Thứ Hai, 27 tháng 6, 2022

Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước hiện nay

 


Đổi mới đường lối đối ngoại của Đảng được đánh dấu từ Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986) và Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị khóa VI, “Về nhiệm vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”. Kể từ đó, quá trình đổi mới tư duy và thực hành ngoại giao diễn ra liên tục và từng bước dần hoàn thiện. Trên nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đánh giá tình hình thế giới một cách khách quan, khoa học, từ đó xây dựng chính sách đối ngoại ngày càng có hiệu quả. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (14) được hình thành và phát triển từ trong lý luận và thực tiễn sinh động của công cuộc đổi mới. Đó là nền ngoại giao sử dụng sức mạnh tổng hợp, phối hợp hiệu quả hoạt động của mọi lực lượng đối ngoại, được triển khai trên nhiều lĩnh vực và hướng đến nhiều đối tượng, tạo tiền đề và động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập và phát triển.

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn có sự điều chỉnh về chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh, kiềm chế lẫn nhau. Việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước có ý nghĩa hết sức quan trọng.

 Sự vận động của quan hệ quốc tế trong tiến trình tác động của toàn cầu hóa làm thay đổi tương quan lực lượng, dẫn đến những đổi thay về địa - chính trị trên thế giới. Lôi cuốn vào sự thay đổi có tính toàn cầu đó với sự đấu tranh giữa các nước lớn hiện nay là sự tập hợp của các liên minh, lợi ích đã buộc các nước phải lựa chọn chiến lược cho phù hợp với những biến đổi, thế giới đang đối mặt với nguy cơ của một cuộc chiến tranh lạnh mới trong tương lai, theo đó, tính chất của cuộc chiến tranh này phụ thuộc vào thực lực của cuộc đấu cân sức giữa các nước lớn. Bởi vậy, Việt Nam phải có sự lựa chọn và xây dựng đường lối ngoại giao phù hợp, để bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong sự vận động của tình hình quốc tế.

Trong bối cảnh hiện nay, vận dụng tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lựa chọn chiến lược hàng đầu của Việt Nam là: Không ngừng tăng cường nội lực về kinh tế, quốc phòng; xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong và ngoài nước; chủ động ứng phó các diễn biến địa - chính trị quốc tế để nâng cao vị thế chiến lược của Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và các lợi ích chiến lược của đất nước; chăm lo bảo vệ các quyền tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 189 quốc gia trên thế giới, thiết lập quan hệ đối tác chiến lược, toàn diện với 30 nước (15); có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230 quốc gia và vùng lãnh thổ (16). Trong khi vẫn duy trì chính sách quốc phòng mang tính chất hòa bình, tự vệ; không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Việt Nam tiếp tục thắt chặt quan hệ chiến lược an ninh với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực một cách linh hoạt, hiệu quả để nâng cao vị thế chiến lược của mình. Đó chính là sự vận dụng đúng đắn quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tăng cường thế và lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến lược của đất nước. Tư tưởng đó bao gồm cả việc liên kết và ràng buộc, cộng đồng lợi ích với những quốc gia ủng hộ lợi ích dân tộc chính đáng của Việt Nam. Bởi vậy, Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao đa phương, đa dạng, nhằm hạn chế tối đa các tác động tiêu cực do cạnh tranh giữa các nước lớn. Để làm được điều này, với chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, Việt Nam phải chủ động tham gia và góp phần định hình các diễn biến địa - chính trị khu vực, để không bị động, trở thành kẻ ngoài lề và là nạn nhân bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn.

Hoàn thiện và thực thi đường lối ngoại giao đề cao hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, đồng thời chính là mẫu số chung để đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở thống nhất tư tưởng, xây dựng niềm tin của toàn dân, tạo ra một hiệu ứng tích cực, phát huy lòng tự tôn dân tộc, làm gia tăng tối đa sức mạnh dân tộc để vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện trước bất kỳ thử thách cam go nào trong xây dựng, bảo vệ đất nước và chấn hưng dân tộc. Khẳng định Nhà nước Việt Nam phấn đấu vì quyền của dân tộc và quyền con người - những giá trị mà toàn thể loài người đã, đang và sẽ tiếp tục đấu tranh để hoàn thiện, bởi vậy, “hòa bình - độc lập - tự do - hạnh phúc” thể hiện văn minh chính trị của dân tộc Việt Nam trước sự tiến hóa chung của nhân loại, đồng thời cũng là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và sức mạnh thời đại. “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân” . Như vậy, mẫu số chung đó không chỉ phản ánh giá trị chung của nhân loại, mà còn là cơ sở cho Việt Nam hội nhập quốc tế, tạo ra lợi thế cho ngoại giao Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Đó cũng chính là cơ sở cho sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và quốc tế trong hoạt động ngoại giao của nước ta.

 Ngoại giao Việt Nam cần xác định một cách rõ ràng mục tiêu vì lợi ích của dân tộc, trên cơ sở thực tiễn của sự vận động địa - chính trị hiện nay, giải quyết đúng đắn mối quan hệ dân tộc - giai cấp là cơ sở khoa học vững chắc cho nhận thức để xây dựng chính sách ngoại giao đúng đắn, nhất quán và lâu dài cho đất nước. Đồng thời, đặt cơ sở lý luận cho ngoại giao có thể uyển chuyển trong xác định và thực hiện sách lược với những phương pháp đa dạng, không bị trói buộc hoặc chi phối bởi những yếu tố chủ quan, cứng nhắc tạo ra trước sự vận động phức tạp và rất nhanh chóng trong quan hệ quốc tế hiện nay và trong tương lai. Hơn nữa, trên thế giới ngày nay, dưới mọi danh nghĩa, các nước lớn, nhỏ đều đề cao lợi ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam trên cơ sở luật pháp quốc tế, thuận theo quy luật tiến hóa và xu hướng phát triển chung vì sự tiến bộ của nhân loại phải là định hướng của ngoại giao nước ta. Khi Việt Nam tuyên bố “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”, thì đó cũng là thông điệp của Việt Nam về sự hợp tác quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Lấy mục tiêu xây dựng đất nước là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và tiến hành chính sách đối ngoại trên cơ sở luật pháp quốc tế để hội nhập và phát triển, đó là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, dân tộc và thời đại. Quan điểm đó vừa là cơ sở để thực hiện phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” trong ngoại giao, vừa là điều kiện để thực hiện chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tạo ra sự cân bằng để giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước.

Thấm nhuần quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới” ; “Tình hình của nước ta có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta” ; đứng trước yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, Việt Nam tiếp tục xây dựng chiến lược ngoại giao toàn diện, phục vụ hiệu quả hơn nữa cho các mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Nguyên tắc cao nhất của hoạt động ngoại giao là: “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” . Hai mục tiêu này thống nhất với nhau; trong đó, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; và xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh là điều kiện cần để đạt được các lợi ích đó. Triển khai đồng bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại và chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhiệm vụ của công tác đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” . Đó là chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới./.

SUY NGHĨ VỀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN!

         Chủ nghĩa Mác-Lênin do C.Mác cùng với Ph.Ăngghen, Lênin sáng lập. Nội dung của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra được xu thế vận động của lịch sử xã hội loài người, tìm ra nguyên nhân của những khổ đau, áp bức, đồng thời phát hiện ra lực lượng, con đường, biện pháp xây dựng xã hội mới. Mục tiêu cao cả là hướng đến xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới, con người được giải phóng toàn diện, không còn áp bức, bóc lột, bất công. Mục tiêu của Chủ nghĩa Mác-Lênin đã thể hiện bản chất của một học thuyết nhân văn vì hướng con người đến một xã hội tốt đẹp. Dù đã ra đời cách đây gần 200 năm nhưng những quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin (MLN) vẫn có sức sống bền vững và giá trị trường tồn. Sức sống của chủ nghĩa MLN được thể hiện ở chỗ đã giải đáp những vấn đề mà tư tưởng tiến tiến của loài người đặt ra, soi sáng các nhiệm vụ lịch sử đã chín muồi của nhân loại. Đó là nhiệm vụ giải phóng con người khỏi mọi hình thức áp bức, bóc lột, khỏi mọi sự tha hóa. Mặc dù ngay từ khi mới ra đời và trong giai đoạn hiện nay, vẫn luôn có nhiều quan điểm phê phán, xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa MLN nhưng cho đến ngày nay, đó vẫn là một học thuyết khoa học và cách mạng duy nhất đáp ứng mọi nhiệm vụ của lịch sử mà không một học thuyết nào có thể thay thế được.
       Ngày nay, sức sống của chủ nghĩa MLN còn tiếp tục được thể hiện ở chỗ dù đời sống thực tiễn của xã hội hiện đại đã vận động, phát triển qua rất nhiều giai đoạn khác nhau với những khúc quanh co, thăng trầm song cũng không vượt ra ngoài những quy luật phổ biến được trình bày trong học thuyết MLN, dù người ta có thừa nhận hay không thừa nhận điều đó.
     Để bảo vệ chủ nghĩa MLN, một mặt chúng ta phải luôn kiên định, vững vàng với những nguyên lý cho tính chất nền tảng của chủ nghĩa MLN, mặt khác cũng phải không ngừng bổ sung, phát triển những quan điểm của học thuyết này cho phù hợp với thực tiễn. Việc bổ sung, phát triển đó không phải là “xét lại” chủ nghĩa MLN; cũng không phải là làm lu mờ chân giá trị của chủ nghĩa Mác mà là làm cho những nội dung, quan điểm của học thuyết MLN được có thêm sức sống mới, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của giai đoạn hiện nay. Đó là một việc làm hết sức khó khăn đòi hỏi những người mácxít phải kiên trì, có bản lĩnh và có trách nhiệm với hệ thống lý luận khoa học và cách mạng được coi là nền tảng tư tưởng của Đảng ta hiện nay./.


Yêu nước ST.

Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh

 


Tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là hòa bình và chống chiến tranh xâm lược, là hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng có chung biên giới với Việt Nam, là xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước lớn, là xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối liên hệ mật thiết với các trào lưu và lực lượng tiến bộ của thế giới, việc tăng cường các mối liên hệ và hợp tác quốc tế là một trong những điều giúp ta kháng chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy vậy, Người cũng chỉ rõ, muốn người ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã; và tự lực cánh sinh là một truyền thống quý báu của cách mạng nước ta. Sức mạnh của Việt Nam là ở sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của đất nước, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế. Đó cũng chính là cơ sở để phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.

Phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế. Người nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” (10). Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân ta giữ được lòng yêu mến, biết ơn các nước bạn anh em, phấn đấu tăng cường đoàn kết quốc tế. Người rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa - “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (11).

 Cùng với những nội dung cơ bản về ngoại giao, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nổi bật ở nghệ thuật, phong cách ngoại giao xuất chúng. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện rõ nét qua việc vận dụng những phương pháp, phong cách ứng xử nhạy bén, sáng tạo, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động đối ngoại. Nghệ thuật đó còn thể hiện trong việc thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ đối phương, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (ngũ tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là con người biết mình muốn gì và đi đến đâu, biết tránh thác ghềnh, biết thắng quân địch..., nắm vững nghệ thuật của điều có thể và không ngừng mở rộng giới hạn của điều có thể (12).

Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”, tức là lấy cái không thể thay đổi (bất biến) để ứng phó với muôn sự thay đổi (vạn biến). Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích của quốc gia, dân tộc, mà độc lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,... là cốt lõi. Cái “vạn biến” là cách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt; kết hợp hài hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và nhu, giữa chủ động và sáng tạo trong những tình huống cụ thể, mà dù trong hoàn cảnh nào, khó khăn đến đâu cũng phải giữ vững nguyên tắc để đạt cho được cái “bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” (13). Để thực hiện được “ứng vạn biến”, điều quan trọng là phải đánh giá đúng tình hình quốc tế và sự tác động đối với nước ta, cả mặt thuận lợi và mặt bất lợi. Đặc biệt, về sách lược, phải xác định được giới hạn của sự nhân nhượng để đề ra chính sách, phương pháp, cách thức tiến hành phù hợp, hiệu quả, bảo đảm giữ vững nguyên tắc chiến lược: độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm thực tiễn trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ Tổ quốc đã chỉ ra rằng, chỉ có thể đạt được thắng lợi trên bàn đàm phán khi giành thắng lợi trên chiến trường. Bởi vậy, về lâu dài, ta phải mạnh lên cả về mặt chính trị và kinh tế, có vị thế quan trọng trên trường quốc tế thì tiếng nói trong ngoại giao mới có trọng lượng.

Là nhà hoạt động cách mạng đấu tranh vì quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc. Người thực hiện chính sách ngoại giao “tâm công” (đánh vào lòng người), phân biệt rất rõ đâu là thù, đâu là bạn để có những ứng xử phù hợp nhằm khơi dậy những tình cảm tốt đẹp của nhân dân thế giới yêu chuộng hòa bình, kêu gọi sự ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ nền độc lập dân tộc. Người từng nói: Đường lối tấn công vào lòng người, chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để nhân lên sức mạnh của chính nghĩa. Với hiểu biết sâu rộng về văn hóa, ngôn ngữ, phong tục, tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có những cử chỉ ngoại giao tinh tế, mẫu mực, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bè bạn quốc tế. Đó là khi Người cởi khăn của mình quàng vào cổ một bạn người Đức bị ho khi thăm Việt Nam. Có khi là hành động nghĩa tình cởi áo khoác cho một tù binh Pháp đang lạnh run giữa thời tiết mùa đông Việt Nam. Khi sang thăm Ấn Độ vào năm 1958, Người đã gửi vòng hoa và một cây đào để kỷ niệm cụ thân sinh ra đương kim Thủ tướng Ấn Độ G. Nê-ru (Người đã gặp ông cụ ở Thủ đô nước Bỉ từ năm 1927 trong Hội nghị quốc tế chống chủ nghĩa thực dân, một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi và đã lâu năm), điều đó đã khiến Thủ tướng Ấn Độ xúc động: “Đó tuy là một việc bình thường nhưng nó chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ tịch”. Nhiều nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bằng những lời thuyết phục có lý, có tình của Người, thông qua báo chí, những thiện chí của nhân dân Việt Nam đã đến được với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, qua đó, họ hiểu và đấu tranh ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tấm lòng chân thành cùng sự mẫn cảm chính trị đề cao chính nghĩa, đạo lý và khả năng xử thế tinh tế trong giao tiếp đối ngoại đã tạo ra sự cảm hóa và trở thành nét đặc trưng của ngoại giao “tâm công” Hồ Chí Minh.

Vai trò của ngoại giao trong lịch sử dân tộc và trong tư tưởng Hồ Chí Minh

 

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc anh hùng, bền bỉ và kiên cường chinh phục thiên nhiên, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược để tồn tại và phát triển. Hiếm có một dân tộc nào như dân tộc Việt Nam, lịch sử dựng nước gắn liền với giữ nước. Từ buổi đầu dựng nước cho đến nay, các thế hệ người Việt Nam nối tiếp nhau thường xuyên phải cầm vũ khí chống trả các thế lực xâm lược, bảo vệ non sông, nòi giống và bản sắc văn hóa dân tộc. Hiếm có một dân tộc nào trên thế giới mà sự nghiệp giữ nước lại thường xuyên gặp phải tình thế cam go như dân tộc Việt Nam: kẻ thù xâm lược luôn mạnh hơn rất nhiều lần. Do có vị trí địa - chính trị, địa - quân sự, địa - kinh tế quan trọng trong khu vực, nên từ khi dựng nước, trải qua hàng nghìn năm lịch sử, Việt Nam luôn bị các thế lực đế quốc thực dân hùng mạnh nhất nhòm ngó, xâm lược. Nhưng cuối cùng, chiến thắng luôn thuộc về Việt Nam, dân tộc Việt Nam vẫn luôn trường tồn và phát triển. Có thể nói, trong lịch sử, Việt Nam là dân tộc luôn có khả năng vượt qua những trở ngại lớn vì có sức sống mạnh mẽ. Đó là một dân tộc anh hùng, không chịu khuất phục trước bất cứ thế lực ngoại xâm nào.

Lịch sử đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc Việt Nam đã khẳng định: Mặc dù kẻ xâm lược thường lớn hơn và mạnh hơn Việt Nam rất nhiều lần, nhưng do đoàn kết được các tầng lớp xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, cho nên dân tộc Việt Nam thường lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh, và cuối cùng đã đánh bại được mọi kẻ thù. Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, bảo vệ độc lập luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của dân tộc Việt Nam. Để bảo vệ được độc lập dân tộc, nhân dân Việt Nam thường phải đấu tranh trên nhiều mặt trận, trong đó mặt trận quân sự có tầm quan trọng hàng đầu. Nhưng để làm cho cuộc đấu tranh quân sự có được nhiều thuận lợi, dân tộc Việt Nam còn đấu tranh tài giỏi trên mặt trận ngoại giao.

Trong quá trình dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã biết đến vai trò quan trọng của ngoại giao như là một công cụ đấu tranh hòa bình với các quốc gia khác nhằm đạt mục đích “quốc phú, binh cường, nội yên, ngoại tĩnh”. Bậc minh quân và hiền tài các triều đại phong kiến đều thể hiện quan điểm: đấu tranh ngoại giao luôn luôn hỗ trợ cho đấu tranh quân sự chống ngoại xâm. Đấu tranh ngoại giao có thể diễn ra sau hoặc đi trước đấu tranh quân sự. Có nhiều trường hợp, đấu tranh ngoại giao đi trước và diễn ra song song với đấu tranh quân sự, nhằm kết thúc đấu tranh quân sự với những điều kiện có lợi cho dân tộc, đất nước.

Lịch sử ngoại giao của Việt Nam được biết đến từ thời đại Hùng Vương. Từ thời kỳ Ngô, Đinh, Lê trở về sau, các hoạt động ngoại giao của ông cha ta ngày càng trở nên tài tình, khôn khéo, lúc cương, lúc nhu, luôn luôn thích hợp với tình hình cụ thể. Thế kỷ XV, những cuộc vận động ngoại giao do Lê Lợi và Nguyễn Trãi tiến hành với quân Minh đã tạo điều kiện cho nghĩa quân Lam Sơn đi từ thắng lợi quân sự này đến thắng lợi quân sự khác. Những thắng lợi này là tiền đề buộc Vương Thông ở Đông Quan phải chấp nhận các điều kiện đầu hàng do nghĩa quân Lê Lợi đề ra.

Trong tất cả các thời kỳ lịch sử, mục tiêu của ngoại giao Việt Nam bao giờ cũng là độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân. Vì mục tiêu đó, nhân dân Việt Nam phải hy sinh cả xương máu để đấu tranh chống ngoại xâm. Nhưng khi chiến tranh nổ ra, cụ thể là khi đã giành được những thắng lợi quyết định trên chiến trường bằng sức mạnh quân sự thì Việt Nam chủ động tiến hành các biện pháp ngoại giao để chấm dứt chiến tranh, kể cả mở cơ hội cho kẻ địch rút quân khỏi nước ta trong danh dự.

Đầu năm 1077, Lý Thường Kiệt đã làm cho quân Tống của Quách Quỳ khổ sở, mỏi mệt ở bờ bắc sông Cầu (Như Nguyệt). Ông biết nếu cứ để chiến tranh tiếp tục thì quân Tống có thể bị tiêu diệt. Nhưng chờ đến ngày đó, quân và dân Việt Nam phải mất nhiều xương máu, đất nước Việt Nam còn bị tàn phá. Lý Thường Kiệt thấy rằng mở một lối thoát cho Quách Quỳ để kéo quân về nước, trả đất Việt Nam cho người Việt Nam, thì có lợi hơn là để cho chiến tranh tiếp tục. Do đó, ông đã cho biện sĩ sang doanh trại Quách Quỳ mở mặt trận đấu tranh ngoại giao. Chấp nhận các điều kiện của Lý Thường Kiệt, Quách Quỳ đã mang tàn quân về nước. Chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại trong những điều kiện có lợi cho Việt Nam.

Trong trường hợp quân thù quá mạnh mà quân và dân chưa sẵn sàng chiến đấu hoặc nếu chiến đấu ngay khó có thể giành thắng lợi thì ông cha ta đã dùng biện pháp ngoại giao nhằm tranh thủ thời gian hòa hoãn để có cơ hội tăng cường và củng cố lực lượng. Khi lực lượng ta đã lớn mạnh, nếu quân thù vẫn cứ cố tình gây chiến tranh để thực hiện âm mưu xâm lược, thì dân tộc Việt Nam quyết đem lực lượng ra đánh trả để tiêu diệt chúng. Những năm 1258, 1285, 1288, vua Trần Thánh Tông, vua Trần Nhân Tông và Trần Quốc Tuấn đã làm như thế,...

Có thể nói, lịch sử ngoại giao của Việt Nam là một kho tàng về kinh nghiệm xử thế vô cùng quý báu cho những người làm công tác ngoại giao cũng như làm công tác quân sự. Trong kho tàng kinh nghiệm này, ông cha ta tỏ ra mưu trí, “biết mình”, “biết người” đến cao độ, biết dồn đối phương đến chỗ phải chấp nhận các điều kiện của mình và trong mọi thời kỳ đã luôn luôn bám sát mục tiêu chủ yếu là: độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và hạnh phúc, ấm no của nhân dân.

Phát huy truyền thống ngoại giao của dân tộc, trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh, tư tưởng về ngoại giao chiếm một vị trí quan trọng. Tư tưởng về ngoại giao của Người được hình thành trên cơ sở kế thừa những giá trị tốt đẹp của truyền thống dân tộc, từ sự tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, thông qua quá trình khảo sát thực tiễn trong nước và thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Ngoại giao là cuộc đấu tranh bằng biện pháp hòa bình để bảo vệ lợi ích dân tộc, là một lĩnh vực hoạt động rất quan trọng của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Người luôn đánh giá cao vai trò của ngoại giao: “... dùng binh giỏi nhất, là đánh bằng mưu. Thứ hai là đánh bằng ngoại giao. Thứ ba mới là đánh bằng binh” (2) và “Ngoại giao ai thuận lợi hơn, thì thắng” (3). Đánh giá cao vai trò của ngoại giao, Nghị quyết của Hội nghị Tân Trào diễn ra trước Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945 đã đặt “Vấn đề ngoại giao” thành mục riêng, ngang với mục “Chủ trương của Đảng” và mục “Nhiệm vụ quân sự”.

Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định: “Sau vấn đề phòng thủ, ngoại giao là một vấn đề cần yếu cho một nước độc lập” (4); từ đó, kiên quyết đấu tranh giữ vững chủ quyền ngoại giao và coi đó là biểu hiện quan trọng của nền độc lập. Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, cụm từ “mặt trận ngoại giao” chính thức ra đời trong Văn kiện của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 13 khóa III năm 1967: Đấu tranh quân sự và chính trị ở miền Nam là nhân tố quyết định sự thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao. Đến tháng 4-1969, Nghị quyết Bộ Chính trị tiếp tục khẳng định: Ngoại giao trở thành một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Việc thay đổi các cụm từ khi nói về ngoại giao, như từ “cuộc đấu tranh ngoại giao”, “vấn đề ngoại giao” thành “mặt trận ngoại giao”, “ngoại giao trở thành mặt trận quan trọng”... đã thể hiện sự đánh giá ngày càng cao của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của công tác ngoại giao trong sự nghiệp cách mạng.

Đứng trên quan điểm toàn diện và quan điểm lịch sử - cụ thể, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá đúng vị trí, vai trò của công tác ngoại giao và mối liên hệ biện chứng giữa ngoại giao với các lĩnh vực khác của cách mạng. Ngoại giao là một trong ba mặt trận đấu tranh cơ bản, các hoạt động ngoại giao, chính trị, quân sự luôn bổ trợ mạnh mẽ cho nhau; thắng lợi về quân sự là điều kiện quan trọng quyết định thắng lợi về ngoại giao, vì người ta chỉ nhận được những gì trên bàn đàm phán tương đương với những gì đạt được trên chiến trường. Nói về tác động của quân sự, chính trị tới đàm phán ngoại giao, Người chỉ rõ: “Những thắng lợi của ta làm cho nhân dân ta và nhân dân thế giới phấn khởi, làm cho địa vị ngoại giao của ta ở Giơ-ne-vơ vững chắc, những thắng lợi của ta buộc địch phải nói chuyện với ta” (5). Trong kháng chiến chống đế quốc Mỹ, Người nói: “Bây giờ nội trong nước ta cứ đánh cho thắng, thì ngoại giao dễ làm ăn” (6). Sự liên kết chặt chẽ giữa các lĩnh vực chính trị, quân sự và ngoại giao dẫn đến yêu cầu phải phối hợp nhịp nhàng các hoạt động đó trong một cuộc đấu tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng, ngoại giao chỉ phát huy vai trò và công dụng trên cơ sở thực lực dân tộc, trên nền tảng sức mạnh tổng hợp của đất nước từ mọi phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự... Người viết: “Nếu tự mình không có thực lực làm cơ sở thì không thể nói gì đến ngoại giao” . Người còn ví dụ: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn” . Có nghĩa là, thắng lợi ngoại giao lớn hay nhỏ, hoạt động ngoại giao thuận lợi hay khó khăn tùy thuộc vào thực lực của dân tộc, đất nước. Thực tế đã chứng minh quan điểm đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh là đúng đắn. Rõ ràng, nếu không có những chiến thắng to lớn của quân và dân ta trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp thì không thể có Hội nghị và Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Đông Dương, năm 1954. Nếu không có thắng lợi của quân và dân hai miền Nam - Bắc, nhất là thắng lợi của trận “Điện Biên Phủ trên không” vào cuối năm 1972, thì không có thắng lợi của Hiệp định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, năm 1973. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: “Ngoại giao ở Hội nghị Giơnevơ thắng lợi là vì Điện Biên Phủ đánh thắng lớn. Bây giờ cũng thế, đánh thắng lợi thì ngoại giao thắng nhiều. Không cứ gì ở ta mà ở nước nào cũng vậy. Cố nhiên ngoại giao là rất quan trọng, nhưng cái vốn chính là mình phải đánh thắng và mình phải có sức mạnh thì ngoại giao sẽ thắng” . Mặt khác, thắng lợi trên mặt trận ngoại giao sẽ tạo tiền đề để tăng cường thực lực cách mạng, tạo “thế” cho đất nước trong quan hệ chính trị quốc tế.

Định hướng xuyên suốt để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đó là kết quả của cả một quá trình, của nhiều nhiệm kỳ. Trong đó, công tác đối ngoại đã đạt nhiều kết quả quan trọng, trở thành một điểm sáng trong toàn bộ thành tựu chung của đất nước. Với tinh thần đó, chúng ta vững bước vào giai đoạn mới với một tâm thế mới, lòng tự hào và niềm tin sâu sắc. Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Đối ngoại Trung ương Lê Hoài Trung khẳng định: Mối quan hệ của đất nước đã được mở rộng và đi vào chiều sâu với nhiều đối tác, trong đó, có tất cả các đối tác quan trọng. Bên cạnh đó, chúng ta đã tham gia và đạt được nhiều kết quả tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng. Chúng ta giữ gìn môi trường hòa bình; không chỉ tranh thủ được các điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội mà còn tạo điều kiện để tham gia vào các hệ thống của khu vực và quốc tế cũng như hệ thống các vấn đề phát triển kinh tế - xã hội. Cùng với đó, chúng ta xử lý được những thách thức, trong đó có cả những thách thức an ninh truyền thống và thách thức an ninh phi truyền thống. Muốn như vậy, chúng ta phải quán triệt đường lối đối ngoại và triển khai đồng bộ cả về song phương và đa phương trong đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Nhân dân. Trong đó, đối ngoại Đảng đóng vai như cơ sở nền tảng về mặt chính trị, tranh thủ sự ủng hộ của các chính đảng, các tổ chức trên thế giới, đóng góp trực tiếp vào các vấn đề; tranh thủ các nguồn lực bên ngoài và tranh thủ sự ủng hộ quốc tế.

Vì vậy, từ rất sớm, Đảng ta đã coi trọng vấn đề liên quan đến công tác đối ngoại Đảng. Và trên thực tế, đối ngoại Đảng đã bắt đầu từ rất sớm, từ trước khi chúng ta giành được độc lập và thành lập ra Nhà nước Việt Nam. Đảng ta đã có nhiều văn bản quan trọng nhằm đề ra định hướng và các biện pháp cụ thể liên quan đến công tác đối ngoại Đảng.

Mới đây nhất, năm 2019, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 32-CT/TW về "Tăng cường và nâng cao hiệu quả quan hệ đối ngoại đảng trong tình hình mới"; do đó, trong thời gian tới, trọng tâm công tác đối ngoại Đảng là thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW. Trong đó, Chỉ thị số 32-CT/TW đã đề ra những định hướng rất quan trọng.

Thứ nhất, quán triệt đường lối và làm tốt công tác tham mưu chiến lược để luôn luôn nắm sát tình hình, đồng thời đưa ra đường lối đối ngoại mới phù hợp. 

Thứ hai, định hướng nhằm mở rộng quan hệ đối ngoại Đảng, trước hết là với các nước láng giềng để tạo nền tảng chính trị và định hướng cho quan hệ các mặt; tạo quan hệ đối ngoại Đảng với các chính đảng khác, các đảng cầm quyền cũng như các đảng tham gia đời sống chính trị ở các nước, để tranh thủ sự ủng hộ về mặt chính trị, tạo thêm sự hỗ trợ về mặt chính trị cho quan hệ nhà nước cũng như đối ngoại nhân dân.

Thứ ba, tranh thủ hơn nữa về hợp tác kinh tế, văn hóa, xã hội trong quan hệ Đảng; giúp cho các kênh khác tranh thủ những vấn đề hợp tác này. Cùng với đó, Chỉ thị số 32-CT/TW cũng nhấn mạnh nhiệm vụ nâng cao chất lượng của đội ngũ làm công tác đối ngoại đảng.

Còn theo Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam, Đại sứ Nguyễn Phương Nga, năm 2021, tình hình thế giới và khu vực cũng như trong nước có thuận lợi, khó khăn đan xen. Đối ngoại nhân dân vì vậy cũng đứng trước những thuận lợi, khó khăn và cả cơ hội mới. Về thuận lợi, trong nước, Đại hội Đảng lần thứ XIII được tổ chức thành công và xác định đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước là tiếp tục đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng; thể hiện Việt Nam là thành viên có trách nhiệm và tích cực của cộng đồng quốc tế. “Đặc biệt, Đại hội nêu rất rõ nhiệm vụ phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong tạo lập môi trường và hòa bình, ổn định, huy động nguồn lực quốc tế, nâng cao vị thế Việt Nam, xây dựng nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại với ba trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân. Đây là những tiền đề rất thuận lợi cho công tác đối ngoại nhân dân. Trên thế giới, xu thế chung là hòa bình, ổn định, hợp tác. Vai trò, tiếng nói của người dân, các tổ chức nhân dân ngày càng được coi trọng và phát huy”, bà Nga nhấn mạnh.

Cũng theo Đại sứ Nguyễn Phương Nga: “Chúng tôi xác định trong vai trò tiên phong của đối ngoại, đối ngoại nhân dân có vị thế rất quan trọng. Đối ngoại nhân dân có một nền tảng tốt, một vốn quý, đó là tình hữu nghị với các nước, bạn bè, đối tác đã được xây đắp trong rất nhiều thập kỷ qua, từ giai đoạn đấu tranh bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất đất nước cũng như trong công cuộc đổi mới. Hiện nay, chúng ta cũng đang cố gắng mở rộng mạng lưới bạn bè, nỗ lực hơn nữa huy động nguồn lực quốc tế phục vụ cho xây dựng, phát triển đất nước”.

Đối ngoại nhân dân có lợi thế rất lớn, đó là sự linh hoạt, mềm dẻo, có thể tiếp cận được nhiều đối tượng. Đối ngoại nhân dân cũng có một bề dày truyền thống, đó là việc huy động được Mặt trận nhân dân thế giới rộng lớn ủng hộ Việt Nam và gây dựng được tình hữu nghị bền chặt với nhân dân nhiều nước trên thế giới. Đó là nét đặc sắc của đối ngoại nhân dân, vừa là kinh nghiệm vừa là vốn quý, phải phát huy được ưu thế này để cùng với đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước tranh thủ được điều kiện thuận lợi, duy trì được môi trường hòa bình, ổn định, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho xây dựng và phát triển đất nước, cố gắng huy động được nguồn lực quốc tế bên ngoài, phục vụ xây dựng phát triển đất nước theo hướng nhanh và bền vững, đạt được mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI trở thành nước phát triển với thu nhập cao; đồng thời, phát huy vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước đó, ngày 19/6/2021, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã làm việc với Bộ Ngoại giao về việc triển khai đường lối đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Thủ tướng Phạm Minh Chính biểu dương ngành Ngoại giao đã phát huy truyền thống đáng tự hào của ngành, triển khai thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, luôn đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và trước hết. Trong môi trường đối ngoại rất phức tạp và khó lường những năm qua, Bộ Ngoại giao đã tham mưu kịp thời, có hiệu quả cho Đảng và Nhà nước về các vấn đề đối ngoại, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bộ Ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với các binh chủng đối ngoại trên 3 trụ cột: đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước và đối ngoại nhân dân; triển khai đồng bộ, toàn diện, sáng tạo nhiều hoạt động ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa - tuyên truyền đối ngoại và công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, bảo hộ công dân.

Thủ tướng nêu rõ môi trường đối ngoại trong những năm tới tiếp tục chuyển biến nhanh, phức tạp, khó lường cả về an ninh, chính trị, kinh tế, tạo ra những thách thức và cơ hội đan xen. Bộ Ngoại giao cần phát huy mạnh mẽ những kết quả đã đạt được, tổ chức triển khai thành công đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại mà Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra, đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia dân tộc.

Trong tình hình mới, Thủ tướng chỉ đạo Bộ Ngoại giao cần thúc đẩy mạnh mẽ vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; huy động các nguồn lực để phát triển, góp phần nâng cao vị thế và uy tín của đất nước. Theo đó, Bộ Ngoại giao cần nỗ lực bám sát tình hình, tham mưu kịp thời cho Đảng và Nhà nước về các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực đối ngoại; tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả ngoại giao song phương, đa phương, ngoại giao kinh tế, ngoại giao văn hóa, thông tin đối ngoại, công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài và bảo hộ công dân.

“Kiên trì, kiên định, cương quyết giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Tích cực, chủ động, linh hoạt có các giải pháp phù hợp, thiết thực, thực chất, hiệu quả để bảo vể đất nước từ xa, từ sớm…”, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh. Đây cũng chính là định hướng xuyên suốt để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA

 

Tháng 6-1968, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân miền Nam đang ở thời điểm đánh mạnh, thắng to. Ngày 25-6, quân và dân miền Bắc vừa lập công bắn rơi chiếc máy bay thứ 3.000 của giặc Mỹ xâm lược leo thang phá hoại miền Bắc xã hội chủ nghĩa bằng không quân.

Ca ngợi và động viên thành tích đó, ngày 27-6-1968, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư khen quân và dân miền Bắc. Đặc biệt, Bác còn căn dặn:
“Phải luôn luôn cảnh giác, đoàn kết chặt chẽ, ra sức chiến đấu mạnh, sản xuất tốt, phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm”.
(Hồ Chí Minh toàn tập, NXB Chính trị quốc gia – Sự thật, 2011)
Thanh niên miền Bắc với phong trào thi đua “Ba sẵn sàng”, sản xuất giỏi, chiến đấu cừ vì độc lập tự do của Tổ quốc, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Ảnh: hochiminh.vn
Bức thư của Bác không chỉ động viên, khen ngợi quân và dân miền Bắc mà còn nhắc nhở quân và dân hai miền Nam - Bắc phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, đoàn kết chặt chẽ, đồng tâm hợp lực, ra sức chiến đấu mạnh mẽ, sản xuất tốt; đồng thời, phải luôn coi trọng việc phát huy ưu điểm, kiên quyết sửa chữa khuyết điểm để cùng nhau thi đua trong lao động sản xuất, trong đấu tranh giải phóng dân tộc.
Hưởng ứng lời dạy của Bác, toàn quân và dân hăng hái chiến đấu lập công đánh giặc, tích cực xây dựng chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống của nhân dân, tạo động lực vật chất, tinh thần cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước giành thắng lợi.
Ngày nay, đất nước hòa bình, thống nhất, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đẩy mạnh thực hiện thắng lợi công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tuy nhiên các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, “phi chính trị hóa” quân đội nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng ta. Do vậy, học tập và làm theo lời dạy của Bác, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải luôn nêu cao cảnh giác cách mạng, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn đen tối của các thế lực thù địch.
Ghi nhớ lời dạy của Bác, từng cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng; tích cực học tập, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; làm chủ vũ khí trang bị; gương mẫu chấp hành pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội; đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

BẢN LĨNH NỀN NGOẠI GIAO VIỆT NAM

 


"Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay". Điều đó đã được thể hiện rất rõ ở các lĩnh vực của đất nước, trong đó có đối ngoại. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Tiếp tục thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của Việt Nam”.

Trong từng bước ngoặt của thời cuộc, ngoại giao Việt Nam luôn kiên định và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để "giải mã" trúng và đúng tình hình quốc tế, khu vực, từ đó đổi mới tư duy và có hành động phù hợp. Đặc biệt, trong 35 năm đổi mới, ngành ngoại giao đã đồng hành cùng dân tộc, phục sự Tổ quốc và phục vụ nhân dân như lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đó là công tác đối ngoại “phải luôn luôn vì lợi ích của dân tộc mà phục vụ”.

Thực tế, trong tiến trình của lịch sử giữ nước và xây dựng đất nước, ngoại giao đã luôn thể hiện tính tiên phong trong giữ vững độc lập nước nhà và bảo vệ thành công chính quyền cách mạng còn non trẻ.

Ngay sau khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (1945), dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, ngoại giao đã giữ vai trò tiên phong trong việc giữ vững độc lập nước nhà và bảo vệ thành công chính quyền cách mạng còn non trẻ. Những sách lược, quyết sách táo bạo, khôn khéo của ngoại giao như “hòa để tiến”, cùng các nguyên tắc “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu”… đã giúp cách mạng Việt Nam vượt qua được những tình huống hiểm nghèo “ngàn cân treo sợi tóc”. Đồng thời ngoại giao đã đi đầu trong việc vận động các nước công nhận nền hòa bình và độc lập của Việt Nam.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, ngoại giao cách mạng Việt Nam đã trở thành “một mặt trận quan trọng, có ý nghĩa chiến lược”, bộ phận cấu thành quan trọng trong đường lối cách mạng, sát cánh cùng mặt trận quân sự để đưa kháng chiến đi đến thắng lợi. Ngoại giao đã đi tiên phong trong việc tạo ra một mặt trận quốc tế, ủng hộ sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Ngoại giao đã giương cao ngọn cờ hòa bình, độc lập dân tộc, kiên trì kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh pháp lý, tranh thủ sự ủng hộ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa anh em, mở rộng quan hệ với các nước dân tộc chủ nghĩa, hình thành mặt trận nhân dân thế giới ủng hộ sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta. Nhờ đó và cùng với thắng lợi trên chiến trường, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã buộc phải ngồi vào bàn đàm phán để chấm dứt chiến tranh. Chiến thắng của ngoại giao trên bàn đàm phán ở Geneva năm 1954 và ở Paris năm 1973 là những dấu mốc quan trọng trên chặng đường giành lại độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.Ngoại giao đi đầu, phát triển và đưa quan hệ hợp tác của Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đi vào chiều sâu.

Trong công cuộc tái thiết và xây dựng đất nước sau khi chiến tranh kết thúc, ngoại giao là lực lượng nòng cốt, tiên phong trong đấu tranh đưa đất nước ta thoát khỏi thế bị cô lập về chính trị, bao vây cấm vận về kinh tế. Đồng thời, ngoại giao đã tích cực tham gia giải quyết các vấn đề tồn tại giữa Việt Nam với các nước láng giềng, nước lớn, tạo ra những đột phá trong quan hệ đối ngoại của nước ta.

Đặc biệt, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, kế thừa nền tảng và kinh nghiệm đối ngoại của thời kỳ trước, ngoại giao đã đi đầu, đóng vai trò tiên phong, mở đường, phát triển và đưa quan hệ hợp tác của Việt Nam với các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đi vào chiều sâu, mở rộng các thị trường, các lĩnh vực hợp tác mới, thu hút các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định, giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước.

Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 189/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc; thiết lập được khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược, toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Ngành ngoại giao đã tham mưu cho Đảng và Chính phủ các biện pháp, bước đi chiến lược để Việt Nam đã trở thành mắt xích quan trọng trong nhiều liên kết kinh tế khu vực và toàn cầu với việc ký nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng, như: Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA)... Đến nay, Việt Nam đã ký 15 FTA khu vực và song phương. Các FTA mà Việt Nam tham gia có độ phủ rộng hầu hết các châu lục với gần 60 nền kinh tế có tổng GDP chiếm gần 90% GDP thế giới, trong đó có 15 nước thành viên G20 và 9/10 đối tác kinh tế - thương mại lớn nhất của Việt Nam thuộc 3 trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới là Bắc Mỹ, Tây Âu và Đông Á.

có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Không chỉ góp phần nòng cốt trong việc tổ chức thành công nhiều trọng trách quốc tế lớn, nhất là chủ nhà của Hội nghị Cấp cao Pháp ngữ (1997), ASEAN (1998, 2010, 2020), ASEM (2005), APEC (2006, 2017), ngoại giao còn chủ động, tích cực đưa ra nhiều ý tưởng, sáng kiến, góp phần vào giải quyết các vấn đề chung của khu vực và thế giới. 

Đặc biệt, ngoại giao đã góp phần quan trọng trong việc tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần thứ 2 tại Hà Nội, qua đó thúc đẩy đối thoại, hòa giải, hòa bình trên bán đảo Triều Tiên, được các đối tác và cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao. Việt Nam đã tham gia và đóng góp tích cực ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, nhất là ASEAN, ASEM, APEC và Liên hợp quốc, G7, G20... được bạn bè, đối tác đánh giá cao.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào các cơ quan quan trọng của Liên hợp quốc, như: Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016, Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO nhiệm kỳ 2013-2017, Hội đồng Kinh tế - Xã hội của Liên hợp quốc (ECOSOC) nhiệm kỳ 2016-2018. Năm 2020, Việt Nam cùng lúc đảm nhận 3 trọng trách: Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, Chủ tịch ASEAN và Chủ tịch AIPA, trong bối cảnh vô cùng khó khăn của đại dịch COVID-19 và những thiệt hại nặng nề do thiên tai bão lũ... song Việt Nam đã hoàn thành tốt cả ba trọng trách, góp phần nâng cao uy tín, vị thế Việt Nam trong khu vực và trên thế giới…

Ngoại giao cùng với quốc phòng, an ninh đã góp phần hiệu quả vào bảo vệ vững chắc chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Trong đó, ngành ngoại giao cùng với các bộ, ngành liên quan nỗ lực đàm phán, xây dựng đường biên giới trên bộ hòa bình, hữu nghị và phát triển với Lào, Campuchia và Trung Quốc. Đồng thời, ngoại giao đã phối hợp chặt chẽ với quốc phòng và công an trong công cuộc "giữ nước từ sớm, từ xa, từ khi nước còn chưa nguy", nhất là đấu tranh bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền của nước ta ở Biển Đông.

Đặc biệt, từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp trên thế giới và trong nước, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống dịch COVID-19 đã sớm dự báo, chỉ đạo toàn diện công tác phòng, chống dịch, trong đó có triển khai chiến lược vaccine. Theo đó, “ngoại giao vaccine” được xác định là một mũi nhọn.

Trong thời gian qua, chiến lược vaccine và ngoại giao vaccine được triển khai rất quyết liệt, bài bản ở các cấp, đặc biệt ở cấp cao. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội và đặc biệt là Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quan tâm, chỉ đạo và tham gia trực tiếp rất quyết liệt, không câu nệ hình thức, ngoại giao song phương hay đa phương, điện đàm hay viết thư cho lãnh đạo các nước, lãnh đạo các tổ chức quốc tế như WHO, các doanh nghiệp sản xuất vaccine…

Để có thể nhanh chóng tiếp cận với nhiều vaccine phòng COVID-19 hơn nữa, Chính phủ đã thành lập Tổ công tác về ngoại giao vaccine do Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn làm Tổ trưởng. Tổ công tác có nhiệm vụ xúc tiến, vận động viện trợ vaccine, thuốc điều trị, vật phẩm y tế phòng, chống COVID-19; chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine, thuốc từ đối tác song phương, đa phương… 

Bên cạnh đó, “ngoại giao văn hóa” cũng được xác định là lực lượng xung kích, mở đường cho không chỉ ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế, mà còn cho sự phát triển sức mạnh hiện thực của đất nước ra ngoài biên giới quốc gia. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay, ngoại giao văn hóa càng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết.

Ngoại giao văn hóa hiện được xác định là một trụ cột, cùng với ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, tạo nên nền ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại. Ngoại giao văn hóa được coi là một lĩnh vực quan trọng trong chính sách đối ngoại, được triển khai sâu rộng ở nhiều cấp độ và địa bàn trong cả nước. Từ mục tiêu góp phần xây dựng lòng tin và củng cố quan hệ của Việt Nam với các nước trên thế giới nhằm nâng cao vị thế quốc gia, đến nay, ngoại giao văn hóa đã đạt được những thành tựu rất đáng tự hào, đóng góp tích cực đối với sự phát triển của đất nước.

Thông qua ngoại giao văn hóa, thông tin, hình ảnh về đất nước, văn hóa, lịch sử, con người, chính sách của Việt Nam được quảng bá, phổ biến và lan tỏa rộng rãi, giúp nhân dân thế giới hiểu biết, thiện cảm, yêu mến, từ đó dẫn tới quyết định lựa chọn Việt Nam là điểm đến để hợp tác, đầu tư, du lịch, sử dụng những sản phẩm, dịch vụ mang thương hiệu Việt Nam… hay cao hơn là ủng hộ các quan điểm, đường lối, chính sách của Việt Nam.

Thủ đoạn đánh lận bản chất vụ Việt Á để chống phá Đảng, Nhà nước

 


Trong khi vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đang được các cơ quan chức năng tích cực mở rộng điều tra để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại triệt để khai thác, lợi dụng vụ án để xuyên tạc, công kích chống phá Đảng, Nhà nước.

Một số trang mạng xã hội của các tổ chức, hội nhóm ngoài nước, hãng thông tấn như Việt Tân, RFA, VOA… lợi dụng vụ việc này tung ra những luận điệu bôi xấu chế độ, xuyên tạc bản chất vụ việc. Nhiều bài viết vu cáo Việt Nam chống tham nhũng bằng cách hô hào khẩu hiệu, hướng lái dư luận, đổ lỗi việc để xảy ra những vụ án như vậy là do chế độ, lỗi do Đảng, Nhà nước.

RFA viết rằng: “Vụ Việt Á, mọi việc trở nên tồi tệ”, rồi rêu rao, hạ thấp vai trò của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, các cơ quan tiến hành tố tụng.

Bên cạnh đó, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị còn phỏng vấn, phát tán các video, hình ảnh, bài viết với nội dung sai trái, cực đoan của những đối tượng gắn mác “chuyên gia”, “học giả”, những cá nhân tự cho mình là những “nhà phản biện” để ra sức bóp méo, đả phá xung quanh vụ việc trên. Tung ra nhiều bài viết cho rằng “Ban Chỉ đạo vào cuộc chỉ để giải quyết hậu quả”; đưa ra luận điệu quy kết vấn nạn tham nhũng “thủng từ gốc”. Từ vụ việc tại Việt Á, các đối tượng xâu chuỗi những vụ án tham nhũng lớn gần đây rồi quy kết, công cuộc chống tham nhũng “chỉ trên khẩu hiệu”, không đạt kết quả đáng kể nào do “chế độ độc đảng”!

Với những thông tin mà các hội, nhóm, cá nhân trên đưa ra cho thấy sự suy diễn, thổi phồng, nhiều bài viết bịa đặt, xuyên tạc tình hình tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Về vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á, qua các chiêu trò của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại được nhào nặn, chế biến thành công cụ, phương tiện rất nguy hại nhằm đánh lận hiện tượng để quy kết bản chất. Các đối tượng nhào nặn vụ án rồi suy diễn thành “lỗi hệ thống”, bóp méo chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta.

Từ vụ việc, mục đích các đối tượng tung ra thông tin sai lệch nhằm vẽ lên một bức tranh xám xịt về thực trạng xã hội Việt Nam dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Từ đó gây hoài nghi trong nhân dân vào các cấp lãnh đạo, hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng và chế độ, tạo hoài nghi về quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Đồng thời, phá hoại sự đoàn kết trong Đảng, chia rẽ cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân và sự đồng thuận trong xã hội.

Chúng ta thấy rằng, tham nhũng là một hiện tượng xã hội, hiện hữu ở tất cả các quốc gia, không phân biệt quốc gia đó theo chế độ chính trị nào, dù cho đó là nước nghèo hay giàu, quốc gia phát triển, đang phát triển hay kém phát triển; không phân biệt do một đảng hay do đa đảng lãnh đạo. Do vậy, không thể lấy vụ án tham nhũng tại Công ty Việt Á cũng như các vụ án tham nhũng, tiêu cực khác để gán ghép, suy diễn là do “độc đảng” như cái cách mà các thế lực thù địch đang tìm cách đổ lỗi, quy trách nhiệm, cố tình quy kết tình trạng tham nhũng, tiêu cực là do chế độ.

Thực tế, quan điểm trong phòng, chống tham nhũng của Đảng ta được thể hiện rất rõ trong các văn kiện của Đảng, trong đó Văn kiện Đại hội XIII khẳng định: “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí với quyết tâm chính trị cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn”. Để phòng, chống, đẩy lùi tham nhũng, suy thoái, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, đi cùng với đó là sửa đổi, bổ sung, từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp gắn với việc điều tra, xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, tiêu cực, tạo sức răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Ngày 20/1/2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo) đã họp phiên thứ 21 dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo. Phát biểu kết luận phiên họp, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, không ngừng, không nghỉ, không vì chống dịch mà chùng xuống, không xử lý. Đối với vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á đã gây bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân đối với công tác phòng, chống dịch và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước.

Để xử lý nghiêm minh những tổ chức, cá nhân sai phạm, cảnh báo, răn đe mạnh mẽ hơn nữa, ngăn ngừa tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân, Thường trực Ban Chỉ đạo thống nhất đưa vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á vào diện được Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo. Theo đó, Ban Chỉ đạo yêu cầu Đảng ủy Công an Trung ương, Ban cán sự đảng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phối hợp chặt chẽ với các cơ quan liên quan, chỉ đạo các cơ quan chức năng tập trung lực lượng, khẩn trương, quyết liệt, mở rộng điều tra làm rõ bản chất của vụ án, xử lý nghiêm các sai phạm theo quy định của pháp luật; không có vùng cấm, không có ngoại lệ, không chịu bất kỳ sự can thiệp trái pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào.

Hiện, các cơ quan chức năng đang khẩn trương điều tra, làm rõ vụ án để xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật; đồng thời rà soát, thu hồi triệt để tài sản cho Nhà nước. Cùng với đó, Ban Chỉ đạo giao Ủy ban Kiểm tra Trung ương tiến hành kiểm tra dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên có liên quan để kịp thời xử lý nghiêm theo quy định của Đảng. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương tập trung lãnh đạo, chỉ đạo khẩn trương kiểm tra, thanh tra, điều tra xử lý nghiêm các hành vi lợi dụng công tác phòng, chống dịch bệnh để tham nhũng, tiêu cực. Giao Ban Nội chính Trung ương - Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo chủ trì phối hợp với các cơ quan chức năng đôn đốc, kiểm tra, tham mưu Thường trực Ban Chỉ đạo để chỉ đạo xử lý kịp thời, nghiêm minh. Trước đó, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Bộ Công an chủ trì, mở rộng vụ án xảy ra tại Công ty cổ phần công nghệ Việt Á, thu hồi tài sản bị chiếm đoạt và thất thoát, sớm đưa các đối tượng ra xét xử.

Như vậy, từ khi vụ việc tại Công ty Việt Á được phát giác đến nay, các cơ quan chức năng đã khẩn trương đẩy nhanh tốc độ, mở rộng điều tra vụ án; ban đầu điều tra các đối tượng của một địa phương, sau đó mở rộng sang các đối tượng của địa phương khác. Điều đó thể hiện những nỗ lực, quyết tâm cao, hành động xuyên suốt, nhất quán. Thực tế trong công cuộc phòng, chống tham nhũng những năm qua theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) đã chứng minh, pháp luật Việt Nam nghiêm minh “không thiên tư, thiên vị”, các cá nhân, tổ chức sai phạm đều được làm rõ để xử lý nghiêm. Thời gian qua, đối với những tổ chức, cá nhân có các hành vi tham nhũng chính sách, lợi dụng tình hình dịch bệnh COVID -19 để trục lợi đều bị xử lý nghiêm minh, không có việc Đảng, Nhà nước “tránh trách nhiệm” như những gì mà các thế lực thù địch rêu rao, vu cáo.

Qua vụ Việt Á cho thấy, chống tham nhũng, tiêu cực phải đi liền với chống lợi ích nhóm, suy thoái về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vụ án cũng chứng minh chủ trương “kiên quyết, không có vùng cấm, không có ngoại lệ” của Đảng, Nhà nước ta được thực thi trên thực tế chứ không phải “khẩu hiệu suông, mị dân” như luận điệu kẻ xấu. Chúng ta đã thấy rõ những tác hại của vấn nạn tham nhũng gây ra, thấy rõ sự vào cuộc đồng bộ, mạnh mẽ, quyết tâm cao trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của cả hệ thống chính trị.

Đồng thời, với tính chất phức tạp, khó khăn của cuộc đấu tranh chống “đạn bọc đường” và âm mưu của kẻ địch lợi dụng cuộc đấu  tranh đó để chống phá Đảng, Nhà nước, đòi hỏi mỗi người phải luôn nâng cao cảnh giác, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn, xuyên tạc phá hoại công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, không để bị lôi kéo, kích động, biến thành những con rối.

 

Vạch trần Thủ đoạn tinh vi của "thuyết âm mưu"

 


Thực hiện phương châm: "Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" (Joseph Goebbels - Bộ trưởng tuyên truyền của phát xít Đức), thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên bịa đặt, dựng chuyện, chống phá thông qua các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm.

Luận điểm này được xem là phương pháp luận của nhiều phần tử chống đối và các cơ quan truyền thông thù địch, họ nổi tiếng với biệt tài “nói dối”. Chung quy là chuyện có nói không! Đổi không thành có...! Thử lướt qua vài trang web của RFA, Thoibao.de, Chân trời mới, Việt Tân, các tài khoản Facebook cá nhân, các blogger nổi tiếng của các thành phần chống đối nhan nhản các bài viết thuộc diện “xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện”. Nào là “Muốn hốt vàng và kim cương của bà Nguyễn Phương Hằng, chính quyền toan tính gì?”, “Biến lớn ở Bộ Ngoại giao: 2 ông họ Tô bộ Công an tóm ông họ Tô ở Bộ Ngoại giao!”,...

Đây được coi là “sản phẩm trí tưởng tượng nhằm giải thích về những chuyện đã và đang diễn ra. Dù không có bằng chứng xác thực để chứng minh nhưng những nghi ngờ vẫn luôn bao phủ”. Đáp ứng nhu cầu tò mò, phức tạp hóa vấn đề của dư luận, “thuyết âm mưu” thường đưa ra một nhận định, một giả thuyết suy đoán chủ quan, không có bằng chứng xác thực, tin cậy. Có một điểm chung đáng chú ý, những sản phẩm này thường tập trung vào hiện tượng, sự kiện, vấn đề giật gân, gợi sự tò mò, đã hoặc đang thu hút sự quan tâm của dư luận, hướng người đọc vào kết luận đó là kết quả của âm mưu.

Do khả năng lan truyền, ảnh hưởng, tác động tiêu cực của nhiều sản phẩm từ "thuyết âm mưu" đến tâm lý tiếp nhận của người đọc mà nhiều năm nay, các thế lực xấu, thù địch ngày càng tỏ ra hết sức thâm độc trong việc sử dụng "thuyết âm mưu" làm công cụ xuyên tạc, vu cáo, vu khống, dựng chuyện,... để từng bước gây mơ hồ, hoang mang, làm xói mòn niềm tin vào Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Để gia cố sự thuyết phục, khi trình bày, những kẻ này cố tỏ ra rất am hiểu, nắm chắc vấn đề, trích dẫn Đông - Tây tạo vẻ uyên bác bằng loại thông tin không thể kiểm chứng như “một nguồn tin cao cấp cho biết”, “một lãnh đạo giấu tên khẳng định”, “một tài liệu mật phổ biến trong nội bộ viết”,... Sau khi công bố, những sản phẩm này thường lập tức được khai thác, đăng tải tại rất nhiều địa chỉ trên mạng, từ trang tiếng Việt của RFA, BBC, VOA, RFI,... đến blog, Facebook của một số cá nhân, tổ chức xấu, thù địch. Đặc biệt, trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta triển khai mạnh mẽ đấu tranh chống tham nhũng chính là cơ hội để "thuyết âm mưu" có "đất diễn”. Các bài viết của các thế lực thù địch liên quan đến “đấu đá, thanh trừng, thậm chí thủ tiêu” trong nội bộ và cái gọi là “đàn áp tôn giáo”, “bắt bớ, tra tấn các nhà hoạt động dân chủ” đều là sản phẩm của “thuyết âm mưu”.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu, độc, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân. Âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù là vô cùng thâm độc, diễn biến tình hình hết sức nguy hiểm nhưng với quyết tâm cao, kế thừa, phát huy trí tuệ, bản lĩnh của thế hệ đi trước, chúng ta nhất định giành thắng lợi trong trận chiến quan trọng này./.

Chủ động nhận diện, đề cao cảnh giác trước những thông tin lập lờ giữa đúng và sai

 


Thực hiện phương châm: "Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" (Joseph Goebbels - Bộ trưởng tuyên truyền của phát xít Đức), thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên bịa đặt, dựng chuyện, chống phá thông qua các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm.

Luận điểm này được xem là phương pháp luận của nhiều phần tử chống đối và các cơ quan truyền thông thù địch, họ nổi tiếng với biệt tài “nói dối”. Chung quy là chuyện có nói không! Đổi không thành có...! Thử lướt qua vài trang web của RFA, Thoibao.de, Chân trời mới, Việt Tân, các tài khoản Facebook cá nhân, các blogger nổi tiếng của các thành phần chống đối nhan nhản các bài viết thuộc diện “xuyên tạc, bịa đặt, dựng chuyện”. Nào là “Muốn hốt vàng và kim cương của bà Nguyễn Phương Hằng, chính quyền toan tính gì?”, “Biến lớn ở Bộ Ngoại giao: 2 ông họ Tô bộ Công an tóm ông họ Tô ở Bộ Ngoại giao!”,...

Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Tuy thủ đoạn không mới nhưng so với trước đây, nhờ sự hỗ trợ của các phương tiện thông tin đại chúng và Internet có tốc độ lan truyền cao nên hiện tại thủ đoạn này được triển khai mạnh mẽ.

Việc quản lý thông tin còn lỏng lẻo, thiếu giải pháp đủ mạnh để đấu tranh có hiệu quả với các thông tin sai lệch, phản bác lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội và bất mãn chính trị là một trong những lý do để sản phẩm từ "thuyết âm mưu" do các thế lực xấu, thù địch truyền bá có cơ hội lan truyền.

Để góp phần đấu tranh, làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, cùng với việc chủ động tăng cường thông tin tích cực, đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả các thông tin xấu, độc, cần tiếp tục làm tốt công tác thông tin, giáo dục, tuyên truyền, nâng cao cảnh giác và nhận thức cho mọi cán bộ, đảng viên cùng các tầng lớp nhân dân. Âm mưu và thủ đoạn của kẻ thù là vô cùng thâm độc, diễn biến tình hình hết sức nguy hiểm nhưng với quyết tâm cao, kế thừa, phát huy trí tuệ, bản lĩnh của thế hệ đi trước, chúng ta nhất định giành thắng lợi trong trận chiến quan trọng này./.

Vạch trần Bộ mặt “Rắn độc giả lươn”

 

Không khó để tìm các bài viết, video clip mang nội dung kêu gọi hãy “cứu dân”, bảo vệ “dân oan”, “thương cho người Việt phải chịu đựng cái đảng cầm quyền bất lực, tham lam, tàn ác đến bao giờ”,… mà các thế lực thù địch đăng tải trên các trang mạng xã hội. Thoạt nghe, người ta dễ lầm tưởng họ đang “thương cho dân, lo cho nước”, song thực chất là họ cố tình che đậy bản chất phản động đằng sau những luận điệu xuyên tạc, lừa bịp, mị dân; làm mất niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước.

Được “ngụy trang” dưới danh nghĩa các hội, đoàn, tổ chức xã hội dân sự, như: “nhóm tuổi trẻ yêu nước”, “hội dân oan”, “hội cựu tù nhân lương tâm”, “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”, “liên đoàn lao động Việt tự do”,… các đối tượng chống phá tổ chức nhiều diễn đàn như: “tiếng nói người dân”, “người dân lên tiếng”, “diễn đàn dân chủ”,… để rêu rao cho cái gọi là “đại diện cho người dân”, đưa ra những yêu sách về tự do dân chủ, tự do ngôn luận,…; thậm chí viết “thư ngỏ”, tham gia “hiến kế” cho Đảng, Nhà nước ta với những nội dung ngông cuồng, phi thực tế. Bỉ ổi hơn, với thủ đoạn “bí mật giật dây”, “sau bức màn che”, chúng mua chuộc, lừa gạt, ép buộc người dân nhẹ dạ tham gia làm bình phong, lá chắn cho những cuộc biểu tình, đập phá, để rồi khi vi phạm pháp luật tất cả hậu quả người dân đều gánh chịu, còn những kẻ tự xưng “đại diện cho người dân” thì ung dung ở trời Tây nhận thưởng với thành tích lừa dân của chúng.

Đóng vai “một người lạ”, những kẻ cơ hội chính trị, có tư tưởng bất mãn cũng lân la tận các ngõ xóm, tìm đến những người có hoàn cảnh khó khăn; chúng giả nhân, giả nghĩa, vờ đồng cảm với người nghèo, lao động thất nghiệp, tự cho mình “đại diện” để nói lên tiếng nói cho họ, dựng lên bức tranh bi thảm về một xã hội bất công rồi kích động người dân đấu tranh với chính quyền để đòi công bằng.

Song, dù có “khoác tấm áo người dân” với bất kỳ cái tên gì thì bản chất giả nhân, giả nghĩa của các thế lực chống đối đã dần bị bộc lộ. Mọi ngôn từ mĩ miều “thương cho dân”, đồng cảm với “nỗi khổ” của người dân cuối cùng đều dẫn đến mục đích chính trị của chúng là chống phá Đảng, Nhà nước. Bản chất xấu xa của những kẻ “đại diện cho người dân” đã bộc lộ hoàn toàn khi đưa ra những lời hô hào, xúi giục, kích động nhân dân “đoàn kết”, đấu tranh đòi “cái bánh vẽ” tự do, dân chủ, nhân quyền,... để phá hoại sự bình yên của cuộc sống, chống phá công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta.

Thực tế đã chứng minh, bản chất côn đồ, coi thường pháp luật của “tổ đồng thuận” không thể đại diện cho đa số người dân xã Đồng Tâm chất phác, lương thiện; hay sự trơ trẽn của “nhóm dân oan” do Cấn Thị Thêu cầm đầu không thể đánh đồng với những người dân đang kiến nghị theo đúng trình tự pháp luật. Những chứng cứ không thể chối cãi cùng những lời thú tội của những kẻ “đại diện cho người dân” này trước tòa cho thấy rõ chân tướng xấu xa của chúng. Và những kẻ ảo tưởng ngông cuồng về quyền lực, sống lưu vong, tị nạn chính trị theo đuôi các tổ chức phản động ở nước ngoài không có đủ tư cách để đại diện cho quyền lợi của người dân Việt Nam trong nước và người Việt yêu nước ở nước ngoài. Và, rắn độc vẫn mãi là rắn độc, các thủ đoạn, chiêu trò của họ nhằm gài bẫy người dân sẽ ngày càng tinh vi, xảo quyệt hơn. Do vậy, mỗi người dân cần đề cao cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, tránh trở thành người tiếp tay cho tội phạm, là “con rối” bị các đối tượng chống đối lợi dụng, đưa vào vòng lao lý.

Âm mưu Ngụy tạo hình tượng “người dân thống khổ” để đổ lỗi cho chính quyền"

 

Nói lên tiếng nói của người dân là cách hiệu quả nhất để thuyết phục người nghe. Chính vì thế, các thế lực thù địch đã triệt để lợi dụng cái gọi là “nhân danh nhân dân”, “đại diện cho người dân” để xuyên tạc, kích động, lôi kéo người dân thực hiện các mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước ta. Đây là chiêu trò khá tinh vi, bài bản, đòi hỏi chúng ta phải cảnh giác để nhận diện và kiên quyết đấu tranh. Mưu đồ đặt người dân trong mối quan hệ đối lập với chính quyền

Đây cũng là một chiêu trò khá quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm tung tin giả để dẫn dắt dư luận theo mưu đồ của chúng. Theo đó, hình tượng người dân trong con mắt của các thế lực thù địch rất đa dạng, nhưng chung quy lại đều có hoàn cảnh thống khổ theo nhiều góc độ khác nhau. Trước hết, họ bám vào các đối tượng vi phạm pháp luật1, đã bị xử lý nghiêm minh, đúng người, đúng tội với các tội danh như: “Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân”, “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”,... để “phù phép” thành những “người tử tế”, “người hùng”, những “tù nhân lương tâm”,… rồi kêu gọi, lập “hội nhóm”, ra sức kêu oan cho các đối tượng này.

Một chiêu thức khác là họ lợi dụng một số người dân có khiếu kiện với chính quyền để tạo ra “dân oan”. Không cần biết việc khiếu kiện đúng hay sai, một mặt, các thế lực thù địch tiếp cận, kích động để người dân thấy oan ức, tiếp tục các hoạt động khiếu kiện đông người, gây mất an ninh, trật tự xã hội,… mặt khác, họ sử dụng các phương tiện truyền thông để xuyên tạc, quy chụp chính quyền không vì lợi ích của người dân. Chúng còn hậu thuẫn cho các đối tượng chống đối trong các tôn giáo tạo cớ kêu gọi đòi đất đai trái pháp luật, gây chia rẽ tôn giáo với chính quyền, kích động một bộ phận nhân dân có đạo gây rối, làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Gần đây, xuất hiện một số trí thức, học sinh, sinh viên có nhận thức chính trị hạn chế, bị các thế lực thù địch lôi kéo, dụ dỗ tham gia bình luận, viết bài, quay video clip cổ súy quan điểm “dân chủ tư sản”, nói xấu chế độ, vu cáo, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước rồi tán phát trên blog, mạng xã hội và được các đài, báo phản động nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng bất bình với chế độ ở trong nước.

Lợi dụng những khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các thế lực thù địch cũng không từ một thủ đoạn nào để khắc họa một bức tranh xám xịt, một tương lai không lối thoát cho đồng bào nơi đây. Cùng với đó, mảnh đất màu mỡ là “nhân quyền”, “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí” luôn được các thế lực thù địch cày xới để trồng những “mầm non” ảo tưởng về sự áp bức, bất công của chế độ ta.

Họ cũng rất “chịu khó” đi từng ngõ ngách của xã hội, lân la, dò hỏi, góp nhặt thông tin, hình ảnh một số người dân có những tranh chấp dân sự chưa được giải quyết thấu đáo, có hoàn cảnh khó khăn,… để xây dựng nên hình mẫu một người “dân oan” với những ngôn từ khổ sở, thê thảm, rồi kích động, xúi giục mọi người đấu tranh đòi quyền lợi cá nhân. Khi người dân sập bẫy thì những bài viết, video clip xuyên tạc, bóp méo sự thật được xuất hiện và nhanh chóng chia sẻ trên một số trang mạng của các tổ chức, cá nhân phản động, thiếu thiện chí. Trong đợt bùng phát dịch Covid-19 lần thứ tư, khi cả hệ thống chính trị và toàn dân đang căng mình, nỗ lực để vừa chống dịch hiệu quả, vừa chăm lo tốt an sinh xã hội cho người dân thì các thế lực thù địch lợi dụng thời điểm khó khăn của đất nước, “đục nước béo cò” ra sức tung ra nhiều chiêu trò xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận thành tựu chống dịch của đất nước. Thời điểm này, những luận điệu vu khống, sai sự thật, như: “người dân đấu tranh đòi quyền sống giữa đại dịch”, “hàng nghìn người tham gia biểu tình, tuần hành phản đối chính quyền, kéo lên phường cướp kho gạo vì bị bỏ đói hơn tuần nay”,… được chia sẻ rộng rãi trên một số trang mạng, xúi giục, kích động người dân phá rào cách ly, tấn công lực lượng chức năng. “Tát nước theo mưa”, các tổ chức phản động ở hải ngoại cũng ra sức hùa theo với luận điệu kích động, như: “dân đã bắt đầu biết xuống đường đấu tranh bất bạo động”, “Ai chưa nhận được hỗ trợ hãy làm như họ, xuống đường ngay và luôn”, v.v.

Hoàn thành xong công đoạn tô vẽ hình tượng người dân khổ sở, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách vu khống, bóp méo sự thật, ra sức đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước, cho rằng “họ là nạn nhân” của sự “độc tài, độc quyền”, tham nhũng,… của chế độ ta. Như lẽ tất yếu, cái đích mà chúng luôn ngắm tới của những nỗ lực công kích ấy là chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,… tiến tới đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội. Vì vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, nhận diện rõ âm mưu, thủ đoạn của chúng để đấu tranh hiệu quả.

NGHỆ THUẬT QUÂN SỰ VIỆT NAM HỘI NHẬP TÌNH HÌNH MỚI!

         Trong giai đoạn cách mạng mới, trước sự phát triển của khoa học công nghệ, song nghệ thuật quân sự ngày nay không thể thoát ly nền nghệ thuật quân sự truyền thống với những quy luật đã được vận động trong chiến tranh và đã được kiểm chứng trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, song phải phát triển vượt bậc về trình độ khoa học kỹ thuật quân sự, nghệ thuật tác chiến trong điều kiện chiến tranh kiểu mới, chống lại vũ khí công nghệ cao.     
     Nghệ thuật quân sự phải hàm chứa một nhiệm vụ quan trọng là tham gia đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị để phát triển đất nước.     
     Cùng với đó, chúng ta phải luôn cảnh giác đập tan các luận điệu xuyên tạc, phản động của các thế lực thù địch phủ nhận vai trò chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng, mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc ta./.




Môi trường ST.