Tư tưởng ngoại
giao Hồ Chí Minh là kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, là hòa bình
và chống chiến tranh xâm lược, là hữu nghị và hợp tác với các nước láng giềng
có chung biên giới với Việt Nam, là xây dựng quan hệ hữu hảo với các nước lớn,
là xác định ngoại giao phải là một mặt trận, một binh chủng hợp thành của cách
mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn xác định cách mạng Việt Nam có mối
liên hệ mật thiết với các trào lưu và lực lượng tiến bộ của thế giới, việc tăng
cường các mối liên hệ và hợp tác quốc tế là một trong những điều giúp ta kháng
chiến thắng lợi, kiến quốc thành công. Tuy vậy, Người cũng chỉ rõ, muốn người
ta giúp cho, thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã; và tự lực cánh sinh
là một truyền thống quý báu của cách mạng nước ta. Sức mạnh của Việt Nam là ở
sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân tộc, là ở việc phát huy mọi nguồn lực của
đất nước, đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ và hợp tác quốc tế. Đó cũng chính là
cơ sở để phát huy sức mạnh dân tộc gắn với sức mạnh thời đại.
Phát huy bản sắc
văn hóa dân tộc, tính chất thời đại và cuộc đấu tranh của nhân dân ta, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đề cao chính nghĩa, đạo lý và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế.
Người nêu rõ: “Nhân dân ta từ lâu đã sống với nhau có tình có nghĩa như thế. Từ
khi có Đảng ta lãnh đạo và giáo dục, tình nghĩa ấy càng cao đẹp hơn, trở thành
tình nghĩa đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà” (10). Chủ
tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở phải làm sao cho trong Đảng và trong nhân dân
ta giữ được lòng yêu mến, biết ơn các nước bạn anh em, phấn đấu tăng cường đoàn
kết quốc tế. Người rất chú trọng tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác với các
nước láng giềng, xử lý đúng đắn quan hệ với các nước lớn, phấn đấu mở rộng quan
hệ quốc tế của Việt Nam theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa - “Làm bạn với
tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai” (11).
Cùng với
những nội dung cơ bản về ngoại giao, ở Chủ tịch Hồ Chí Minh còn nổi bật ở nghệ
thuật, phong cách ngoại giao xuất chúng. Nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh thể
hiện rõ nét qua việc vận dụng những phương pháp, phong cách ứng xử nhạy bén,
sáng tạo, mang lại hiệu quả cao trong hoạt động đối ngoại. Nghệ thuật đó còn
thể hiện trong việc thực hiện nhân nhượng có nguyên tắc, lợi dụng mâu thuẫn
trong hàng ngũ đối phương, am hiểu và vận dụng nhuần nhuyễn “năm cái biết” (ngũ
tri) của triết lý phương Đông: biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng,
biết biến. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nhận xét rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là
con người biết mình muốn gì và đi đến đâu, biết tránh thác ghềnh, biết thắng
quân địch..., nắm vững nghệ thuật của điều có thể và không ngừng mở rộng giới
hạn của điều có thể (12).
Chủ tịch Hồ Chí
Minh còn là người vận dụng nhuần nhuyễn phương châm “dĩ bất biến ứng vạn biến”,
tức là lấy cái không thể thay đổi (bất biến) để ứng phó với muôn sự thay đổi
(vạn biến). Theo đó, cái “bất biến” là lợi ích của quốc gia, dân tộc, mà độc
lập dân tộc, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc,... là cốt
lõi. Cái “vạn biến” là cách ứng phó tài tình, khéo léo, linh hoạt; kết hợp hài
hòa giữa mềm dẻo và kiên quyết, giữa chiến lược và sách lược, giữa cương và
nhu, giữa chủ động và sáng tạo trong những tình huống cụ thể, mà dù trong hoàn
cảnh nào, khó khăn đến đâu cũng phải giữ vững nguyên tắc để đạt cho được cái
“bất biến”. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc,
nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” (13). Để thực hiện được “ứng vạn biến”,
điều quan trọng là phải đánh giá đúng tình hình quốc tế và sự tác động đối với
nước ta, cả mặt thuận lợi và mặt bất lợi. Đặc biệt, về sách lược, phải xác định
được giới hạn của sự nhân nhượng để đề ra chính sách, phương pháp, cách thức
tiến hành phù hợp, hiệu quả, bảo đảm giữ vững nguyên tắc chiến lược: độc lập
dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Kinh nghiệm thực tiễn trong các cuộc
kháng chiến chống thực dân, đế quốc, bảo vệ Tổ quốc đã chỉ ra rằng, chỉ có thể
đạt được thắng lợi trên bàn đàm phán khi giành thắng lợi trên chiến trường. Bởi
vậy, về lâu dài, ta phải mạnh lên cả về mặt chính trị và kinh tế, có vị thế
quan trọng trên trường quốc tế thì tiếng nói trong ngoại giao mới có trọng
lượng.
Là nhà hoạt động
cách mạng đấu tranh vì quyền lợi của các tầng lớp nhân dân, ứng xử của Chủ tịch
Hồ Chí Minh thấm đẫm tính nhân văn sâu sắc. Người thực hiện chính sách ngoại
giao “tâm công” (đánh vào lòng người), phân biệt rất rõ đâu là thù, đâu là bạn
để có những ứng xử phù hợp nhằm khơi dậy những tình cảm tốt đẹp của nhân dân
thế giới yêu chuộng hòa bình, kêu gọi sự ủng hộ Việt Nam trong cuộc đấu tranh
bảo vệ nền độc lập dân tộc. Người từng nói: Đường lối tấn công vào lòng người,
chinh phục bằng đạo lý, chuyển hóa bằng nhân tình, thuyết phục lòng người để
nhân lên sức mạnh của chính nghĩa. Với hiểu biết sâu rộng về văn hóa, ngôn ngữ,
phong tục, tập quán của nhiều dân tộc trên thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có
những cử chỉ ngoại giao tinh tế, mẫu mực, để lại dấu ấn tốt đẹp trong lòng bè
bạn quốc tế. Đó là khi Người cởi khăn của mình quàng vào cổ một bạn người Đức
bị ho khi thăm Việt Nam. Có khi là hành động nghĩa tình cởi áo khoác cho một tù
binh Pháp đang lạnh run giữa thời tiết mùa đông Việt Nam. Khi sang thăm Ấn Độ
vào năm 1958, Người đã gửi vòng hoa và một cây đào để kỷ niệm cụ thân sinh ra
đương kim Thủ tướng Ấn Độ G. Nê-ru (Người đã gặp ông cụ ở Thủ đô nước Bỉ từ năm
1927 trong Hội nghị quốc tế chống chủ nghĩa thực dân, một cuộc gặp gỡ ngắn ngủi
và đã lâu năm), điều đó đã khiến Thủ tướng Ấn Độ xúc động: “Đó tuy là một việc
bình thường nhưng nó chứng tỏ một cách rõ rệt phẩm chất vĩ đại của Hồ Chủ
tịch”. Nhiều nhà báo quốc tế khi đến Việt Nam đều mong muốn được gặp Chủ tịch
Hồ Chí Minh. Bằng những lời thuyết phục có lý, có tình của Người, thông qua báo
chí, những thiện chí của nhân dân Việt Nam đã đến được với nhân dân yêu chuộng
hòa bình trên thế giới, qua đó, họ hiểu và đấu tranh ủng hộ cuộc kháng chiến
chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Tấm lòng chân thành cùng sự mẫn cảm chính
trị đề cao chính nghĩa, đạo lý và khả năng xử thế tinh tế trong giao tiếp đối
ngoại đã tạo ra sự cảm hóa và trở thành nét đặc trưng của ngoại giao “tâm công”
Hồ Chí Minh.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét