mới.

 Bộ đội Sư đoàn 330, Quân khu 9 cứu hộ đê giúp dân tại xã Vĩnh Gia, Tịnh Biên, An Giang. Ảnh: HÀ QUỐC THÁI 

Thực tế những năm kháng chiến chống thực dân Pháp có một ý nghĩa thử thách rèn luyện về tư tưởng và tình cảm để tạo nên những đổi thay có ý nghĩa quyết định. Tấm gương tiêu biểu là người chiến sĩ trưởng thành trong phong trào quần chúng, trong chiến đấu và sản xuất. Họ là những người chiến sĩ làm thơ và là nhà thơ-chiến sĩ như: Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu, Hoàng Lộc, Hồng Nguyên... Hình bóng người chiến sĩ, một hình ảnh nổi bật nhất đã được sáng tạo nên qua hình thức tự biểu hiện. Nguyễn Đình Thi qua tập "Người chiến sĩ" đã miêu tả nhiều hình ảnh và tâm trạng của người chiến sĩ trong chiến đấu, qua những tình cảm thiết tha với đất nước và những niềm vui, nỗi nhớ trong sinh hoạt hằng ngày. Thơ ca kháng chiến trên từng mặt đã khắc họa vẻ đẹp của người chiến sĩ. Có thể nói, nhiều tình cảm rất đẹp đã được diễn tả chủ yếu thông qua quan hệ với người chiến sĩ như: Tình đồng đội, tình quân dân, tình yêu đôi lứa, tình cảm kính yêu lãnh tụ, tình yêu quê hương, đất nước... Người chiến sĩ vệ quốc là kiểu người mới hấp dẫn, mang nhiều tính chất lý tưởng và nổi lên hàng đầu trên bình diện những con người mới trong quần chúng công-nông-binh thời kỳ này. Mọi người nhắc đến anh Vệ quốc quân với bao tình thương mến: Giọt giọt mồ hôi rơi/ Trên má anh vàng nghệ/ Anh Vệ quốc quân ơi/ Sao mà yêu anh thế ("Cá nước", Tố Hữu). Nổi bật lên là tấm lòng yêu nước, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh tất cả cho thắng lợi của Tổ quốc.

Đi sâu vào cuộc đời người chiến sĩ càng thấy thấm thía, yêu thương và cảm phục. Chính Hữu đã diễn tả chân thực và thắm thiết tình đồng chí, đồng đội trong chiến đấu. Đây là một tình cảm rất đẹp, rất mới của một tập thể sống có lý tưởng, có tổ chức kỷ luật, yêu thương sống chết có nhau, chia ngọt sẻ bùi, đồng cam cộng khổ ("Đồng chí"). Điều đáng quý là thơ chống Pháp khai thác được nhiều quan hệ tình cảm rất chân thực, đẹp đẽ ở người chiến sĩ và từ đó mở ra những quan hệ, bồi đắp tình cảm rất tiêu biểu của con người kháng chiến. Nhiều bài thơ đặc sắc đã gợi lên biết bao cảm mến với những cuộc đời chiến sĩ, những người con trung với nước, hiếu với dân, giàu tình yêu thương và tình nghĩa thật vẹn toàn. Những con người chân chất, giản dị, hiền lành nhưng lại vô cùng dũng cảm, quyết liệt trước kẻ thù. Các anh là hình ảnh của lá cờ vẫy gọi, là Tổ quốc trong ý nghĩa cụ thể mà sâu xa...

Đến thời kỳ chống Mỹ, cứu nước, các nhà thơ trẻ trong quân đội đã có một "mùa thơ" đẹp về Trường Sơn. Phạm Tiến Duật rất trữ tình với cảm hứng “Đường ra trận mùa này đẹp lắm”. Hoàng Nhuận Cầm với tâm hồn tươi vui, lãng mạn của người lính trẻ “Mùa thu này ta hát khắp Trường Sơn”... Thơ chống Mỹ cũng khắc họa rõ nét hình ảnh tuyệt đẹp của người chiến sĩ Giải phóng quân. Con người ấy mang theo dòng máu và cội nguồn dân tộc, là “Thạch Sanh của thế kỷ 20”. Thật khó để nói cho hết phẩm chất cao đẹp của anh với những hành động dũng cảm trên khắp các mặt trận. Đó là niềm tự hào, có ý nghĩa giáo dục rất lớn cho các thế hệ sau này. Các nhà thơ đều cố gắng để nói lên được hình ảnh người chiến sĩ trong những năm tháng chống Mỹ, cứu nước. Và không chỉ riêng ở chiến trường, chúng ta có thể bắt gặp khí thế chiến đấu và tâm hồn cao đẹp của các anh ở khắp mọi nơi. Trải qua hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc, hình ảnh được miêu tả nhiều nhất và cũng quen thuộc nhất trong văn học là người chiến sĩ đánh giặc. Dũng cảm, kiên cường trong chiến đấu, người chiến sĩ vừa mang ý chí sắt thép tiến công kẻ thù nhưng gần gũi là anh Bộ đội Cụ Hồ được nhân dân yêu mến. Người chiến sĩ gang thép ấy cũng rất giàu cảm xúc yêu thương.

Những phẩm chất và nhân cách cao đẹp của người lính đã được miêu tả thật phong phú, nhiều màu sắc ở các thể loại văn xuôi, đặc biệt là tiểu thuyết. Tác phẩm văn học tôn vinh người lính, khiến hình ảnh của họ được nhân lên và không ngừng tỏa sáng qua thời gian. Tiểu thuyết "Dấu chân người lính" (Nguyễn Minh Châu), "Đất trắng" (Nguyễn Trọng Oánh) là những tác phẩm tiêu biểu viết về người lính mang dấu ấn ở từng thời kỳ lịch sử văn học, in đậm phong cách cá nhân của mỗi tác giả. Ở đó, tinh thần yêu nước, dũng cảm hy sinh vì Tổ quốc của các thế hệ người lính nối tiếp nhau được nhà văn mô tả khá đặc sắc. Bao trùm lên toàn bộ đời sống tình cảm của mỗi nhân vật là lòng yêu nước, là ý thức về độc lập cho Tổ quốc. Còn "Đất trắng" là cuốn sách đầu tiên sau chiến tranh viết theo cảm hứng sự thật: Tính khốc liệt của cuộc chiến đấu với sự hy sinh của rất nhiều cán bộ, chiến sĩ được mô tả trần trụi không né tránh...

Tác phẩm "Hồi ức lính" của Vũ Công Chiến mới đây được trao giải “Tiểu thuyết đầu tay xuất sắc” của Hội Nhà văn Hà Nội khiến tôi muốn tập trung sự quan sát vào tác phẩm phi hư cấu về người lính của một cây bút “tay ngang”. Tác phẩm dài hơn 700 trang, hoàn toàn viết bằng ký ức và trải nghiệm trong 6 năm ở chiến trường của Vũ Công Chiến. Tác giả nhập ngũ tháng 9-1971, là bộ đội Trường Sơn chiến đấu tại chiến trường Nam Lào và Mặt trận B3 Tây Nguyên. Sách kể lại cuộc đời lính theo thời gian tuyến tính, từ khi quyết định rời nhà trường đến những ngày hành quân ở Trường Sơn, từ trận chiến đầu tiên ở chiến trường Nam Lào tới nhiều trận đánh ác liệt khác, những lần bổ sung quân, chuyển hậu cứ mới... Tác giả chú trọng chi tiết và các sự kiện lịch sử cụ thể đã diễn ra, các sự kiện nối tiếp nhau theo thời gian tuyến tính. Đây là một cấu trúc hồi ức sáng rõ. Tác giả đã tái hiện không gian chiến trận gắn liền với thời gian của các sự kiện. Chi tiết là phần đem lại giá trị của văn xuôi phi hư cấu. May thay, Vũ Công Chiến có trí nhớ tốt, một “bộ lọc” tinh kỹ nên đã cho ra những bức tranh hiện thực sống động. Tác giả không ngần ngại khi cho người đọc thấy sự sống và cái chết quá mong manh. Cái chết rình rập, bám theo từng bước chân người lính, ẩn nấp trong từng gốc cây, ngọn cỏ, nhiều cái chết thật bất ngờ, vô nghĩa...

Đề tài chiến tranh vốn bị cho là khô khan, lại của một cây viết “tay ngang”, nhưng ngay lần đầu ra mắt đã bán chạy. Điều đặc biệt là rất nhiều độc giả trẻ tìm mua cuốn sách với đề tài tưởng chừng chỉ có những bậc cha chú của họ-những người từng sống qua chiến tranh mới quan tâm. Một cuốn sách dày vì biên tập viên “cắt chỗ nào cũng thấy tiếc”, được chính một người lính trong cuộc viết ra với lượng thông tin dồi dào, trải nghiệm chân thực và cảm xúc không tô vẽ có lẽ đã thỏa mãn nhiều thế hệ bạn đọc: Cho người đã đi qua chiến tranh hồi tưởng những tháng ngày khốc liệt và cho người trẻ hôm nay hiểu thêm về thử thách chiến tranh. Sự đón nhận của bạn đọc trẻ cho thấy thế hệ ngày nay không hề thờ ơ, xoay lưng lại với quá khứ chiến trận của thế hệ cha anh.

 Tác giả của "Hồi ức lính" không phải là một nhà văn chuyên nghiệp. Anh viết tác phẩm của mình với suy nghĩ đơn giản: “Nếu những người trong cuộc không viết ra thì làm sao để mọi người biết, trong chiến tranh, chúng tôi đã sống và chiến đấu thực sự như thế nào. Bởi vậy, với tư cách cá nhân, với con mắt nhìn của một người lính bình thường, tôi viết lại "Hồi ức lính" này để kể lại những điều mình đã thấy, đã nghe, đã làm, cùng những suy nghĩ và cảm nhận khi đó...”. Không có gì khiến người ta tin và xúc động bằng suy nghĩ trách nhiệm, giàu tính nhân văn như thế.

Có thể với kho tư liệu đầy ắp vốn sống thực tế này khi “vào tay” một nhà văn có nghề nó sẽ trở thành bộ tiểu thuyết đồ sộ, hấp dẫn người đọc với rất nhiều thủ pháp nghệ thuật này khác. Nhưng ở đây, với những câu chuyện và chi tiết tươi ròng sự sống, được nhìn với cự ly sát gần của người trong cuộc, nó lại có sức lôi cuốn riêng. Nó chinh phục chúng ta bằng sức mạnh của sự chân thực, bằng những trải nghiệm cá nhân, rất riêng tư nhưng lại gắn liền với cả một thế hệ thanh niên mà bước chân đầu tiên của họ khi vào đời là cuộc sống quân ngũ. Họ đã trở thành người lính trước khi đủ tuổi công dân. Họ bước vào cuộc chiến như một sự lựa chọn không thể khác trước hiện tình nước sôi lửa bỏng của đất nước. Những người lính các anh đã hăm hở đi vào chiến trường, không tính toán băn khoăn. Có chăng chỉ là nỗi nhớ Hà Nội và những kỷ niệm của tuổi học trò. Nỗi buồn đau lớn nhất khi lên đường vào mặt trận là những giọt nước mắt của mẹ ngày chia ly. Người lính trẻ chỉ day dứt với suy nghĩ anh “ra đi đã mang theo cả cuộc đời của mẹ”...

So sánh "Hồi ức lính" với cuốn "Quân khu Nam Đồng" đình đám khi ra mắt năm 2015, nhà báo Hữu Việt đã chỉ ra điểm chung của hai cuốn sách này, đó là đều của những người chưa viết lách bao giờ, nhưng tác phẩm của họ lại rất hấp dẫn và thu hút bạn đọc bởi những câu chuyện hết sức chân thực, phi hư cấu.

 Thời gian gần đây, hàng loạt cuốn hồi ức về chiến tranh và người lính kế tiếp nhau ra mắt người đọc, được đón chào nồng nhiệt: "Lính Hà" (Nguyễn Ngọc Tiến), "Mùa chinh chiến ấy" (Đoàn Tuấn), "Chuyện lính Tây Nam" (Trung Sỹ-Xuân Tùng)... càng thêm khẳng định giá trị và sức cuốn hút của văn chương phi hư cấu về đề tài chiến tranh và người lính-một chủ đề quan trọng của nền văn học Việt Nam hiện đại.

PGS, TS LƯU KHÁNH THƠ

Học Bác, phải luôn đặt việc công lên trên hết, trước hết.

 

Một trong những biểu hiện nguy hại nhất của chủ nghĩa cá nhân cần phải chủ động phòng ngừa và đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ là “không quan tâm đến lợi ích chung”.

Trong cuộc trò chuyện với phóng viên Báo Quân đội nhân dân, Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu, nguyên Cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng) cho rằng: Nếu lãnh đạo, chỉ huy không nêu cao tinh thần “dĩ công vi thượng”, rất dễ sa vào biểu hiện này mà không hay biết.

Phóng viên (PV): Từng có gần 40 năm trong quân ngũ, xin đồng chí cho biết suy nghĩ của mình về phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ?

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu: Tôi rất tâm đắc với đúc kết phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ mà Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương đã xác định. Tôi liên hệ ngay đến 10 lời thề danh dự của quân nhân Quân đội nhân dân Việt Nam.

Những lời thề thiêng liêng ra đời cùng với Quân đội ta, đã nêu bật bản chất chính trị, tinh thần cách mạng của Bộ đội Cụ Hồ, trở thành “vũ khí tinh thần” quan trọng để Quân đội ta lập nhiều chiến công hiển hách ghi vào sử xanh.

Học Bác, phải luôn đặt việc công lên trên hết, trước hết
       Thiếu tướng HỒ SỸ HẬU. Ảnh: TRẦN THƯỜNG

Từng chiến đấu, công tác trong hai giai đoạn chiến tranh và hòa bình, tôi nghiệm ra giữa hai môi trường rất khác biệt. Tôi đồng tình với ý kiến của nhiều người cho rằng: Giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thời kỳ hòa bình còn khó khăn hơn thời kỳ chiến tranh.

Người lính trong chiến tranh đồng cam cộng khổ về cái ăn, cái mặc, gặp hiểm nguy trước bom đạn kẻ thù, như các cụ xưa vẫn nói: “Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Trong thời kỳ hòa bình, những “viên đạn bọc đường” vô hình nhưng có thể khiến bất cứ ai không cẩn thận, không chú ý giữ gìn phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ sẽ gục ngã. Kẻ thù ngày nay mà quân nhân phải đối diện chính là những thói hư tật xấu ở bên trong bản thân mình.

Tác động của cơ chế thị trường ảnh hưởng rất lớn đến tâm tư, tình cảm của quân nhân liên quan đến đời sống vật chất, quyền lực. Môi trường mới thử thách ghê gớm bản lĩnh Bộ đội Cụ Hồ, tôi nghĩ đa số quân nhân đều giữ gìn được bản chất cách mạng nhưng một số quân nhân thoái hóa biến chất, vi phạm quân kỷ, pháp luật Nhà nước.

Việc xác định 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết 847 đã nêu ra là kim chỉ nam để Quân đội ta nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần cách mạng tiền phong, ngày càng trong sạch, vững mạnh, bảo đảm hoàn thành mọi trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

PV: Sau khi nghiên cứu nghị quyết, đồng chí quan tâm đến vấn đề nào nhất thuộc về biểu hiện chủ nghĩa cá nhân trong quân đội hiện nay?

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu: Tôi hiểu chủ nghĩa cá nhân là “bệnh” vị kỷ, vun vén lợi ích cho bản thân, không nghĩ đến lợi ích chung. Khi cố tình hay vô ý vi phạm nó, sẽ gây hậu quả xấu cho đơn vị, cho công việc.

Đặc thù của quân đội là tính kỷ luật, cấp dưới phục tùng mệnh lệnh cấp trên. Đặc thù này gián tiếp tập trung quyền lực ở mức độ cao cho người đứng đầu. Tôi quan niệm trong thời bình, xét về góc độ hành chính thì người chỉ huy trong quân đội là một “công chức quân sự”, một khi nắm quyền lực trong tay thì sẽ va chạm những vấn đề “nhạy cảm”, nếu không tự đấu tranh tư tưởng, sẽ chỉ chú ý vào việc gì có lợi cho cá nhân.

Bản thân tôi chứng kiến một vài cán bộ, lúc còn là trợ lý, không chức sắc thì rất trong sáng, tốt đẹp, chuẩn mực, nhưng khi được bổ nhiệm vị trí lãnh đạo, chỉ huy thì “lột xác” trở nên con người hoàn toàn khác, vi phạm nhiều điều trong 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân mà Nghị quyết 847 đã chỉ ra.

Chuyện vun vén lợi ích cho bản thân biểu hiện thấy rõ là tham nhũng của công, tham nhũng chính sách để hưởng lợi cho mình và những người cùng bè phái. “Quốc nạn” này thời nào cũng có; ngay như thời kỳ chống thực dân Pháp đã có vụ án Trần Dụ Châu.

Hậu quả của chủ nghĩa cá nhân không chỉ bản thân người chỉ huy mất uy tín, vật chất tiêu hao, thất thoát mà nguy hiểm nhất là cơ quan, đơn vị mất đoàn kết. Khi cấp dưới nhận thấy sự bất công thì sẽ xảy ra tâm lý chán nản, chỉ muốn làm cho xong việc, không nghĩ đến lợi ích chung.

Đúng như câu ca dao mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhắc đến: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào”.

PV: Theo đồng chí, đâu là nguyên nhân dẫn đến việc một số quân nhân, nhất là một số ít cán bộ lãnh đạo chỉ huy có quyền lực sa vào chủ nghĩa cá nhân?

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu: Tôi nghĩ nguyên nhân chính vẫn là những yếu tố chủ quan, không thắng được "tham sân si" có trong bản thân, không giữ được phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ thì việc thoái hóa, biến chất sớm muộn sẽ xảy ra.

Dưới góc độ tâm lý, tôi nghĩ chủ nghĩa cá nhân còn có nhiều biến tướng phức tạp rất khó nắm bắt. Chẳng hạn, người đứng đầu muốn cất nhắc, đề cử một ai đó, có thể không vì mục đích vụ lợi nhưng lại dựa vào sự yêu ghét của bản thân mà “quên” đánh giá người đó có đủ năng lực đảm nhiệm chức trách hay không. Rất nhiều người có tính cơ hội, tham vọng quyền lực nắm bắt điều này nên ra sức nịnh bợ, giúp đỡ việc riêng cho lãnh đạo để lấy lòng cấp trên.

Thấy cấp dưới “tử tế”, “tình cảm” như thế, lãnh đạo rất dễ xiêu lòng, lấy tình riêng tác động vào việc công. Tình cảm vô tư và tình cảm có chủ đích nhiều khi rất khó phân định rạch ròi. Người Việt Nam vốn duy tình nên cá nhân tôi lo ngại nhiều biểu hiện tiêu cực của chủ nghĩa cá nhân len lỏi mà đôi khi người có quyền lực khó nhận diện để cảnh giác, đề phòng.

PV: Theo đồng chí, giải pháp nào là căn cốt nhất để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong quân đội hiện nay?

Thiếu tướng Hồ Sỹ Hậu: Theo tôi có hai giải pháp chính liên quan đến tư tưởng và tổ chức.

Về tư tưởng, nên thường xuyên, liên tục, kiên trì giáo dục tư tưởng để người quân nhân có nhận thức đúng, biết nhận diện và đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân. Với người đứng đầu càng phải ra sức rèn luyện tư tưởng, lối sống, nâng cao bản lĩnh chính trị, thực sự thấm nhuần lời dạy “dĩ công vi thượng” của Bác Hồ.

Phải luôn đặt việc công lên trên hết và lúc nào, ở đâu, làm việc gì cũng nghĩ đến lợi ích của đất nước và nhân dân; nếu không rất dễ sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên đi lợi ích chung.

Đảng ta đang rất chú trọng đến vấn đề kiểm soát quyền lực để người có quyền lực không dám, không thể, không cần, không muốn mưu cầu cho bản thân, tham nhũng, tha hóa. Vậy nên xây dựng tổ chức đảng phải thực chất, hướng tới trong sạch, vững mạnh là điều tiên quyết.

Không thể vi phạm nguyên tắc rường cột của Đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ, không thể để ý chí cá nhân áp đặt cho tập thể mà không qua bàn bạc, thảo luận và thống nhất chủ trương, đường lối.

Người lãnh đạo, chỉ huy dám nghĩ dám làm, luôn đặt việc công lên trên hết, luôn nghĩ về lợi ích chung thì bao giờ cũng được quần chúng, tổ chức đảng ủng hộ, tạo điều kiện để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Hoạt động tôn giáo, hoạt động xuất bản, giáo dục, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo của tổ chức tôn giáo trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo.

 


Một trong những quy định mới của nội dung này so với pháp lệnh đó là việc thông báo danh mục hoạt động tôn giáo diễn ra gằng năm của tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo chỉ thực hiện một lần, đối với hoạt động tôn giáo có trong danh mục đã thông báo thì thông báo bổ sung.

Người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt nam được vào tu tại cơ sở tôn giáo, vào họ tại cơ sở tôn giáo hoặc lớp bồi dưỡng về tôn giáo, được sinh hoạt tôn giáo tập trung, được trực tiếp mời chức sắc, nhà tu hành là người nước ngoài hoặc người Việt Nam đến giảng đạo, đưopực thuê địa điểm hợp pháp để sinh hoạt tôn giáo tập trung, được tổ chức tôn giáo Việt Nam phong phẩm hoặc suy cử phẩm vị; đối với tổ chức tôn giáo ở Việt Nam được quỳen gia nhập tổ chức tôn giáo nước ngoài; tham gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội và từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có liên quan.

Mỗi quân nhân trong Quân đội luôn cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 


Trên cơ sở làm rõ âm mưu, thủ đoạn của địch; chống tư tưởng chủ quan, mơ hồ, mất cảnh giác, bị động.

 Kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng vấn đề dân tộc

 Củng cố thế trận quốc toàn dân, an ninh nhân dân trên địa bàn xung yếu, vùng trọng điểm về quốc phòng và an ninh

           Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thé trận an ninh nhân dân, phát huy sức mạnh tại chỗ để sẵn sàng đạp tan mọi âm mưu phá hoại của các thé lực thù địch. Tăng cường công tác bảo đẩmn ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, không để xảy ra những “điểm nóng” về an ninh, trật tự xã hội ở vùng dan tộc và miền núi. Tiếp tục xây dựng phát triển nhan các khu kinh té kết hợp quốc phòng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới. Tiếp tục giiair quyết tốt các vấn đề liên quan đến tôn giáo ở các vùng dân tộc.

Đất nước ta đang đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dan ta đang đạt được những thành tựu quan trọng. Vị thế của Việt Nam đang vững bước trên trường đài thế giới. Với bản chất hiếu chiến và tính cố hữu xâm lược của kẻ thù, chủ nghĩa Đế quốc và các thế lực thù địch sẽ không bao giờ từ bỏ sự chống phá điên cuồng nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị, mà cao hơn cả là muốn xóa bỏ chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Vì vậy Đảng, Nhà nước, Hệ thống chính trị, mỗi người dân Việt Nam, hơn bao giờ hết cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công cuộc đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ, bảo vệ thành quả mà cha ông ta đã đạt được, với tinh thần đó, bản thân tôi thực hiện tốt một số  yêu cầu, biện pháp sau:

          Trước hết, là người quân nhân trong quân đội phải có bản lĩnh trị vững vàng, luôn kiên định với mọi khó khăn, tác động, giữ vững lập trường tư tưởng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng

          Thứ hai, nhận thức sâu sắc về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về công tác dân tộc, nhất là những quan điểm, chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số của Đảng, Nhà nước ta; trên cơ sở đó tích cực tuyên truyền, giáo dục, động viên đồng bào, đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức sâu sắc về quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dan tộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nhận thức sâu sắc về bản chất, âm mưu, thủ đoạn và các hoạt động lợi dụng dân tộc của các thế lực thù địch chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta; trên cơ sở đó đồng bào tích cực đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đảng, chống phá chế độ

Ba là, Tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng nâng cao trình độ mọi mặt, nhất là quan điểm mác xít; tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để có trình độ năng lực, bản lĩnh, phong cách tác phong người quân nhân cách mạng, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao; tích cực tham mưu cho Đảng, Nhà nước, Quân đội, đơn vị xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo,. tổ chức thực hiện công tác dân tộc đạt hiệu quả, đồng thời đấu tranh chống địch lợi dụng về dân tộc có hiệu quả

Bốn là, Nhận diện và đánh giá chính xác, kịp thời mọi âm mưu, thủ đoạn của địch lợi dụng dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền chống phá cách mạng nước ta. Trên cương vị công tác tích cực viết bài, comen đăng trên các báo, tạp chí, trên không gian mạng để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, góp phần xây dựng đơn vị, Học viện vững mạnh toàn diện.

 

NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM LÀ TUYỆT VỜI!

         Lại tiếp tục sử dụng chiêu bài “nhân quyền” để xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trên một số trang mạng bịa đặt việc “Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Liên minh châu Âu cần gây sức ép để Việt Nam chấm dứt đàn áp nhân quyền một cách có hệ thống và phóng thích các tù nhân chính trị đang bị giam, giữ”. Đây vẫn là những giọng điệu tuyên truyền cũ của các thế lực thù địch, phản động đã trắng trợn, dối trá khi cố tình bịa đặt những điều không có trong thực tế chỉ với mục đích đánh lừa sự chú ý của dư luận, chống phá quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề nhân quyền.
     Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân, tuân thủ đúng Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Đại hội đồng Liên hợp quốc quy định: “Mọi dân tộc đều có quyền tự quyết. Xuất phát từ quyền đó, các dân tộc tự do quyết định thể chế chính trị của mình và tự do phát triển kinh tế, xã hội và văn hoá (Điều 1). Điển hình như Hiến pháp năm 2013 khẳng định, nêu rõ: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính chị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng bảo vệ, đảm bảo theo Hiến pháp và pháp luật” (Điều 14). Các quyền cơ bản như: quyền bầu cử và quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân; quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, quyền và cơ hội bình đẳng giới… đều được nhất quán trong hệ thống quy phạm pháp luật và điều chỉnh, thực hiện trong thực tiễn cuộc sống.
     Với những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước trong thời gian qua đã tạo các điều kiện vật chất và nguồn lực để tôn trọng, bảo đảm, thúc đẩy tốt hơn các quyền và tự do cơ bản của nhân dân. Ðời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt và ngày càng được nâng cao. Cùng với việc thúc đẩy bình đẳng xã hội, việc thụ hưởng của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực được nâng lên đáng kể. Do đó, không hề có chuyện Việt Nam đàn áp nhân quyền./.




Yêu nước ST.

Việt Nam luôn quan tâm đến nhu cầu của Giáo hội Công giáo

 


Mới đây, tại trụ sở Chính phủ, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh đã tiếp Thứ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Va-ti-căng, Đức ông Miroslaw Wachowski nhân dịp sang Việt Nam tham dự và đồng chủ trì cuộc họp vòng IX Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa thánh Va-ti-căng.

Chuyến thăm này đã thể hiện những bước phát triển tích cực của quan hệ Việt Nam và Va-ti-căng, đồng thời tăng cường và đáp ứng lợi ích chung của hai bên cũng như lợi ích của Cộng đồng Công giáo Việt Nam.

Trước đó, Giáo hoàng Francis đã quyết định hỗ trợ 100.000 ơ-rô dành cho Cộng đồng Công giáo tại Việt Nam trong thời điểm dịch bệnh diễn biến phức tạp (vào tháng 8-2021) và đánh giá cao sự hỗ trợ của Giáo hội Công giáo Việt Nam cho “Quỹ vắc-xin” và sự tham gia tuyến đầu chống dịch của các linh mục, tu sỹ, giáo dân trong công tác phòng, chống dịch COVID-19.

Tại cuộc trao đổi, Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Bình Minh đề nghị Tòa thánh tiếp tục quan tâm, hướng dẫn Cộng đồng Công giáo Việt Nam gắn bó, đồng hành cùng dân tộc, tôn trọng luật pháp, góp phần nâng cao hình ảnh tốt đẹp của Công giáo tại Việt Nam và thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Va-ti-căng phát triển.

Cùng ngày, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Kim Ngọc và Thứ trưởng Miroslaw Wachowski đã đồng chủ trì cuộc họp vòng IX Nhóm Công tác hỗn hợp Việt Nam – Tòa thánh Va-ti-căng.

Thứ trưởng Hà Kim Ngọc khẳng định, chính sách nhất quán của Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân và các cấp chính quyền Việt Nam luôn quan tâm đến nhu cầu của Giáo hội Công giáo, tạo điều kiện cho cộng đồng Công giáo Việt Nam hoạt động và phát triển.

Điều này được Thứ trưởng Ngoại giao Tòa thánh Va-ti-căng Miroslaw Wachowski đánh giá cao và bày tỏ sự vui mừng khi Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm và tạo thuận lợi cho việc thực hành tôn giáo, tổ chức các sự kiện tôn giáo của cộng đồng Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Tại đây, hai bên nhất trí quan hệ Việt Nam – Toà thánh hiện đang phát triển tích cực và hoan nghênh việc duy trì hiệu quả, linh hoạt các cơ chế trao đổi, đặc biệt trong bối cảnh đại dịch COVID-19, cũng như vai trò của Đặc phái viên không thường trú Va-ti-căng tại Việt Nam nhằm góp phần tăng cường hiểu biết lẫn nhau và tạo điều kiện thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Tòa thánh.

HAIVAN