Nguyễn Hữu Vinh, chủ nhân Blog “Anh ba Sam” với nhiều tin, bài xuyên tạc tình hình kinh tế, xã hội cũng như các chính sách của Đảng, Nhà nước. Blog của Nguyễn Hữu Vinh mượn danh dân chủ đã xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.
Nguyễn Hữu Vinh năm 1956 tại Hà Nội trong một gia đình có thể xem là “danh gia vọng tộc”. Thân sinh của Vinh là cụ Nguyễn Hữu Khiếu (1915-2005) nguyên là Ủy viên Trung ương Đảng khóa III và IV, từng đảm nhiều chức vụ quan trọng trong bộ máy Nhà nước như Bí thư Tỉnh ủy … Con nhà nền nếp, Vinh học cấp 3 tại trường Chu Văn An rồi sau đó vào Đại học An Ninh. 20 năm trong ngành An ninh, Vinh được giao trách nhiệm công tác tại nhiều đơn vị khác nhau, được biệt phái công tác tại Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài (Bộ Ngoại giao). Tháng 11/1999, Nguyễn Hữu Vinh xin ra khỏi ngành Công an, sau đó thành lập Công ty TNHH Điều tra và Bảo vệ (viết tắt là VPI). Có thể nói, Nguyễn Hữu Vinh là một trong số những người tiên phong đi đầu trong việc lập công ty thám tử tư, khai thác một thị trường mà thời gian năm 1999 còn rất mới lạ, chưa ai đặt chân vào. Công ty thám tử của Vinh đã từng có một thời gian làm ăn rất khấm khá và chắc chắn còn khấm khá hơn nếu Vinh không “tự diễn biến” và lái mình sang một ngã rẽ khác đầy tội lỗi và nguy khốn.
Năm 2009, Nguyễn Hữu Vinh “sáng lập” ra trang thông tin cá nhân “anh ba Sam” với khẩu hiệu “phá vòng nô lệ” đặt ngay trên đầu trang. Trong trang này, Vinh đã liên tục có những tin, bài xuyên tạc lịch sử, bôi xấu chế độ, kích động chống phá chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Trong các bài viết của mình, Vinh không giấu giếm dự tính hô hào, cổ động tạo ra một Forum chống Đảng, Nhà nước trên không gian mạng internet. Vinh cũng rất tích cực góp lời ủng hộ, kích động những hoạt động chống đối, là thành viên tích cực của cái gọi là “Mạng lưới Blogger Việt Nam”- một nhóm phạm pháp gồm những người như Nguyễn Hữu Vinh. Nghiêm trọng hơn nữa, Vinh còn kết nối với Việt Tân- một tổ chức khủng bố, thông qua cầu nối Đinh Ngọc Thu, thành viên của Việt Tân để nhận sự chỉ huy trực tiếp, đạo diễn của Thu cho những bài viết chống phá trên trang blog của mình. Khi mà trong “anh ba Sam” bị chú ý bởi sự nổi tiếng và nhiều lượt truy cập, với sự hiểu biết của một cựu sỹ quan bảo mật an ninh, Nguyễn Hữu Vinh mở màn vận dụng chiêu “ném đá giấu tay” bằng việc mượn người để chỉ huy, giải quyết và xử lý bài vở, đưa bài lên trang mạng đồng thời cho “khai sinh” những trang mạng khác như “danquyen” và “chepsuviet” với 12 địa chỉ tên miền, đăng tải hàng chục nghìn bài viết mang luận điệu chống phá, đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên, chiêu này không thể thành công như Y và đồng bọn mong đợi. Sau một thời gian dài theo dõi, cơ quan bảo mật an ninh đã có đầy đủ căn cứ chứng tỏ Vinh chính là kẻ đứng sau 12 địa chỉ tên miền trên các trang mạng. Khi bi bắt khẩn cấp và khám xét, Vinh còn đang giữ liên lạc email với nhiều trang mạng phản động ở nước ngoài, với Đinh Ngọc Thu thông tín viên của đài RFA…
Ngày 5/5/2014, Nguyễn Hữu Vinh bị bắt về hành vi “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích hợp pháp của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” theo Điều 258, Bộ Luật hình sự năm 1999. Có thể kể một vài bài viết của Nguyễn Hữu Vinh trước khi bị bắt: “Dừng lấy tín nhiệm là một bước lùi”, “khởi công xây dựng mộ treo thứ hai cho Hồ Chí Minh”, “Ủng hộ Thủ tướng thay đổi thể chế”… Ngày 5/5/2019 Nguyễn Hữu Vinh mãn hạn tù sau 5 năm thụ án, nhưng “ngựa quen đường cũ” Vinh lại tiếp tục viết bài xuyên tạc, kích động, đả phá chế độ. Có thể kể ra một số bài viết gần đây của Nguyễn Hữu Vinh: “Đốt lò, đánh chuột, cắt cành và … đốt sách” để xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam; “Tin trộm mất bò, tin nhà nước mất cơ nghiệp” đăng trên Bureau Media-Á châu nhằm kích động người dân trong các vụ tranh chấp đất đai, xuyên tạc các vụ việc tranh chấp đất đai những năm vừa qua; “Những chiếc vòng chỉ vẽ cho dân” kích động, xuyên tạc chính sách pháp luật của Đảng, Nhà nước qua vụ xét xử cựu Chủ tịch TP Hà Nội Nguyễn Đức Chung.
Gần đây trên mạng xã hội Nguyễn Hữu Vinh tung ra bài viết: “Đảng ta là trí tuệ nhân loại?” nhân việc những tấm hộ chiếu mẫu mới của Việt Nam không ghi nơi sinh và bị một số nước không chấp nhận cho nhập cảnh. Vớ được sự việc này, Nguyễn Hữu Vinh la toáng lên một cách không thể mất dạy hơn: “Và giả sử, nếu các nước cảnh giác với những dòng họ đem lại nhiều rắc rối, gieo rắc chủ nghĩa cộng sản đi các nơi như họ Hồ, thì hiện Bộ Công an có bỏ luôn Passport công dân hay không?”. Xin thưa, câu chuyện cũng không quá phức tạp như cách bình luận láo xược, bậy bạ của Nguyễn Hữu Vinh, bởi vì theo tin từ Bộ Công an, hộ chiếu mẫu mới của Việt Nam tuân thủ Luật Xuất nhập cảnh của công dân năm 2019; thỏa mãn các điều kiện, tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO). Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều công nhận mẫu hộ chiếu mới của Việt Nam, đối với một số quốc gia tạm thời chưa chấp nhận do yếu tố kỹ thuật, Bộ Công an cũng đã đưa ra giải pháp trước mắt để thuận lợi cho quá trình nhập cảnh của người dân. Cũng cần lưu ý, chỉ có nước là Đức, Tây Ban Nha và Séc là chưa chấp nhận hộ chiếu mới của Việt Nam, gần đây Tây Ban Nha đã chấp nhận.
Có vẻ như trên cái đà của cơn “hết khôn dồn đến dại”, Nguyễn Hữu Vinh còn lớn tiếng: “Trong lịch sử hình thành và tồn tại của Cộng sản trên đất Việt Nam, có thể nói tắt một câu rằng: Đó là tai họa của dân tộc”. Có lẽ không có một sự “đổi trắng thay đen” nào trắng trợn, kinh tởm hơn Nguyễn Hữu Vinh. Một người dân nước Việt bình thường nhất cũng đều biết: Tất cả đã thay đổi từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đất trời và con người như bừng tỉnh, ánh sáng của Đảng đã xua tan màn đêm tối tăm, bình minh thức giấc và con người thì tràn trề niềm tin, hy vọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống yêu nước và Chủ nghĩa anh hùng cách mạng đã được phát huy cao độ. Mỗi người dân Việt Nam không kể già trẻ, gái trai, sẵn sàng hy sinh vật chất, tinh thần và cả tính mạng của mình để “Tổ quốc bay lên” như hai cuốn nhật ký của hai anh Anh hùng Liệt sỹ Đặng Thùy Trâm và Nguyễn Văn Thạc đã viết. Nhờ đó mùa xuân năm 1975 đất nước đã hòa tấu lên khúc khải hoàn ca, non sông thống nhất, Bắc Nam một nhà.
Bước vào công cuộc đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục đưa con thuyền cách mạng Việt Nam ra biển lớn, tận dụng thời cơ và thẳng thắn nhìn nhận những han chế, khuyết điểm trong nội tại, xác định những thách thức khó khăn để đưa ra những quyết định đúng. Một dân tộc anh hùng trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc nay tiếp tục phát huy truyền thống đó trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được củng cố vững chắc, nhất là từ khi ra nhập WTO năm 2007 được bạn bè quốc tế đánh giá cao. Đảng đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong đường lối lãnh đạo của mình, không bị ru ngủ bởi những chiến công hiển hách trong quá khứ.
Cũng cần phải nói, đây không phải là lần đầu tiên Nguyễn Hữu Vinh ngông cuồng, lộng ngôn, láo xược, xỉ nhục và lăng mạ Đảng Cộng sản Việt Nam – chính đảng duy nhất lãnh đạo và cầm quyền hơn 90 năm qua, nơi mà cha Y từng là một Ủy viên Trung ương. Rõ ràng rồi, cùng với những Bùi Tín, Cù Huy Hà Vũ… thì Nguyễn Hữu Vinh chính là một “thằng con trời đánh”. Thế mới biết, ở đời vẫn có câu chuyện “cha dạy học, con đốt sách” lại đúng với kẻ vong ơn này. Và không còn nghi ngờ gì nữa, cứ đà này thì con đường trở lại trại giam của Nguyễn Hữu Vinh sẽ không xa là bao. Tiếc thay cho một kẻ bệnh hoạn luôn cố tự bưng tai bịt mắt mình, bôi nhọ “danh gia vọng tộc”.
Mình già rồi, chẳng còn bao năm. Chỉ lo cho thế hệ con cháu sau này. Xuyên tạc lịch sử, hạ bệ thần tượng, rửa mặt cho giặc và đau đớn nhất là việc những người cộng sản lại sa ngã, vô tình hay cố ý tiếp tay cho giặc. Liên Xô sụp đổ vì nhiều lý do nhưng lý do lớn nhất là tự chính Liên Xô đánh bại Liên Xô. Cách mạng màu, diễn biến hoà bình sẽ không có đất dụng võ nếu cán bộ đảng viên kiên định, chuẩn mực, nhãn quan chính trị tốt.
Đất nước này có được độc lập, tự do, hạnh phúc như hôm nay là nhờ những người cộng sản đã gắn bó máu thịt với nhân dân, dân tin yêu thì mới chiến thắng mọi kẻ thù. Nhân dân Việt Nam anh minh lắm. Giờ đây, ngoài tham nhũng, tiêu cực thì xuyên tạc, xét lại lịch sử là điều mà chúng ta quan tâm nhất. Lãnh đạo các cấp cần quan tâm. Không biết thì hỏi nhân dân, đừng tổ chức hội thảo kiểu mắc màn, thuê bọn cơ hội làm chủ. Gia Long, Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản, Trương Vĩnh Ký... được vinh danh, đó là nỗi sĩ nhục to lớn nhất đối với tổ quốc Việt Nam anh hùng và đời đời văn hiến. Ai mơ hồ, tiếp tay thì nên xem lại mình. Dân tộc này không có truyền thống nhận giặc làm cha./.
Cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đang mở ra nhiều cơ hội cho các nước trong khu vực, đặc biệt
là các nước đang phát triển như Việt Nam. Nhờ tiềm năng to lớn của chuyển đổi
số và sự cải thiện đáng kể của các trụ cột chính để tiếp cận cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư, như hạ tầng công nghệ thông tin, nguồn nhân lực và thể chế
thời gian qua chính là điều kiện để Việt Nam có thể tận dụng tối đa các cơ hội
mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại. Nhiều lĩnh vực sẽ được hưởng
lợi từ cuộc cách mạng này nếu có chiến lược phát triển đúng hướng, như thương
mại điện tử, du lịch, công nghệ thông tin, tài chính - ngân hàng, giáo dục, y
tế, chính phủ điện tử... Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu
rộng vào nền kinh tế thế giới, với việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự
do thế hệ mới, quy mô lớn và chất lượng cao, như Hiệp định Đối tác toàn diện và
tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Liên minh
châu Âu - Việt Nam (EVFTA),... sẽ tạo điều kiện tiếp cận thành tựu công nghệ
sản xuất mới để tham gia hiệu quả chuỗi giá trị toàn cầu, tạo cơ sở để Việt Nam
có thể đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, tăng năng suất lao động, góp phần
rút ngắn khoảng cách phát triển giữa Việt Nam và các nước trong khu vực và trên
thế giới. Theo dự báo, tới năm 2030, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư có
thể thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế Việt Nam từ 28,5 tỷ USD - 62,1 tỷ USD,
tương đương 7% - 16% GDP
Tuy nhiên, cuộc Cách
mạng công nghiệp lần thứ tư cũng tạo ra sức ép lớn đối với một số ngành, nhóm
ngành, như năng lượng, công nghiệp chế tạo, dệt may, điện tử... trong trung
hạn. Một số chuyên gia kinh tế nhận định, trong khi thế giới đang tiến vào cuộc
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn tương ứng
với trình độ cuộc Cách mạng công nghệ lần thứ hai với công nghệ lạc hậu, thâm
dụng lao động và chủ yếu tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu ở một số
khâu đơn giản, giá trị gia tăng thấp như gia công, lắp ráp... Bên cạnh đó, phần
lớn doanh nghiệp của Việt Nam là các MSME phải đối mặt với nhiều rào cản trong
quá trình chuyển đổi số. Trong báo cáo của Tập đoàn Cisco năm 2018 về chỉ số
phát triển kỹ thuật số của doanh nghiệp vừa và nhỏ khu vực châu Á - Thái Bình
Dương cho thấy, các rào cản của MSME Việt Nam bao gồm thiếu kỹ năng số và nhân
lực (17%), thiếu nền tảng công nghệ thông tin đủ mạnh để cho phép chuyển đổi kỹ
thuật số (16,7%), thiếu tư duy kỹ thuật số hoặc các thách thức về văn hóa kỹ
thuật số trong doanh nghiệp (15,7%)...
Có thể thấy rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã và đang mở ra
nhiều cơ hội cho các nước, nhất là các quốc gia khu vực Đông Nam Á như Việt Nam
nhờ vào chuyển đổi kinh tế số để có thể rút ngắn khoảng cách phát triển. Tuy
nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức cho Việt Nam, nhất là trong
bối cảnh Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Vì vậy, việc
khéo léo lựa chọn con đường phát triển phù hợp là bước đi phù hợp để có thể vừa
tránh được những rủi ro, vừa tận dụng tối đa các cơ hội do cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư mang lại.
Sự phát triển
của đồ dùng công nghệ và internet đã làm thay đổi cả giới trẻ Việt Nam và thế
giới. Những bạn trẻ đã chạy theo những giá trị ảo, những thứ không mang lại bất
kỳ lợi ích nào cho bản thân. Chúng không hề tác động đến kinh tế, sức khỏe,
tinh thần và sự phát triển nhân cách của bạn. Đồng ý với quan điểm là internet
và những thiết bị công nghệ đã khiến cuộc sống của chúng ta dễ dàng hơn rất
nhiều. Nhưng nếu bạn sử dụng nó một cách không hợp lý thì nó sẽ làm ảnh hưởng
xấu tới con người bạn. Điển hình là hiện nay giới trẻ thường gọi nhau bằng từ “gen
z” và sử dụng những ngôn ngữ chat. Các bạn đã biến thứ ngôn ngữ chát thường
ngày thành một loại ngôn ngữ khiến những người bình thường không thể nào hiểu
nổi.
Việc chạy theo
các giá trị ảo khiến cho các bạn bị phụ thuộc quá nhiều vào mạng xã hội facebook,
nghiện game online. Có rất nhiều những vụ việc đáng tiếc xảy ra với những
trường hợp này, chỉ cần google là bạn sẽ tìm ra rất nhiều những câu chuyện liên
quan.Bệnh vô cảm
là một trong những vấn đề xã hội nổi bật trong giới trẻ hiện nay. Nó được hiểu
là một trạng thái tinh thần mà con người không nảy sinh trạng thái tình cảm,
cảm xúc đối với những sự vật, sự việc diễn ra xung quanh mình. Họ chỉ nghĩ đến
lợi ích của bản thân, ngại va chạm, sợ phiền toái, luôn quan niệm rằng đó không
phải chuyện của mình. Có những bạn trẻ chỉ chăm chăm vào việc học nhưng lại
quên mất những điều mà giảng đường không hề giảng. Thay vì chỉ chạy theo điểm
số thì hãy thử quan tâm xung quanh mình để thấy những điều tuyệt vời.Những vấn đề trên là những tiêu biểu củanhững vấn đề xã hội nổi bật trong giới trẻ hiện nay. Hay
nói khác đi thì nó chính là những “căn bệnh” mà người trẻ đang mang trong mình.
Nếu bạn có một trong ba trường hợp trên thì hãy thay đổi bản thân của mình. Bên
cạnh bạn còn rất nhiều điều chờ bạn khám phá.
Hiện nay giới trẻ Việt Nam nói riêng và
trên thế giới nói chung đang có những vấn đề xã hội nổi bật. Khi xã hội ngày
một phát triển thì những vấn đề xã hội mới càng nảy sinh nhiều. Các vấn đề đó
luôn đòi hỏi những kiến giải có cơ sở khoa học. Giới trẻ chính là nhóm xã hội
chịu tác động mạnh mẽ của những biến đổi xã hội này. Khi quá trình biến đổi xảy
ra, lúc nào cũng xuất hiện hai trường phái đối lập nhau. Đó chính là sự đan xen
nhau giữa những giá trị cũ và giá trị mới. Chính vì thế mà hiện nay xuất hiện rất
nhiều vấn đề xã
hội nổi bật trong giới trẻ hiện naycần được
nghiên cứu để định hướng, điều chỉnh và đề xuất những kiến giải khoa học cần
thiết để góp phần làm cho xã hội ngày càng phát triển.
Căn
bệnh “Hikikomori” – Sống tách biệt với xã hội của giới trẻ hiện nay.
Hikikomori là một thuật ngữ dùng để ám
chỉ những người luôn tự giam mình trong nhà và không giao tiếp với bất kỳ ai
ngoài gia đình liên tục trong 6 tháng. Căn bệnh này rất phổ biến ở Nhật Bản và
các nước phát triển khác. Theo thống kê hiện nay có hơn một triệu người mắc căn
bệnh này. Trong số đó thì có trên 20% số người mắc bệnh đã ngắt kết nối với
cộng đồng từ ba năm trở lên.
Không thể phủ nhận vai trò của Quân đội về vấn đề đấu
tranh trên không gian mạng
Đấu tranh với thông
tin sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội là việc làm cần thiết, là
trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ quân đội...
Những ngày vừa qua,
ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ký quyết định và công bố thành lập Bộ Tư lệnh
tác chiến không gian mạng trực thuộc Bộ Quốc phòng, trên một số trang mạng xã
hội, các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị lại đẩy mạnh
hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Trong các bài viết chúng rêu rao rằng việc
quân đội ta tham gia bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng là việc làm “vi hiến”.
Quân đội chỉ có thể chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân chứ
không có chức năng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trên không gian mạng. Thậm chí
chúng còn xuyên tạc rằng: “Sự ra đời của Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng
chủ yếu nhằm đàn áp tự do ngôn luận, tôn giáo, đàn áp nhân dân”, “bóp cổ
internet”...
Trước hết, phải khẳng định quan điểm trên là hoàn toàn sai trái, thiển cận, đi
ngược lại với quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước ta. Trong Nghị quyết Đại
hội XII của Đảng và nhất là Nghị quyết số 28-NQ/TW về “Chiến lược bảo vệ Tổ
quốc trong tình hình mới”, Đảng ta đã đề cao trách nhiệm bảo vệ Tổ quốc trên
không gian mạng, nhận định nguy cơ xảy ra chiến tranh mạng, mất an ninh thông
tin ngày càng tăng và đặt ra mục tiêu phải chủ động phòng ngừa, ngăn chặn có
hiệu quả chiến tranh mạng.
Điều 66, chương IV “Bảo vệ Tổ quốc” Hiến pháp năm 2013 quy định về nhiệm vụ của
quân đội là: “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động
viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp, làm nòng cốt
trong thực hiện nhiệm vụ quốc phòng” và “Quốc phòng là công việc giữ nước của
một quốc gia”. Vì thế, quân đội không chỉ bảo vệ toàn vẹn vùng đất, vùng trời,
vùng biên giới, biển đảo của Tổ quốc, mà còn bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân,
chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ an ninh tư tưởng, an ninh văn hóa và bảo vệ cả
trên không gian mạng. Do vậy, quân đội tham gia đấu tranh trên không gian mạng
là thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, hoàn toàn phù hợp với quy định của Hiến
pháp.
Thực tế, thời gian qua, đã xuất hiện một số hình thái chiến tranh mới như chiến
tranh thông tin, chiến tranh mạng, trực tiếp đe dọa chủ quyền, lợi ích quốc gia
dân tộc trên không gian mạng. Các thế lực thù địch, phản động, tội phạm công
nghệ cao đã triệt để lợi dụng không gian mạng để chống phá Đảng, Nhà nước. Cụ
thể, gần đây, một số tin tặc, tội phạm công nghệ cao đã liên tiếp tấn công hệ
thống mạng của các sân bay Nội Bài, Tân Sơn Nhất, Tập đoàn Dầu khí quốc gia làm
ngưng trệ hoạt động và xóa thông tin dữ liệu, không chỉ gây thiệt hại lớn về
kinh tế mà còn trực tiếp đe dọa, làm tổn hại uy tín, vị thế, lợi ích, chủ
quyền, an ninh, an toàn của đất nước, đời sống nhân dân. Mặt khác, dưới các
chiêu bài “bảo vệ dân chủ, nhân quyền”, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị
đã xúc tiến thành lập các nhóm, hội như “Hội Phụ nữ nhân quyền”, “Nhóm công dân
tự do”... thông qua internet, mạng xã hội, thu thập tin tức nội bộ, bí mật Nhà
nước cung cấp cho lực lượng bên ngoài nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu Đảng,
Nhà nước.Trước tình hình đó, đấu tranh với thông tin
sai trái, xấu độc trên internet, mạng xã hội là việc làm cần thiết, là trách
nhiệm của cả cộng đồng, trong đó có cán bộ, chiến sĩ quân đội. Việc thành lập
Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng là hoàn toàn phù hợp với quy luật, xu thế
khách quan, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã thành lập lực lượng tác chiến không gian
mạng để bảo vệ chủ quyền quốc gia như Anh, Mỹ, Trung Quốc,... Và tác chiến
không gian mạng trở thành một phương thức tác chiến cơ bản giữ vai trò quan
trọng trong các cuộc chiến tranh có áp dụng các vũ khí công nghệ cao.
Hiện nay, các thế lực thù địch
đang triệt để lợi dụng Internet, các trang mạng xã hội để đăng tải thông tin
xấu độc, bịa đặt, sai sự thật, bóp méo, xuyên tạc, làm lẫn lộn đúng - sai, thật
- giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và
định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch; bôi nhọ, vu khống lãnh
tụ, kích động bạo lực, lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin…
Song do nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về âm mưu,
hoạt động “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa cũng như tác hại
của quan điểm sai trái, thù địch đối với xã hội còn hạn chế; sự phối hợp giữa
các cơ quan ban, ngành trong tuyên truyền và đấu tranh, phản bác còn mang tính
hình thức, thụ động, chưa đa dạng, phong phú về nội dung, có nơi, có lúc còn
thiếu sắc bén, tính thuyết phục chưa cao; việc thực hiện các chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại một số địa phương còn sơ hở, thiếu
sót; việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện ở một số nơi còn chậm, kéo dài,
vượt cấp, gây bức xúc trong nhân dân… là những yếu tố để kẻ địch triệt để lợi
dụng tuyên truyền các luận điệu sai trái, thù địch với nước ta.
Thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng 2 trang
mạng xã hội là Facebook và Youtube để đăng, chia sẻ những thông tin sai trái,
cơ hội chính trị lên không gian mạng Internet. Thủ đoạn thường được chúng sử
dụng đó là dùng những tin, bài, những hình ảnh trên các báo chí chính thống của
ta ở trong nước, sau đó viết lại, chỉnh sửa thành những nội dung bịa đặt hoặc
định hướng sai lệch để đăng tải. Điều này thu hút sự quan tâm của người xem,
người đọc trước những thông tin có nội dung giống với các thông tin chính
thống, tạo cảm giác nửa tin, nửa ngờ và nếu không tìm hiểu, nghiên cứu kỹ sẽ bị
tác động xấu bởi những thông tin xuyên tạc này. Ngoài ra, các đối tượng sử dụng
trang Blog để nói xấu, chống phá Đảng, Nhà nước, khi nó kết hợp với mạng xã
hội, các bài viết trên Blog được chia sẻ lên mạng xã hội tạo sức lan tỏa lớn.
Để đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên
Internet, mạng xã hội hiện nay cần phải đổi mới, nâng cao chất lượng nội dung
thông tin chính thống, đảm bảo phong phú, đa dạng, nhiều cấp độ, tùy theo đối
tượng để cung cấp, phổ biến, truyền tải. Đồng thời luôn xây dựng bản lĩnh vững
vàng, có nhận thức đúng đắn, có sự suy xét khi tiếp cận những thông tin nhạy
cảm, ở những thời điểm diễn ra các sự kiện mà các thế lực thù địch có thể lợi
dụng để xuyên tạc, chống phá. Loại bỏ những thông tin xuyên tạc, chống phá của
các thế lực thù địch ra khỏi không gian mạng bằng cách tạo môi trường trong
sạch về thông tin. Đặc biệt, các cơ quan báo chí, truyền thông, các tổ chức
đoàn thể và toàn thể nhân dân cần phối hợp chặt chẽ, tạo nên sức mạnh tổng hợp
chỉ rõ các quan điểm sai trái, vạch trần các âm mưu phản động thù địch, từng
bước cô lập chúng trên mạng xã hội. Chủ động chia sẻ, lan tỏa những tin, bài,
ảnh có nội dung tích cực, gương người tốt việc tốt trong học tập, công tác, lao
động sản xuất, trong cuộc sống, sinh hoạt thường ngày... “lấy cái đẹp để dẹp
cái xấu”. Nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không tin theo, không truy
cập và tán phát, chia sẻ những thông tin xấu độc, cũng là góp phần đấu tranh
làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù
địch, phản động trên không gian mạng.
Việt Nam được cho là một
trong những quốc gia có khả năng thích ứng tương đối tốt với cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư nhờ sự chủ động tạo dựng môi trường phát triển công nghệ
với nguồn nhân lực chất lượng cao về ngành công nghệ. Đây là điều kiện thuận lợi
để Việt Nam chủ động khai thác các cơ hội mà cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ
tư mang lại. Trong thời gian qua, tỷ lệ ứng dụng thành quả của cuộc Cách mạng
công nghiệp lần thứ tư ngày càng gia tăng, nhiều sản phẩm được đưa vào trang bị
trong các ngành, nghề. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng
đang tạo ra nhiều thách thức đối với việc bảo đảm an ninh - chính trị của Việt
Nam. Sự tăng trưởng năng động của Việt Nam cùng với sự bùng nổ của các công nghệ
hiện đại khiến tỷ lệ tham gia internet của các cơ quan chính phủ, tổ chức,
doanh nghiệp và người dân ngày càng nhiều và trở thành mục tiêu của các cuộc tấn
công mạng. Thời gian gần đây, số lượng các cuộc tấn công các trang mạng của các
cơ quan chính phủ, hệ thống tài chính, ngân hàng, hạ tầng thông tin trọng yếu,
doanh nghiệp tại Việt Nam... nhằm đánh cắp thông tin, bí mật nhà nước, đánh cắp
thành tựu khoa học - công nghệ, sở hữu trí tuệ... ngày càng gia tăng. Theo thống
kê của nhà sản xuất phần mềm bảo mật Kaspersky, Việt Nam có số lượng máy tính
điều khiển hệ thống công nghiệp bị tấn công mạng nhiều nhất trên thế giới, với
tỷ lệ gần 70%(10). Trong khi đó, nền tảng
kết cấu hạ tầng mạng của Việt Nam còn nhiều lỗ hổng bảo mật, chưa được kiểm
tra, đánh giá thường xuyên. Thực trạng này không chỉ đặt ra thách thức đối với
an toàn của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp mà còn tiềm ẩn các hoạt động lợi dụng
không gian mạng để kích động biểu tình, phát tán thông tin xấu, độc, sai sự thật
nhằm tiến hành các hoạt động khủng bố, tuyên truyền chống phá chế độ. Điều
này tác động trực tiếp tới vấn đề ổn định chính trị - an ninh của Việt Nam.
Bộ Chính trị vừa ban hành Quy định số 80 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử. Quy định nêu rõ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện định hướng và quyết định những chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc.
Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký ban hành Quy định số 80 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử. Quy định trên thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị. Quy định số 80 là bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của hệ thống chính trị; đánh giá cán bộ khách quan, công tâm; lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.
Về trách nhiệm quản lý và quyết định đối với cán bộ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện định hướng và quyết định những chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trực tiếp quyết định một số nội dung trong công tác cán bộ; phân công, phân cấp cho các cấp uỷ, tổ chức đảng quyết định một số nội dung đối với các chức danh lãnh đạo thuộc diện Trung ương quản lý và các chức danh cán bộ khác; uỷ quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư quyết định một số khâu, nội dung trong công tác cán bộ. Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng những vấn đề lớn về công tác cán bộ, chiến lược cán bộ. Bộ Chính trị chuẩn bị và giới thiệu nhân sự để Ban Chấp hành Trung ương Đảng xem xét, bầu Tổng Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương (Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương), Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương, giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội.
Bộ Chính trị xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương Đảng trước khi giới thiệu nhân sự để Quốc hội bầu, phê chuẩn đối với các chức danh: Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án TAND Tối cao, Viện trưởng Viện KSND Tối cao, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Tổng Thư ký Quốc hội, Chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội, Tổng Kiểm toán Nhà nước, các thành viên Chính phủ.
Ban Bí thư có trách nhiệm quyết định đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, phân công, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, tái cử, chỉ định, điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ; phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng; cho thôi giữ chức vụ; tạm đình chỉ, đình chỉ chức vụ, cho từ chức, miễn nhiệm, cách chức; khen thưởng, kỷ luật; thực hiện chế độ, chính sách đối với các chức danh cán bộ nêu tại Mục II, Phụ lục 1 của Quy định này. Bên cạnh đó, Ban Bí thư uỷ quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư trong phạm vi, lĩnh vực phụ trách xem xét.
Thường trực Ban Bí thư có trách nhiệm chủ trì cùng Trưởng Ban Tổ chức Trung ương và Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương xem xét kết quả bầu cử và quyết định chuẩn y ban chấp hành, ban thường vụ, bí thư, phó bí thư; uỷ ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra và các chức danh bầu bổ sung của các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương.
So với Quy định số 105, Quy định số 80 đã bổ sung nhiều điểm mới, trong đó quy định rõ hơn về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức vụ cao hơn. Cụ thể, Quy định số 105 trước đây chỉ quy định chung là cán bộ bị kỷ luật từ khiển trách trở lên thì không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời gian ít nhất 1 năm kể từ khi có quyết định kỷ luật. Đảng viên bị kỷ luật cách chức trong vòng 1 năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không chỉ định, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Lần này, Quy định số 80 quy định rõ hơn thời gian không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn căn cứ theo các mức độ kỷ luật. Cụ thể, 12 tháng đối với hình thức kỷ luật khiển trách; 30 tháng đối với hình thức kỷ luật cảnh cáo; 60 tháng đối với hình thức kỷ luật cách chức./.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng và luôn mang tính thời sự. Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như hiện nay thì tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thử máy cấy lúa cải tiến tại Trại thí nghiệm trồng lúa Sở Nông lâm Hà Nội (năm 1960).
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là cái gốc của con người trong mọi thời đại, mà còn đưa ra khái niệm đạo đức mới, với nội dung mới, phản ánh đạo đức ở tầm cao hơn, rộng hơn, sâu sắc hơn, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng làm nên sức mạnh của Đảng và là một nhân tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin; sự tiếp thu và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với cách mạng Việt Nam, sự đòi hỏi về đạo đức còn cao hơn, bởi cách mạng Việt Nam phải tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tiến hành ở một nước nông nghiệp lạc hậu và phải đương đầu với các thế lực thù địch, phản động nhất, xảo quyệt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng nhất định sẽ thành công, nhưng thành công nhanh hay chậm, mức độ thành công lớn hay nhỏ... tùy thuộc vào đạo đức cách mạng của những người làm cách mạng, trình độ giác ngộ cách mạng và ý chí chiến đấu của quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3).
Đề cao vai trò của tư tưởng, tinh thần, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có người nói: Lúc này mà xem trọng tinh thần tư tưởng là không duy vật biện chứng. Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần. Lúc bấy giờ thực dân, phong kiến có công an, quân đội, cảnh sát, chính quyền - tất cả, Đảng ta chỉ có hai bàn tay không. Vì sao ta thành công? - Vì ta đoàn kết! Lấy gì mà đoàn kết? Lấy tinh thần!”(4).
Với tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người không ngừng giáo dục những phẩm chất đạo đức cách mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức cách mạng, một mặt, là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như hiện nay; mặt khác, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của những người lãnh đạo. Trong lịch sử các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, những vị vua nắm quyền trị nước cũng như những lãnh tụ dân tộc muốn lãnh đạo được nhân dân và được nhân dân tin theo, đều phải là những người gương mẫu về đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bản thân Người nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng - những phẩm chất đạo đức cao đẹp, trong đó bao hàm nhiều giá trị mới, tích cực và tiến bộ. Người quan niệm đạo đức cách mạng là nền tảng tạo ra động cơ hành động đúng đắn, tạo ra ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác, giản dị, khiêm tốn; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”(5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò, tác dụng cũng như những biểu hiện cao quý của đạo đức cách mạng và chứng thực điều đó qua tấm gương của những chiến sĩ cộng sản tiền bối đã làm nên truyền thống vẻ vang của Đảng, của cách mạng: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức là gốc, quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc; nhờ đó mà đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nói chung cũng như đạo đức cách mạng nói riêng cho mọi người, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tựu trung lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng gồm những điểm cơ bản sau đây:
Một là, phẩm chất trung với nước, hiếu với dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ quan niệm đạo đức cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong xã hội phong kiến phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, cao rộng hơn là “trung với nước, hiếu với dân”. Người khẳng định: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(7). Chỉ dẫn đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn lâu dài mãi mãi về sau.
Hai là, tình yêu thương con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình yêu thương con người rất toàn diện và độc đáo. Người xác định tình yêu thương con người là một phẩm chất cao đẹp nhất trong tình cảm đạo đức của loài người. Người luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng bào, đồng chí rất bao la, sâu rộng và toàn diện, không phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái..., hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tấm lòng bao dung cao cả của một người Cha, đặc biệt là đối với những người phạm phải sai lầm, khuyết điểm. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”(8). Chính vì vậy, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(9); mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến tình yêu thương con người.
Ba là, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao, với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. Kiệm còn có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc nào của Nhà nước, của nhân dân; phải trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, nhờ đó mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn; đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình; đối với người thì không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc; đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư tức là “làm việc vì sự nghiệp chung, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết; không tư lợi, vụ lợi, không vì lợi ích riêng”(10). Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình phải đi sau, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người, nhất là những người có vị trí ảnh hưởng đối với xã hội, cộng đồng, phải luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hành theo bốn đức tính: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một đức tính cũng không thể thành người. Bởi, “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/Thiếu một mùa, thì không thành trời/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”(11).
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng một câu thơ “Quan sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em!”(12), là tinh thần đoàn kết giữa những người cộng sản với các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới mà Người đã dày công vun đắp bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó cũng là tinh thần đoàn kết, hợp tác và hữu nghị của nhân dân Việt Nam với tất cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, vì mục tiêu hòa bình, công lý, tiến bộ xã hội và độc lập dân tộc.
Đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc. Chính Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam và những phẩm chất đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quy tắc đạo đức mà Người nêu ra đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong suốt 53 năm thực hiện Di chúc của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.
TIẾP TỤC TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC VÀ RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG BỐI CẢNH MỚI
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, còn phải cần đến sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của Đảng. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên, liên tục hơn. Với nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn nhận rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, sa vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi và liên tục tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên gây ra, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Nhận thức rõ sự tác động qua lại giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và môi trường xã hội, cũng như những đổi thay có thể diễn ra trong nhân cách cùng ý thức và hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị to lớn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(13). Đây chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với các đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là những đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Đăk Mút, xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum.
Qua hơn 35 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có bước chuyển biến tích cực, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Đa số cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trước những tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ... một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Nhận định những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1/1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam(14). Tại các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương tiếp theo, Đảng có những đánh giá thẳng thắn về các nguy cơ này; trong đó, nổi lên các biểu hiện đáng lo ngại là: Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nguy hiểm là sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm” bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.
Như vậy, thực trạng suy giảm đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây hậu quả rất nặng nề, làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng, mà nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng những việc làm, ứng xử và hành xử, là những người có đạo đức.
Nhìn nhận rõ thực trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng đã nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức và đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức””(15). Lần đầu tiên, Đảng đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức - một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - vào trong văn kiện. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một thành tố nữa vào công tác xây dựng Đảng là cán bộ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16).Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ báo đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩm chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây chính là khâu đột phá về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: Lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong thời gian tới, để tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:
Một là, mọi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây phải được xác định là biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Trước hết, việc học tập, tự học tập để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các nội dung học tập phải được đưa vào sinh hoạt chi bộ và trở thành nền nếp. Thường xuyên trao đổi, thảo luận, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương. Biểu dương những việc làm tốt, kịp thời phát hiện, uốn nắn những việc làm chưa tốt, nhất là trong việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác phấn đấu và tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức được xây dựng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng tổ chức đảng.
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai giúp dân.
Hai là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, đặc biệt là quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đây được xác định là khâu mấu chốt để thực hiện việc nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Để thực hiện tốt nội dung này, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu(17).
Ba là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Một mặt, để nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra trước hết là phải xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức thì tổ chức, đơn vị đó mới hoạt động có hiệu quả. Thực tế cho thấy, phải có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng thì mỗi cá nhân mới có đóng góp cụ thể cho tổ chức, mới “nói đi đôi với làm”, tham gia cùng tập thể chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, để động viên, khuyến khích tinh thần trách nhiệm và hạn chế thói lười biếng, vô trách nhiệm, ỷ lại, tư lợi cá nhân của cán bộ, đảng viên, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát về những nội dung này; thông qua kiểm tra, giám sát để quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị, nhất là những cán bộ có chức, có quyền, trong các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm, như quản lý kinh tế, công tác cán bộ... Đồng thời, phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.
Bốn là, không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với việc tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Quá trình đổi mới và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để hạn chế những “lỗ hổng” dễ bị lợi dụng; đặc biệt, cần tăng cường kỷ cương, phép nước, tính nghiêm minh của pháp luật để củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và thực hiện kỷ luật đảng thật sự nghiêm minh; xử lý kịp thời, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào; kiên quyết đấu tranh với những thói hư, tật xấu trong Đảng.
Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong giám sát cán bộ, công chức. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Bên cạnh đó, cần phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống./.
(1) (3) (8) (9) (13) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2011, t.15, tr.622, 292, 672, 622, 672.
(10) Nguyễn Phú Trọng: Ra sức học tập, nỗ lực phấn đấu và rèn luyện, không ngừng làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tạp chí Cộng sản, số 968, tháng 6/2021, tr.5.
(11) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.117.
(12) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.12, tr.670.
(14) Xem:Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, H, 2007, t.53, tr.198.
(15) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, H, 2016, tr.202.
(16) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.I, tr.180.
(17) Như: Quy định số 101-QĐ/TW ngày 7/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương;...