Đổi mới đường lối
đối ngoại của Đảng được đánh dấu từ Nghị quyết Đại hội VI của Đảng (năm 1986)
và Nghị quyết số 13-NQ/TW, ngày 20-5-1988, của Bộ Chính trị khóa VI, “Về nhiệm
vụ và chính sách đối ngoại trong tình hình mới”. Kể từ đó, quá trình đổi mới tư
duy và thực hành ngoại giao diễn ra liên tục và từng bước dần hoàn thiện. Trên
nền tảng tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, Đảng ta đã đánh giá tình hình thế
giới một cách khách quan, khoa học, từ đó xây dựng chính sách đối ngoại ngày
càng có hiệu quả. Đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và
phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; “chủ động và tích cực
hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong
cộng đồng quốc tế” (14) được hình thành và phát triển từ trong lý luận và thực
tiễn sinh động của công cuộc đổi mới. Đó là nền ngoại giao sử dụng sức mạnh
tổng hợp, phối hợp hiệu quả hoạt động của mọi lực lượng đối ngoại, được triển
khai trên nhiều lĩnh vực và hướng đến nhiều đối tượng, tạo tiền đề và động lực
mạnh mẽ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hội nhập và
phát triển.
Hiện nay, tình
hình thế giới và khu vực đang diễn biến phức tạp, khó lường; các nước lớn có sự
điều chỉnh về chiến lược, vừa hợp tác, thỏa hiệp, vừa cạnh tranh, đấu tranh,
kiềm chế lẫn nhau. Việc nghiên cứu, quán triệt, vận dụng tư tưởng ngoại giao Hồ
Chí Minh nhằm nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, góp phần giữ vững môi trường
hòa bình, ổn định, để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước có ý nghĩa hết
sức quan trọng.
Sự vận động
của quan hệ quốc tế trong tiến trình tác động của toàn cầu hóa làm thay đổi
tương quan lực lượng, dẫn đến những đổi thay về địa - chính trị trên thế giới.
Lôi cuốn vào sự thay đổi có tính toàn cầu đó với sự đấu tranh giữa các nước lớn
hiện nay là sự tập hợp của các liên minh, lợi ích đã buộc các nước phải lựa
chọn chiến lược cho phù hợp với những biến đổi, thế giới đang đối mặt với nguy
cơ của một cuộc chiến tranh lạnh mới trong tương lai, theo đó, tính chất của
cuộc chiến tranh này phụ thuộc vào thực lực của cuộc đấu cân sức giữa các nước
lớn. Bởi vậy, Việt Nam phải có sự lựa chọn và xây dựng đường lối ngoại giao phù
hợp, để bảo vệ lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc trong sự vận động của
tình hình quốc tế.
Trong bối cảnh
hiện nay, vận dụng tư tưởng ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự lựa chọn
chiến lược hàng đầu của Việt Nam là: Không ngừng tăng cường nội lực về kinh tế,
quốc phòng; xây dựng sự đoàn kết và đồng thuận trong và ngoài nước; chủ động
ứng phó các diễn biến địa - chính trị quốc tế để nâng cao vị thế chiến lược của
Việt Nam; bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và
các lợi ích chiến lược của đất nước; chăm lo bảo vệ các quyền tự do, hạnh phúc
của nhân dân.
Thực hiện chính
sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, đến nay, Việt Nam đã có quan
hệ ngoại giao với 189 quốc gia trên thế giới, thiết lập quan hệ đối tác chiến
lược, toàn diện với 30 nước (15); có quan hệ kinh tế thương mại với hơn 230
quốc gia và vùng lãnh thổ (16). Trong khi vẫn duy trì chính sách quốc phòng
mang tính chất hòa bình, tự vệ; không tham gia liên minh quân sự; không liên
kết với nước này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự
hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực
hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế; Việt Nam tiếp tục thắt chặt
quan hệ chiến lược an ninh với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực một
cách linh hoạt, hiệu quả để nâng cao vị thế chiến lược của mình. Đó chính là sự
vận dụng đúng đắn quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh để tăng cường
thế và lực cho cuộc đấu tranh ngoại giao bảo vệ chủ quyền và các lợi ích chiến
lược của đất nước. Tư tưởng đó bao gồm cả việc liên kết và ràng buộc, cộng đồng
lợi ích với những quốc gia ủng hộ lợi ích dân tộc chính đáng của Việt Nam. Bởi
vậy, Việt Nam tiếp tục duy trì chính sách ngoại giao đa phương, đa dạng, nhằm
hạn chế tối đa các tác động tiêu cực do cạnh tranh giữa các nước lớn. Để làm
được điều này, với chính sách ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ
quốc tế, Việt Nam phải chủ động tham gia và góp phần định hình các diễn biến
địa - chính trị khu vực, để không bị động, trở thành kẻ ngoài lề và là nạn nhân
bị đem ra mặc cả trong ván cờ giữa các nước lớn.
Hoàn thiện và thực
thi đường lối ngoại giao đề cao hòa bình, độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc của
nhân dân. Hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc là mục tiêu, đồng thời chính là
mẫu số chung để đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc; là cơ sở thống nhất tư tưởng, xây dựng niềm tin của toàn dân, tạo ra một
hiệu ứng tích cực, phát huy lòng tự tôn dân tộc, làm gia tăng tối đa sức mạnh
dân tộc để vượt qua mọi khó khăn khi phải đối diện trước bất kỳ thử thách cam
go nào trong xây dựng, bảo vệ đất nước và chấn hưng dân tộc. Khẳng định Nhà
nước Việt Nam phấn đấu vì quyền của dân tộc và quyền con người - những giá trị
mà toàn thể loài người đã, đang và sẽ tiếp tục đấu tranh để hoàn thiện, bởi
vậy, “hòa bình - độc lập - tự do - hạnh phúc” thể hiện văn minh chính trị của
dân tộc Việt Nam trước sự tiến hóa chung của nhân loại, đồng thời cũng là kết
hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế và sức mạnh thời đại. “Chủ động và
tích cực hội nhập quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách
nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở vừa hợp tác, vừa đấu tranh, hoạt động
đối ngoại nhằm phục vụ mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh
thủ các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân dân” . Như vậy, mẫu số chung đó không chỉ phản ánh giá trị chung của nhân loại,
mà còn là cơ sở cho Việt Nam hội nhập quốc tế, tạo ra lợi thế cho ngoại giao
Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hóa. Đó cũng chính là cơ sở cho sự kết hợp
sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại và quốc tế trong hoạt động ngoại giao
của nước ta.
Ngoại giao
Việt Nam cần xác định một cách rõ ràng mục tiêu vì lợi ích của dân tộc, trên cơ
sở thực tiễn của sự vận động địa - chính trị hiện nay, giải quyết đúng đắn mối
quan hệ dân tộc - giai cấp là cơ sở khoa học vững chắc cho nhận thức để xây
dựng chính sách ngoại giao đúng đắn, nhất quán và lâu dài cho đất nước. Đồng
thời, đặt cơ sở lý luận cho ngoại giao có thể uyển chuyển trong xác định và
thực hiện sách lược với những phương pháp đa dạng, không bị trói buộc hoặc chi
phối bởi những yếu tố chủ quan, cứng nhắc tạo ra trước sự vận động phức tạp và
rất nhanh chóng trong quan hệ quốc tế hiện nay và trong tương lai. Hơn nữa,
trên thế giới ngày nay, dưới mọi danh nghĩa, các nước lớn, nhỏ đều đề cao lợi
ích quốc gia - dân tộc. Bảo vệ lợi ích dân tộc Việt Nam trên cơ sở luật pháp
quốc tế, thuận theo quy luật tiến hóa và xu hướng phát triển chung vì sự tiến
bộ của nhân loại phải là định hướng của ngoại giao nước ta. Khi Việt Nam tuyên
bố “là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc
tế”, thì đó cũng là thông điệp của Việt Nam về sự hợp tác quốc tế trong xu thế
toàn cầu hóa, dựa trên cơ sở tôn trọng luật pháp và thông lệ quốc tế. Lấy mục
tiêu xây dựng đất nước là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh và
tiến hành chính sách đối ngoại trên cơ sở luật pháp quốc tế để hội nhập và phát
triển, đó là việc giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa dân tộc và quốc tế, dân
tộc và thời đại. Quan điểm đó vừa là cơ sở để thực hiện phương châm “dĩ bất
biến, ứng vạn biến” trong ngoại giao, vừa là điều kiện để thực hiện chính sách
ngoại giao đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, tạo ra sự cân bằng để
giữ vững hòa bình, độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất
nước.
Thấm nhuần quan
điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cách mạng Việt Nam là một bộ phận của lực lượng
hòa bình dân chủ, xã hội chủ nghĩa trên thế giới” ; “Tình hình của nước ta
có ảnh hưởng đến thế giới, mà tình hình thế giới cũng có quan hệ đến nước ta” ; đứng trước yêu cầu mới của tình hình trong nước và quốc tế, Việt Nam tiếp
tục xây dựng chiến lược ngoại giao toàn diện, phục vụ hiệu quả hơn nữa cho các
mục tiêu xây dựng và phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Nguyên tắc cao nhất của hoạt động ngoại giao là: “Vì lợi ích quốc gia, dân tộc,
vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh” . Hai mục tiêu này thống
nhất với nhau; trong đó, bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc là cơ sở để xây dựng
một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa; và xây dựng một nước Việt Nam xã hội chủ
nghĩa giàu mạnh là điều kiện cần để đạt được các lợi ích đó. Triển khai đồng
bộ, toàn diện hoạt động đối ngoại và chủ động đẩy mạnh hội nhập quốc tế, nhiệm
vụ của công tác đối ngoại là “giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ
tối đa các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân
dân; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế
độ xã hội chủ nghĩa; nâng cao vị thế, uy tín của đất nước và góp phần vào sự
nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” . Đó là chủ trương đúng đắn, kịp thời và sáng suốt của Đảng và Nhà nước ta,
phù hợp với đòi hỏi của tình hình mới./.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét