Chủ Nhật, 4 tháng 9, 2022

Giá trị hiện thực trong bài học tận dụng “thời cơ” – nhân tố quan trọng góp phần đem lại thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945


          (TG) - Lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam đã trải qua biết bao cuộc kháng chiến chống xâm lược với những kẻ thù lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần và giành được những thắng lợi vẻ vang. Những thắng lợi đó là do nhiều yếu tố khách quan và chủ quan trong đó có thành công của nghệ thuật tận dụng, chớp “thời cơ”.

          Tận dụng “thời cơ” nhân tố quan trọng góp phần đem lại thành công của cách mạng Tháng Tám 1945

          Thời cơ là tình thế xuất hiện trong thời điểm nhất định có lợi nhất cho việc chủ động phát huy mọi sức mạnh để giành thắng lợi; là sự kết hợp hàng loạt nhân tố chủ quan và khách quan khi điều kiện đã chín muồi. Thời cơ có thể do thực lực cách mạng trong nước tạo ra, cũng có thể do hoàn cảnh bên ngoài đưa đến. Nếu không có thực lực cách mạng đến mức đủ mạnh thì không thể tạo ra được thời cơ và khi thời cơ đến sẽ không kịp thời tận dụng hiệu quả.

          Theo lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin, thời cơ nổi dậy của quần chúng giành chính quyền về tay mình là lúc xảy ra khủng hoảng của giai cấp thống trị về kinh tế, chính trị, xã hội; quần chúng nhân dân và đội tiền phong sẵn sàng hành động; các lực lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng. Cách mạng vô sản Pháp và cách mạng tháng Mười Nga 1917 đã nổ ra và thắng lợi trong thời cơ đó.

          Vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện Việt Nam, bên cạnh việc chuẩn bị chu đáo mọi mặt cả về vật chất lẫn tinh thần cho phong trào cách mạng Hồ Chí Minh và Đảng ta còn rất coi trọng vấn đề thời cơ. Hồ Chí Minh khẳng định: “làm cách mệnh phải biết dựa vào thời cơ và phải nhìn chung phong trào mọi nơi, mọi chốn mới chắc thắng”.

          Khi chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ (tháng 9-1939), nhận rõ thời cơ cách mạng đang đến gần, Đảng đã tiến hành Hội nghị Trung ương 6 (11-1939) thay đổi chiến lược cách mạng, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuẩn bị tiến tới khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền.

          Thời điểm giữa năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ở Trung Quốc, nghe tin Pháp bại trận, trong Hội nghị Ban cán sự Đảng ở ngoài nước, Người đã nhận định: “Việc Pháp bại trận là một cơ hội thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”.

          Tháng 9-1940, Phát xít Nhật nhảy vào chiếm đóng Đông Dương. Nhân dân ta phải chịu cảnh một cổ hai tròng, dưới ách thống trị của cả thực dân pháp lẫn phát xít Nhật. Trong bối cảnh đó, Đảng đã tiến hành Hội nghị Trung ương 7 (11/1940). Hội nghị nhận định “Một cao trào cách mạng sẽ nổi dậy. Đảng phải chuẩn bị để giành lấy cái sứ mệnh thiêng liêng, lãnh đạo các dân tộc bị áp bức Đông Dương võ trang bạo động giành lấy quyền tự do độc lập”.

          Sau gần ba mươi năm hoạt động và lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng trong nước từ nước ngoài, ngày 28-1-1941 Nguyễn Ái Quốc trở về nước. Người cùng Trung ương Đảng trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Tháng 5-1941, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Trung ương 8 tại Pắc Bó, Cao Bằng. Hội nghị là sự tiếp tục và hoàn chỉnh chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cách mạng được nêu ra từ Hội nghị Trung ương 6, thực hiện chiến lược giải phóng dân tộc, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên trên hết, trước hết. Hội nghị đã nhận định: Nếu cuộc chiến tranh thế giới lần trước đẻ ra Liên Xô, một nước xã hội chủ nghĩa, thì cuộc đế quốc chiến tranh lần này sẽ đẻ ra nhiều nước xã hội chủ nghĩa, do đó mà cách mạng nhiều nước thành công. Đồng thời khẳng định: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”

          Thực hiện chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, sau Hội nghị Trung ương 8, Đảng đã bắt tay vào việc triển khai thực hiện nghị quyết, đẩy mạnh xây dựng phát triển các lực lượng cách mạng, xây dựng căn cứ địa, xây dựng lực lượng vũ trang, xây dựng và củng cố cơ sở Đảng, tổ chức quần chúng, cơ sở cách mạng,…gấp rút chuẩn bị mọi điều kiện tạo lực, lập thế cho cách mạng chuẩn bị mọi điều kiện sẵn sàng nổi dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.

          Trong khí thế đang lên của phong trào cách mạng, tháng 5-1944, Tổng bộ Việt Minh ra chỉ thị: “Về sửa soạn khởi nghĩa”. Tháng 10-1944, Trung ương Đảng lại ra lời kêu gọi: “Sắm vũ khí đuổi thù chung”. Các địa phương ra sức củng cố xây dựng lực lượng vũ trang, tìm kiếm vũ khí, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Phong trào chuẩn bị khởi nghĩa sôi nổi lan rộng.

          Tuy nhiên, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ những bước phát triển của lực lượng vũ trang và việc chuẩn bị vũ trang khởi nghĩa phải phù hợp với sự phát triển của tình thế cách mạng. Vấn đề quan trọng đặt ra là phải có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn; phải chuẩn bị lực lượng đầy đủ, tạo thời cơ và nắm vững thời cơ, để khi thời cơ đến có thể nhanh chóng huy động lực lượng, chớp thời cơ giành thắng lợi.

          Tháng 10-1944, vừa từ Trung Quốc trở về, Hồ Chí Minh đã kịp thời hoãn cuộc khởi nghĩa do liên tỉnh uỷ Cao-Bắc-Lạng chuẩn bị phát động vào cuối năm 1944 do thời cơ chưa đến, kẻ thù vẫn còn mạnh. Việc kịp thời hoãn cuộc “khởi nghĩa non” đó đã tránh được cho cách mạng nhiều tổn thất.

          Đầu năm 1945, chiến tranh Thế giới II bước vào giai đoạn cuối, tình hình thế giới có những điều kiện mới, nhân tố mới cho phong trào cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam phát triển thành cao trào.

          Dự kiến đúng chiều hướng phát triển của tình hình, chủ động trước thời cuộc, đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp, ngay sau đó ngày 12-3-1945 Đảng đã ra chỉ thị “Nhật-Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị là một văn kiện lịch sử có ý nghĩa chỉ đạo hành động, chuẩn bị mọi lực lượng để đón thời cơ khởi nghĩa một cách chủ động. Thời kỳ “đêm trước” của tổng khởi nghĩa đã diễn ra, Trung ương Đảng đã kêu gọi thực hiện khởi nghĩa từng phần, giành chính quyền ở các địa phương trước khi Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

          Thực hiện theo Chỉ thị của Trung ương Đảng, một cao trào kháng Nhật nổ ra mạnh mẽ trong cả nước, khởi nghĩa từng phần diễn ra ở nhiều nơi.

          Trước khi có thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, khởi nghĩa từng phần có tác dụng to lớn, vừa giành chính quyền ở địa phương, tạo điều kiện xây dựng mau chóng lực lượng, vừa mở rộng phạm vi ảnh hưởng của cách mạng, đẩy địch vào thế bị động lúng túng. Những cuộc khởi nghĩa từng phần là sự chuẩn bị tích cực và có hiệu quả nhất, góp phần thúc đẩy điều kiện khởi nghĩa trong cả nước mau chóng chín muồi. Đây chính là bước tạo nên thế và lực mới để sẵn sàng đón bắt thời cơ.

          Ngày 14-8-1945, Nhật đầu hàng đồng minh. Chính phủ Trần Trọng Kim rệu rã. Trong khi đó các thế lực đế quốc Mỹ, Tưởng, Pháp, Anh đều có những mưu đồ riêng đối với Đông Dương. Bọn Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam cách mạng đồng minh hội theo chân quân đội Tưởng kéo về nước, mưu toan cướp chính quyền. Lợi dụng thời cơ, bọn phản động trong nước cũng ráo riết hành động, chống phá cách mạng. Trong khi đó lực lượng phát xít Nhật ở Đông Dương vẫn còn nguyên vẹn.

          Cách mạng đứng trước tình thế phải một mình đối phó với nhiều lực lượng trong và ngoài nước. Khí thế cách mạng của quần chúng càng dâng cao chưa từng thấy. Khắp nơi nổ ra những cuộc mít tinh, biểu tình, thị uy có tới hàng nghìn người tham gia. Hàng triệu quần chúng sẵn sàng đứng lên khởi nghĩa, ủng hộ Việt minh, giành chính quyền. Các lực lượng trung gian đã ngả hẳn về phía cách mạng.

          Được tin Nhật đầu hàng đồng minh, ngay đêm 13-8-1945, Đảng đã kịp thời thành lập Uỷ ban khởi nghĩa và ra quân lệnh số 1 khẳng định: “Giờ tổng khởi nghĩa đã đánh! Cơ hội có một cho quân dân Việt Nam vùng dậy giành lấy quyền độc lập của nước nhà!.. Chúng ta phải hành động cho nhanh với một tinh thần vô cùng quả cảm, vô cùng thận trọng!.. Cuộc thắng lợi hoàn toàn nhất định sẽ về ta!”. Hồ Chí Minh cũng khẳng định “Lúc này, thời cơ thắng lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Cùng ngày 13-8, Hội nghị toàn quốc của Đảng khai mạc tại Tân Trào. Hội nghị quyết định Đảng phải kịp thời phát động và lãnh đạo toàn dân khởi nghĩa, đề ra những nhiệm vụ cần thiết, cấp bách trong công tác đối nội, đối ngoại sẽ thi hành sau khi giành chính quyền.

          Tiếp sau đó, Quốc dân Đại hội họp tại Tân Trào, tán thành chủ trương Tổng khởi nghĩa của Đảng, thông qua 10 chính sách của Mặt trận Việt Minh, thành lập Uỷ ban Giải phóng dân tộc Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch.

          Các sự kiện trọng đại đã diễn ra trong khí thế khẩn trương, bừng bừng của tổng khởi nghĩa, càng chứng tỏ sự vận dụng nghệ thuật chớp thời cơ hết sức tài tình của Đảng ta mà đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thời cơ của cách mạng tháng Tám chỉ tồn tại trong một thời gian rắt ngắn – từ sau khi Nhật đầu hàng đồng minh đến trước khi quân đồng minh vào Đông Dương. Đảng ta đã biết đẩy lùi nguy cơ để tạo ra thời cơ thuận lợi. Nếu khởi nghĩa sớm hơn, khi Nhật chưa đầu hàng, ta sẽ gặp sự kháng cự quyết liệt, có thể tổn thất lớn và khó giành thắng lợi, chính quyền cách mạng chưa thể thành lập trong toàn quốc. Nếu để muộn hơn, khi Đồng minh đã vào Đông Dương thì sẽ tình hình sẽ trở nên “vô cùng nguy hiểm”.

          Nhờ chọn đúng thời cơ khởi nghĩa, ngày 19-8-1945 Tổng khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội và chỉ trong vòng 15 ngày, Tổng khởi nghĩa đã diễn ra và thành công trong cả nước. Ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Nhà nước dân chủ đầu tiên ở Đông Nam châu Á.

          Giá trị hiện thực của bài học chớp thời cơ trong tiến trình cách mạng Việt Nam, đặc biệt trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

          Bài học tân dụng thời cơ của cách mạng Tháng Tám năm 1945 được Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục vận dụng và phát triển sáng tạo trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ sau đó, làm nên những thắng lợi to lớn, đánh bại “hai đế quốc to”, đất nước hoàn toàn độc lập, giang sơn thu về một mối, đưa cả nước bước vào một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong công cuộc đổi mới đất nước, bài học tận dụng thời cơ và nội lực thúc đẩy đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách và ngày càng vững bước đi lên tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam vận dụng và phát triển trong thời kỳ mới.

          Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, với mục tiêu đến năm 2025, đất nước trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

          Thời kỳ này tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều thay đổi rất nhanh, phức tạp, khó lường. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, song cũng đứng trước nhiều trở ngại, khó khăn, thách thức. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế tiếp tục tiến triển, nhưng cũng đang bị đe doạ bởi sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân tộc cực đoan, cạnh tranh chiến lược, cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại diễn ra gay gắt. Do tác động của đại dịch Covid-19, thế giới rơi vào khủng hoảng nghiêm trọng nhiều mặt. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo đột phá trên nhiều lĩnh vực, mang đến cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Các nước điều chỉnh chiến lược và phương thức phát triển nhằm thích ứng với tình hình mới. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương tiếp tục có vị trí chiến lược ngày càng quan trọng. Tại Đông Nam Á, môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác động mạnh, nhiều mặt, đe doạ nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta.

          Trong khi đó, ở trong nước, Việt Nam đã đạt được những thành tựu rất quan trọng, đáng tự hào trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đời sống người dân. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế như trong giai đoạn hiện nay. Mặt khác, bên cạnh những thuận lợi, đất nước ta cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức và hạn chế đan xen. Tăng trưởng kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng; Công tác lãnh đạo, quản lý, bảo đảm an ninh con người, trật tự, an toàn xã hội; sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường còn nhiều bất cập, gây bức xúc xã hội. Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức. Giá trị lịch sử, truyền thống văn hoá của dân tộc và con người Việt Nam chưa được phát huy đầy đủ. Năng lực tổ chức thực hiện còn hạn chế; chất lượng luật pháp, chính sách trong một số lĩnh vực còn thấp. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của nhiều tổ chức đảng, đảng viên còn chưa ngang tầm nhiệm vụ. Cơ chế kiểm soát quyền lực trong Đảng, Nhà nước chưa thật đầy đủ, đồng bộ; hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc thể chế hoá, cụ thể hoá một số nghị quyết của Đảng còn chậm; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu. Những khó khăn, thách thức, khuyết điểm và hạn chế trên đòi hỏi chúng ta phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn và hành động quyết liệt hơn nữa để khắc phục cho bằng được. 

          Để tranh thủ tận dụng, chớp thời cơ, vượt qua thách thức nhằm đạt mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII đã nêu ra bên tranh, hơn lúc nào chúng ta cần có những nhìn nhận đúng đắn từ lịch sử để có định hướng phát triển trong tương lai.

          Bài học thành công của cách mạng Tháng Tám cũng đã chỉ ra rằng, có thời cơ mà không biết chớp thời cơ để nó trôi qua sẽ không đưa cách mạng đến thành công, mặt khác thời cơ đến nhưng nếu không huy động được nội lực thì cũng không giành được thắng lợi. Chính vì thế, đòi hỏi đặt ra đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân ta lúc này cần phải chuẩn bị tốt mọi điều kiện, phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân tộc, tranh thủ thời cơ hội nhập và phát triển, đẩy lùi những nguy cơ, thử thách có thể bị thua ngay trên sân nhà, đưa đất nước ngày càng phát triển, vững bước đi lên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đang tạo thêm sức mạnh mới cho dân tộc, tạo mọi điều kiện thông thoáng về chính sách vĩ mô cũng như điều hành kinh tế nhằm lành mạnh hoá môi trường kinh doanh, kích cầu sản xuất, thu hút vốn đầu tư nước ngoài... Đây là những chủ trương đúng đắn bắt nguồn từ bài học “chớp thời cơ”  của cách mạng tháng Tám.

                                                                             TS Trần Thị Huyền

‘Quỹ độc lập’ – ‘Tuần lễ VÀNG’: Bài học về phát huy sức mạnh lòng dân

 

        Gần 80 năm trôi qua, nhưng bài học về phát huy sức mạnh lòng dân từ thành công 'Quỹ độc lập' - 'Tuần lễ VÀNG' tháng 9 năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị lý luận, thực tiễn và tính thời sự sâu sắc đối với phát huy 'thế trận lòng dân' (TTLD) thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc hiện nay.

          NHỮNG BÀI HỌC QUÝ BÁU

          Sau khi giành độc lập, chính quyền cách mạng non trẻ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa gặp muôn vàn khó khăn, thử thách đe dọa nghiêm trọng đến nền tự do, độc lập, đặt vận mệnh đất nước như thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Trước tình thế đó, Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bình tĩnh, phân tích, dự báo đúng tình hình, đề ra các giải pháp cấp bách để tháo gỡ; trong đó, có giải pháp dựa vào sự tự nguyện đóng góp của nhân dân nhằm khắc phục tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng về nguồn lực tài chính quốc gia. Ngày 4/9/1945, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Nội vụ thay mặt Chính phủ lâm thời ký ban hành Sắc lệnh số 4-SL về thành lập “Quỹ độc lập”. Sau đó, Chính phủ ra Chỉ thị về triển khai tổ chức “Tuần lễ VÀNG” (từ 17/9 - 24/9/1945) trong cả nước để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ, ủng hộ nền độc lập quốc gia.

          Từ kết quả thành công của “Quỹ độc lập” – “Tuần lễ VÀNG", có thể rút ra được những bài học quý báu như sau:

          Một là, sự lãnh đạo, điều hành nhạy bén, kịp thời, sáng tạo của Đảng và Chính phủ lâm thời, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân tố quyết định phát huy sức mạnh lòng dân, bảo đảm thành công của “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG”. Nhân ngày khai mạc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư gửi toàn quốc đồng bào, nói rõ sự cần thiết và mục đích, ý nghĩa to lớn của việc tổ chức “Tuần lễ VÀNG” đối với nhiệm vụ bảo vệ nền tự do, độc lập của nước nhà vừa mới giành được và kêu gọi nhân dân tích cực hưởng ứng, tham gia, làm tròn nghĩa vụ đối với đất nước. Sắc lệnh của Chính phủ và bức thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành lời hiệu triệu, đoàn kết toàn dân tộc thành khối thống nhất ý chí và hành động, tự giác ủng hộ vàng, tiền, bảo vật… với giá trị quy đổi là 20 triệu đồng và 370 kg vàng, giúp Chính phủ có đủ nguồn lực giải quyết khó khăn bức thiết về tài chính, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ thành quả cách mạng và khát vọng tự do, độc lập của dân tộc, tạo cơ sở vững chắc cho công cuộc kháng chiến, kiến quốc sau này.

          Hai là,đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, khơi dậy khát vọng tự do, độc lập của dân tộc, đưa “Tuần lễ VÀNG” thành phong trào có sức lan tỏa rộng khắp, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân tham gia.Mặt trận Việt Minh, Chính phủ, các tổ chức đoàn thể đã chú trọng truyên truyền, vận động mọi tầng lớp nhân dân, nhất là giới công - thương và những nhà giàu hiểu rõ về mục đích, ý nghĩa “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG”. Khơi dậy, phát huy cao độ tinh thần đoàn kết, yêu nước, ý chí, quyết tâm: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập”. Đồng bào cả nước coi việc tham gia ủng hộ chính quyền cách mạng là trách nhiệm, nghĩa vụ thiêng liêng, cao cả của công dân đối với vận mệnh nước nhà; không phân biệt giới tính, tuổi tác, tầng lớp, giai cấp, dân tộc, tôn giáo; tự nguyện, tự giác ủng hộ vàng, tiền, vật dụng, kể cả những tài sản quý giá nhất của bản thân, gia đình, dòng họ… cho chính quyền, với mong muốn được góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc bảo vệ, giữ vững nền tự do, độc lập của dân tộc, xứng đáng với “sức hy sinh phấn đấu của các chiến sĩ ái quốc trên các mặt trận”.

          Phát huy vai trò gương mẫu, đi đầu của các nhà giàu và người có uy tín trong xã hội tiến hành công tác tuyên truyền, vận động đồng bào hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Muốn củng cố nền tự do độc lập ấy, chúng ta cần sức hy sinh phấn đấu của toàn quốc đồng bào; nhưng chúng ta cũng rất cần sức quyên giúp của nhân dân, nhất là những nhà giàu có”. Chính phủ đã cử ông Đỗ Đình Thiện - nhà tư sản yêu nước, phụ trách quỹ ở Trung ương, cựu Hoàng hậu Nam Phương được mời làm chủ tọa “Tuần lễ VÀNG” tại Huế; phát huy vai trò gương mẫu của các gia đình, cá nhân tiêu biểu, như: Trịnh Văn Bô - Hoàng Thị Minh Hồ, Nguyễn Sơn Hà - Nguyễn Thị Ngọc Mùi, Nguyễn Hữu Nhâm - Nguyễn Thị Lãm, doanh nhân Vương Thị Lai, Vua Mèo Vương Chí Sình, Bà Thềm (Công chúa Chăm)… để giác ngộ tinh thần tự giác, tích cực, nhiệt tình hưởng ứng của toàn quốc đồng bào, đưa hoạt động ủng hộ “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG” trở thành phong trào có sức lan tỏa rộng lớn, quy tụ mọi tầng lớp nhân dân tham gia.

          Ba là, vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, truyền thống dân tộc về phát huy vai trò, sức mạnh quần chúng nhân dân. Đó là quá trình giác ngộ, hiệu triệu lòng dân, đoàn kết toàn dân, huy động, phát huy sức mạnh lòng dân, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng. Đây là chân lý, giá trị, định hướng chiến lược, nhân tố quyết định đưa sự nghiệp cách mạng đến thành công, đúng như Lênin đã khẳng định: “Không có sự đồng tình ủng hộ của đại đa số nhân dân lao động đối với đội tiền phong của mình tức là đối với giai cấp vô sản, thì cách mạng vô sản không thể thực hiện được…”.

          GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN SÂU SẮC

          Hiện nay, thành tựu công cuộc đổi mới đã tạo cho đất nước thế, lực và sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước, nhưng khó khăn, thách thức từ tình hình thế giới, khu vực, trong nước, diễn biến phức tạp, khó dự báo, tác động trực tiếp đến sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đặt ra yêu cầu đối với tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc các cấp cần tiếp tục quán triệt, vận dụng sáng tạo bài học thành công từ “Quỹ độc lập” - “Tuần lễ VÀNG” để thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, cụ thể:

          Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, trực tiếp là cấp ủy, chính quyền cơ sở đối với phát huy “thế trận lòng dân”. Tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa, thực hiện tốt cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tổ chức, khơi dậy, quy tụ, phát huy sức mạnh lòng dân, huy động sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, tạo nền tảng vững chắc, cội nguồn sức mạnh thực hiện thành công khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc, nhất là trước những thời điểm, sự kiện có tính bước ngoặc, trọng đại của đất nước. Tổ chức đảng, chính quyền cơ sở phải không ngừng củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành; thực sự là hạt nhân chính trị, trung tâm đoàn kết, cầu nối giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước và chủ thể tích cực phát huy sức mạnh TTLD xây dựng địa phương giàu đẹp. Đồng thời, phát huy tốt vai trò của Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể xã hội trong tuyên truyền vận động nhân dân tham gia thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và các mục tiêu, chương trình, dự án, kế hoạch trọng điểm, cấp thiết. Trước những tác động tiêu cực của thiên tai, dịch bệnh, tình hình thế giới, khu vực và những thách thức, khó khăn nội tại; Đảng, Chính phủ đã kịp thời ban hành các văn bản chỉ đạo và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc ra lời kêu gọi toàn dân đoàn kết, phát huy sức mạnh TTLD, thực hiện các giải pháp phòng, chống, khắc phục, xử lý đạt hiệu quả cao; góp phần ổn định tình hình, củng cố niềm tin của nhân dân và bạn bè quốc tế với Đảng, Nhà nước, chế độ chính trị, tạo môi trường thuận lợi để phát triển đất nước.

          Thứ hai, không ngừng đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác vận động quần chúng, khơi dậy khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng của nhân dânTiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, vận động đông đảo nhân dân tham gia các phong trào thi đua yêu nước, “khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” tạo thành động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước. Tích cực đổi mới, nội dung phương thức triển khai chính sách, công tác dân tộc, tôn giáo, nhất là ở các địa bàn trọng yếu, trên không gian mạng, trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Nâng cao nhận thức, củng cố lòng tin và khơi dậy lòng yêu nước, tự hào, tự tôn dân tộc, tinh thần đoàn kết, trách nhiệm, ý thức tự lực, tự cường của nhân dân, kiều bào trong tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

          Kết hợp chặt chẽ cải cách thủ tục hành chính, bổ sung, hoàn thiện cơ chế, chính sách với nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công, cổ phần hóa, cơ cấu lại, đổi mới doanh nghiệp nhà nước… để mở rộng hành lang pháp lý và dư địa phát triển cho các thành phần kinh tế khác. Chú trọng phát triển các công ty, tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh khu vực, quốc tế. Phát huy vai trò tiền phong, trách nhiệm cộng đồng của doanh nghiệp, đội ngũ doanh nhân, thế hệ trẻ tích cực tham gia khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, vươn lên làm giàu chính đáng, trở thành phong trào rộng khắp, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ trọng tâm, các đột phá chiến lược do Đại hội XIII xác định và các chương trình, đề án trọng điểm quốc gia. Sự ủng hộ, đóng góp to lớn về nhân lực, tài lực của nhân dân, người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là các công ty, tập đoàn kinh tế, cộng đồng doanh nhân trở thành động lực quan trọng trong triển khai các mục tiêu, chương trình, chính sách của Đảng, Nhà nước và các phong trào thi đua trọng điểm của Chính phủ phát động, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn lực thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm thiểu tác động của thiên tai, dịch bệnh… từng bước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước của dân tộc.

          Thứ ba, phát huy tốt vai trò chủ thể của nhân dân trong thực hiện khát vọng phát triển đất nước và chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn phá hoại của thế lực thù địch, phản động.Chú trọng củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết toàn tân tộc; luôn quán triệt bài học lấy “dân làm gốc”, “thực hiện hiện tốt công tác vận động quần chúng, tạo nền tảng xây dựng "thế trận lòng dân"… vững chắc”. Khơi dậy niềm tin, thái độ, tình cảm, trách nhiệm, ý chí, quyết tâm của nhân dân để huy động sức mạnh, nguồn lực to lớn từ nhân dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Thực hiện thực chất, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở, lấy hạnh phúc, ấm no và sự hài lòng của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Tích cực vận động nhân dân tham gia công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực nhằm xây dựng tổ chức đảng vững mạnh về “chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ”, xây dựng chính quyền tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, tự soi, tự sửa của cán bộ, đảng viên trước nhân dân, nhất là người đứng đầu, cán bộ chủ trì, đúng với sự chỉ đạo: “Làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”. Đồng thời, chủ động đấu tranh vạch trần bản chất, âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “nhân quyền” và những hạn chế, sơ hở của ta để xuyên tạc, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, TTLD, mục tiêu phát triển đất nước… của các thế lực thù địch, phản động. Tuyên truyền vận động nhân dân không nghe, không tin, không làm theo kẻ xấu kích động, gây rối trật tự, an toàn xã hội, phá hoại sản xuất, kinh doanh, v.v.. Qua đó, không ngừng củng cố niềm tin, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, trước hết là đối với tổ chức đảng và chính quyền cơ sở. Sự tích cực, tự giác hưởng ứng, ủng hộ, hiến tặng tiền, vật chất, đất đai, ngày công… của nhân dân, kiều bào và các tổ chức thời gian qua đã giúp nước ta thực hiện thắng lợi, về đích sớm các mục tiêu thiên niên kỷ của Liên Hợp quốc, Chương trình mục tiêu quốc gia và các phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, v.v.. Cùng với đó, “Những kết quả, thành tích đặc biệt đạt được của Việt Nam trong bối cảnh đại dịch COVID-19 và suy thoái toàn cầu bắt đầu từ đầu năm 2020 được nhân dân và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao”, thể hiện sự thống nhất cao giữa ý Đảng hợp với lòng dân, đưa đất nước vượt qua khó khăn, thử thách, vững bước tiến lên hoàn thành các mục tiêu phát triển đến năm 2025, 2030, 2045 mà Đại hội XIII đã xác định./.

                                                                                                          st

Không thể xuyên tạc việc học và làm theo Bác!

 

            Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về 'Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới'; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về 'Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh' và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về 'Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh'(gọi tắt là 3 Chỉ thị)… trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: 'Học mãi đâu có vào', học rồi 'tại sao cứ thế mãi', 'càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái'…

          DI SẢN TINH THẦN QUÝ GIÁ

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 53 năm, song tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vị lãnh tụ gần dân, dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước không chỉ in đậm trong trái tim và khối óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”. Tư tưởng của Người là kết quả sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…

          Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị của di sản Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết của tất cả các lực lượng chống đế quốc, thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền vững giữa các dân tộc “trên con đường tiến bộ - con đường hòa bình trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính của con người và mọi đức tính xã hội chủ nghĩa” trong thời đại mới.

          Với Hồ Chí Minh, dù là người đang làm thuê trên tàu Amiran Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người “yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu. Từ cuộc đời và phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân dung một người cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả mọi lời nói, điều mà Người khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn bè, anh em, đồng chí, thậm chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó chính là “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”.

          Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh, khí phách ngoan cường, ý chí bất khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh và thái độ ứng xử điêu luyện về chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán, nhanh nhạy trong những tình thế gay go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng của dân tộc Việt Nam và tất cả các dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, công lý và hòa bình trên toàn thế giới. Đồng thời, lòng yêu thương con người và sự bao dung, khoan hòa của Người cũng như trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm, tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng, trong hành động, trong từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đã làm cho những người đã từng ở bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”.

          HỌC VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI

          Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”. Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.

          Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.

          Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.

          Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì đâu đó cũng vẫn còn những địa phương, cơ quan, đơn vị triển khai việc học và làm theo Bác một cách chung chung, hình thức. Cũng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, thiếu tính tiền phong, gương mẫu, quan liêu trong công tác, hách dịch, thậm chí xa rời quần chúng. Bên cạnh đó, có người còn vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng và vi phạm pháp luật như tham ô, tham nhũng hoặc rời xa lý tưởng cách mạng, cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng… dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Việc những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải dính vòng lao lý cũng là có thật. Và các vụ án tham nhũng những năm gần đây; những cán bộ, đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng, chịu án tù… đã bị các đối tượng cơ hội, phản động, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng “sự kiện đó” để chống phá Đảng và chế độ cũng là có thật.

          Việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào lò” của các thế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.

          Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết quả này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương…

          TRỞ THÀNH NHU CẦU TỰ THÂN CỦA MỖI CẤP ỦY, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

          Gần hai năm qua, để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, Đảng ta đã tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo Bác gắn với công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã được ban hành.

          Trên tinh thần, “Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”, việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với Kết luận số 21-KL/TW trong mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên cũng đã cho thấy những kết quả tích cực. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo Bác đã trở thành công việc thường xuyên của toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần làm cho ý thức tự giác rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu được tăng cường. Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không chỉ góp phần tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi tập thể, cá nhân, mà còn làm cho sự đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức được tăng cường. Đồng thời, cũng làm cho ý thức, trách nhiệm và sự trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cho nên, không thể xuyên tạc vô căn cứ, cũng như không thể quy chụp như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen rằng: Việc học và làm theo Bác “cũng chỉ làm cho xong để báo cáo”; là học nhưng đâu vẫn hoàn đấy như “ngựa vẫn quen đường cũ”; học và làm theo Bác đã bao năm rồi mà “vẫn trơ ra”…

          Cuối cùng, phải khẳng định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc và bôi đen sự thật; dù các thủ đoạn bẻ cong, vu khống, bôi nhọ đã và đang được áp dụng, song Hồ Chí Minh - “tên Người phản ánh một cuộc đời đặc biệt rất hiếm có trong các vị lãnh đạo Nhà nước và trong các nhà chính trị của thời đại chúng ta. Con đường Người đã đi qua đánh dấu bằng cuộc đấu tranh gian khổ, bằng những khó khăn lớn lao nhưng đồng thời cũng đánh dấu bằng những thắng lợi chính trị độc đáo phản ánh lịch sử của dân tộc Người trong khoảng 50 năm vừa qua” vẫn đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

          Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; các trước tác của Người, liên quan đến Người… là di sản tinh thần quý báu của nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao. Cho nên, thế giới có thể đổi thay, hằng ngày luôn biến động, song trên các phương tiện truyền thông, các nhà xuất bản, các hiệu sách, triển lãm, các rạp chiếu phim, nhà hát… ở khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài, những ấn phẩm, tác phẩm, bộ phim, kịch, những câu chuyện kể, những công trình nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học, học giả, các chính khách trong nước và quốc tế… về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các trước tác của Người vẫn xuất hiện như một phần không thể thiếu trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của người Việt Nam và bạn bè quốc tế.

          Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người “cao mà không xa”, “sáng mà không chói”, Người tỏa sáng từ cốt cách, tâm hồn, trí tuệ của một bậc đại trí, đại nhân, đại dung chứ không giống như sự suy diễn thiển cận của một vài cá nhân nào đó. Thực tế là, “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”(9). Vì thế, Người luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong hành trình đến tương lai. Và cũng vì thế, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước!

TS. Văn Thị Thanh Mai

Ths. Trần Thị Kim Oanh