Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

 GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN VỪA "HỒNG" VỪA "CHUYÊN"

-----------------------

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ai cũng nhận rằng thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà và Đoàn Thanh niên Lao động là cánh tay đắc lực của Đảng”. Vì vậy, trước lúc đi xa, Người căn dặn trong Di chúc: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, đào tạo họ trở thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Theo Hồ Chí Minh, nền giáo dục mới mà chúng ta xây dựng sẽ phải hướng đến mục tiêu đào tạo thanh niên thành những công dân có ích cho xã hội, phải làm cho người học phát triển hoàn toàn những năng lực có sẵn trong bản thân, Người tóm tắt đó là những người: vừa “hồng vừa “chuyên”. Trong Thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1945, Hồ Chí Minh viết: “Ngày nay, các em được cái may mắn hơn cha anh là được hấp thụ một nền giáo dục của một nước độc lập, một nền giáo dục nó sẽ đào tạo các em nên những người công dân hữu ích cho nước Việt Nam, một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em”. Mục tiêu giáo dục mà Hồ Chí Minh xác định là: “Để giáo dục thanh niên ta rèn luyện một chí khí kiên quyết quật cường, một tâm lý quả cảm xung phong, tin tưởng vào tương lai của Tổ quốc, vào lực lượng của nhân dân, hy sinh lợi ích riêng cho lợi ích chung của dân tộc, ra sức đấu tranh để củng cố hòa bình thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ trong toàn nước Việt Nam ta”.

Từ việc đánh giá cao vị trí vai trò của thế hệ trẻ, đánh giá cao vai trò của công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh luôn đặt ra yêu cầu phải giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng thanh niên một cách toàn diện. Trong Thư gửi các cán bộ giáo dục, học sinh, sinh viên các trường và các lớp bổ túc văn hoá, ngày 31/8/1960, Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Trong việc giáo dục và học tập, phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất”.

Thứ nhất, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trong nhiều bài nói, bài viết và chỉ dẫn của mình, Người cho rằng, giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là giúp thanh niên trở thành người công dân tốt, người lao động tốt, người chiến sĩ tốt, người chủ tương lai của đất nước. Việc rèn luyện phẩm chất đạo đức phải luôn gắn bó chặt chẽ với năng lực. Tin tưởng vào thanh niên và đặt ra yêu cầu rất cao về phẩm chất, năng lực của thanh niên, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Thanh niên bây giờ là một thế hệ vẻ vang, vì vậy cho nên phải tự giác tự nguyện mà tự động cải tạo tư tưởng của mình để xứng đáng với nhiệm vụ của mình. Tức là thanh niên phải có đức, có tài”. Vì vậy, hai mặt đức và tài, “hồng” và “chuyên”, phẩm chất và năng lực phải kết hợp chặt chẽ với nhau mới làm cho thanh niên kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng mà Đảng và nhân dân giao cho. Trong giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên, Hồ Chí Minh luôn quan niệm đức và tài là hai nội dung không thể thiếu được, trong đó đức là gốc. Người xem đạo đức như ngọn nguồn của sông, như gốc của cây, như sức mạnh của con người: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”.

Thứ hai, giáo dục lý tưởng cộng sản cho thanh niên. Trong giáo dục cho thanh niên, theo Hồ Chí Minh còn quan tâm đến nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng cho họ: “Những người cộng sản chúng ta không một phút nào được quên lý tưởng cao cả của mình là phấn đấu cho Tổ quốc hoàn toàn độc lập, cho chủ nghĩa xã hội hoàn toàn thắng lợi trên đất nước ta và trên toàn thế giới”. Bởi theo Người: “Tương lai thuộc về thanh niên. Tương lai là cách mạng luôn luôn tiến lên. Là chủ của tương lai, thanh niên không thể không có lý tưởng cao cả. Vì vậy thanh niên phải có cuộc sống chính trị tích cực và cách mạng”. Theo Hồ Chí Minh giáo dục lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên là giáo dục sự nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa xã hội, phấn đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, phấn đấu vì lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, Người cho rằng, Đảng và Nhà nước phải quan tâm, chăm lo giáo dục thanh niên toàn diện: “Nhà nước chú trọng đặc biệt việc giáo dục thanh niên về đức dục, trí dục và thể dục”.

* Về phương thức giáo dục thanh niên

Thứ nhất, học đi đôi với hành, lý luận kết hợp với thực tiễn. Theo Hồ Chí Minh, học phải đi đôi với hành, học để hành, học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy. Ngày 21/10/1964 trong Bài nói chuyện tại trường đại học Sư phạm Hà Nội, Người căn dặn: “Học phải suy nghĩ, học phải liên hệ với thực tiễn, phải có thí nghiệm và thực hành. Học với hành phải kết hợp với nhau”. Ngoài ra, Người còn nhấn mạnh giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ phải gắn với thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân: “Giáo dục thanh niên không thể tách rời mà phải liên hệ chặt chẽ với những cuộc đấu tranh của xã hội. Trong xã hội cũ có nhiều nọc độc nó làm hại thanh niên. Nhất là văn hóa độc ác của Mỹ, nó dùng mọi cách như sách báo, phim ảnh, v.v. để làm cho thanh niên hư hỏng, truỵ lạc. Vì vậy, sự giáo dục thanh niên phải liên hệ vào dư luận của xã hội, lực lượng của Chính phủ để ngăn ngừa những cái gì có thể ảnh hưởng xấu đến thanh niên, để nâng cao tính cảnh giác của thanh niên”.

Thứ hai, phải phối, kết hợp các hình thức giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong đào tạo, giáo dục thanh niên. Tại lễ khai trường Đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19/1/1955, Hồ Chí Minh đã nhắc nhở: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”.

Thứ ba, phải đề cao và phát huy tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện của thanh niên, “xây” phải đi đôi với “chống”. Theo Người, kết hợp việc giáo dục của nhà trường, của xã hội và của gia đình là hết sức quan trọng: “Trường học, gia đình và đoàn thể thanh niên phải liên hệ chặt chẽ trong việc giáo dục thanh niên”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra cho thanh niên “Những điều nên chống: Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa xỉ. Chống cách sinh hoạt ủy mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”.

Thứ tư, giáo dục thế hệ trẻ thông qua gương người tốt, việc tốt. Đồng thời với việc yêu cầu tinh thần tự rèn luyện của thế hệ trẻ, Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm việc giáo dục, đào tao, bồi dưỡng thế hệ trẻ thông qua những gương người tốt việc tốt: “Lấy gương người tốt, việc tốt có thật trong nhân dân và cán bộ, đảng viên ta mà giáo dục lẫn nhau, đó chính là một cách tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin thiết thực nhất”.

Thứ năm, phải tập hợp thế hệ trẻ trong các tổ chức và thông qua các tổ chức để giáo dục thanh niên. Ý thức đầy đủ về vai trò của các đoàn thể trong tập hợp, giáo dục thế hệ trẻ, sau khi tìm được con đường cứu dân, cứu nước và nhận thức sâu sắc về vai trò của thế hệ trẻ, năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, Hồ Chí Minh đã thành lập Hội Việt Nam cách mạng thế hệ trẻ. Sau này, nhân Đại hội đại biểu toàn quốc Hội liên hiệp thế hệ trẻ Việt Nam, (1956) Người một lần nữa khẳng định vai trò của tổ chức trong việc tập hợp và giáo dục thế hệ trẻ: “Nhờ sự giáo dục, bồi dưỡng của Đảng và Đoàn, nhiều chiến sĩ, anh hùng thanh niên đã nảy nở trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, trong cuộc toàn dân kháng chiến và trong việc xây dựng nước nhà hiện nay”.

Thấu triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về thanh niên và giáo dục thanh niên, Đảng ta khẳng định: “Thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên”. Để tiếp tục giáo dục thanh niên vừa “hồng” vừa “chuyên” theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, theo chúng tôi cần tập trung những nội dung cơ bản sau đây:

Một là, vận dụng tư tưởng giáo dục thanh niên vừa “hồng vừa “chuyên” theo Di chúc hiện nay phải quán triệt và vận dụng sáng tạo, đầy đủ, toàn diện tư tưởng Hồ Chí Minh về sự cần thiết, mục tiêu, nội dung, phương thức giáo dục thanh niên theo tinh thần Chỉ thị số 42- CT/TW ngày 24/3/2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa XI về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030”.

Hai là, chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong giáo dục đạo đức, lối sống cho thanh niên; làm cho thế hệ trẻ hôm nay biết yêu cuộc sống, giàu lòng nhân ái, kế thừa và phát huy những giá trị nhân văn của dân tộc, ứng xử văn minh, thanh lịch, nghĩa tình; chú trọng nêu gương người tốt, việc tốt; bày tỏ chính kiến, đấu tranh với cái xấu. Kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, từng bước bài trừ các tệ nạn xã hội.

Ba là, tăng cường giáo dục thanh niên thông qua những tấm gương điển hình tiên tiến, cá nhân có thành tích vượt trội.

Bốn là, tăng cường định hướng giá trị thông qua các loại hình văn hóa, văn học nghệ thuật gắn với xây dựng chuyên trang, chuyên mục về nội dung giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống; nêu gương người tốt, việc tốt, đặc biệt là những tấm gương vượt khó vươn lên trong cuộc sống để định hướng cho thanh niên phát triển loại hình văn hoá hiện đại mang tính khoa học và nhân văn, tham gia bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa; tổ chức các điểm văn hóa thanh niên theo cụm dân cư; tổ chức các hội thi, hoạt động văn hóa dân gian; tổ chức các cuộc vận động sáng tác tác phẩm văn học, nghệ thuật dành cho thanh niên.

Năm là, nâng cao khả năng phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng nhân dân và các chủ thể xã hội khác nhằm giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Nghiên cứu đánh giá công tác phối hợp, lồng ghép các hoạt động của Đoàn, Hội, Đội với các đoàn thể quần chúng và các chủ thể xã hội khác trong giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Tăng cường ký kết các chương trình, kế hoạch liên tịch của Đoàn, Hội, Đội với các chủ thể xã hội khác chăm lo giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên.

QĐND

 ĐỂ NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT HIỆU QUẢ TRONG THỰC TẾ

“Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đại hội X của Đảng thông qua và đưa vào Điều lệ Đảng. Nguyên tắc này xác định địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền và phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay; thể hiện sinh động cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ"; đề phòng và khắc phục tình trạng "bao biện làm thay" hoặc buông lỏng lãnh đạo...

Ngay sau khi trở thành Đảng cầm quyền tháng 9-1945, Đảng ta đã coi trọng vấn đề tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Năm 1947, mặc dù công cuộc kháng chiến-kiến quốc vô cùng bận rộn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành tâm sức viết tác phẩm "Sửa đổi lối làm việc", trong đó có phần chỉnh đốn những biểu hiện coi thường pháp luật của cán bộ, đảng viên. Tại Đại hội III của Đảng, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng: "Có những cấp ủy đảng bao biện làm thay, can thiệp vụn vặt vào công việc của cơ quan Nhà nước... Có những cấp ủy và cán bộ, đảng viên coi thường chính quyền Nhà nước, không nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cơ quan chính quyền cấp trên"(1).

Đến Đại hội IV, Đảng ta tiếp tục khẳng định: "Đảng bắt buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng”(2). Đặc biệt, Đảng khẳng định việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước là vi phạm kỷ luật của Đảng.

Tại Đại hội V, Đảng nhấn mạnh: "Vẫn còn một số tổ chức đảng bao biện công việc của cơ quan Nhà nước. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng đó. Các cấp ủy đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành Hiến pháp và pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế XHCN. Nghiêm cấm các tổ chức đảng tùy tiện đề ra những quy định trái với pháp luật”(3). Đại hội cũng nhấn mạnh, phải tập trung "khắc phục thiên hướng xem nhẹ vai trò của Nhà nước còn khá nặng nề ở nhiều cấp, nhiều ngành"(4).

Đại hội X của Đảng đã thông qua Điều lệ Đảng, trong đó xác định: “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”(5) là một trong các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật phản ánh đầy đủ các giá trị văn hóa cao quý của cách mạng Việt Nam do Đảng lãnh đạo. Nội dung cơ bản của nguyên tắc ấy là: Vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng được chế định trong Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, hệ thống chính trị và xã hội. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng phải được thể chế hóa thành Hiến pháp và pháp luật thông qua trình tự lập hiến, lập pháp, qua đó mà thực hiện sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội. Nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp và pháp luật; tổ chức sinh hoạt nội bộ của Đảng phải phù hợp với các thiết chế do Hiến pháp và pháp luật quy định. Đảng lãnh đạo bảo đảm các thiết chế của Nhà nước hoạt động theo đúng vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ. Tổ chức đảng và đảng viên gương mẫu tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mọi vi phạm phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh, công khai trước pháp luật như mọi tổ chức và công dân khác.

Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đập tan mọi luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động vu cáo Đảng ta "độc tài, toàn trị", là "ông vua tập thể"; đồng thời cảnh tỉnh, ngăn ngừa những đảng viên có chức, có quyền sa vào "tham nhũng quyền lực". Dù rằng đây là vấn đề thuộc về "khuyết tật bẩm sinh của quyền lực" mà bất kỳ một đảng cầm quyền nào cũng phải tiến hành các biện pháp phòng, chống để bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân.

Thực hiện nguyên tắc “Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” đã đem lại những thành tựu to lớn trong vận hành cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" ở nước ta. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Tuy nhiên, phải thẳng thắn thừa nhận, một bộ phận cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng chưa nhận thức rõ về nguyên tắc này. Một số tổ chức đảng vẫn ra những nghị quyết, chỉ thị trái pháp luật; một số cán bộ, đảng viên nhân danh tổ chức đảng tùy tiện gây áp lực làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của pháp luật. Một số cấp ủy địa phương lạm dụng quyền lãnh đạo, can thiệp sâu vào hoạt động chính quyền, tư pháp. Một bộ phận đảng viên vi phạm pháp luật, nhất là trong lĩnh vực kinh tế với tính chất, mức độ nghiêm trọng. Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, bao che cho các hoạt động kinh tế bất hợp pháp, để vợ con, người thân trục lợi từ chức vụ, quyền hạn. Đặc biệt là những biểu hiện làm giàu bất chính, ăn chơi xa xỉ, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè bê tha... bị quần chúng oán ghét, làm suy giảm niềm tin của người dân vào Đảng.

Tại Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII vừa qua, Trung ương Đảng đã thống nhất cao về việc tiến hành đồng bộ và quyết liệt hơn nữa công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN và hệ thống chính trị toàn diện, trong sạch, vững mạnh. Cùng với đẩy mạnh thực hiện 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XII đã đề ra; Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung nhấn mạnh thêm 2 nhóm nhiệm vụ, giải pháp là: Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, xử lý nghiêm cán bộ sai phạm.

Có thể nói, thực hiện 2 nhiệm vụ, giải pháp mà Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII bổ sung, nhấn mạnh là vấn đề quan trọng nhất trong thúc đẩy việc thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Cùng với vấn đề quan trọng nhất nói trên, chúng ta cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khác như: Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; chú trọng thực hiện nghiêm quy định của Trung ương Đảng về những điều đảng viên không được làm. Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN, xây dựng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên. Phát huy vai trò của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền các cấp trong thực hiện nguyên tắc.

Trong sinh hoạt Đảng và tiếp xúc cử tri, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng rất nhiều lần nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng phải thấm nhuần quan điểm "đúng vai, thuộc bài". Điều đó có nghĩa là mọi cá nhân, tổ chức phải hiểu rõ, nắm chắc và hoạt động đúng chức năng, nhiệm vụ đã được Hiến pháp và pháp luật cho phép. Thực tiễn lãnh đạo và cầm quyền của Đảng ta trong hơn 35 năm đổi mới cho thấy, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật không phải là hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng mà là một yêu cầu khách quan, vừa đáp ứng yêu cầu đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, vừa giúp xây dựng Đảng vững mạnh, thật sự xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

 

 PHÒNG, CHỐNG NHỮNG THÔNG TIN XUYÊN TẠC, SAI TRÁI THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY.

 

   Trong kỷ nguyên số, thời đại công nghiệp 4.0, môi trường không gian mạng (KGM) đang phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều lợi ích đối với các quốc gia, dân tộc trên toàn thế giới, trong đó có Việt Nam. Tuy nhiên, sự phát triển của KGM lại là mảnh đất “mầu mỡ” để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam với âm mưu, thủ đoạn ngày cảng tinh vi, nguy hiểm.

 

  Đáng chú ý, thời gian gần đây lợi dụng những ưu thế nổi trội của mạng xã hội so với các phương tiện truyền thông truyền thống, nhất là tính kết nối, tính mở, với đặc trưng tự do, đa dạng, nặc danh, khó kiểm soát…, thậm chí nhiều khi bị xóa nhòa ranh giới giữa thực và ảo, các TLTĐ đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt. Chúng tăng cường truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với đất nước, phủ nhận truyền thống lịch sử dân tộc và những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà đất nước ta, nhân dân ta đã giành được; xuyên tạc, vu khống, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao… hòng gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

 

  Theo các cơ quan chức năng, hằng ngày có hàng nghìn tin, bài chống phá được tung lên KGM, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước. Những thông tin xấu độc có ảnh hưởng, tác động tiêu cực rất lớn tới xã hội, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  nhân dân với Đảng, Nhà nước. Sự chống phá này không chỉ ở diện rộng bằng những bài viết dung tục, thù hận, cực đoan một chiều như trước đây, mà nay chúng đã đầu tư xây dựng và sử dụng ngày càng nhiều bài viết đa tầng thông tin, đa quan điểm, với nhiều chiêu trò đánh tráo khái niệm, ngụy tuyên truyền hết sức tinh vi.

 

  Về quy mô hoạt động, chúng có sự cấu kết chặt chẽ giữa các đối tượng phản động lưu vong, số đối tượng chống đối bên ngoài với những phần tử cơ hội, bất mãn chính trị trong nước, được hậu thuẫn, “hà hơi tiếp sức” bằng nhiều nguồn lực bởi các tổ chức phản động, khủng bố, tổ chức phi chính phủ, chính phủ một số nước có quan điểm đối lập…, hình thành mạng lưới chống đối rộng khắp, với chiêu trò “nội công, ngoại kích”, tạo thành nhiều mũi tấn công trên nhiều lĩnh vực.

 

  Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…. Đặc biệt, chúng coi trọng việc phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Chúng tập trung chống phá, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước hiện nay, nhất là đường lối đổi mới của Đảng ta. Chúng đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị; phủ nhận, bôi đen những thành tựu,  cường điệu, thổi phồng, khoét sâu vào những mặt hạn chế, những tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên; xuyên tạc các vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo…tạo cái nhìn sai lệch về tình hình đất nước; đồng thời phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; chúng cổ xúy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, phủ nhận bản chất cách mạng và nhân dân của lực lượng vũ trang; chia rẽ Quân đội nhân dân và Công an nhân dân…

 

  Cùng với phát tán dầy đặc và với tần suất lớn những thông tin xấu độc trên KGM, thực hiện chiêu trò “mưa dầm thấm lâu” hết sức thâm độc, chúng còn tráo trở cắt ghép, đan cài, “đổi trắng thay đen” trộn lẫn tinh vi thông tin thật – giả để dẫn dụ độc giả lạc vào ma trận thông tin, từ đó bị hướng lái theo luồng thông tin sai lệch, dẫn dắt dư luận xã hội, ngụy tạo sự khách quan để chống phá hết sức tinh vi, xảo quyệt.

 

  Trước những âm mưu, thủ đoạn vô cùng nguy hiểm của các đối tượng trên, đòi hỏi chúng ta phải luôn tỉnh táo, chủ động, nhận diện đúng và thường xuyên, quyết liệt đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, vạch trần những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, nâng cao “sức đề kháng” khả năng “miễn nhiễm”, trước những thông tin xấu độc. Mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thế hệ trẻ phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, trang bị cho mình những kiến thức, kỹ năng phòng ngừa, phát hiện để làm tốt vai trò tham mưu đúng, trúng, kịp thời, từ sớm, từ xa trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, trong đó khi nói và viết bài hoặc phát ngôn trên diễn đàn, trên mạng xã hội, phải thể hiện rõ bản lĩnh chính trị không được phép phát ngôn mang tính hoài nghi; không a dua, câu view, câu like, chia sẻ với những thông tin không được kiểm chứng, những luồng thông tin xấu độc… Bên cạnh đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu, là "hạt nhân" tại cơ sở để đưa những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước vào cuộc sống; đưa những thông tin chính thống, tích cực, lan tỏa những tấm gương sáng, những cách làm hay, việc làm tốt trong cộng đồng, tỏa sáng niềm tin của nhân dân, vững tin trên con đường dân tộc./.

 

 THỰC HIỆN TỐT NGUYÊN TẮC TỰ PHÊ BÌNH VÀ PHÊ BÌNH TRONG ĐẢNG

Trong công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ thì tự phê bình và phê bình có ý nghĩa hết sức quan trọng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm coi trọng: “Phê bình và tự phê bình là vũ khí cần thiết và sắc bén, nó giúp chúng ta sửa chữa sai lầm và phát triển ưu điểm”. Người xác định đây là biện pháp quan trọng để tăng cường sự đoàn kết thống nhất trong Đảng: “Ta có hai cách để thực hiện thống nhất tư tưởng, đoàn kết nội bộ là phê bình và tự phê bình”. Đặc biệt, cần chú ý đến công tác phê bình vì tác dụng của phê bình rất lớn, nhưng làm sao để phê bình đúng, có hiệu quả thật sự là vấn đề rất đáng quan tâm. Yêu cầu đặt ra là việc phê bình phải thật sự chân thành, có phương pháp đúng, hợp lý, hợp tình.

Các thế lực thù địch, phản động, chống phá, cơ hội chính trị cho rằng, phê bình của Đảng Cộng sản là đấu đá nội bộ… Ngay một số cán bộ, đảng viên của Đảng vốn đã từng có thời gian tham gia vào hoạt động tự phê bình và phê bình của Đảng, khi đang công tác, có chức, có quyền thì không có ý kiến phê phán gì, nhưng đến khi về nghỉ hưu, hoặc bản thân có sai lầm khuyết điểm, bị xử lý kỷ luật (dù việc xử lý của tổ chức là rất chính xác, rõ ràng, công khai, có lý, có tình), nhưng họ vẫn quay sang phê phán, đổ lỗi cho khách quan, cho đồng chí, cho tập thể, nói xấu tổ chức, nói xấu công tác tự phê bình và phê bình của Đảng.

Cùng với việc xác định rõ tác dụng, yêu cầu của phê bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã rất chú trọng đưa ra phương pháp phê bình đúng đắn, chính xác. Người dạy: “Phê bình là cốt giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, cho nên thái độ của người phê bình phải thành khẩn, nghiêm trang… Tuyệt đối không nên có ý mỉa mai, bới móc, báo thù. Không nên phê bình lấy lệ. Càng không nên “trước mắt không nói, soi mói sau lưng”.

Trên thực tế, những hạn chế, khuyết điểm, những căn bệnh xấu xuất hiện trong phê bình mà Bác Hồ đã chỉ ra trên đây cũng đã xuất hiện nhiều lần ở nơi này, nơi kia, lúc này, lúc khác. Tình trạng trong sinh hoạt thì im hơi, lặng tiếng, nhưng sau khi họp, trong câu chuyện bàn trà, thậm thụt sau lưng thì nói xấu, tố cáo nhau đủ thứ chuyện. Hay họp hành công khai thì nâng nhau lên đủ thứ tử tế, nhưng khi đằng sau thì lại tìm mọi cách để dìm nhau xuống. Nổi lên là hiện tượng dĩ hòa vi quý, trong sinh hoạt tập thể, công khai, trước mặt nhau thì cái gì cũng tốt, nhưng đến khi vỡ chuyện, bị xử lý kỷ luật thì giậu đổ bìm leo, tố cáo nhau, đổ lỗi cho nhau đủ thứ.

Muốn công tác phê bình có hiệu quả tốt thì cần phải có những biện pháp tổng hợp, đồng bộ. Trước hết, cần có nhận thức, quan điểm đúng đắn về phê bình. Chỉ có nhận thức, quan điểm đúng về phê bình thì mới có được hành động chuẩn mực, hợp lý, hợp tình trong triển khai phê bình. Ví dụ như phải nhận thức đúng đắn rằng, mục đích của phê bình là để giúp nhau tiến bộ, tăng cường đoàn kết thống nhất, thì từ đó mới có thể có những chủ trương, cách làm đúng và có chất lượng. Nếu nhận thức sai về phê bình sẽ rất dễ dẫn đến phê bình sai mục đích, cách làm không phù hợp, nội bộ mất đoàn kết, phản tác dụng.

Để làm tốt công tác phê bình, đòi hỏi phải có các quy định cụ thể, chặt chẽ nhằm phát huy cao nhất tác dụng của công tác phê bình. Lưu ý sự cần thiết của những hướng dẫn chi tiết, cách làm cụ thể, thống nhất để mọi tổ chức và cá nhân cùng thực hiện tốt công tác phê bình, không vi phạm sai sót trong phê bình. Ngay từ năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Vạch khuyết điểm để sửa chữa, cũng phải nêu ưu điểm để phát huy. Muốn tự phê bình và phê bình có kết quả, cán bộ các cấp, nhất là cấp cao phải noi gương tốt”.

Trong công tác phê bình cần xác định rõ vai trò quan trọng của tổ chức cơ sở đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng thật sự vững mạnh, trở thành môi trường trong sáng, lành mạnh, tạo thuận lợi cho từng cán bộ, đảng viên thực hiện tốt công tác phê bình. Môi trường không phù hợp, không lành mạnh sẽ dẫn đến việc phê bình thiếu dân chủ, không thực chất, hoặc áp đặt, cứng nhắc, làm cho cán bộ, đảng viên không dám phê bình hoặc phê bình hời hợt, hình thức, kém hiệu quả.

Cũng cần quan tâm tạo thuận lợi để quần chúng nhân dân tham gia phê bình cán bộ, đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Uy tín của người lãnh đạo là ở chỗ mạnh dạn thực hiện tự phê bình và phê bình, biết học hỏi quần chúng, sửa chữa khuyết điểm… chứ không phải ở chỗ giấu giếm khuyết điểm và e sợ quần chúng phê bình”. Chính Người cũng đã đưa ra mối quan hệ gắn bó giữa nhân dân với bộ đội trong công tác phê bình, chỉ rõ nhân dân có quyền góp ý, phê bình với bộ đội: “Tôi là người dân, tôi cũng có quyền phê bình, góp ý với bộ đội chứ. Bộ đội cách mạng là bộ đội của dân cơ mà”.

Yêu cầu rất quan trọng đặt ra của công tác phê bình và tự phê bình là cần thiết phải nêu cao trách nhiệm và tính tự giác của từng cán bộ, đảng viên. Chỉ có trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm và tình cảm của mỗi cá nhân thì mới có thể có tinh thần tự nguyện, kiên quyết và cách làm phù hợp để từ đó đạt hiệu quả cao nhất trong hoạt động phê bình và tự phê bình.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam chúng ta không ngừng rèn luyện phấn đấu, tăng cường phê bình và tự phê bình để thực hiện đúng chỉ đạo của đồng chí Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương: “Đảng bộ Quân đội phải làm gương, làm mẫu về mọi mặt. Trong toàn quân không có cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng, kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân”./.                                                                                 

  NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ TỰ DO TÔN GIÁO 

 

Một số người Việt chống cộng ở hải ngoại có quan điểm chống đối chính quyền Việt Nam, đã dựa vào chính sách chung của chính quyền Mỹ, rất coi trọng các quyền tự do, mà trong đó, quyền tự do tôn giáo gần như được xem là hàng đầu, để từ đó tạo những ảnh hưởng, tác động vào các sinh hoạt chính trị trong cộng đồng người Việt Nam. Năm 1988, khi đặt chân lên đất Thái Lan, ngay trong trại tị nạn dành cho người vượt biên, tôi đã rất ngạc nhiên vì trong môi trường đầy khó khăn, thiếu thốn và hoang mang vì tương lai bấp bênh, vô định, thế nhưng các hoạt động về tôn giáo đã diễn ra sôi nổi mang đầy màu sắc chính trị.

 

Các Ban trị sự, Hội đồng liên tôn các tôn giáo đã tập hợp các tín hữu, con chiên, đạo hữu của mình thành những đoàn thể để hoạt động không thuần túy về tôn giáo, mà còn nhằm xuyên tạc, chỉ trích chính quyền Việt Nam. Nhiều tài liệu, sách báo, thông tin từ hải ngoại được ấn hành, đưa vào trại tị nạn phát tặng miễn phí, kích động chống Việt Nam như báo Đường Sống (Mỹ), báo Quê Mẹ (Pháp) hay các tổ chức như BPSOS (Boat people SOS - Ủy ban cứu trợ người vượt biển).

 

Khi định cư ở Mỹ từ tháng 2/1991, tôi nhận thấy nhiều cơ sở tôn giáo được mở mang, phát triển và hoạt động rất năng động. Nhiều nhà thờ, nhà chùa mới được thành lập từ những vận động, đóng góp chủ yếu từ các cá nhân. Gắn liền với những kỷ niệm từ quê nhà, không ít nhà thờ, ngôi chùa lấy tên trùng với những nơi thờ tự quen thuộc như Giáo xứ Tân Sa Châu, Giáo xứ Tân Bùi Chu, Phát Diệm, Chùa Dược Sư, Chùa Vĩnh Nghiêm… Chính những cơ sở tôn giáo này cũng tự biến thành nơi hội họp, sinh hoạt chính trị vì các nhân sự, thậm chí các nhà lãnh đạo tôn giáo ở hải ngoại ít nhiều cũng nhuốm mùi chính trị cực đoan.

 

Ý niệm về “đấu tranh tôn giáo” với “đấu tranh cho dân chủ, tự do” đã trở thành phương tiện, là công cụ cho các cá nhân, tổ chức chống cộng cực đoan khai thác triệt để nhằm lợi dụng lòng tin của người dân còn mơ hồ, hay có định kiến với chính quyền Việt Nam. Các lãnh đạo cộng đồng, tổ chức chống cộng thường xuyên theo dõi các biến động xã hội trong nước không ngừng biến các hiện tượng được chú ý thành các “vấn đề tôn giáo” nghiêm trọng. Thí dụ, vụ án của linh mục Nguyễn Văn Lý, ngày 30/3/2007, tại Thừa Thiên Huế, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã mở phiên tòa công khai xét xử Nguyễn Văn Lý và đồng bọn về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại khoản 1, điều 88 - Bộ luật Hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tại phiên tòa cho thấy thái độ bất hợp tác của ông Lý khi luôn tỏ ra chống đối, thậm chí đạp vào vành móng ngựa, hô hào, gây ồn ào. Ông Lý đã bị một nhân viên an ninh bịt miệng để giữ trật tự, và một bức ảnh ghi lại khoảnh khắc này đã được báo chí phương Tây, giới truyền thông chống cộng khai thác thành sự kiện “đàn áp, bịt miệng tự do tôn giáo”.

Khi sự kiện xảy ra, tôi và các đồng nghiệp của tuần báo Việt Weekly đã về Việt Nam, xin phép chính quyền về tận xã Thủy Biều, TP. Huế để tìm hiểu sự việc. Tại họ đạo Nguyệt Biều, đoàn báo chí từ hải ngoại của chúng tôi được tự do phỏng vấn các giáo dân tại địa phương về sinh hoạt tôn giáo tại đây. Các giáo dân kể chuyện cha Lý đã có công sửa đường, làm nhà vệ sinh công cộng, cấp con giống, cây trồng, mở lớp dạy máy tính, dạy ngoại ngữ miễn phí để đánh lừa, dụ dỗ niềm tin của một bộ phận giáo dân. Vụ án điển hình này cho thấy sự cấu kết của các tổ chức chính trị ở hải ngoại với các nhân vật chống đối đội lốt tôn giáo. Thông qua việc móc nối, vận động để xin tiền từ các tổ chức, cá nhân ở hải ngoại, ông Lý đã tham gia làm cố vấn vào “Ủy ban tự do tôn giáo cho Việt Nam” năm 2000, kích động giáo dân ký đơn đòi đất vốn của Giáo hội Thiên Chúa giáo đã giao cho hợp tác xã quản lý từ năm 1975, gây mâu thuẫn giữa người dân và chính quyền.

 

Đoàn phóng viên báo Việt Weekly cũng có mặt tại Hà Nội để tham dự buổi họp báo của Đại sứ Mỹ ở Việt Nam là ông Michael Marine, khi được hỏi về bức hình “bịt miệng cha Lý” ở phiên tòa, ngài đại sứ cũng nêu rõ là hành động gây rối trật tự ở tòa án, nếu ở Mỹ cũng sẽ bị ngăn chặn bằng vũ lực. Tuy nhiên, theo góc nhìn của nhà ngoại giao Mỹ, thì chính quyền Việt Nam cũng cần phải có động thái trao cho các công dân của mình “không gian rộng rãi hơn để biểu đạt ý kiến của mình”.

 

Những vụ án mang màu sắc tôn giáo liên quan đến vấn đề tranh chấp đất hay bất động sản, qua quan sát của tôi, hầu hết đều có sự tác động của các thế lực chính trị hải ngoại kích động, xúi giục. Cái gọi là “Yểm trợ đấu tranh tôn giáo” ở hải ngoại được tiến hành rất bài bản. Họ tập hợp nhau tại các địa điểm công cộng như công viên, khu chợ, bãi đậu xe, trung tâm thương mại, nơi có đông đảo người dân gốc Việt sinh sống để tổ chức các buổi “thắp nến cầu nguyện” hay “tuyệt thực cho tự do, nhân quyền”. Các tổ chức chống cộng này cho rằng các vụ tranh chấp đất đai ở những địa phương có cộng đồng người Công giáo sinh sống nhằm mục tiêu “thu hẹp tài sản của Giáo hội Công giáo, chia cắt nơi cư trú của đồng bào giáo dân, hòng làm suy yếu sự phát triển của Công giáo nói riêng”. Đây là những luận điệu xuyên tạc vô cùng ngớ ngẩn. Vì quyền làm chủ đất đai nào là của người Công giáo? Chính quyền địa phương mỗi nơi đều có quy định theo pháp luật để tiến hành thay đổi môi trường sống, sự phát triển của đô thị theo nhu cầu thực tế. Thế nhưng việc chuyển đổi quỹ đất này đã bị thổi phồng thành những vụ án “đàn áp tôn giáo” gây nên nhiều ngộ nhận cho người ở hải ngoại thiếu thông tin về sự việc.

Mặt khác các đối tượng chống cộng luôn phao tin rằng, người Cộng sản là “vô thần,” người Cộng sản coi “tôn giáo là thuốc phiện”, một khi tôn giáo ở Việt Nam lớn mạnh, sẽ trở thành những lực lượng đối kháng có thể đè bẹp chế độ! Vì vậy chính quyền Cộng sản Việt Nam phải áp dụng các cách đàn áp tinh vi, làm suy yếu tôn giáo. Từ đây họ đã đánh vào tâm lý chung của những gia đình di cư năm 1954, các quan chức chế độ Việt Nam cộng hòa luôn có ánh nhìn hoài nghi về chính sách tôn giáo của chính quyền Việt Nam. Chính những cơ quan “truyền thông đen”, mang danh nghĩa là “truyền thông quốc tế” như BBC, RFA, VOA,.. mà nhân sự của các “đài Việt ngữ” phần lớn đều là những người làm truyền thông thiếu khách quan, thiếu thiện chí trong việc đưa tin, thổi phồng về vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam. Nhiều phóng sự, hội luận của các kênh này luôn khai thác các nhân vật đối lập, hay “bất đồng chính kiến” để gây hoang mang cho người dân ở hải ngoại, bằng những thủ thuật kích động nhưng lại tỏ ra khách quan, đa chiều.

 

Đồng thời nhu cầu về tâm linh, thể hiện tình yêu nước đã nhuốm màu sắc chính trị với chiều hướng cực đoan. Ở vùng nam California, tôi đã từng ghi nhận, phỏng vấn nhiều tu sĩ, các cha, các nhà sư từ trong nước đi sang Mỹ theo diện thăm thân hay du lịch, nhưng khi tìm hiểu, đi sâu vào vấn đề, mới rõ là họ được một số cá nhân, hoặc tổ chức chính trị ở hải ngoại mời đi Mỹ để “gây quỹ từ thiện” hay “xin quyên góp xây dựng nhà thờ, xây chùa” ở Việt Nam. Mỗi buổi họp mặt này, những bài than khổ về sự khó khăn trong sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều được các vị nêu lên theo ánh nhìn thiếu thiện chí, gợi niềm thương cảm trong cộng đồng. Nếu không trực tiếp về Việt Nam để tìm hiểu rõ sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam, nhiều bà con ta cứ ngỡ ở Việt Nam không được đi lễ, không được đi chùa vì các cơ sở tôn giáo này do “Nhà nước quản lý”!

 

Điều đáng quan ngại hơn nữa, đó chính là sự hà hơi, tiếp tay của các vị “dân cử người Mỹ gốc Việt” trong các dịp tranh cử các vị trí như nghị viên thành phố, thị trưởng thành phố, nghị sĩ tiểu bang hay liên bang. Câu chuyện “đấu tranh cho tự do tôn giáo, quyền con người” tiếp tục được họ đưa ra để vận động tranh cử. Điển hình như các thành phố có đông người Việt cư trú như Westminster, Garden Grove, Fountain Valley, Santa Ana… (miền nam California), hay San Jose (miền bắc California), các chính trị gia đã tận dụng chiêu bài tranh cử không gì khác hơn là “chống cộng và đấu tranh cho tự do tôn giáo ở Việt Nam”. Đây là những khẩu hiệu, chiêu bài dễ hô hào, dễ tạo sự quan tâm của cử tri.

 

Ngân sách tranh cử như chiếc bánh được chia chác nhau theo từng phần: Giới lãnh đạo cộng đồng chống cộng tổ chức biểu tình, kêu gọi cử tri ký thỉnh nguyện thư đòi quyền con người cho các nhà đối lập trong nước. Còn các cơ quan “truyền thông đen” thì được nhận phần quảng cáo cho những thông điệp chính trị sặc mùi mị dân như “đòi quyền tự do con người cho người dân Việt Nam”. Từ đây đã tạo thành một bộ máy tuyên truyền, xuyên tạc, một “kỹ nghệ chống cộng” mang tính vòng tròn khép kín để thỏa mãn lòng hận thù tồn tại từ trước, nhằm bào mòn tình cảm gắn bó của người dân trong và ngoài nước. Và trên hết, để vừa có danh, vừa có lợi, họ đã bất chấp sự công bằng, lẽ phải và quyền lợi tối thượng của dân tộc là sự ổn định xã hội để phát triển kinh tế, đưa đất nước từ nghèo khó sau chiến tranh, tiến lên một nước có nền hòa bình bền vững, ổn định lâu dài để phát triển.

 

Là người sống trong cộng đồng lâu năm, theo dõi những diễn biến chính trị và sinh hoạt cộng đồng một cách toàn diện, nên tôi đã nhận diện được rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá khối đại đoàn kết dân tộc, gây hoang mang chia rẽ tôn giáo của các tổ chức chống cộng lưu vong. Theo tôi, hành động của họ không vì bất cứ lòng trắc ẩn, tình đồng bào nào hết, ngoài việc tạo nên những cái “bánh vẽ” to tướng khiến một bộ phận người trong nước có tinh thần vọng ngoại hiểu sai lệch vấn đề về tự do tôn giáo, hay quyền con người. Cần phải hiểu rằng tự do của mỗi cá thể trong xã hội phải đặt dưới quy định của luật pháp, không thể tùy tiện nhân danh sự tự do để sinh hoạt tôn giáo mang tính chính trị, chống phá chế độ.

Nguồn Tuyên giáo TW

  VAI TRÒ CỦA VIỆC HỌC TẬP LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ ĐỐI VỚI CÁN BỘ ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY

Giá trị của lý luận Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với vai trò cầm quyền và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, với mỗi cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) và nhân dân Việt Nam đã được chứng minh trong thực tiễn.

Trước thực trạng một bộ phận CB, ĐV lười học LLCT, cùng với việc tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của LLCT, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, giải pháp để khắc phục tình trạng này. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng đã chỉ rõ một trong 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên hiện nay là: “Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập LLCT; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước”. Nghị quyết cũng chỉ rõ hạn chế: “Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho CB, ĐV về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giảng dạy và học tập nghị quyết của Đảng chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả, nội dung và phương pháp giáo dục, truyền đạt chậm đổi mới; chưa tạo được sự thống nhất cao trong nhận thức về tình trạng suy thoái, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và những hậu quả gây ra”.

Trong Kết luận số 21-KL/TW ngày 25-10-2021 của Hội nghị lần thứ tư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đó là phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; phải tạo sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của CB, ĐV về tầm quan trọng của nghiên cứu, học tập LLCT, đề cao trách nhiệm tự học, tự nghiên cứu của cá nhân. Trước đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 32-NQ/TW ngày 26-5-2014 về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý, nghị quyết đã khẳng định: Đào tạo, bồi dưỡng LLCT cho cán bộ lãnh đạo, quản lý là nhiệm vụ quan trọng của Ðảng.

Đảng ta đã nhiều lần nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt, học tập LLCT là nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của CB, ĐV, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng LLCT phải luôn bám sát mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ của chiến lược cán bộ và gắn kết chặt chẽ với các khâu trong công tác cán bộ. Bởi thế, đào tạo LLCT phải bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ gắn với quy định của Đảng về công tác quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, phân cấp quản lý cán bộ... Tránh hiện tượng giao chỉ tiêu, cử cán bộ đi học LLCT theo kiểu “điền vào chỗ trống” khiến người học không có động lực, không thấy đó là nhu cầu thiết thân mà còn gây tốn kém, lãng phí ngân sách, thời gian, công sức. Trên thực tế, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa quan tâm đúng mức tới việc bồi dưỡng LLCT cho đảng viên, có hiện tượng khoán trắng cho cơ quan tham mưu mà thiếu kiểm tra, giám sát. Việc cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng thành chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện ở một số địa phương, đơn vị còn chung chung, chỉ đạo thiếu quyết liệt, còn trông chờ, ỷ lại cấp trên. Tình trạng bớt thời gian, cắt xén nội dung trong quán triệt, truyền tải nghị quyết của Đảng không hiếm. Điều này đã được Đảng ta chỉ ra. Tuy vậy, những giải pháp để khắc phục ở cơ sở hiện nay là chưa triệt để.

Nhiều cán bộ qua đào tạo LLCT ở các bậc học đã nêu lên một thực trạng, đó là sự trùng lặp nội dung các bậc học, thiếu sự liên thông, tính kế thừa, tính thống nhất giữa các cấp học dẫn đến việc cán bộ phải học nhiều lần một số chuyên đề, học phần. Chương trình đào tạo vẫn còn nặng về lý thuyết, kinh viện mà chưa có bổ sung thấu đáo về tính thực tiễn. Đúng như tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII chỉ ra: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận chưa có chiều sâu, không theo kịp tình hình thực tế”. Như vậy, phải có nghiên cứu thấu đáo việc đưa chương trình, nội dung vào giảng dạy ở các bậc học. Đây cũng là vấn đề lớn mà Đảng, Nhà nước, hệ thống các cơ sở đào tạo cần quan tâm, tìm ra phương thức hợp lý.

 

Tích cực đấu tranh loại trừ chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam

 


Chủ nghĩa dân túy thường được dùng để nói về những thủ đoạn chính trị mang tính mị dân, đánh vào tâm lý của đám đông để kêu gọi, tổ chức phong trào nhằm lôi kéo, tranh thủ sự ủng hộ của dư luận và quần chúng nhân dân. Những biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay thông qua phát ngôn, hành động của một số cá nhân, tổ chức tuy mới chỉ tồn tại với tính chất là nhận thức tư tưỏng, chưa thành hệ thống lý luận nhưng cũng rất nguy hiểm, bộc lộ nhiều tác hại, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nưóc, chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội.

Tình hình đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân nói chung, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nói riêng cần nhận diện và cảnh giác vói những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy trong đòi sông chính trị Việt Nam. Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ nước ta là một quá trình bền bỉ, dài lâu, gắn bó mật thiết với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, là một phần rất quan trọng của đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng.

Để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn từ sớm, từ xa các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay cần tiến hành đồng bộ các giải pháp: Tăng cường tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy và tính tất yếu phải đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy; đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, tổ chức và đạo đức; tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chông tham nhũng, lãng phí; triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.

Phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ở Việt Nam hiện nay là trách nhiệm của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp, các bộ ngành và sự vào cuộc của báo chí, truyền thông cùng sự tham gia tích cực của mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Sự thống nhất nhận thức và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phấn đấu thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nưốc mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh là sức mạnh nội sinh, bản thân nó có thể và đẩy lùi sự xâm nhập, ảnh hưỏng của chủ nghĩa dân túy đến đòi sống chính trị ỏ nước ta.

 

Tiếp tục thực hỉện có hỉệu quả chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước về chủ động và tích cực hội nhập quốc tế

 


Nhận thức đúng xu thế của thời đại, Đảng, Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách nhằm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế. Những năm qua, quá trình hội nhập quốc tê được đẩy mạnh, góp phần quan trọng vào việc tăng cường nguồn lực cho phát triển, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng quan hệ đốĩ ngoại trên mọi lĩnh vực, chúng ta chưa có giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để hạn chế tác động tiêu cực của hội nhập nên những tư tưỏng, quan điểm, hành vi dân túy có cơ hội xâm nhập vào đời sống xã hội nước ta.

Tình hình đó đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương, tổ chức kinh tế - xã hội cần kiên định và thực hiện một cách chủ động, linh hoạt, sáng tạo chiến lược đối ngoại trong hội nhập quốc tế dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Nhất quán nguyên tắc bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi. Nắm vững và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XII của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ chủ động và tích cực hội nhập quốc tế: “Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đốỉ đầu, bất lợi”[1].

Trong quá trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, các bộ, ngành, tổ chức, lực lượng và các cơ quan cần vận dụng sáng tạo nguyên tắc ứng xử Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, lấy độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội làm mục đích để lựa chọn cách thức hành động phù hợp với tình hình thực tiễn; không vì quá cảnh giác, đề phòng với chủ nghĩa dân túy mà chúng ta lại tự cô lập, đứng ngoài xu thế chung của thế giới, bỏ qua cơ hội. Song cũng không phải chỉ vì muốn mở rộng quan hệ và tranh thủ thòi cơ, về lợi ích trước mắt mà phải “làm theo đám đông”, chấp nhận, đánh đổi tất cả, để cho chủ nghĩa dân túy có điều kiện xâm nhập và nảy sinh ở Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nưổc, các kênh đối ngoại và các hoạt động đốỉ ngoại phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, chủ động và mềm dẻo để Việt Nam không bị cô lập với thế giới, không bị lệ thuộc vào thế giói và cũng không bị những tác động, ảnh hưởng tiêu cực bởi trào lưu dân túy đang trỗi dậy trong nền chính trị thế giới hiện nay.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 154-155.

Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí


Thực tế ở một số quốc gia trên thế giới cho thấy, sỏ dĩ dân chúng tin và đi theophong trào dân túy hay ủng hộcác nhân vậtdân túy phần lớn là do sự điều hành kém hiệu quả của chính quyền trong giải quyết những bất bình và bức xúc của ngưòi dân. Từ đó, họ mong muốn có những người đại diện cho công quyền kiểu khác, thậm chí là một chính quyền khác mạnh mẽ và hiệu quả hơn, hiểu họ hơn và như vậy, những nguyện vọng và mong ước của dân chúng mới có hy vọng được đáp ứng.

Ở Việt Nam, những người theo khuynh hướng dân túy, các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị cũng đang lợi dụng những yếu kém của chính quyền các cấp, nhất là những hiện tượng vô cảm, sách nhiễu dân của cán bộ, công chức, tệ tham nhũng, lãng phí để bôi nhọ, vu khống, phá hoại chính quyền nhân dân. Bởi vậy, đẩy mạnh cải cách hành chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là một nội dung, giải pháp cơ bản, có hiệu quả để chủ động, tích cực phòng ngừa, ngăn chặn từ sớm, từ xa các biểu hiện dân túy ở nước ta hiện nay.

Theo đó, chính quyền các cấp cần nghiêm túc, khẩn trương thực hiện nhiệm vụ mà Nghị quyếtĐại hội XII của Đảng đề ra: “Thực hiện cải cách hành chính nhà nước theo hướng xây dựng nền hành chính dân chủ, hiện đại, chuyên nghiệp, năng động, phục vụ nhân dân, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Hoàn thiện thể chế hành chính dân chủ pháp quyền, quy định trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan nhà nước, giảm mạnh, bãi bỏ những thủ tục hành chính gây phiền hà cho người dân, doanh nghiệp. Đề cao đạo đức công vụ, trách nhiệm xã hội, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong chỉ đạo và thực thi công vụ của cán bộ, công chức; đẩy nhanh việc áp dụng chính phủ điện tử”[1].

Thực hiện nghị quyết của Đảng, các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải có trách nhiệm tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng, nắm bắt tình hình và kịp thời giải quyết những bức xúc, đáp ứng nguyện vọng, bảo vệlợi ích chính đáng và hợp pháp của Nhân dân. Hành động của bộ máy hành chính các cấp và của mọi cán bộ, công chức thực thi công vụ phải thực sự vì lợi ích chung, bảo vệ lợi ích chính đáng của Nhân dân và dân tộc, để hành động theo đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”[2]; không chỉ vì lợi ích trước mắt, vì danh lợi cá nhân, vì “lợi ích nhóm” mà có những việc làm đi ngược lại với lợi ích của Nhân dân, của dân tộc.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biêu toàn quốíc lẩn thứ XII, Sđd, tr.178.

[2] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quôc gia, Hà Nội, 2011, t.4, tr.51. 

Đẩy mạnh xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức

 


Thực tiễn nền chính trị thế giới cho thấy, những người dân túy thưòng dùng chiêu bài đả kích chính sách của chính đảng cầm quyền do chính phủ đương nhiệm thực hiện; đồng thời đưa ra những chương trình cải cách mang tính mị dân để thu hút sự chú ý và giành phiếu ủng hộ của dân chúng. Các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam cũng sẽ dùng những chiêu trò như vậy để bôi nhọ, đả kích sự lãnh đạo của Đảng. Bỏi vậy, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưỏng, tổ chức và đạo đức là vấn đề then chốt, quyết định nhất trong phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ nước ta hiện nay.

Toàn Đảng, mỗi chi bộ, mỗi cán bộ, đảng viên cần kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định mục tiêu đổi mới; giữ vững bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đây là chỗ dựa lý luận, là nền tảng tư tưỏng để đấu tranh phòng, chống những biểu hiện của chủ nghĩa dân túy. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, không có khoa học nào vô tư đứng trên giai cấp, đứng ngoài chính trị mà đều phục vụ mục đích chính trị của giai cấp nhất định, giai cấp thống trị xã hội. Do đó, thiếu một lập trường kiên định, vững vàng thì sớm muộn sẽ rơi vào những quan điểm sai lầm, chệch hướng.

Chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân mới có thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng để xem xét, nhận định, phân tích một cách khách quan, toàn diện các hiện tượng chính trị, xã hội đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ trên thế giới, khu vực và trong nước để có thái độ, trách nhiệm và đề ra quyết sách đúng đắn, giải quyết hợp lý, hợp tình mọi vấn đề chính trị, xã hội.

Vì vậy, hơn lúc nào hết, để đấu tranh với chủ nghĩa dân túy, chống lại những tác hại của chủ nghĩa dân túy đối với nền chính trị của đất nước, Đảng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, đồng thời kiên trì lập trưòng của giai cấp công nhân, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Hiện nay, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sổng trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, tệ tham nhũng, quan liêu, lãng phí chậm bị đẩy lùi đã và đang là nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trong các biểu hiện ấy, có biểu hiện manh nha của chủ nghĩa dân túy, có biểu hiện là “cơ hội” cho dân túy bộc phát, lên ngôi. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ rằng, phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưỏng chính trị, đạo đức, lối sỗng, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ là cuộc chiên đầy cam go, nhưng không thể không làm, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta, cũng như tương lai phát triển của dân tộc.

Các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Khóa XIII và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưỏng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Thấm nhuần và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải tự soi mình, tự sửa đổi lốỉ làm việc, tuân thủ kỷ luật của Đảng, nói và làm theo cương lĩnh, điều lệ. nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần bồi đắp niềm tin của Nhân dân về một Đảng cách mạng chân chính, ngoài lợi ích của giai cấp, của Nhân dân và của dân tộc, Đảng không có lợi ích nào khác.

Những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế - dân tộc, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế

 


Những thay đổi lớn trong quan hệ quốc tế - dân tộc hiện đang tác động mạnh mẽ, làm ảnh hưởng lớn đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Những biểu hiện của chù nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền áp đặt đang là xu thế nổi lên trong quan hệ quốc tế hiện nay[1]; những diễn biến phức tạp tại Biển Đông đang làm ảnh hưởng đến lợi ích dân tộc và trực tiếp đe dọa an ninh và chủ quyền quốc gia - dân tộc... Một khi lợi ích quốc gia - dân tộc không được đảm bảo, bảo vệ thì lợi ích giai cấp và mục tiêu chủ nghĩa xã hội cũng không thể thực hiện được.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, sự canh tranh trên trường quốc tế cả về kinh tế và chính trị đang là một thách thức lớn, bởi vì trong không ít trường hợp, các nước lớn lợi dụng vấn đề kinh tế để tạo sức ép về kinh tế và cả chính trị, hoặc phân biệt đối xử, từ đó gây khó khăn cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nếu không vượt qua được những thách thức từ bên ngoài thì tụt hậu xa hơn về kinh tế là nguy cơ hiện hữu.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG, H.2016, tr71.

Nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận diện và hiểu rõ nguy cơ, tác hại của chủ nghĩa dân túy

 


Sự trỗi dậy của chủ nghĩa dân túy trong đời sống chính trị thế giới đương đại và những biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam đang tác động, ảnh hưởng nhất định đến nhận thức tư tưỏng, hành vi chính trị của một bộ phận cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ gây mất ổn định chính trị. Để phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy ỏ Việt Nam hiện nay, trước tiên, cần làm tốt việc tuyên truyền, giáo dục và làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vị trí thống trị trong đời sống tinh thẩn của xã hội, tạo ra chất “miễn dịch” tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân đối với những biểu hiện dân túy.

Cần tăng cường tuyên truyền cho Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ nhận rõ những biểu hiện mang tính dân túy trong đời sống chính trị, bởi không phải khi nào người dân cũng có thể phân biệt được đâu là ngưòi theo hay không theo chủ nghĩa dân túy, thậm chí dễ nhầm lẫn giữa những người vô nguyên tắc, vô chính phủ với những người mạnh mẽ, dám đưa ra tư tưởng đổi mới. Trong khi đó, sự cổ súy từ một vài ngưòi viết có chủ ý, hoặc do sự non nớt về chính trị của một số tờ báo và một số trang mạng xã hội sẽ dẫn đến sự nhầm lẫn trong đánh giá tư tưỏng của công chúng. Vì thế, cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần được cung cấp những kiến thức để nhận diện các biểu hiện dân túy, giúp mọi ngưòi cảnh giác, tham gia đấu tranh ngăn chặn các biểu hiện dân túy dưởi mọi màu sắc.

Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động đang đẩy mạnh thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo và những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để xuyên tạc, bóp méo tình hình; cổ súy cho lối sống hưỏng thụ, thực dụng, ích kỷ, cá nhân chủ nghĩa. Đồng thời, chúng câu kết với các phần tử cơ hội và bất mãn hoạt động ráo riết chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưỏng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với thủ đoạn ngày càng tinh vi, nguy hiểm hơn. Bởi vậy, phải chủ động phòng ngừa, đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân túy, chủ nghĩa cơ hội, xét lại và các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưỏng của Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.


Xu thế tăng cường hội nhập quốc tế là xu thế chung, đang lôi cuốn hầu hết quốc gia trên thế giới tham gia. Song, quá trình hội nhập quốc tế cũng đặt ra nhiều khó khăn, thách thức cho Việt Nam. Vì vậy để đảm bảo vững chắc cho công cuộc đổi mới, phát triển đất nước Việt Nam phải thường xuyên giải quyết quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế. Tích cực, chủ động hội nhập quốc tế gắn vi độc lập dân tộc và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Công cuộc đổi mới đã cho Đảng Cộng sản Việt Nam những nhận thức mới về dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Để mở rộng dân chủ, thực thi các quyền dân chủ của công dân thì phải giải quyết tốt các quan hệ Đảng lãnh đạo - Nhà nước quản lý - Nhân dân làm chủ. Trong đó, Đảng lãnh đạo là để Nhà nước phát huy vai trò quản lý và để nhân dân tham gia tích cực vào quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Mối quan hệ này phải được thể chế thành pháp luật để cụ thể hóa các chức năng, nhiệm vụ của các thành viên trong hệ thống chính trị - xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

Lấy danh nghĩa bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia dân tộc để tuyên truyền, kích động tư tưởng bài Trung, thân Mỹ

 


Đây cũng là một biểu hiện chủ nghĩa dân túy ở Việt Nam hiện nay. Để lôi kéo ngưòi dân, chúngtung hô ngọn cờ bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, biển đảo, biên giới quốc gia, chống ngoại xâm... nhưng thực chất là xúi giục, kích động ngưòi dân chống Đảng, chính quyền Nhà nước, hạ thấp uy tín lực lượng vũ trang...

Ở một số địa phương đã xuất hiện những người lấy danh nghĩa đại diện cho lợi ích của Nhân dân để tổ chức tụ họp đông ngưòi, khiếu kiện, gây ra những hành động quá khích, vu khống chính quyền, kích động các hành động vi phạm pháp luật nhằm gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại chính sách phát triển kinh tế và môi trường đầu tư. Núp dưới danh nghĩa tổ chức xã hội dân chủ, nhưng họ lại hành động chống lại nền dân chủ của Nhân dân, lộ rõ chân tướng là những kẻ cơ hội chính trị, bất mãn với chính quyền, phá hoại cuộc sống lao động trong hòa bình của Nhân dân Việt Nam.

Tác hại, ảnh hưỏng của chủ nghĩa dân túy đối với nền chính trị Việt Nam cũng rất nguy hiểm, khó lường nếu không sớm nhận diện và có biện pháp chủ động phòng ngừa, ngăn chặn. Sinh thời,V.I. Lênin đã từng chỉ rõ: Ngay từ khi chủ nghĩa dân túy ra đời, nó đã bộc lộ bản chất phản động. Ông gọi phái “dân túy” là kẻ thù công khai của phong trào cách mạng Nga và đã đấu tranh không khoan nhượng với chủ nghĩa dân túy để bảo vệ sự trong sáng, cách mạng của chủ nghĩa Mác bởi vì chủ nghĩa dân túy đã cản trỏ, gây trở ngại cho việc truyền bá chủ nghĩa Mác vào phong trào công nhân Nga.

Các biểu hiện dân túy ở Việt Nam hiện nay, tuy mới chỉ thể hiện dưới dạng phát ngôn, hành động mang tính mị dân của một số cá nhân, chưa phát triển thành một hệ thống lý luận, nhưng nó cũng chứa đựng tính đối kháng tư tưởng như V.I. Lênin đã từng cảnh báo.

Sự nguy hại của các biểu hiện dân túy ở Việt Nam càng hiện hữu hơn khi các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị lợi dụng để cổ súy, câu kết thành lực lượng đối lập. Các biểu hiện dân túy nếu không sớm có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn, thì sẽ giống như vi rút độc hại, gây ô nhiễm đòi sống chính trị đất nước, làm giảm sút lòng tin của Nhân dân đốì vối sự lãnh đạocủa Đảng, Nhà nước, vào chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam.

Nhận thức tốt về quan hệ giữa nhà nước và thị trường.

 


Đây là mối quan hệ mới so với Đại hội XI. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định, trong nền kinh tế thị trường, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế...; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triên, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chể thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; sử dụng các công cụ, chính sách và các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường.

 Di sản Lênin trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta

V.I.Lênin đọc diễn văn tại Quảng trường Đỏ ở Mátxcơva trước các đơn vị tham gia khóa huấn luyện quân sự toàn dân, ngày 25/5/1919. Ảnh: TƯ LIỆU

Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta.

Kỷ niệm 148 năm ngày sinh của Lênin vĩ đại (22/4/1870 - 22/4/2018), chúng ta nghĩ tới di sản mà ông để lại cho hậu thế. Đó là di sản của bậc vĩ nhân thiên tài, người đã truyền bá, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác vào nước Nga, từ cuối thế kỷ XIX đến những năm 20 của thế kỷ XX.

Công lao vô giá của Lênin đối với lịch sử thế giới hiện đại nổi bật trên những phương diện chủ yếu:

- Sáng lập học thuyết Đảng kiểu mới, Đảng mang bản chất của giai cấp công nhân, đội tiên phong chiến đấu được vũ trang bởi lý luận tiên phong, thực hiện sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội loài người, chống chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa đế quốc, xây dựng xã hội tương lai xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa mà Mác - Ăngghen đã đặt nền móng về tư tưởng lý luận.

- Lãnh đạo thành công cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, khai sinh ra chủ nghĩa xã hội hiện thực với nước Nga Xô Viết, làm cho Đảng Cộng sản lần đầu tiên trở thành đảng cầm quyền, lãnh đạo nhà nước và xã hội mà ông gọi là Đảng chấp chính. Với thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và sự ra đời của nước Nga Xô Viết, một thời đại mới trong lịch sử thế giới nhân loại đã bắt đầu. Đó là thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, mở ra con đường phát triển bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thức tỉnh và cổ vũ các dân tộc trong cuộc đấu tranh vì lý tưởng và mục tiêu xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa.

- Một trong những cống hiến đặc sắc của Lênin còn là ở chỗ, ông là người đề xướng cải cách chủ nghĩa xã hội với “Chính sách kinh tế mới” (NEP), đem chính sách kinh tế mới thay thế “chính sách cộng sản thời chiến” vào đúng lúc cần thiết, nhờ đó đã đưa nước Nga ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng sau Cách mạng Tháng Mười, trong tình cảnh nước Nga Xô Viết non trẻ vừa mới ra đời đã bị 14 nước tư bản đế quốc bao vây hòng bóp chết chủ nghĩa xã hội mới chỉ như một mầm non mới nhú, đã làm cho chính quyền Xô Viết đứng vững và nước Nga xã hội chủ nghĩa nhanh chóng hồi sinh. Với “Chính sách kinh tế mới” Lênin không chỉ thuần túy đem chính sách thuế lương thực thay thế cho chính sách cộng sản thời chiến, dùng lợi ích kinh tế, vật chất như một đòn bẩy, tạo động lực làm nảy sinh tính tích cực lao động của công nhân, nông dân và mọi người lao động nói chung trong buổi đầu xây dựng, kiến thiết chế độ mới mà sâu xa hơn, đó còn là khởi đầu kiến tạo mô hình phát triển mới của chủ nghĩa xã hội, giải phóng lực lượng sản xuất, giải phóng mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân trong xã hội để thúc đẩy phát triển.

Chính sách kinh tế mới gợi mở một trong những điều sâu xa về lý luận xây dựng chủ nghĩa xã hội, nó là một phức hợp kinh tế - chính trị và văn hóa để xây dựng chủ nghĩa xã hội dựa trên cơ sở khoa học, tuân thủ quy luật khách quan và đáp ứng nhu cầu lợi ích của người lao động. Đó thực sự là những bảo đảm cho sức sống và triển vọng của chủ nghĩa xã hội mà sau này, Hồ Chí Minh đã từ thực tiễn khái quát thành lý luận. Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, phải “làm đúng quy luật”, phải “thuận lòng dân” và phải “hợp với thời đại”, tận dụng mọi thành tựu kinh tế - kỹ thuật và quản lý của chủ nghĩa tư bản, sử dụng cả chuyên gia tư sản có tài vào mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì lợi ích lâu dài của chủ nghĩa xã hội.

Dù chỉ trong một thời gian ngắn, Lênin chỉ có thực tiễn bảy năm xây dựng chủ nghĩa xã hội (1917 - 1924), ông mất vào năm 1924 khi mới 54 tuổi, nhưng những gì ông để lại cho hậu thế là vô cùng quan trọng, quý giá. Ông xứng đáng được thừa nhận là “nhà cách tân vĩ đại đầu tiên trong lịch sử chủ nghĩa xã hội hiện thực”. Ông đặt niềm tin lớn lao vào sức sáng tạo của nhân dân, vào thế hệ những người cộng sản trẻ tuổi. Những bài học ấy được tổng kết từ trí tuệ và nhân cách Lênin còn giá trị mãi tới ngày nay, còn nguyên tính thời sự trong sự nghiệp đổi mới của chúng ta. Lênin đã từng nhạy cảm nhận ra vai trò của lợi ích, của dân chủ và sâu xa hơn, của văn hóa ngay trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đổi mới, Đảng ta đã đặc biệt chú trọng vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng đó của Lênin, của chủ nghĩa Mác - Lênin để làm cho đổi mới thực sự có sinh khí, có động lực từ lòng dân, từ sức sáng tạo của nhân dân. Ý Đảng gắn với lòng dân trở thành phép nước - Đó là sức mạnh vô tận của đổi mới hơn 30 năm qua ở nước ta do Đảng lãnh đạo.

Lênin đã từng nêu rõ yêu cầu quan trọng của đổi mới kinh tế phải gắn liền và đồng bộ với đổi mới chính trị, phải nêu cao trách nhiệm “thảo luận thì chung, trách nhiệm thì riêng, riêng tới từng người một”. Lênin cũng từng xác định: mấu chốt của công việc là tổ chức bộ máy và con người, cho nên phải “chọn đúng người, giao đúng việc và kiểm tra thường xuyên”, phải nhổ sạch đám cỏ dại quan liêu trên mảnh đất của chủ nghĩa xã hội, phải đẩy lùi những kẻ thù nguy hiểm của chủ nghĩa xã hội: bệnh kiêu ngạo cộng sản, tệ quan liêu và nạn hối lộ. Trong cải cách thể chế, bộ máy, theo Lênin, phải quán triệt tinh thần “thà ít mà tốt”, “chính trị cần đến bộ máy”, nhưng “bộ máy phải phục vụ chính trị” chứ “chính trị không chạy theo bộ máy, không phục vụ bộ máy”…

Những chỉ dẫn đó vào lúc này là vô cùng cần thiết đối với chúng ta, có ý nghĩa sâu xa trong đổi mới hệ thống chính trị, nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức ở nước ta.

Nhớ lại, cách đây hơn 90 năm, khi viết Đường cách mệnh (1927), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định “chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất, triệt để mau mắn thắng lợi nhất” là chủ nghĩa Lênin (Mác - Lênin). Từ đó Người tin theo Lênin, suốt đời phấn đấu hy sinh theo lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng về quyền tự quyết của các dân tộc của Lênin là một cống hiến vô giá đã dẫn đến bước ngoặt trong hành trình tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Nhờ đó, Người đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn để giải phóng dân tộc và phát triển dân tộc ta tới chủ nghĩa xã hội. Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới từ Đại hội VI (12-1986) đến nay đã luôn luôn khẳng định: Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng của đảng, kim chỉ nam hành động của cách mạng nước ta… Ra sức xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, làm cho Đảng thực sự trong sạch vững mạnh, xứng đáng là một đảng cách mạng chân chính theo học thuyết đảng kiểu mới của Lênin, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân…

Từ những định hướng chiến lược đó, ta càng cảm nhận sâu xa giá trị, ý nghĩa và sức sống của di sản Lênin trong sự nghiệp của chúng ta. Trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, trung thành với di huấn của Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách sáng tạo, nhất định sự nghiệp đổi mới của chúng ta sẽ đi tới thắng lợi, thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.