Chủ Nhật, 12 tháng 6, 2022

Diện mạo mới về công tác kỹ thuật

 

Qua 15 năm thực hiện Nghị quyết số 382-NQ/ĐUQSTW ngày 29-11-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về lãnh đạo công tác kỹ thuật trong tình hình mới, Đảng ủy Cục Kỹ thuật Quân khu 9 và các cấp ủy trực thuộc đã xác định chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao chất lượng công tác kỹ thuật. Từ đó, góp phần bảo đảm an toàn, kịp thời, đầy đủ cho các hoạt động của LLVT Quân khu.

Chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn

Đến Tổ phân xưởng bộ binh, Xưởng 203, Cục Kỹ thuật Quân khu 9 đúng lúc Trung tá QNCN Tạ Thanh Nhanh, Phó quản đốc đang hiệu chỉnh súng trung liên RDP. Hơn 30 năm trong nghề, anh Nhanh là người thợ có nhiều kinh nghiệm, bình quân mỗi ngày anh và đồng nghiệp hiệu chỉnh gần 20 khẩu súng các loại.

“Các loại súng khi đưa về đây đều bị hư hỏng nặng ở nhiều bộ phận, do vậy chúng tôi phải kiểm tra thật kỹ, phân loại để xác định chỗ nào cần sửa chữa, thay thế. Cùng với việc sửa chữa, hiệu chỉnh tại chỗ, chúng tôi cũng thường xuyên cơ động để bảo dưỡng, sửa chữa cho các đơn vị trong toàn quân khu. Chất lượng sau bảo dưỡng, sửa chữa luôn được đánh giá tốt”, Trung tá QNCN Tạ Thanh Nhanh tâm sự.

Theo Đại tá Nguyễn Văn Hùng, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 9, với vai trò là cơ quan tham mưu cho Đảng ủy, Bộ tư lệnh Quân khu 9 về công tác kỹ thuật, trực tiếp cất giữ vũ khí trang bị kỹ thuật (VKTBKT) và bảo đảm kỹ thuật cho LLVT Quân khu với sự đa dạng về chủng loại, thuộc nhiều thế hệ, một số loại không đồng bộ và qua sử dụng nhiều năm nên hư hỏng, không còn vật tư thay thế. Trong khi đó, hệ thống kho tàng, trạm xưởng còn thiếu, trang thiết bị lạc hậu… từ đó đã tác động trực tiếp đến việc thực hiện công tác kỹ thuật của đơn vị.

Diện mạo mới về công tác kỹ thuật
Bắn thử nghiệm pháo 105mm và súng PKMS lắp lên xe M548.  

Do đó, sau khi có Nghị quyết 382 và hướng dẫn triển khai thực hiện nghị quyết của cấp trên, cán bộ, nhân viên kỹ thuật đã nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, tự lực, tự cường trong quản lý, khai thác, nâng cao chất lượng, độ tin cậy cho VKTBKT.

“Nổi bật là, chúng tôi đã quy hoạch, sử dụng có hiệu quả các loại VKTB, tận dụng các trang bị cấp 5 để tân trang, cải tiến, dồn lắp phục vụ công tác sửa chữa, huấn luyện. Qua đó, đã tiết kiệm được chi phí sửa chữa và khắc phục được tình trạng khan hiếm chi tiết, phụ tùng thay thế. Bên cạnh đó, hệ thống nhà kho, trạm, xưởng cũng được quan tâm xây dựng, đầu tư nhiều trang thiết bị thế hệ mới. Nhờ vậy, năng lực sửa chữa được nâng lên, đáp ứng yêu cầu về công tác quản lý, bảo đảm an toàn cất chứa vũ khí đạn dược và an toàn kho”, Đại tá Nguyễn Văn Hùng nói.

Thượng tá Trần Văn Lương, Chính trị viên Xưởng 201, chia sẻ thêm: “Những năm gần đây, đơn vị được đầu tư các trang thiết bị mới như: Bộ dụng cụ chuyên dùng sửa chữa hệ thống truyền động và hệ thống lái; thiết bị kiểm tra độ chụm, góc đặt bánh xe; máy hàn bấm đa năng; máy khoan từ; thiết bị cân chỉnh bơm cao áp, máy phay ghép ván sàn xe; máy chấn thủy lực điều khiển điện; hệ thống chà nhám hút bụi matit khô trung tâm… Nhờ vậy, việc quản lý, khai thác trong sửa chữa xe máy đều hoàn thành tốt, năng suất, chất lượng được nâng lên”.  

Bên cạnh đó, Cục Kỹ thuật Quân khu 9 còn coi trọng nâng cao chất lượng huấn luyện kỹ thuật và xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, nhân viên kỹ thuật. Ngoài thời gian chương trình huấn luyện kỹ thuật, hằng năm, đơn vị còn tổ chức tập huấn, huấn luyện, hướng dẫn cho cán bộ, nhân viên kỹ thuật thuần thục kỹ năng sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa VKTBKT; tổ chức và tham gia các hội thi, hội thao từ cấp cơ sở đến cấp quân khu; tham gia hội thi kỹ thuật toàn quân các ngành quân khí, xe máy, tăng thiết giáp, công tác tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, kiểm định xe quân sự, cơ sở sửa chữa VKTBKT.

Diện mạo mới về công tác kỹ thuật
Các đại biểu tham quan mô hình sáng kiến, cải tiến kỹ thuật tại Hội nghị tổng kết thực hiện Nghị quyết 382. 

“Hầu hết cán bộ phụ trách công tác kỹ thuật các cấp, nhân viên kỹ thuật, thủ kho vũ khí hiện nay đều qua đào tạo cơ bản, có nhiều đồng chí qua đào tạo bậc đại học, sau đại học. 100% cán bộ kỹ thuật đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ được giao; đội ngũ nhân viên kỹ thuật thành thạo trong khai thác, sử dụng bảo quản, bảo dưỡng, sửa chữa VKTBKT có trong biên chế”, Đại tá Nguyễn Văn Thập, Chính ủy Cục Kỹ thuật Quân khu 9, khẳng định.

Đẩy mạnh phong trào sáng kiến, cải tiến

Trong 15 năm qua, Cục Kỹ thuật Quân khu 9 đã tổ chức thực hiện gần 200 sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, đề tài, nhiệm vụ khoa học công nghệ. Đặc biệt, đã nghiên cứu thành công và nhân rộng lắp đặt được 63 khẩu súng, pháo lên 35 xe thiết giáp; 8 khẩu súng lên xuồng CQ và xuồng bộ binh, được Hội đồng khoa học cấp Quân khu, Bộ Quốc phòng nghiệm thu, tham gia huấn luyện, diễn tập đạt hiệu quả. Riêng, tổ hợp xe, pháo M548-Pháo 105mm, súng PKMS được tặng giải Nhì “Giải thưởng Sáng tạo khoa học Việt Nam năm 2019” và được ghi vào “Sách vàng Sáng tạo Việt Nam năm 2020”.

Đại tá Bùi Văn An, Giám đốc Xưởng 201, Cục Kỹ thuật Quân khu 9, cho biết: “Từ thực tiễn nghiên cứu tải trọng, kích thước của xe vận tải xích M548 và pháo 105mm, chúng tôi phối hợp với Trung tâm Vũ khí, Học viện Kỹ thuật Quân sự (Bộ Quốc phòng) xây dựng, thiết kế bản vẽ; tính toán, kiểm nghiệm độ bền, lập bảng bắn và lắp pháo trên xe. Qua các lần bắn diễn tập cho thấy khả năng chịu lực, độ bền của giá đỡ, tầm bắn và hướng bắn của pháo khi tăng liều mà xe vẫn ở tình trạng bình thường và trong phạm vi cho phép, bảo đảm an toàn tuyệt đối cho cả vũ khí và pháo thủ trên xe. Tính độc đáo của pháo 105mm và súng PKMS lắp lên xe M548 là triển khai trận địa nhanh, hoạt động được trên nhiều địa hình khác nhau”.

Diện mạo mới về công tác kỹ thuật
Cán bộ, nhân viên Kho 303, Cục Kỹ thuật Quân khu 9 bảo quản VKTBKT.

Đại úy Võ Hùng Kết, Trợ lý Kỹ thuật Kho 302, chia sẻ: “Trước đây việc quản lý đạn dược chủ yếu thực hiện bằng sổ sách. Trong khi đó nhà kho quản lý rộng, nhiều lô loại đạn dược nên việc tra cứu, tìm kiếm, xuất nhập tốn nhiều thời gian. Từ khi ứng dụng sáng kiến “Phần mềm đăng ký thống kê đạn dược trên máy vi tính”, việc tìm kiếm lô loại đạn dược rất đơn giản. Chỉ cần gõ tên một loại nào đó, thì thủ kho sẽ xuất nhập nhanh chóng”.

Còn Đại úy QNCN Đinh Văn Bền, Thợ Cơ khí, Xưởng 201, Cục Kỹ thuật 9, đạt Giải Ba Cuộc thi Đề tài, sáng kiến lần thứ IV trong Công đoàn Quân đội, tâm sự: “Từ ngày áp dụng cải tiến “Nòng ụ động máy tiện C620G” đã giảm được thời gian để tiện các chi tiết việc vớt tang trống phanh trên xe ô tô. Cải tiến này cũng có thể áp dụng cho việc gia công cơ khí, phục hồi chi tiết phục vụ bảo dưỡng, sửa chữa xe - máy tại đơn vị, hoặc sửa chữa cơ động cho các đơn vị và phục vụ diễn tập, sẵn sàng chiến đấu”.

Đại tá Nguyễn Văn Hùng, Chủ nhiệm Kỹ thuật Quân khu 9, khẳng định: “Những sản phẩm khoa học công nghệ, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật đã tiết kiệm làm lợi cho ngân sách quốc phòng hằng trăm tỷ đồng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ; khơi dậy tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, sáng tạo của cán bộ, nhân viên kỹ thuật. Có thể khẳng định, việc triển khai thực hiện Nghị quyết 382 và Chương trình hành động 398 đã có tác động tích cực, toàn diện đến công tác kỹ thuật; góp phần xây dựng Ngành Kỹ thuật Quân khu 9 ngày càng vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới”. 

Nguồn: QĐND.

Tự do ngôn luận ở phương Tây

 Các khái niệm như “tự do ngôn luận”, “nhân quyền” luôn là một thứ “vũ khí” vô hình của phương Tây nhằm gây ảnh hưởng và can thiệp đến các nước như Việt Nam. Những năm gần đây, Mỹ cùng phương Tây đẩy mạnh các khái niệm này thành một thứ vũ khí thực sự, được luật hóa nhằm đe dọa và gây ảnh hưởng nhiều hơn. Các thế lực chống phá được thể càng ra sức rêu rao chỉ trích Việt Nam mỗi khi có cơ hội. Tuy nhiên hãy xem thực tế ở phương Tây hay ở Việt Nam mới có tự do ngôn luận thực sự.

Ở Mỹ, ông Trump nổi tiếng nhất sự kiện ngày 6/1/2021 ở Điện Capitol, nơi Quốc hội Mỹ kiểm phiếu để tuyên bố Tổng thống mới. Trước đó, ông Trump đã liên tục lên mạng xã hội “tự do” chỉ trích hệ thống bầu cử gian lận, đòi công bằng, kêu gọi đám đông ủng hộ ngăn chặn Quốc hội làm việc. Dưới sức ép của chính quyền, các mạng xã hội như Facebook, Twitter khóa tài khoản của ông Trump, “cấm nói” vì kích động bạo lực. Việc này làm dấy lên lo ngại về “tự do ngôn luận”, khi chính mạng Twitter trước đây từng vô tư đăng tải các nội dung bạo lực ở Afganishtan.

Gần đây còn gây tranh cãi hơn, đó là việc các nước phương Tây “cấm sóng” các hãng truyền thông Nga với cái cớ là để “phản ứng trước hành động quân sự của Nga”. Đây là một luận điệu vô lý, vì bản thân các hãng truyền thông chỉ sản xuất tin tức, không liên quan gì quân đội, và truyền thông tự do chính là biểu tượng cao nhất của tự do ngôn luận. Rõ ràng ý đồ thật sự của phương Tây là để chặn các hãng tin Nga phát tán các quan điểm trái với “tuyên truyền” của họ.

Thực tế ở phương Tây đã chứng minh “tự do ngôn luận” luôn có giới hạn, và đó là sự thật. Nếu kẻ nào đó muốn dẫn chứng phương Tây để chỉ trích Việt Nam về “tự do ngôn luận” thì chỉ có một cách là bóp méo sự thật mà thôi. Vậy nên các nhà “bình loạn” không nên lấy tiêu chuẩn tự do ngôn luận ở phương Tây vào so sánh với Việt Nam./.

Không có tổ chức nào có thể thay thế Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đất nước trong giai đoạn hiện nay

 Chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định, đi lên Chủ nghĩa xã hội vẫn là sự lựa chọn của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bởi, Chủ nghĩa xã hội vẫn là tương lai của xã hội loài người; vẫn là ý chí, nguyện vọng của nhân dân Việt Nam. Cùng với đó, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn là lực lượng duy nhất, không thể thay thế lãnh đạo sự nghiệp xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam. Đảng chỉ có một mục đích: xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công Chủ nghĩa xã hộivà cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Chỉ có Đảng mới có nền tảng tư tưởng tiến bộ, phù hợp với văn hóa, truyền thống Việt Nam. Chỉ có Đảng mới tuyên truyền, giác ngộ, tập hợp, phát huy cao nhất lòng yêu nước, trí tuệ, đoàn kết của nhân dân ta trong sự nghiệp cách mạng. Chỉ có những đảng viên kiên trung mới chịu đựng được mọi gian lao, thử thách, sẵn sàng hy sinh vì nền độc lập của dân tộc, hạnh phúc của nhân dân, vì sự tiến bộ của loài người, trở thành tấm gương sáng cho nhân dân noi theo.

Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đều vì dân, đại diện và hiện thực hóa ý chí, nguyện vọng, khát vọng của nhân dân, làm cho “dân giàu”, dân “thụ hưởng” nhiều hơn thành quả của sự nghiệp đổi mới, với quan điểm xuyên suốt: “phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Điều đó có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói, giảm nghèo bền vững, chăm sóc những người có công, những người có hoàn cảnh khó khăn. Đây là một yêu cầu có tính nguyên tắc để bảo đảm sự phát triển lành mạnh, bền vững, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.

Như vậy, chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới đủ tâm, tầm, tài đại diện cho ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc lẫn trong các quan hệ quốc tế. Chỉ có Đảng lãnh đạo mới làm cho đất nước Việt Nam, con người Việt Nam, văn hóa Việt Nam được nhân loại tiến bộ, ưa chuộng hòa bình trên thế giới biết đến, tôn trọng và yêu quý, ngưỡng mộ.Đảng ta được nhân dân tin cậy, thừa nhận là người lãnh đạo chân chính, duy nhất, là đội tiên phong của giai cấp và cả dân tộc Việt Nam.

Thủ đoạn lợi dụng vấn đề “nhân quyền” bôi xấu quan hệ Việt – Mỹ

 Trong qua hệ ngoại giao Việt Nam luôn mong muốn thiết lập và mở rộng quan hệ với tất cả các nước tôn trọng độc lập chủ quyền và mục tiêu của đất nước. Trong những năm qua, Mỹ là một trong những nước có quan hệ tốt đẹp với Việt Nam trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau. Không như những kẻ vớ vẩn, xuyên tạc, chỉ nhăm nhăm nói về vấn đề mang tên “nhân quyền”, nhằm gây chia rẽ, bôi nhọ hình ảnh đất nước.

           Cách nhìn nhận của mỗi cá nhân, mỗi tổ chức, mỗi quốc gia về vấn đề nhân quyền là khác nhau, không thể áp đặt tiêu chuẩn nhân quyền của nước này cho nước khác. Tiêu chuẩn nhân quyền ở Việt Nam Mỹ là không giống như ở Mỹ hay ở bất kỳ nước khác. Việc chỉ chăm chăm nhìn vào vấn đề nhân quyền trong quan hệ Việt - Mỹ không ảnh hưởng gì đến quan hệ giữa hai nước. Mới gần đây, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã dẫn đầu Đoàn đại biểu Việt Nam tham dự Hội nghị Cấp cao Đặc biệt ASEAN-Mỹ trong hai ngày 12 và 13/5 tại Mỹ theo lời mời của Tổng thống Mỹ Joe Biden. Chuyến công du lần này của Thủ tướng Phạm Minh Chính tới Mỹ mang nhiều ý nghĩa chiến lược quan trọng với cả hai quốc gia. Trong khuôn khổ Hội nghị Cấp cao đặc biệt, ASEAN nói chung cũng như Việt Nam nói riêng và Mỹ sẽ có các phiên thảo luận chuyên sâu về các nội dung hợp tác như kinh tế, thương mại, đầu tư, hợp tác và an ninh biển, ứng phó và phục hồi sau đại dịch, ứng phó biến đổi khí hậu, năng lượng, khoa học công nghệ, phát triển cơ sở hạ tầng bền vững,… Bên cạnh đó, Mỹ cũng bày tỏ mong muốn Việt Nam trở thành đối tác chiến lược toàn diện của mình trong thời gian sắp tới. Điều này phần nào khẳng định quan hệ hợp tác cùng phát triển giữa hai nước không hề bị ảnh hưởng trong bối cảnh thế giới đang rất căng thẳng vì xung đột Nga-Ukraine. Trong chuyến đi này, Việt Nam một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của mình trong thực hiện đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên Hiệp Quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phát triển.

Vì vậy, việc chỉ nhìn vào vấn đề “nhân quyền” để công kích Chính sách ngoại giao, đặc biệt về mối quan hệ Việt Mỹ là hoàn toàn không có tác dụng. Ngược lại, chỉ càng làm lộ rõ sự xấu xa của các thế lực muốn làm chậm quá trình phát triển của Việt Nam mà thôi./.

Chế độ sở hữu đất đai thuộc sở hữu toàn dân là đúng đắn và phù hợp

 Theo quy định của pháp luật, tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Chế độ sở hữu đất đai thuộc sở hữu toàn dân như vậy hoàn toàn đúng đắn và phù hợp, vì:

Thứ nhất, việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước làm đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý xuất phát từ bản chất của Nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân. Cũng như ánh sáng, nguồn nước, không khí, đất đai là thứ thuộc về tự nhiên, khi con người sinh ra đã có. Vì vậy, việc xác lập chế độ sở hữu toàn dân là điều đúng đắn.

Thứ hai, việc thực hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sử dụng đất. Trên thực tế, Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất của cá nhân. Người sử dụng đất hoàn toàn có quyền được chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất.

Thứ ba, việc quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý để bảo đảm việc sử dụng đất một cách hợp lý, đúng định hướng phát triển của đất nước. Hiện nay, việc sử dụng đất phải bảo đảm các nguyên tắc là: Đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất; tiết kiệm, có hiệu quả, bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến lợi ích chính đáng của người sử dụng đất xung quanh; người sử dụng đất thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn sử dụng đất theo quy định của Luật Đất đai và quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc quy hoạch đất đai phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh.

Như vậy, độ sở hữu đất đai thuộc sở hữu toàn dân là đúng đắn và phù hợp. Giả sử, trong trường hợp đất đai thuộc sở hữu tư nhân thì chắc chắn vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều hành trên lĩnh vực đất đai sẽ bị giảm sút, không thể bảo đảm các nguyên tắc nêu trên. Về lâu dài, việc sở hữu tư nhân về đất đai sẽ có thể kéo theo sự tích tụ đất đai vào một số cá nhân, tạo ra sự bất bình đẳng, gia tăng khoảng cách phân hoá trong xã hội. Những kẻ cổ suý cho chế độ sở hữu tư nhân về đất đai thực sự là những kẻ không hiểu biết hoặc vì những động cơ xấu mà thôi!

Tiếp tục vững bước đi lên theo con đường xã hội chủ nghĩa

 Bắt đầu từ công cuộc đổi mới đất nước, được tiến hành từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), từ đó đến nay, sau 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, với thế và lực ngày càng mạnh hơn bao giờ hết. Kinh tế phát triển, chính trị - xã hội ổn định; văn hóa - xã hội có bước phát triển, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Đảng và Nhà nước ta không ngừng quan tâm, đầu tư mọi nguồn lực cho phát triển văn hoá - xã hội; đưa đến nhiều chuyển biến trong cải thiện đời sống tinh thần nhân dân

Nếu năm 1988, thu nhập bình quân đầu người của nước ta mới chỉ đạt 86 USD/người/năm, nhưng đến nay Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quy mô dân số gần 100 triệu người với mức thu nhập bình quân gần 2.800 USD/người. Từ nhóm nước thu nhập thấp, Việt Nam đã vươn lên, được xếp trong nhóm các nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Công tác xóa đói giảm nghèo đạt được kết quả đầy ấn tượng. Chưa bao giờ nhịp độ phát triển và đổi thay từ nông thôn tới thành thị, từ miền núi đến đồng bằng lại nhanh chóng, mạnh mẽ như hiện nay. Cũng chưa bao giờ phong cách sống và làm việc của mọi gia đình và mọi người dân lại có những nét mới mẻ, tươi tắn như hôm nay

Những thành tựu rất quan trọng, nổi bật mà đất nước ta đạt được trong những năm qua, trực tiếp nâng cao sức mạnh về mọi mặt của đất nước. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Các thành tựu đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử. Đồng thời, đây cũng là niềm tự hào, là động lực, nguồn lực quan trọng, là niềm tin để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức tiếp tục đổi mới, phát triển trong bền vững đất nước những năm tiếp theo./.

Bôi xấu quê hương để kiếm tiền

 Mạng xã hội phát triển, nhiều người làm ăn chân chính đã biết sử dụng mạng xã hội như một công cụ sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên cũng nhiều kẻ kiếm tiền bằng các chiêu thức xấu xa, vô đạo đức. Những đồng tiền chúng kiếm được lại chính là những đồng tiền “bẩn” của những thế lực thù địch. Chúng đã được trả công cho việc đăng tải những clip bôi nhọ đất nước, phá hoại cuộc sống của nhân dân, phản bội quê hương.

Trong một clip đăng tải trên kênh YouTube những ngày qua, Nguyễn Văn Đài, đối tượng đang lưu vong tại Cộng hòa Liên bang Đức, với thái độ huênh hoang kiểu “ngụy hàn lâm”, đã lấy hình ảnh rác thải sinh hoạt để “bình loạn” về tình hình chính trị trong nước. Bằng nhận thức của một người bình thường cũng đủ nhận ra, Nguyễn Văn Đài đang cố tình khoe mẽ, muốn chứng tỏ bản thân là người hiểu biết, kiến thức “uyên thâm”, am hiểu thời cuộc. Thực chất, những thông tin cóp nhặt và mớ kiến thức lỗ mỗ ấy không thể che giấu được sự thật là Nguyễn Văn Đài và những thành phần phản động lưu vong đang phải đương đầu với cuộc sống thường nhật nơi xứ người. Người dùng mạng xã hội không khỏi bật cười khi xem clip Nguyễn Văn Đài trò chuyện với “Người buôn gió” Bùi Thanh Hiếu. Trong lúc Đài huênh hoang giới thiệu là đã đến xem “các cơ sở sản xuất của Bùi Thanh Hiếu” ở Đức thì “Người buôn gió” mặt ỉu xìu nói rằng, hoàn toàn không có “cơ sở sản xuất” nào cả, mà Hiếu chỉ là người đang đi làm thuê kiếm ăn. Ngay từ khi còn ở trong nước, tính ảo tưởng, thích khoe mẽ, dương dương tự đắc của Nguyễn Văn Đài đã bị dư luận tẩy chay, lên án, cho đến khi đã lưu vong xứ người, Đài vẫn chứng nào tật ấy. Tương tự, những đối tượng như Đường Văn Thái, Trương Quốc Huy, Hoài An... cũng luôn huênh hoang khoe mẽ kiểu “ngụy hàn lâm”, thực hiện các clip với thái độ trịch thượng, giễu cợt... để bôi nhọ đất nước.

Ai cũng biết những cái tên trên là những đối tượng có tư tưởng phản bội quê hương. Những đồng tiền mà chúng kiếm được chỉ là những đồng tiền bẩn, vô đạo đức. Mỗi chúng ta nếu càng quan tâm gì đến chúng, càng xem, càng tương tác thì chúng càng kiếm được nhiều tiền bẩn, lại càng bôi xấu quê hương. Vậy nên hãy mặc kệ chúng, mặc kệ những chiêu trò lố bịch, bẩn thỉu mà chúng đưa ra./.

Tỉnh táo trước thủ đoạn chống phá dựa trên qui định về sở hữu đất đai

 Theo quy định của pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Điều này là hoàn toàn phù hợp với Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Việt Nam cũng như hầu khắp các quốc gia và vùng lãnh thổ trên trên toàn thế giới, đất đai và sở hữu đất đai có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Một quốc gia chỉ có thể tồn tại khi có một lãnh thổ riêng, độc lập. Trên thế giới, nhiều cuộc chiến tranh xảy ra cũng chỉ vì việc xâm chiếm đất đai và tài nguyên gắn liền với đất đai. Vì vậy, việc quy định về chính sách đất đai không chỉ là vấn đề về xác định quyền sở hữu mà còn mang yếu tố chính trị.

Vậy nhưng, trong nhiều năm qua, không ít ý kiến đòi Việt Nam phải thay đổi chính sách đất đai, công nhận quyền sở hữu tư nhân đối với đất đai. Sau khi Hội nghị Trung ương 5 khoá XIII diễn ra, lợi dụng việc tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, một số đối tượng cơ hội chính trị lại “nhai lại” về vấn đề này. Luận điểm mà họ đưa ra là “sở hữu toàn dân về đất đai là một khái niệm mơ hồ”, “người dân không có thực quyền gì đối với đất đai”, “phải thay đổi chính sách đất đai mới có thể phát triển kinh tế”,… Đặc biệt, lợi dụng những sai phạm trong công tác quản lý đất đai của một số địa phương, các “nhà bình loạn” càng được đà lấn tới, ra sức tấn công chính sách sở hữu đất đai về toàn dân của Việt Nam.

Đó chỉ là những thủ đoạn chống phá của những thế lực thù địch, cần phải nhận thức rằng, sở hữu toàn dân hay sở hữu tư nhân về đất đai đều tồn tại những mặt tích cực và hạn chế. Việc lựa chọn chính sách nào về đất đai phụ thuộc vào định hướng phát triển, yếu tố lịch sử, tình hình thực tiễn của mỗi quốc gia. Không phải cứ sở hữu toàn dân về đất đai là tiêu cực như những gì các đối tượng chống phá đang cố tình lan truyền./.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 13/6


“Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được cả”
Là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Bài nói chuyện với đại biểu nhân dân tỉnh Thanh Hóa, ngày 13 tháng 6 năm 1957. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đất nước vừa có hòa bình, vừa có chiến tranh. miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Lời dạy của Bác đã chỉ rõ ý nghĩa, vai trò quan trọng của sự đoàn kết. Đoàn kết là sức mạnh, là khâu then chốt của mọi thành công; đồng thời, Bác căn dặn đồng bào và nhân dân ta phải luôn nêu cao tinh thần vượt khó, đồng tâm hợp lực thì việc to mấy cũng làm được, cũng thành công. Đoàn kết còn chính là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhờ có tinh thần đoàn kết, đồng tâm, hợp lực của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân mà dân tộc ta đã đánh thắng hai đế quốc đầu sỏ, hung bạo, giành độc lập, thống nhất đất nước, trở thành dân tộc tiêu biểu cho lương tri của nhân loại trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân cũ và mới ở thế kỷ XX và đạt được những thành tự to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực và trong nước có nhiều diễn biến hết sức phức tạp, khó lường, song lời dạy “Bất kỳ khó khăn gì, bất kỳ công việc to mấy ta đoàn kết đều làm được cả” vẫn còn nguyên giá trị, không những là tư tưởng, phương châm chỉ đạo mà còn là nguồn sức mạnh, động viên, thôi thúc toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phát huy truyền thống đoàn kết, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Quân đội nhân dân Việt Nam là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành tuyệt đối của Đảng, Nhà nước và nhân dân; từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu; để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, đòi hỏi quân đội và mỗi cán bộ chiến sĩ phải luôn quán triệt sâu sắc lời dạy của Bác, nêu cao tinh thần đoàn kết, gắn bó giữa cán bộ, đảng viên với quần chúng trên tình thương yêu giai cấp, lúc thường cũng như lúc ra trận; giữ vững và không ngừng củng cố tình đoàn kết quân dân, thực hiện quân với dân một ý; xây dựng quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, là lực lượng nòng cốt cùng với toàn Đảng, toàn dân bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ nhà giáo quân đội

 

Đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong quân đội là lực lượng quan trọng trong đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước.

Những năm qua, đội ngũ này luôn đi đầu, lan tỏa phong trào học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH), nâng cao trình độ về mọi mặt, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị, góp phần quan trọng xây dựng, gìn giữ, phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, đáp ứng yêu cầu xây dựng quân đội và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng công tác giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) cũng như xây dựng đội ngũ nhà giáo. Người khẳng định: “Nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì không nói gì đến kinh tế, văn hóa...”.

Thấm nhuần tư tưởng của Người, ngành giáo dục nói chung, những người làm công tác giáo dục trong quân đội nói riêng luôn xác định rõ vị trí, vai trò của mình, không ngừng nỗ lực phấn đấu, vươn lên trong công tác, thực hiện nhiệm vụ.

Xây dựng, phát huy vai trò đội ngũ nhà giáo quân đội
Ảnh minh họa: qdnd.vn  

Những năm qua, đội ngũ nhà giáo quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, xây dựng, bồi dưỡng, quy hoạch, từng bước chuẩn hóa. Họ luôn ý thức xây dựng, rèn luyện bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết với sự nghiệp trồng người; được đào tạo bài bản, có trình độ chuyên môn sâu, kỹ năng, phương pháp sư phạm giỏi, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trên từng cương vị, chức trách được giao.

Nhiều đồng chí cán bộ, giảng viên khẳng định rõ vai trò chuyên gia đầu ngành trong giảng dạy và NCKH. Đây chính là lực lượng quan trọng góp phần đào tạo, bồi dưỡng nhân cách người quân nhân cách mạng, phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ cho đội ngũ học viên quân đội-nguồn cán bộ nòng cốt của các cơ quan, đơn vị trong toàn quân.

Theo tinh thần Nghị quyết số 86-NQ/ĐUQSTƯ ngày 29-3-2007 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) về công tác GD&ĐT trong tình hình mới, các học viện, nhà trường quân đội luôn quan tâm bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo theo hướng đồng bộ, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao.

Tính đến nay, tỷ lệ cán bộ, nhà giáo các trường quân đội có trình độ đại học trở lên đạt trên 94%; trong đó gần 35% có trình độ thạc sĩ, trên 10% nhà giáo quân đội có trình độ tiến sĩ. Nhiều giảng viên, cán bộ quản lý giáo dục (QLGD) trong quân đội được bổ nhiệm chức danh giáo sư, phó giáo sư và con số này không ngừng tăng theo từng năm, đáp ứng ngày càng tốt yêu cầu về giảng dạy và NCKH trong hệ thống nhà trường quân đội.

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ giảng viên, cán bộ QLGD vẫn còn những bất cập, như: Tỷ lệ nhà giáo có học hàm, học vị chưa đủ so với yêu cầu; một số nhà giáo trẻ thiếu kinh nghiệm thực tiễn ở cơ sở; số lượng giảng viên đã qua đơn vị ngày càng ít; vẫn còn giáo viên, giảng viên chậm đổi mới phương pháp dạy học, chưa cập nhật kiến thức, phương pháp mới; việc quy hoạch, phát triển đội ngũ nhà giáo gặp không ít khó khăn...

Bên cạnh đó, những năm gần đây, cơ chế thị trường đã tác động không nhỏ đến đội ngũ nhà giáo nói chung, nhà giáo trong quân đội nói riêng. Một bộ phận giáo viên, giảng viên chưa thực sự say mê với nghề. Vẫn còn giảng viên thiếu tinh thần nghiêm túc, cầu thị trong NCKH, chậm đổi mới phương pháp nghiên cứu, giảng dạy. Từ đó, chất lượng của những “cỗ máy cái” trong một số nhà trường chưa thực sự được nâng cao.

Hiện nay, xu thế đổi mới GD&ĐT ngày càng mạnh mẽ. Cùng với đó, nhiều tri thức mới về khoa học quân sự, vũ khí, trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại, đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các nhà giáo quân đội trong việc trang bị kiến thức, kỹ năng, truyền thụ kinh nghiệm cho học viên.

Do đó, bản thân mỗi nhà giáo quân đội cần thấy rõ vai trò, trách nhiệm và niềm vinh dự, tự hào khi trực tiếp tham gia đào tạo, xây dựng nhân lực cho quân đội. Từ đó, giảng viên, cán bộ QLGD không ngừng phấn đấu học tập, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; chủ động, tích cực tham gia xây dựng, đẩy mạnh phong trào NCKH, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật, khoa học quân sự trong giảng dạy, công tác, phục vụ nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của các cơ quan, đơn vị.

Với phương châm “giáo dục toàn diện”, nhà giáo là người bồi đắp, truyền thụ kiến thức, hình thành nhân cách người quân nhân cách mạng đối với học viên. Những bài học sâu sắc nhất mà đội ngũ cán bộ tương lai có được chính là sự nêu gương của người thầy. Vì thế, hơn ai hết, đội ngũ nhà giáo phải gương mẫu trong giảng dạy, công tác, sinh hoạt, phát huy cao độ phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, thực sự là tấm gương sáng để học viên noi theo. 

Nỗ lực của bản thân mỗi giảng viên, cán bộ QLGD khi nhận được sự quan tâm của các học viện, nhà trường, của cấp ủy, chỉ huy các cấp sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho quân đội và đất nước. Vì thế, việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ nhà giáo, cán bộ QLGD cần được các học viện, nhà trường và cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm.

Ngoài lựa chọn những học viên giỏi để tạo nguồn, cần có các chính sách thu hút nhân tài từ bên ngoài vào quân đội; lựa chọn cán bộ giỏi ở đơn vị, kinh qua thực tiễn, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, bổ sung cho các cơ sở đào tạo; tổ chức phối hợp, liên kết với các học viện, nhà trường trong và ngoài quân đội để đào tạo, bồi dưỡng...

Ngoài ra, cần quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang bị, mô hình học cụ phục vụ dạy học sát thực tiễn; tăng cường tổ chức các hội thi, hội thao để cán bộ, giảng viên, giáo viên học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, nâng cao trình độ giảng dạy, quản lý và NCKH; có cơ chế, chính sách thúc đẩy các nhà giáo, cán bộ QLGD không ngừng vươn lên trong công tác, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Xây dựng đội ngũ nhà giáo đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, bảo đảm "vừa hồng, vừa chuyên" sẽ là nguồn lực quan trọng quyết định hiệu quả công tác GD&ĐT trong quân đội. Thông qua công tác chuyên môn và sự nêu gương của mình, cán bộ, giảng viên các nhà trường trong toàn quân đã khẳng định rõ vai trò "cỗ máy cái" trong đào tạo nhân lực cho quân đội và đất nước, góp phần nuôi dưỡng, phát huy phẩm chất, nhân cách Bộ đội Cụ Hồ cho cán bộ quân đội ngay từ khi còn là học viên.

Đây là yếu tố then chốt góp phần xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong thời kỳ mới.

Nguồn: QĐND.

Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin về dân chủ, dân chủ XHCN; kinh nghiệm xây dựng nền dân chủ ở các quốc gia trên thế giới

 


Một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa trong kho tàng Chủ nghĩa mác- Lênin; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác để kế thừa, học hỏi.

Cho đến nay, việc làm sáng tỏ hai vấn đề nêu trên vẫn còn hạn chế, nhất là việc kế thừa những giá trị, học hỏi kinh nghiệm của nền dân chủ trên thế giới vẫn chưa thoát khỏi lối tư duy cũ: hoặc ca ngợi một chiều; hoặc phủ định sạch trơn, làm cho sự khác biệt của các nền dân chủ càng doãng xa hơn. Do vậy, một mặt, phải nghiên cứu sâu, có tính hệ thống lý luận về dân chủ, dân chủ chủ ngĩa xã hội trong kho tàng Chủ nghĩa Mác- Lênin, chỉ ra những điểm còn nguyên giá trị, những điểm đã bị lịch sử vượt qua do bối cảnh lịch sử đã thay đổi; mặt khác làm rõ giá trị hợp lý của các nền dân chủ khác.

Đánh giá khách quan thành tựu dân chủ tư sản, tính chất trình độ dân chủ xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ ngĩa xã hội ở Việt nam là cơ sở khoa học để tiếp thu có chọn lọc các giá trị dân chủ mà nhân loại đã đạt được. Phải làm rõ sự phát triển trình độ dân chủ của văn minh nhân loại được biểu hiện ở chủ nghĩa tư bản chứ không phải là sản phẩm riêng của tư bản chủ nghĩa. Một số giá trị của dân chủ tư sản cần thiết cho thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay. Ví dụ: Bầu cử Tổng Thống cho toàn thể xã hội; tính công bằng, tính nghiêm túc trong thời gian và các dây truyền lao động… Việt Nam không tiếp thu bản chất giai cấp của dân chủ tư sản, nhưng tiếp thu, học tập các hình thức thực hiện để đảm bảo quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân.

Nhận thức rõ thực chất và mục tiêu của đổi mới hệ thống chính trị

 


Nhận thức rõ thực chất và mục tiêu của đổi mới HTCT là thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân; cơ chế vận hành của HTCT ở nước ta: Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân lao động làm chủ. Xác định rõ yêu cầu đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị một cách toàn diện: cả về chức năng, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành, đội ngũ cán bộ và phương thức hoạt động của các tổ chức trong HTCT; phải đồng bộ, phù hợp với đổi mới kinh tế, trọng tâm là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN. Ví dụ Đại hội XIII của Đảng xác định: Tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn đảng và hệ thống chính trị. Ở các kỳ đại hội khác tách dời xây dựng chỉnh đống đảng và xây dựng hệ thống chính trị. Đại hội XIII xây dựng Đảng là cơ sở mang yếu tố quyết định đến xây dựng hệ thống chính trị và có sự gắn kết với nhau. Hệ thống chính trị từng bước được đổi mới cho phù hợp với tình hình đất nước, nhất là trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường và hội nghị quốc tế. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận trong HTCT được phân định ngày càng rõ ràng hơn và được thể chế hóa thành quy định của pháp luật. Tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, cơ chế phối hợp của các tổ chức trong HTCT được đổi mới, phát huy ngày càng tốt hơn vai trò của từng tổ chức.

 

NHẬN THỨC ĐÚNG BẢN CHẤT CỦA CÁI GỌI LÀ "CÁCH MẠNG SẮC MÀU"!

     Các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ hay đảo chính ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây cũng như Đông Âu cuối thế kỷ 20 và ở Trung Đông, Bắc Phi những năm đầu thế kỷ 21 được truyền thông phương Tây khoác cho cái tên mĩ miều và đầy tính mị dân là “cách mạng sắc màu”. Nhưng thực chất những cuộc chính biến đó là phản cách mạng. Nhận thức đúng vấn đề là nhiệm vụ vừa có tính cấp bách trước mắt và vừa có tính chiến lược lâu dài.

CÁI GỌI LÀ “CÁCH MẠNG SẮC MÀU” THỰC CHẤT LÀ PHẢN CÁCH MẠNG

Nếu như các nhà lý luận của giai cấp tư sản tự do cho rằng cách mạng xã hội là một hiện tượng ngẫu nhiên, thì trái lại, chủ nghĩa Marx – Lenin chỉ ra rằng các cuộc cách mạng là kết quả tất nhiên của sự phát triển của các xã hội chia thành giai cấp đối kháng. Các cuộc cách mạng hoàn thành quá trình tiến hóa, quá trình chín muồi dần dần của những điều kiện của một chế độ xã hội mới trong lòng chế độ xã hội cũ, hoàn thành quá trình tích lũy dần dần những mâu thuẫn giữa cái mới và cái cũ. Cách mạng giải quyết mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất mới và quan hệ sản xuất cũ, dùng bạo lực phá hủy quan hệ sản xuất quá thời và mở rộng đường phát triền cho lực lượng sản xuất.

Vấn đề cơ bản của mọi cuộc cách mạng là vấn đề chính quyền. Phải trải qua đấu tranh giai cấp quyết liệt mới chuyển được chính quyền từ giai cấp phản động thống trị, giai cấp kìm hãm sự phát triển của xã hội sang giai cấp cách mạng. Cách mạng là hình đấu tranh giai cấp cao nhất. Không nên lẫn lộn cách mạng xã hội với cái gọi là “cách mạng trong cung điện” với những cuộc đảo chính, tuần hành, biểu tình trên đường phố. v.v. Những cuộc đảo chính chỉ là dùng bạo lực thay đổi chính phủ, chỉ là những người hay tập đoàn của cùng một giai cấp thay thế nhau nắm chính quyền, còn đặc điềm cơ bản của cách mạng xã hội là hoàn toàn biến đổi chế độ, là chuyển chính quyền từ giai cấp này sang giai cấp khác. Tuy nhiên, không thể gọi tất cả mọi cuộc lật đổ, trong đó một giai cấp này dùng bạo lực lật đổ một giai cấp khác là cách mạng được. Nếu giai cấp phản động gây ra một cuộc nổi dậy chống giai cấp tiến bộ, nếu giai cấp phản động lại chiếm chính quyền, đó không phải là cách mạng nữa, mà là phản cách mạng. Cách mạng là việc giai cấp tiến bộ lên nắm chính quyền, mở đường cho một sự phát triển mới của xã hội.

Đối chiếu với những diễn biến và kết quả các cuộc biểu tình, bạo động vũ trang, bạo loạn lật đổ, đảo chính bất hợp pháp ở một số quốc gia thuộc Liên Xô trước đây và Đông Âu (vào thập niên cuối thế kỷ 20) và ở Trung Đông, Bắc Phi trong (những thập niên đầu thế kỷ 21 với quan điểm chủ nghĩa Marx – Lenin nêu trên cho phép chúng ta khẳng định, đó không phải một cuộc cách mạng xã hội đúng nghĩa, mà thực chất là phản cách mạng. Bởi, tính chất của cách mạng là do những nhiệm vụ xã hội mà nó thực hiện, quyết định. Ví như, nhiệm vụ của Cách mạng Pháp năm 1789 là thủ tiêu chế độ phong kiến đang kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất và ngăn cản không cho người ta mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển trên cơ sở lực lượng sản xuất ấy. Đó là một cuộc cách mạng tư sản cũng như những cuộc cách mạng 1848 – 1849 trong nhiều nước châu Âu. Còn cách mạng vô sản xã hội chủ nghĩa khác về căn bản với tất cả những cuộc cách mạng trước. Đây là cuộc cách mạng vĩ đại nhất chưa từng thấy trong lịch sử vì nó biến đổi đời sống nhân dân một cách sâu sắc nhất. Chỉ có cách mạng vô sản lập nên chuyên chính của giai cấp vô sản, giai cấp cách mạng nhất trong lịch sử nhân loại, mới có thể tiêu diệt mọi hiện tượng người bóc lột người. Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại là một kiểu mẫu của cách mạng vô sản.

“Cách mạng là tiêu diệt những cái gì xấu, xây dựng những cái gì tốt. Chúng ta làm cách mạng để tiêu diệt chế độ thực dân, phong kiến, để xây dựng dân chủ mới”(1) hay “Mục đích của cách mạng là xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, tự do, giàu mạnh. Làm cho nhân dân được hưởng hạnh phúc và xây dựng một xã hội sung sướng, vẻ vang”(2).Hồ Chí Minh

Trong khi đó, cái gọi là “cách mạng sắc màu” (colour revolution) hay còn được biết đến với những tên gọi như “cách mạng cam / nhung /hạt dẻ / hoa hồng / hoa tulip…” (ở Trung Đông, Bắc Phi); hay “cách mạng đường phố” (Maidan ở Ukraina, ô/dù ở Hồng Kông); hoặc “cách mạng nghị trường” ở Gruzia, Venezuela… là thuật ngữ dùng để chỉ các phong trào biểu tình quần chúng (thường là lực lượng thanh niên cấp tiến có tư tưởng của chủ nghĩa phát xít mới). Đó là các cuộc chính biến do phương Tây và các lượng lượng thân phương Tây ở chính các quốc gia đó can dự vào nội bộ của các quốc gia có chủ quyền, đặc biệt là các nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa, thông qua việc thiết kế lực lượng đối lập, dựa vào sức ép dư luận, lấy con bài dân chủ, nhân quyền với ngòi nổ là vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm đẩy các nước rơi vào khủng hoảng chính trị trầm trọng, tạo điều kiện cho phe đối lập lật đổ chính quyền, thiết lập chế độ mới thân phương Tây, đem lại lợi ích chủ yếu cho giới tài phiệt mà không đem lại sự thay đổi chế độ chính trị một cách triệt để, mà đa phần chỉ thay đổi liên minh chính trị bên trong hệ thống chính trị hiện tại. Trên thực tế, chẳng những đại đa số quần chúng không được hưởng bất cứ thành quả gì từ các cuộc chính biến đó – điều mà những thủ lĩnh của các cuộc chính biến từng hứa hẹn – mà còn phải chịu thêm cảnh thương vong, đói nghèo, bệnh tật và mất quyền tự do, dân chủ nhiều hơn so với trước khi nó xảy ra… Chính vì thế, những cuộc chính biến đó không thể gọi là cách mạng được.

Một số nhà nghiên cứu đã chỉ ra nguyên nhân sâu xa của “cách mạng sắc màu” từ hai cách tiếp cận: Thứ nhất, tiếp cận từ góc độ xung đột lợi ích địa chính trị giữa phương Đông và phương Tây sau chiến tranh lạnh, “cách mạng sắc màu” là công cụ của phương Tây dùng để củng cố, mở rộng gia tăng phạm vi ảnh hưởng toàn cầu bằng việc thúc đẩy mô hình chính trị với các giá trị dân chủ. Thứ hai, nhấn mạnh vào các phong trào đối lập lại khá lạc quan khi cho rằng “cách mạng màu” là quá trình dân chủ hoá. Họ cho rằng “cách mạng sắc màu” phản ánh khuynh hướng của phe đối lập nhằm đạt được sự đột phá về dân chủ trong bầu cử chính trị để phê phán các trường hợp gian lận trong bầu cử, từ đó lên án những hành động phản dân chủ của liên minh cầm quyền. Trong khi đó, một số học giả cho rằng, “cách mạng sắc màu” là mưu kế then chốt nhằm áp đặt trật tự thế giới mới do Mỹ đứng đầu. Đây là một chiến thuật chính trị che giấu sự mở rộng của NATO và ảnh hưởng của Mỹ đến các vùng biên giới của Nga, thậm chí cả Trung Quốc. Mục tiêu cơ bản trong chiến lược của Mỹ là bao vây Nga và Trung Quốc nhằm ngăn chặn sự nổi lên của những thách thức đối với quyền lực của Mỹ trong khu vực và trên toàn cầu(3).

Căn cứ vào lý luận và thực tiễn thì tuyệt nhiên không thể gọi những hoạt động/hành động chính biến nêu trên là “cách mạng” được, mà thực chất đó là phản cách mạng.

NHỮNG CẢNH BÁO ĐỐI VỚI VIỆT NAM

Trong tác phẩm Ba nguồn gốc và ba bộ phận cấu thành của chủ nghĩa Marx, đăng trên tạp chí Giáo dục số 3/1913, V. I. Lenin từng cảnh báo đối với những người cộng sản: “Chừng nào người ta chưa biết phân biệt được lợi ích của giai cấp này hay của giai cấp khác, ẩn đằng sau bất kỳ những câu nói, những lời tuyên bố và những lời hứa hẹn nào có tính chất đạo đức, tôn giáo, chính trị và xã hội, thì trước sau bao giờ người ta cũng vẫn là kẻ ngốc nghếch bị người khác lừa bịp và tự lừa bịp mình về chính trị”(4). Theo đó, nếu chúng ta mất tinh thần cảnh giác cách mạng, mơ hồ giai cấp khi thừa nhận nó là “cách mạng” với cái tên và tuyên bố của các chính trị gia cùng giới truyền thông phương Tây về cái gọi là “cách mạng sắc màu” thì vô hình chung chính chúng ta thừa nhận tính phản động, phản cách mạng của các cuộc chính biến trên; là cổ xúy và tạo một tiền lệ vô cùng nguy hiểm đối với sự tồn vong của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, là một trong những nguy cơ kéo lùi sự phát triển của đất nước ta.

Trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng tấn công vào các nước xã hội chủ nghĩa hoặc các nước không chịu theo “chiếc gậy chỉ huy” của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch thì Việt Nam là trọng điểm chống phá thông qua chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ kết hợp bạo loạn lật đổ với mục tiêu không thay đổi là xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Chính vì vậy, tại Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Đảng đã chỉ ra những thách thức, những nguy cơ lớn đối với sự nghiệp đổi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. “Những thách thức là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới…; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa…; nguy cơ về nạn tham nhũng và tệ quan liêu; nguy cơ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Các nguy cơ đó có liên quan mật thiết với nhau, tác động lẫn nhau”(5); Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII nhấn mạnh: “Bốn nguy cơ mà Đảng đã chỉ ra vẫn tồn tại, nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nguy cơ “diễn biến hòa bình” của thế lực thù địch nhằm chống phá nước ta; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; sự tồn tại và những diễn biến phức tạp của tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí…”(6).

Không phải ngẫu nhiên chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lựa chọn các nước xã hội chủ nghĩa, định hướng xã hội chủ nghĩa, các nước trong “không gian hậu Xô-viết” để tiến hành cách chính biến bất hợp pháp trong chiến lược toàn cầu phản cách mạng. Hậu quả nặng nề và kéo dài ở các nước bị cái gọi là “cách mạng sắc màu” “càn quét và tàn phá” qua là lời cảnh báo đối với Việt Nam.
Trên thực tế, mặc dù cái gọi là “cách mạng sắc màu” chưa được các thế lực thù địch thực hiện thành công ở nước ta, nhưng đã có manh nha với những biểu hiện cụ thể của âm mưu, thủ đoạn này ở Việt Nam và gây ra những hậu quả nhất định. Những năm vừa qua đã xuất hiện nhiều vụ việc cho thấy rằng, thế lực thù địch và phản động không ngừng nuôi âm mưu và sử dụng “chiêu thức” phản cách mạng để
 để tấn công vào sự nghiệp cách mạng của nước ta. Chúng lợi dụng lòng yêu nước, lợi dụng mạng xã hội, Internet cùng những hạn chế trong nhận thức, hiểu biết của một bộ phận không nhỏ quần chúng để xúi giục nhân dân biểu tình. Điển hình như: lấy danh nghĩa “Hướng về biển, đảo quê hương” để kích động biểu tình, bạo loạn, phá hoại, bài xích quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc (như vụ phản đối giàn khoan HD-981 của Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam năm 2014 để tiến hành cái gọi là “cách mạng hoa sen”; vụ Formosa gây ra ô nhiễm môi trường biển khiến cá chết hàng loạt ở 4 tỉnh miền Trung để thực hiện cái gọi là “cách mạng cá” năm 2016); lấy danh nghĩa bảo vệ môi trường để thực hiện cái gọi là “cách mạng cây”; kêu gọi “xuống đường tổng biểu tình” năm 2018 tại 23 tỉnh, thành phố liên quan đến việc Quốc hội nước ta chuẩn bị thông qua và ban hành Luật An ninh mạng và Dự thảo Luật đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt…

MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG, CHỐNG HỮU HIỆU

Văn kiện Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; ngăn chặn, phản bác những thông tin và luận điệu sai trái, đẩy lùi các loại tội phạm và tệ nạn xã hội; sẵn sàng ứng phó với các mối đe dọa an ninh truyền thống và phi truyền thống; bảo đảm an ninh, an toàn thông tin, an ninh mạng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc; đồng thời giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế”(7). Theo đó, để ngăn chặn và triệt tiêu những nguy cơ của của cái gọi là “cách mạng sắc màu”, chúng ta cần phải “bắt đầu” từ những yếu tố chủ quan, bao gồm tình hình kinh tế – chính trị – xã hội nội tại. Trong đó, tập trung vào các giải pháp cơ bản sau:

Một là, đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế; chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân; đẩy mạnh xoá đói giảm nghèo, giải quyết tốt các vấn đề xã hội… để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Muốn ngăn chặn, đấu tranh có hiệu quả – làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp cách mạng của nước ta thì phải giữ vững được sự ổn định xã hội và làm cho đất nước ngày càng vững mạnh về mọi mặt. Do đó, việc đẩy lùi tệ quan liêu, tham nhũng, tiêu cực xã hội; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực; chống nguy cơ tụt hậu về kinh tế là giải pháp hữu hiệu để đảm bảo và thúc đẩy yếu tố bên trong của đất nước luôn luôn ổn định.

Để giữ được sự ổn định xã hội thì vấn đề mấu chốt phải giữ vững được định hướng xã hội chủ nghĩa trên các lĩnh vực. Thực chất làm cho các nhân tố xã hội chủ nghĩa ngày càng củng cố, phát triển trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế đồng nghĩa với tránh nguy cơ đời sống nhân dân lao động suy giảm, dẫn đến lòng dân hoang mang, mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước.

Hai là, nâng cao nhận thức về âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, nắm chắc mọi diễn biến không để bị động và bất ngờ.

Chủ động nắm bắt, phát hiện kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch sử dụng để chống phá cách mạng nước ta có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Yêu cầu đặt ra là phải giáo dục rộng rãi trong toàn xã hội để mọi người dân, mọi tổ chức chính trị – xã hội đều nhận thức sâu sắc âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “diễn biến hoà bình” thông qua cái gọi là “cách mạng sắc màu” của các thế lực phản động. Đảng, Nhà nước tăng cường chỉ đạo cơ quan tham mưu chuyên trách phối hợp các ngành, các cấp trong xã hội chú trọng giáo dục kiến thức quốc phòng – an ninh; thông qua các kênh thông tin đại chúng để nâng cao cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân. Nghiêm khắc đấu tranh phê phán những biểu hiện mơ hồ, mất cảnh giác trong một bộ phận nhân dân, học sinh, sinh viên trước âm mưu, thủ đoạn thâm hiểm trong chiến lược “diễn biến hoà bình” chống phá nước ta của kẻ thù.

Không ai khác và hơn ai hết, mỗi cá nhân phải có ý thức tự giác chấp hành pháp luật của Nhà nước về thông tin, tham gia tích cực đấu tranh chống phao tin đồn nhảm, lưu truyền thông tin xấu và thất thiệt.
Ba là, xây dựng ý thức bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cho toàn dân.

Bảo vệ Tổ quốc là một trong hai nhiệm vụ chiến lược của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch không ngừng từ bỏ âm mưu thôn tính chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Vì vậy, trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, mỗi công dân Việt Nam phải luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, củng cố quốc phòng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Tổ quốc và các thành quả cách mạng. Ý thức bảo vệ Tổ quốc cần được thấm nhuần sâu sắc trong mọi tầng lớp nhân dân mà trọng tâm là thanh niên.

Yêu cầu nội dung giáo dục ý thức bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cho các tầng lớp nhân dân phải mang tính toàn diện: tình yêu quê hương, đất nước; cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; thấm nhuần quan điểm, đường lối của Đảng về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn cách mạng mới; tất cả vì mục tiêu độc lập dân tộc, tự do và hạnh phúc của nhân dân. Vận dụng các hình thức biện pháp giáo dục đa dạng nhưng phù hợp với từng đối tượng.

Bốn là, xây dựng cơ sở chính trị – xã hội vững mạnh về mọi mặt.
Xây dựng cơ sở chính trị – xã hội vững mạnh là “thành trì” bảo đảm cho chế độ xã hội luôn ổn định, phát triển. Trước hết, phải luôn luôn chú trọng xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh. Khối đại đoàn kết toàn dân tộc theo quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam là đoàn kết các dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp nhân dân, mọi thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng mọi miền đất nước; đoàn kết trong Đảng và ngoài Đảng… Để đạt được sự đoàn kết rộng rãi đó, Đảng và Nhà nước phải nâng cao chất lượng các chính sách xã hội nhằm bảo đảm lợi ích chính đáng cho từng giai tầng; củng cố vững chắc khối liên minh công – nông – trí; phát huy tinh thần yêu nước, ý thức tự lực tự cường, lòng tự hào của toàn dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước phải luôn luôn chú trọng xây dựng, củng cố hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương ngày càng vững mạnh về mọi mặt; nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, phẩm chất, đạo đức, lối sống của đảng viên, năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các cấp, nhất là ở cơ sở; thực hiện tốt quy chế và pháp lệnh dân chủ ở cơ sở, củng cố nâng cao chất lượng, hiệu quả, nề nếp hoạt động của các tổ chức quần chúng.
Năm là, chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh.

Không ngừng chú trọng xây dựng quân đội nhân dân, công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (có lực lượng tiến thẳng lên hiện đại), xây dựng vững mạnh lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên, lực lượng an ninh nhân dân ở cơ sở… Đây vừa là lực lượng trực tiếp vừa là một bộ phận của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, do Đảng lãnh đạo, là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, chính quyền, nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Cùng với lực lượng chính quy có sức chiến đấu cao, phải bảo đảm vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân, phòng thủ ở các địa phương, cơ sở. Chú trọng giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng, lấy chất lượng là chính.

Mỗi địa phương phải chú trọng kết hợp phát động phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng lực lượng vũ trang ở cơ sở. Thực tiễn cho thấy, quần chúng nhân dân là nền tảng của đất nước, là gốc rễ của dân tộc, là động lực chính để thúc đẩy sự phát triển của xã hội, nhưng cũng là đối tượng mà các thế lực thù địch, phản động thường hướng tới để lợi dụng, lôi kéo nhằm thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ để chống phá cách mạng./.
Chú thích:
(1) (2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2011, t.7, tr.361, 265.
(3) Nguyễn Hữu Cát, Đoàn Thị Mai Liên: “Cách mạng sắc màu” và giải pháp phòng, chống, Tạp chí Lý luận chính trị, số 4/2017.
(4) V. I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật, H, 2005, t.23, tr.57.
(5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII.
(6) (7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2016, tr.19, 148.
Yêu nước ST.

SỰ CẦN THIẾT, QUAN TRỌNG

 Năm 2006, Ban chỉ đạo (BCĐ) Trung ương về Phòng chống tham nhũng (PCTN) được thành lập và được xác định là cơ quan trực thuộc Chính phủ, do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu. Năm 2007, các BCĐ PCTN cấp tỉnh được thành lập theo quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật PCTN (năm 2007) và Nghị quyết số 294A/2007/UBTVQH12, ngày 27/9/2007 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Tuy nhiên, hoạt động của BCĐ Trung ương về PCTN trong giai đoạn này còn một số hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra.

Do vậy, Hội nghị Trung ương 5 khóa XI (năm 2012), đã quyết định tổ chức lại BCĐ về PCTN, chuyển đổi mô hình BCĐ trực thuộc Chính phủ sang mô hình BCĐ trực thuộc Bộ Chính trị do Tổng Bí thư đứng đầu và không tổ chức BCĐ tỉnh, thành phố về PCTN.

Tỉnh ủy, thành ủy trực tiếp lãnh đạo công tác PCTN và có trách nhiệm phối hợp với BCĐ Trung ương về PCTN khi có vụ việc tham nhũng nghiêm trọng xảy ra ở địa phương. Mục đích của sự thay đổi này nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác đấu tranh PCTN, tăng cường tính độc lập tương đối của BCĐ với các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong công tác đấu tranh PCTN.

Mô hình BCĐ Trung ương trực tiếp do Tổng Bí thư làm Trưởng ban đã chứng minh hiệu quả rõ rệt trong công tác PCTN. Điều đó thể hiện rất rõ ở nhiệm kỳ khóa XII, XIII khi số lượng vụ, việc tham nhũng, kinh tế được phát hiện, xử lý tăng lên rất nhiều. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc, quan hệ công tác trong chỉ đạo PCTN được cọ xát qua thực tiễn. Hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo đi vào nền nếp, bài bản, khoa học. Các thành viên, các cơ quan điều tra, truy tố, xét xử, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ…

Tuy nhiên, tham nhũng hiện vẫn diễn biến rất phức tạp; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực, gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được ngăn chặn có hiệu quả... Công tác lãnh đạo, chỉ đạo PCTN, tiêu cực tại địa phương đã bộc lộ bất cập, nhất là trong chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực. Những tồn tại, hạn chế này do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có nguyên nhân từ tổ chức bộ máy các cơ quan chức năng PCTN, tiêu cực chưa thống nhất, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương; cơ chế chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan chức năng PCTN, tiêu cực ở địa phương chưa được tập trung, thống nhất. Do đó nhiều tỉnh ủy, thành ủy đã đề xuất, kiến nghị thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực.

Như vậy, xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, việc thành lập BCĐ cấp tỉnh về PCTN, tiêu cực là chủ trương quan trọng, cần thiết, thể hiện rõ tinh thần triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt!”. BCĐ cấp tỉnh đủ mạnh, có thực quyền, sẽ trở thành “cánh tay nối dài” của BCĐ Trung ương, phục vụ đắc lực cho hoạt động PCTN, tiêu cực ở địa phương.

"VIỆT NAM - NGỌN CỜ ĐẦU CỦA ASEAN"

 Việt Nam không chỉ là một trong những ngọn cờ đầu của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) mà còn thực sự chứng tỏ vai trò lãnh đạo của mình, trở thành người chơi trung tâm trong các vấn đề khu vực và là “chìa khoá” cho các vấn đề đó.

Trong bài viết mang tựa đề “Việt Nam – Ngọn cờ đầu của ASEAN”, tác giả Grigory Trofimchuk, chuyên gia trong lĩnh vực chính sách đối ngoại, quốc phòng và an ninh Nga, đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò lãnh đạo của Việt Nam trong khu vực. Bài viết khẳng định kể từ sau năm 2014, khi quan hệ Nga-phương Tây leo thang căng thẳng, Moskva đã tuyên bố về “chính sách hướng Đông” nhằm mở rộng cánh cửa vào châu Á. Theo chính sách này, ASEAN là một đối tác quan trọng, thể hiện rõ qua việc Nga mới đây đã thông qua “Kế hoạch hành động toàn diện thực hiện đối tác chiến lược giữa Liên bang Nga và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 2021-2025”.

Tác giả bài viết nhận định, Việt Nam không chỉ là một trong những ngọn cờ đầu của ASEAN mà còn thực sự chứng tỏ vai trò lãnh đạo của mình, trở thành người chơi trung tâm trong các vấn đề khu vực và là “chìa khoá” cho các vấn đề đó. Sức mạnh của Việt Nam chính là Việt Nam có uy tín và vị thế ngày càng tăng trên trường quốc tế, có môi trường kinh doanh hấp dẫn, ổn định chính trị và chính sách đối ngoại có thể đoán định được. Chuyên gia Nga cho rằng lập trường nhất quán và mang tính xây dựng của Việt Nam trong việc thiết lập môi trường hòa bình và ổn định trong toàn bộ khu vực, bao gồm cả tranh chấp trên Biển Đông, là yếu tố quan trọng giúp Hà Nội thích nghi với tình hình địa chính trị hiện đại.

Chuyên gia này cũng đánh giá cao vai trò của Việt Nam trong quá trình tìm kiếm đồng thuận với Trung Quốc trong các vấn đề liên quan tới Biển Đông, đặc biệt là thông qua sự chỉ đạo của Đảng Cộng sản hai nước để tạo ra các kết quả cụ thể. Theo tác giả, điều này không chỉ giúp loại bỏ nguy cơ xảy ra một cuộc chiến lớn ở châu Á mà còn mở ra giai đoạn mới cho sự phát triển của tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Cũng theo tác giả bài viết, kể cả trong các vấn đề nhạy cảm như nhân quyền, Việt Nam cũng có những đóng góp đáng kể, được Liên hợp quốc (LHQ) đánh giá tích cực. Kết thúc bài viết, tác giả khẳng định phương Đông sẽ là cơ hội lịch sử thực sự, là lối thoát cho Nga trong bối cảnh phương Tây gia tăng sức ép chưa từng có đối với Moscow trên mọi lĩnh vực.

Trước đó, tại Hội thảo quốc tế với chủ đề: “ASEAN trên đường hội nhập: Thành tựu, khó khăn, thách thức” do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN, thuộc Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm Khoa học Nga phối hợp với Trung tâm ASEAN thuộc trường đại học quan hệ quốc tế Moscow (MGIMO), Bộ Ngoại giao Nga tổ chức, các học giả đánh giá cao vai trò và vị thế của ASEAN trong khu vực và trên thế giới, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, đầy biến động. Các học giả cho rằng, ASEAN có vai trò ngày càng tăng trong khu vực và thế giới. Trong đó, Việt Nam có vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của ASEAN. Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vladimir Mazyrin, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và ASEAN thuộc Viện Viễn Đông, Viện Hàn lâm khoa học Nga khẳng định vai trò, vị thế ngày càng tăng của ASEAN trong khu vực và trên trường quốc tế. Trong ASEAN, Việt Nam có vai trò rất quan trọng, là quốc gia đi đầu, tích cực đóng góp có trách nhiệm cho sự phát triển của cả khối.

Trong khi đó, chuyên gia Valeria Vershinina đến từ MGIMO khẳng định, với số lượng lớn các Hiệp định kinh tế khu vực và quốc tế được ký kết, Việt Nam có vai trò quan trọng trong khu vực thương mại tự do ASEAN. Trong vấn đề an ninh khu vực, chuyên gia Valeria Vershinina đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy chương trình nghị sự để tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp ở Biển Đông và đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở Biển Đông (COC). Chuyên gia Nadezhda Kolotova đến từ Đại học Tổng hợp Quốc gia Saint Petersburg cho rằng, ASEAN ngày càng có tiếng nói quan trọng trong khu vực và thế giới, trong đó nổi bật lên vai trò của Việt Nam với nhiều sáng kiến nhằm củng cố, phát triển sức mạnh của cả khối. Chuyên gia Nadezhda Kolotova cũng đánh giá cao chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá của Việt Nam. Cho rằng chính sách này là đúng đắn, phù hợp trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp như hiện nay.

Còn trong bài viết “Biển Đông - Thực trạng và cách tiếp cận của Nga”, Tiến sỹ Lịch sử Anton Viktorovich Bredikhin, thành viên Hội đồng khoa học Trung tâm Khoa học xã hội "Các vấn đề chính trị-xã hội hình thành EAEU," Viện Hàn lâm khoa học Nga đã đánh giá cao chính sách nhất quán của Việt Nam trong nỗ lực tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội, bao gồm kinh tế biển. Đặc biệt là ở Biển Đông với phương châm “Hòa bình-Hữu nghị, Hợp tác-Phát triển”. Nhấn mạnh Việt Nam ủng hộ việc tăng cường đối thoại toàn cầu trong giải quyết các xung đột quốc tế, đặc biệt trong thời gian đảm đương cương vị Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ nhiệm kỳ 2020-2021. Trong bài viết, đánh giá về thành tựu của Việt Nam trong những năm gần đây, chuyên gia Nga bày tỏ ấn tượng về đà tăng trưởng ổn định của nền kinh tế Việt Nam. Ông dẫn các chỉ số Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam năm 2018 là hơn 245 tỷ USD, năm 2019 là gần 263 tỷ USD và năm 2020 là trên 271 tỷ USD. Đồng thời cho biết năm 2021, tăng trưởng GDP đạt 2,58%. Theo ông, những con số này minh chứng cho sự ổn định và triển vọng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

Chuyên gia Nga nêu rõ Việt Nam đang theo đuổi chính sách hợp tác kinh tế đa phương, ký các thỏa thuận thương mại tự do với nhiều quốc gia và tổ chức trên thế giới, bao gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, ASEAN và Liên minh Kinh tế Á-Âu (EAEU). Trong số các quốc gia thành viên EAEU, Nga có kim ngạch thương mại lớn nhất. Từ những tiềm năng nêu trên, chuyên gia Bredikhin khẳng định, Nga nên thúc đẩy hơn nữa hợp tác kinh tế-thương mại với Việt Nam. Theo Tiến sỹ Anton Viktorovich Bredikhin, Việt Nam hiện là đối tác kinh tế thương mại triển vọng nhất, có nền tảng chiến lược cần thiết để mở rộng nhiều lĩnh vực hợp tác.


BAO GIỜ BÁC LẤY VỢ?

 "Các chú hỏi bao giờ Bác lấy vợ, phải không? Có hỏi thì có trả lời nhé: Không lâu nữa đâu! Bao giờ dân ta toàn thắng, Bắc – Nam sum họp một nhà!"

Và khi luật sư Phan Anh đề nghị Hồ Chí Minh lập gia đình để có người săn sóc, Cụ trả lời: "Ông bảo thế tôi không phải là con người à? Tôi sống như mọi người mà. Có phải thần, thánh gì đâu. Nhưng ông thấy đấy: việc nước bề bộn như vậy!"

Ông Cả Khiêm có hỏi Bác Hồ: “Tôi muốn hỏi riêng chú, việc gia đình riêng của chú ra sao?”. Bác thong thả trả lời: “Cảm ơn anh, em chưa bao giờ dám nghĩ đến việc này. Đến nay thì “đã tu, tu trót, qua thì, thì thôi”. Bác cười vui nói tiếp: “Mình không phải người tu hành, nhưng vì việc nước phải quên việc nhà”.

Bác và cụ Huỳnh thật sự như hai người bạn tri kỷ, cùng tâm sự và thường xuyên thăm nom nhau. Mỗi khi có món gì ngon, Bác cũng mời cụ Huỳnh cùng thưởng thức: khi lọ tương Nam Đàn, lúc chai mắm tép Thái Bình. Trong một buổi tâm tình, cụ Huỳnh nhắc khéo chuyện riêng của Bác bằng hai câu thơ:

Năm mươi sáu tuổi vẫn chưa già

Cụ ông thấy, cụ bà không?

Trong mấy tháng ở Pháp, Bác thường gửi điện thăm hỏi tình hình ở nhà và sức khỏe cụ Huỳnh. Trong một bức điện riêng, Bác đã trả lời câu hỏi mà cụ đưa ra bằng bài thơ sau:

"Nghĩ chẳng ra thơ để trả lời

Nhớ ơn cụ lắm cụ Huỳnh ơi

Non sông một mối chung nhau gánh

Độc lập xong rồi cưới vợ thôi"!