Thứ Ba, 6 tháng 9, 2022

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có tính cấp thiết hơn bao giờ

 

Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh có tính cấp thiết hơn bao giờ

 16/09/2016 |  853

Xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ thường xuyên, cốt lõi để Đảng có đủ uy tín, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo đất nước. Đây là nguyên nhân của thành công.

Hơn 86 năm qua, từ khi được thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn một cách xuất sắc nhiệm vụ lịch sử mà dân tộc Việt Nam giao phó cho mình: Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám, lập ra Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; lãnh đạo thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc hùng mạnh hơn gấp bội. Kỳ tích được cả thế giới nể phục, đưa vị thế Việt Nam lên cao trên trường quốc tế. 

Sau khi giải phóng đất nước, giành độc lập, tự do và thống nhất, bước vào giai đoạn xây dựng, bảo vệ và phát triển, Đảng đứng trước những nhiệm vụ mới, phức tạp, đầy khó khăn, thử thách. Kinh nghiệm hơn 40 năm qua đã chỉ cho chúng ta thấy, giành độc lập dân tộc là rất khó khăn, gian khổ, nhưng xây dựng đất nước thật sự độc lập, nhân dân được thật sự tự do và hạnh phúc còn khó khăn hơn vạn lần. Đặc biệt khi chúng ta đi vào phát triển đất nước trong lúc bối cảnh thế giới hết sức phức tạp, sự cạnh tranh kinh tế quyết liệt... Nếu có đường lối đi đúng sẽ có cơ hội, nếu không thì sẽ tụt hậu, bị đẩy lùi.

Giai đoạn mới đòi hỏi phải có tư duy mới, phải biết nhìn thẳng vào thực tế... mà quyết định đường lối, chính sách.

Đến năm 1986, hơn 10 năm sau ngày đất nước thống nhất, từ những bài học thực tiễn, Đảng ta đã “nhìn thẳng vào sự thật”, đề ra đường lối đổi mới. Đường lối đổi mới của Đại hội VI đã đem lại cho nhân dân ta những thành tựu quan trọng, làm cho cuộc sống có rất nhiều thay đổi. Tuy nhiên, đường lối đổi mới đó chủ yếu ở một số mặt về kinh tế, chính trị, văn hóa, cho nên đổi mới chưa toàn diện, chưa đồng bộ. Đó là nguyên nhân của những yếu kém, chậm phát triển của chúng ta hiện nay.

Đảng lãnh đạo, trước hết bằng đường lối chính trị. Vì vậy, để xây dựng Đảng trước hết phải quan tâm đến xây dựng đường lối chính sách chính trị trong các lĩnh vực. Trong nhiều nghị quyết, Đảng nhấn mạnh phải nâng cao trình độ lý luận, đi sát vào thực tiễn để ngày càng hoàn chỉnh đường lối, chính sách, là hết sức đúng. Thí dụ cần phải làm rõ hơn nữa vấn đề kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vấn đề kinh tế nhà nước là chủ đạo, vai trò sở hữu đất đai, v.v. Có làm rõ những điều trên thì mới có thể “hoàn thiện thể chế” phù hợp với tình hình hội nhập quốc tế. Trước hết phải nhận thức được là chúng ta ở trong thế giới toàn cầu hóa, chi phối bởi chủ nghĩa tư bản và mục tiêu trước mắt chúng ta là phải giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đó là yêu cầu của vận mệnh đất nước và cũng là cơ sở để nhân dân ta phấn đấu đi lên.

Trong xây dựng Đảng, việc xác định đường lối chính trị là quyết định, là vô cùng quan trọng. Nhưng là Đảng cầm quyền nên Đảng cũng phải là người xác định đường lối tổ chức và xây dựng đội ngũ cán bộ để thực hiện đường lối của mình đề ra. Điều đó cuối cùng là quan trọng nhất và quyết định sự thành công hay thất bại của Đảng.

Hiện nay, có thể nói chúng ta đang ở giai đoạn có nhiều sự biến đổi, phức tạp cả về chính trị cũng như giá trị đạo đức xã hội, vấn đề tổ chức - cán bộ trong xây dựng Đảng càng phải đặc biệt nhấn mạnh.

Xét trong thực tế tình hình của đất nước, cũng thấy rõ một số thành tựu về kinh tế - xã hội đạt được là nhờ sự cố gắng phấn đấu của những cán bộ, đảng viên và nhân dân. Nhưng những sai lầm, thất bại cũng do một số cán bộ, không phải nhỏ, tiêu cực, trong đó có cả cán bộ cấp cao, đã thiếu trách nhiệm, tham nhũng, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vì vậy theo tôi có thể nói mọi sự yếu kém, chậm phát triển trước hết là do chủ quan, sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước còn nhiều mặt bất cập, thiếu hiệu lực. Đó là nguyên nhân của các nguyên nhân như nhiều cuộc tổng kết đã chỉ ra. Chính vì lý do đó, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng đưa ra, và bài phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư sau Hội nghị đã được toàn Đảng, toàn dân hưởng ứng rất mạnh mẽ. Nghị quyết đã đặt vấn đề phải chỉnh đốn Đảng, nâng cao sức chiến đấu của cán bộ, đảng viên, loại trừ những cán bộ, đảng viên mất phẩm chất, thoái hóa về tư tưởng, về lối sống, chỉ nghĩ lợi ích cá nhân, không quan tâm lợi ích của nhân dân, của đất nước; phải chống “nhóm lợi ích”, “tư tưởng địa phương cục bộ”, “tư duy nhiệm kỳ” làm suy yếu Đảng, Nhà nước. Nghị quyết nêu việc đặc biệt phải coi trọng xây dựng đội ngũ cán bộ chiến lược, chủ chốt, đầu ngành, v.v.

Rất tiếc, bên cạnh những kết quả đạt được, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng vẫn còn một số hạn chế, khuyết điểm; so với yêu cầu đề ra và so với mong đợi của cán bộ, đảng viên cũng chưa thật sự đáp ứng như mong muốn và qua một số vụ việc đang xảy ra, càng thấy vấn đề chính sách cán bộ của Đảng còn nhiều điểm phải rà soát và tăng cường.

Hiện nay, Bộ Chính trị và Ban Tổ chức Trung ương đang rất quan tâm vấn đề này. Làm sao tổ chức Đảng, Nhà nước vừa gọn, vừa hiệu lực, các cán bộ, đặc biệt là cán bộ ở cấp chiến lược, chủ chốt, đầu ngành, đầu địa phương là những cán bộ lãnh đạo xứng đáng, không ngừng nâng cao trình độ và bản lĩnh, đồng thời phải loại bỏ những phần tử cơ hội, những cán bộ hư hỏng, làm hại đất nước, làm hại nhân dân? Trước hết phải có chính sách và kế hoạch cụ thể để thu hút nhân tài, mặt khác, phải ngăn chặn không cho những người không xứng đáng vào hàng ngũ của Đảng, vào bộ máy chính quyền, đặc biệt không để những người không xứng đáng vào những vị trí lãnh đạo. Ta phải trả lời câu hỏi rất bức thiết: Tại sao có tệ nạn chạy chức, chạy quyền? Phải chăng nguyên nhân chính là chạy theo lợi ích cá nhân, coi đồng tiền là trên hết. Lấy “tiền” để mua “quyền lực”, rồi từ “quyền lực” lại kiếm ra “tiền”.

Để làm được việc này, trước hết và trên hết, Đảng cần đặt vấn đề tăng cường công tác giáo dục đảng viên về đạo đức cách mạng, luôn luôn đặt lợi ích của đất nước, của nhân dân lên trên hết. Đồng thời về tổ chức, phải ngăn chặn cho được tệ nạn “chạy chức, chạy quyền” và cả “chạy biên chế”. Không cho phép mọi hành vi dùng các hình thức mua chuộc, “ưu ái” vô nguyên tắc như dư luận thường nói “nhất tiền tệ, nhì hậu duệ, ba quan hệ, bốn trí tuệ”...

Việc đánh giá cán bộ hết sức quan trọng, tiêu chuẩn đức-tài phải rất rõ ràng, cụ thể, phải dựa trên thực tế, từ ý thức trách nhiệm đến kết quả công tác. Học vị, quá trình công tác chỉ để tham khảo, vấn đề đánh giá con người, lựa chọn cán bộ là cả vấn đề khoa học. Không phải anh đã là cấp ủy thì việc gì anh cũng có thể làm được. Cán bộ lãnh đạo phải tương đối toàn diện, cần có trình độ chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức, đồng thời phải có trình độ chuyên môn cần thiết. Một nhà khoa học giỏi không có nghĩa là một nhà quản lý giỏi.

Một điểm quan trọng mà bấy lâu nay công tác tổ chức - cán bộ thiếu sót là một khi đã đề bạt một cán bộ thì dù họ không làm được việc hoặc vi phạm nhiều sai lầm, lại không có quy định phải “thay”, mà phải chờ hết nhiệm kỳ. Công việc của đất nước bộn bề, phức tạp nên có trường hợp việc bố trí vị trí việc làm chưa chính xác, không phát huy được tác dụng của cán bộ thì cần có quy định cho phép một cán bộ thấy mình không đảm trách công việc được giao xin từ chức một cách đàng hoàng và chuyển sang làm việc khác phù hợp hơn.

Việc lập quy hoạch cán bộ để chuẩn bị cho lớp kế cận là rất cần thiết. Việc lựa chọn cán bộ cần tiến hành một cách dân chủ, công khai, minh bạch. Có người nói làm như vậy có thể có sự ganh tị, kèn cựa nhau. Nếu có tình hình đó, chứng tỏ sự lựa chọn của tổ chức không chính xác và nếu có những người có hành động kèn cựa, ganh ghét nhau, đó là những cán bộ cần phải loại ra trước hết.

Cũng có ý kiến để lựa chọn cho chính xác nên cho họ trình bày dự kiến của mình nếu được đề bạt, coi như một cuộc sát hạch.

Dư luận nói chung cho rằng chủ trương “thi công chức” hiện nay làm rất hình thức, không có tác dụng chọn lọc cán bộ.

Cần rà soát lại quy trình chọn cán bộ. Đến nay, quy trình trên văn bản đặt ra khá chặt chẽ. Nhưng trong thực tế, một số cán bộ không đủ tiêu chuẩn vẫn qua được tất cả các khâu trong quy trình tổ chức đó. Đến khi có vấn đề thì trách nhiệm không rõ. Một cán bộ, nhất là cấp cao, không tốt lọt vào cơ quan lãnh đạo, thì sẽ làm hại cho công việc chung, làm mất uy tín của Đảng và lòng tin của nhân dân.

Và cuối cùng, nên nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ thống cơ quan làm công tác tổ chức - cán bộ của Đảng. Cán bộ làm công tác này cần được lựa chọn đặc biệt. Đây là cơ quan tham mưu của Đảng, là người “gác cổng” của Đảng. Vấn đề hết sức quan trọng chính là lựa chọn cán bộ lãnh đạo của Đảng, đặc biệt ở các cấp cao, chủ chốt. Cán bộ làm công tác tổ chức không những cần trình độ chính trị vững, mà phải là người có phẩm chất đạo đức tốt, trong sạch, công tâm. Ở đây cần chú ý chống tác động của “nhóm lợi ích”.

Nhưng đồng thời cũng đặt trách nhiệm về việc lựa chọn cán bộ, quản lý cán bộ đối với tất cả các đồng chí lãnh đạo Đảng, đặc biệt đồng chí đứng đầu đơn vị, đứng đầu ngành, địa phương. Đó là một nội dung về xây dựng Đảng tối quan trọng để bảo đảm Đảng được trong sạch, vững mạnh.

Nguyễn Thị Bình

Nguyên Phó Chủ tịch nước


Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Một buổi sinh hoạt chi bộ mẫu tại Chi bộ Kiểm tra nội bộ (Đảng bộ Cục Thuế tỉnh Lai Châu).


Tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ

Sinh hoạt chi bộ là hoạt động thường xuyên của chi bộ đảng. Bác Hồ viết: “Đảng mạnh là do các chi bộ mạnh. Chi bộ mạnh là do các đảng viên hăng hái và gương mẫu”(1). Chất lượng sinh hoạt chi bộ là một trong những yếu tố quan trong quyết định kết quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh hoạt chi bộ là phương cách để phòng bệnh từ sớm, từ xa; chữa trị bệnh khi căn bệnh đó “còn trong trứng nước”. Sinh hoạt chi bộ là trường học để rèn luyện cấp ủy, rèn luyện bí thư cấp ủy và cũng là trường học để rèn luyện đảng viên. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của mỗi cấp ủy viên, đảng viên đều được biểu hiện và được rèn luyện, chỉnh sửa uốn nắn trong chi bộ. Chi bộ là tổ chức cơ sở, là hạt nhân hệ thống chính trị cơ sở, đồng thời cũng là nơi đảng viên sịnh hoạt nhiều nhất. Thông qua sinh hoạt chi bộ để thực hiện nhiệm vụ chính trị, đồng thời bộc lộ tính cách, sở trường, thế mạnh cũng như thiếu sót, khuyết điểm của đảng viên. Từ chi bộ, đảng viên có điều kiện để rèn luyện, phấn đấu, từng bước giữ gìn, nâng cao phẩm chất đạo đức, bản lĩnh, lập trường cách mạng.

Còn nhiều băn khoăn

Sinh hoạt chi bộ là công việc định kỳ hằng tháng. Vì cứ mỗi tháng diễn ra một lần và khi so sánh nội dung sinh hoạt giữa các tháng, dường như gần giống nhau nên xuất hiện tình trạng coi nhẹ sinh hoạt chi bộ. Đánh giá chưa đúng mức tầm quan trọng, cũng như tác dụng của sinh hoạt chi bộ không chỉ xuất hiện ở một số đảng viên bình thường mà còn có thể có ở một số cấp ủy viên và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo trong hệ thống chính trị, từ đó dẫn đến một số tình trạng: Coi trong công tác chuyên môn hơn sinh hoạt chi bộ, từ đó xếp lịch làm việc “ưu tiên” họp chuyên môn trước, họp chi bộ sau, hoặc “tiện thể” lồng ghép công tác đảng sau khi họp chính quyền. Chi ủy chuẩn bị nội dung không chu đáo, cẩn thận, đến khi họp chi bộ điều hành lúng túng, không rõ trọng tâm, chủ đề buổi sinh hoạt. Đảng viên không được thông tin trước về nội dung cụ thể nên không chuẩn bị ý kiến phát biểu, tham luận. Trong hội nghị chi bộ hoặc là không tham gia ý kiến, hoặc là phát biểu qua loa, chiếu lệ, thậm chí lan man không đúng chủ đề.

Tình trạng họp chi bộ không phát biểu ý kiến, “mũ ni che tai”  đang xảy ra ở mức độ rất đáng lo ngại ở một bộ phận đảng viên, nhất là đảng viên mắc bệnh “cơ hội”, đảng viên trẻ tuổi đời, ít tuổi đảng. Tình trạng không được nói (thời gian họp chi bộ không đủ, lãnh đạo độc đoán, chuyên quyền, hách dịch, thiếu dân chủ), không dám nói (người nói sợ mất lòng cấp trên) thì sinh hoạt chi bộ chỉ là hình thức mà không thực chất. Các “sản phẩm” của cuộc họp đầy đủ nhưng không có chất lượng. Nghị quyết thông qua trong phiên họp thiếu dân chủ, không ai dám nói lên ý kiến quan điểm cá nhân của minh, nhất là ý kiến khác với bí thư chi bộ thì văn kiện đó chỉ là sự “hợp thức hóa” ý chí của thiểu số. Đảng viên không dám nói cũng có nghĩa là không dám đấu tranh phê bình và tự phê bình. Tự phê bình và phê bình là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng ta. Có tự phê bình và phê bình mới tìm ra những căn bệnh đang phá hoại cơ thể của Đảng, bắt đúng bệnh sẽ tìm được đúng thuốc để chữa trị.

Những giải pháp căn bản

Để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xin đề xuất các cấp ủy quan tâm làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Kết luận là cần phải ra sức củng cố các chi bộ, để tất cả các chi bộ trở nên thật sự là hạt nhân lãnh đạo của Đảng ở mọi bộ, mọi ngành, mọi nghề, mọi nơi”(2). Ý thức tốt trong sinh hoạt chi bộ bắt nguồn từ nhận thức về vị trí của chi bộ trong bộ máy tổ chức và cơ chế vận hành của Đảng. Chi bộ là hạt nhân, hạt nhân tốt thì Đảng khỏe mạnh và hoàn thành nhiệm vụ lãnh đạo đất nước. Do đó, cần tuyên truyền, giáo dục cho đội ngũ đảng viên toàn Đảng thấy rõ nghĩa vụ, trách nhiệm trong sinh hoạt chi bộ. Thấy rõ tầm quan trọng của sinh hoạt chi bộ để sẵn sàng tâm thế, chuẩn bị nội dung phát biểu, góp ý thật xác đáng vào các quyết định của chi bộ. Nêu cao tinh thần tự giác và chủ động của cấp uỷ viên cũng như từng đảng viên. Việc nhớ lịch họp, chuẩn bị nội dung phát biểu, cân nhắc để biểu quyết tại hội nghị… là những việc bắt buộc phải nhớ, phải làm trước khi bước vào cuộc họp chi bộ.

Hai là, chuẩn bị tốt nội dung cuộc họp. Trước khi sinh hoạt chi bộ, chi ủy cần họp để chuẩn bị nội dung cho cuộc họp chi bộ, thông qua dự thảo nghị quyết của chi bộ. Phiên họp chi ủy thường chỉ có 3 hoặc 5 chi ủy viên, tất cả có thể “đặt lên bàn”, nói thẳng, nói thật; giải quyết những vướng mắc, những chỗ chưa thống nhất giữa các chi ủy viên. Khi chi ủy đã thống nhất, phát ngôn của chi ủy viên phải tuyệt đối chấp hành ý kiến tập thể chi ủy đã kết luận, không được nói, viết ý kiến cá nhân trái với ý kiến tập thể.

Chủ động thông báo lịch họp và chương trình nghị sự phiên họp. Đối với chi bộ lãnh đạo nhiệm vụ chính trị ở những địa bàn ổn định, đảng viên tập trung, đặc biệt là chi bộ “hưu trí” có thể định kỳ một ngày cố định trong tháng để họp chi bộ. Cố định ngày họp chi bộ để đảng viên chủ động công việc chuyên môn và sinh hoạt gia đình để tham gia đầy đủ, đúng giờ và chuẩn bị nội dung phát biểu chu đáo. Đối với những chi bộ mà đối tượng lãnh đạo là những đơn vị công tác hợp thành bởi nhiều chuyên môn khác nhau, địa bàn trải dài nhiều địa phương, thậm chí ở ngoài nước… thì cần lựa chọn ngày “tối ưu” để đảng số cao nhất, nội dung thảo luận kỹ nhất và quyết nghị chuẩn xác nhất.

Ba là, chú trọng công tác điều hành của người đứng đầu chi bộ, bởi điều hành linh hoạt, giải quyết các phần việc gọn gàng, đúng quy định, khơi gợi được nhiều ý kiến cá nhân, thảo luận kỹ lưỡng, kết luận chuẩn xác và biểu quyết thông qua nghị quyết là những nhân tố quyết định thành công tốt đẹp của một cuộc sinh hoạt chi bộ. Quá trình điều hành sinh hoạt chi bộ cần bảo đảm đúng quy định và hướng dẫn của cấp trên, đúng chương trình nghị sự đã thông báo; đúng nguyên tắc tập trung dân chủ; các quyết nghị của chi bộ phải đúng trình tự, thủ tục. Người chủ trì cần nắm chắc, vững nguyên tắc, có kiến thức về xây dựng Đảng. Đối với những bí thư chi bộ mới được bầu giữ chức vụ thường chưa có nhiều kinh nghiệm cũng như kiến thức về Đảng nên dễ lúng túng, bị động trong điều hành cuộc họp. Theo đó, cần tích cực học tập, nghiên cứu và rèn luyện trong thực tiễn.

Bốn là,
 phát huy dân chủ, tôn trọng và bảo lưu ý kiến đảng viên và ý kiến thuộc về thiểu số. Nguyên tắc quan trọng nhất trong tổ chức, sinh hoạt đảng là nguyên tắc tập trung dân chủ. Trong những nội dung chính yếu của nguyên tắc này có nội dung: “trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình, đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên”(3) . Việc phát biểu ý kiến tại cuộc họp chi bộ vừa quyền lợi, vừa là nghĩa vụ của đảng viên, nghị quyết của phiên họp, cũng như các quyết định của chi bộ sẽ đúng đắn nhất khi chúng ta phát huy được quyền dân chủ của đảng viên. Chất lượng sinh hoạt chi bộ tốt, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, cộng với tình thương yêu đồng chí lẫn nhau là liều “vắc-xin” hiệu quả để phòng và chống nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong Đảng ta hiện nay.

-------------

(1). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.29.

(2). Hồ Chí Minh toàn tập, Nxb CTQG-ST, H, 2011, tập 13, tr.30.

(3). Điều lệ Đảng, Nxb CTQG-ST, H, 2020, tr.18.

   

Thứ Hai, 5 tháng 9, 2022

Tuyên ngôn độc lập bất hủ và sáng mãi tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt Nam

 Tuyên ngôn độc lập bất hủ và sáng mãi tư tưởng nhân văn của dân tộc Việt Nam

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn độc lập.

Sự ra đời và nội dung cao cả của bản Tuyên ngôn lịch sử

Lúc đó, mặc dù còn mệt do bệnh chưa khỏi hẳn, nhưng ngay sáng 26-8-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Trong cuộc họp này, ngoài việc bàn những vấn đề trọng yếu của quốc gia, Người cho biết sẽ chuẩn bị để biên soạn bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Tại cuộc họp của Ủy ban Dân tộc giải phóng, ngày 27-8, Người được bầu làm Chủ tịch Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Liên tiếp trong hai ngày 28 và 29-8, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành phần lớn thời gian để soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập. Ngày 30-8, Người đã mời một số đồng chí ở Trung ương Đảng đến trao đổi, góp ý kiến thêm cho bản dự thảo Tuyên ngôn độc lập. Sau khi đọc bản thảo cho mọi người nghe và hỏi ý kiến, Người nói đại ý: Trong đời, Người đã viết nhiều nhưng đến bây giờ, mới viết được một văn bản cực kỳ quan trọng là bản Tuyên ngôn độc lập cho nước nhà vừa giành độc lập.

Tiếp đó, ngày 31-8, vẫn tại ngôi nhà 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã bổ sung một số điểm vào bản thảo bản Tuyên ngôn độc lập; đồng thời, hỏi Ban Tổ chức về tình hình cụ thể của việc chuẩn bị ngày Lễ Độc lập sẽ diễn ra tại quảng trường Ba Đình vào chiều ngày 2-9-1945, khi nước nhà vừa giành độc lập hơn 1 tuần lễ (Nam Bộ đến 25-8-1945 mới hoàn thành việc giành chính quyền). 

Đúng 13 giờ 30 phút ngày 2-9-1945, đoàn xe chở các thành viên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đi đến quảng trường Ba Đình. Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh và các vị Bộ trưởng vừa bước lên lễ đài thì cả rừng người vỗ tay hoan nghênh kéo dài. Giờ chào cờ đã đến. Đội kèn đồng của Vệ quốc quân vang lên bài Quốc ca “Tiến quân ca” hùng tráng. Tiếp đó, lá cờ đỏ sao vàng được hai chiến sĩ giải phóng quân là Đàm Thị Loan và Lê Thi đã từ từ kéo lên đỉnh cao nhất của cột cờ quảng trường Ba Đình. Lúc này, một nỗi trang nghiêm đang chờ đón những thời khắc đáng nhớ nhất của dân tộc ta qua gần 100 năm kéo dài trong cảnh nô lệ, lầm than.

Và đúng 14 giờ tại Quảng trường (nay gọi là quảng trường Ba Đình) Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ tối cao của dân tộc, đã trịnh trọng đứng trên lễ đài đọc Tuyên ngôn độc lập. Người trong bộ quần áo kaki giản dị, với giọng nói ấm áp, rõ ràng, mang âm hưởng chất giọng xứ Nghệ quê hương Người đã vang lên Quảng trường. Tại bản Tuyên ngôn độc lập, Người đã nêu lên quyền dân tộc cơ bản của các dân tộc trên thế giới, khẳng định quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của nhân dân ta là quyền độc lập, tự do; và đó cũng là quyền con người mà nhân dân ta đã anh dũng đấu tranh, giành lấy từ tay phát-xít Nhật, bởi lẽ không thể có được quyền con người khi quyền độc lập của dân tộc bị chà đạp; nói cách khác, dân tộc có được độc lập thì con người mới được hưởng quyền con người một cách đích thực, hữu hiệu.

Đó là tư tưởng bất hủ của Hồ Chí Minh về sự gắn bó chặt chẽ giữa quyền dân tộc và quyền con người, khi Người nêu rõ: “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát-xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do, dân tộc đó phải được độc lập; Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do, độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập”. Tư tưởng bất hủ đó là sự kết tinh hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, mà hơn ai hết Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thấu hiểu rất rõ và sâu sắc về điều đó.

Ý nghĩa mang tính thời đại to lớn của Tuyên ngôn độc lập

1. Tuyên ngôn độc lập là bản “Thiên cổ hùng văn” kết tinh truyền thống lịch sử kiên cường, bất khuất của cả dân tộc, là bản anh hùng ca mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam - kỷ nguyên độc lập tự do cho các dân tộc trên thế giới, trong đó nước ta lần đầu tiên tại Đông Nam Á đã giành được quyền độc lập và quyền tự do.

2. Tuyên ngôn độc lập bất hủ ngay từ những khổ đầu đã lấy tư tưởng cao cả của Tuyên ngôn độc lập Mỹ và Pháp, tư tưởng “Tất cả các dân tộc trên thế giới sinh ra đều bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc”. Đó là những ý tưởng cao cả của loài người tiến bộ trong cuộc đấu tranh giành lại sự sống ấm no đi tới tự do. Vận dụng những tư tưởng lớn của loài người từ hai quốc gia Mỹ và Pháp để nhận định những lý tưởng cao đẹp, sáng ngời của ý chí độc lập, tự do mà bất cứ quốc gia nào, dân tộc nào cũng đều có quyền dành cho con người được hưởng tự do và độc lập.    

3. Tuyên ngôn đã chỉ ra một chính quyền cách mạng mới của nhân dân Việt Nam được xây dựng và trưởng thành theo đúng ý nguyện của mọi tầng lớp nhân dân và cả dân tộc. Tuyên ngôn khẳng định ý chí sắt đá không gì lay chuyển nổi và là triết lý nhân sinh vĩnh hằng của dân tộc Việt Nam đang phấn đấu, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

4. Bản Tuyên ngôn là sản phẩm của sự kết hợp các giá trị của truyền thống anh hùng, bất khuất và ý chí kiên cường vì độc lập dân tộc của Việt Nam với sứ mệnh cao cả của giai cấp vô sản được đề cập trong Tuyên ngôn Đảng Cộng sản (năm 1848). Tuyên ngôn đã thể hiện rõ cách mạng Việt Nam là một bộ phận hữu cơ của cách mạng thế giới và giai cấp vô sản Việt Nam là một bộ phận không thể tách rời của giai cấp vô sản thế giới có sứ mệnh lịch sử cao cả và vĩ đại là giải phóng dân tộc và nhân loại.

5. Tuyên ngôn độc lập 1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp soạn thảo và công bố trước toàn thế giới cho thấy trí tuệ sắc sảo và lỗi lạc của Người. Đây là kết quả của một quá trình tư duy khoa học độc đáo và thiên tài của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Điều đó càng khẳng định rõ ràng và nhất quán một chân lý hết sức giản dị nhưng có tầm khái quát cao là tư tưởng và tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cũng như trí tuệ sắc sảo của Người đã và vẫn mãi mãi soi sáng con đường dân tộc Việt Nam.

   

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 06 THÁNG 9 NĂM 1967!

         “Đoàn kết là sức mạnh vô địch của chúng ta. Bản Cương lĩnh chính trị của Mặt trận là ngọn cờ đại đoàn kết toàn thể nhân dân miền Nam để cùng nhau chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi cuối cùng. Nhân dân ta đã đoàn kết, càng đoàn kết rộng rãi và chặt chẽ hơn nữa!”.
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong Thư gửi đồng chí Nguyễn Hữu Thọ - Chủ tịch Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam cùng đồng bào, chiến sĩ miền Nam ngày 06 tháng 9 năm 1967, nhân dịp Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam công bố bản Cương lĩnh chính trị. Bức thư được đăng trên Báo Nhân dân, số 4903, ra ngày 13 tháng 9 năm 1967.
     Đây là thời điểm quân và dân cả nước đang tích cực đẩy mạnh kháng chiến, từng bước đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ xâm lược. Ở miền Nam, cuộc kháng chiến có bước phát triển mạnh mẽ, giành được nhiều thắng lợi quan trọng, uy tín và vai trò của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam ngày càng được nâng cao. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định và đánh giá cao vai trò của đoàn kết trong sự nghiệp cách mạng, đó chính là sức mạnh vô địch để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Lời của Bác là sự động viên, khích lệ đối với cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của quân và dân ta ở miền Nam, đồng thời là động lực tinh thần to lớn, có tác dụng phát huy hơn nữa tinh thần đoàn kết, tạo nên sức mạnh để chiến thắng kẻ thù.
     Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị lý luận và thực tiễn, để Đảng, Nhà nước quán triệt và cụ thể hoá trong lãnh đạo tốt việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là cội nguồn sức mạnh để đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu của hơn 30 năm đổi mới có ý nghĩa quan trọng đặt nền móng và tạo đà cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục củng cố và tăng cường hơn nữa khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo nhằm phát huy những thành tựu trong giai đoạn mới, đưa đất nước ngày càng phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
     Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, đoàn kết thống nhất là nét đặc sắc trong bản chất cách mạng và truyền thống tốt đẹp, trở thành một trong 10 lời thề danh dự của người quân nhân cách mạng, không ngừng được củng cố và phát huy. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, quân đội là công cụ sắc bén để chiến đấu bảo vệ Đảng, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Để tăng cường sức mạnh chiến đấu, cán bộ, chiến sĩ trong quân đội phải luôn quán triệt và xây dựng khối đoàn kết thống nhất, trên dưới một lòng. Trên cơ sở đoàn kết thống nhất trong nội bộ, không ngừng tăng cường mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, phối hợp chặt chẽ với lực lượng công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội; tăng cường củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt với nhân dân; đồng thời nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.
Môi trường ST.

"CÁCH MẠNG MÀU" TRÊN QUÊ HƯƠNG CỦA "CÁCH MẠNG MÀU"?

         Sự khủng hoảng khí đốt ở châu Âu hôm nay đã gọi tên thêm một quốc gia khác. Hơn 70 ngàn người dân CH Séc đã xuống đường biểu tình, đòi khí đốt thiên nhiên giá rẻ. Họ nêu khẩu hiệu “ Nước Séc là trên hết”. Giá khí đốt rẻ, tức “ trước hết là từ Nga”….
     Có vẻ như dù không thích Nga nhưng người dân của các nước châu Âu phải thừa nhận một điều “dầu và khí đốt của Nga rất đáng yêu".
     Phương Tây là nơi sản sinh chiêu bài "cách mạng sắc màu", "cách mạng đường phố", tức là lợi dụng những bất ổn về kinh tế, xã hội để kích động biểu tình, bạo loạn chính trị dẫn đến lật đổ chế độ chính trị ở quốc gia không phục tùng lợi ích của họ, thì giờ đây có vẻ như đang bị chính gậy ông đập lưng ông. Có vẻ nước Nga đã tính trước từ lâu nước cờ này, họ đã sử dụng chiêu "dĩ độc trị độc". Nếu không điều hoà quyền lợi của dân chúng, cụ thể ở đây là cố theo Mỹ chống Nga, để giá dầu, khí đốt, lương thực thực phẩm, giá cả nhu yếu phẩm tăng chóng mặt...thì "cách mạng màu" trở lại quê hương của nó là điều khó tránh khỏi. Chỉ khác là không có thế lực nào bên ngoài châu Âu, không có tổ chức phi chính phủ núp bóng nào bên ngoài châu Âu hậu thuẫn nó, nó sẽ tự phát sinh từ chính giai cấp cần lao trong lòng mỗi nước EU, có chăng là do liên minh các đảng cánh tả hô hào mà thôi.
     Thế mới thấm cho việc không biết trân trọng độc lập tự chủ, chịu sự lãnh đạo hoặc theo đuôi ngoạ.i bang thì bất ổn là điều không tránh khỏi.
     Xem những hình ảnh dưới đây mình lại nghĩ đến bài hát QUỐC TẾ CA. “Vùng lên hỡi các n.ô l.ệ ở thế gian , vùng lên hỡi ai cực kh.ổ bầ.n hàn….”./.


Môi trường ST.

KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC VIỆC HỌC VÀ LÀM THEO BÁC!


-----
Hằng năm, cứ mỗi dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, thì mạng xã hội lại xuất hiện nhiều thông tin xấu độc, không chỉ xuyên tạc cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người mà còn bẻ cong sư thật việc thực hiện các Chỉ thị số 23-CT/TW ngày 27/3/2003 của Ban Bí thư về “Đẩy mạnh nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn mới”; Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" và Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh"(gọi tắt là 3 Chỉ thị)… trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân bằng những luận điệu phản động như: “Học mãi đâu có vào”, học rồi “tại sao cứ thế mãi”, “càng học càng thấy nhiều cán bộ, đảng viên suy thoái”…
DI SẢN TINH THẦN QUÝ GIÁ
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa 53 năm, song tư tưởng, đạo đức, phong cách của một vị lãnh tụ gần dân, dành cả cuộc đời mình cho dân, cho nước không chỉ in đậm trong trái tim và khối óc mỗi người dân Việt Nam yêu nước, mà còn trở thành một tấm gương sáng cổ vũ các dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do, công lý trên thế giới tham gia cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc, hòa bình và tiến bộ xã hội. Sự thật là, tiếp cận ở chiều cạnh nào thì cũng phải khẳng định rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta”(1). Tư tưởng của Người là kết quả sự kế thừa, phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam và tinh hoa văn hóa nhân loại; là sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, góp phần làm nên thắng lợi trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dưng, bảo vệ và phát triển đất nước; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội…
Thực tiễn những thành tựu đạt được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ đất nước, nhất là trong hơn 36 năm đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh sự kiên định, nắm vững và vận dụng sáng tạo, đúng đắn lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn; đồng thời, đáp ứng yêu cầu phát triển bức thiết của cách mạng Việt Nam và phù hợp với quy luật phát triển tất yếu của thời đại. Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, giá trị của di sản Hồ Chí Minh là không thể phủ nhận! Bởi rằng, suốt cuộc đời mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ phấn đấu vì một nước Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc và thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, mà Người còn nỗ lực vì sự đoàn kết của tất cả các lực lượng chống đế quốc, thực dân và cho cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và sự phát triển hữu nghị, bền vững giữa các dân tộc “trên con đường tiến bộ - con đường hoà bình trên toàn thế giới”. Chính vì vậy, Hồ Chí Minh “đã trở thành biểu tượng rực rỡ của cuộc chiến đấu giành tự do. Là mẫu mực xuất chúng về mọi đức tính của con người và mọi đức tính xã hội chủ nghĩa”(2) trong thời đại mới.
Với Hồ Chí Minh, dù là người đang làm thuê trên tàu Amiran Latútsơ Trêvin ngày rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước hay khi đã trở thành một nguyên thủ quốc gia, thì điều mà Người “yêu nhất vẫn là cái thiện” và điều mà Người “ghét nhất vẫn là cái ác”; đồng thời, điều mà Người “mong nhất vẫn là nền độc lập của nước tôi và của tất cả các nước trên hoàn cầu(3). Từ cuộc đời và phẩm cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi người đều thấy từ Người hiển hiện chân dung một người cộng sản hết lòng tận trung với nước, tận hiếu với dân. Hơn cả mọi lời nói, điều mà Người khắc sâu trong tâm khảm dân tộc Việt Nam, trong bạn bè, anh em, đồng chí, thậm chí cả những người đã từng là kẻ thù của Người, đó chính là “nền đạo đức trong sáng, một nền đạo đức cao quý mà không có nó thì mọi cuộc cách mạng đều sẽ không thành”(4).
Cuộc đời, sự nghiệp cách mạng đầy gian khó nhưng rất đỗi vinh quang của Người tượng trưng cho bản lĩnh, khí phách ngoan cường, ý chí bất khuất, tính kiên trì, bền bỉ trong đấu tranh và thái độ ứng xử điêu luyện về chính trị (bình tĩnh nhưng đầy quyết đoán, nhanh nhạy trong những tình thế gay go, quyết liệt…) đã trở thành niềm hy vọng của dân tộc Việt Nam và tất cả các dân tộc yêu chuộng độc lập, tự do, công lý và hoà bình trên toàn thế giới. Đồng thời, lòng yêu thương con người và sự bao dung, khoan hoà của Người cũng như trí tuệ, đức hy sinh và sự tận tâm, tận lực của Người thể hiện trong tư tưởng, trong hành động, trong từng mối quan hệ với đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đã làm cho những người đã từng ở bên kia chiến tuyến cũng phải khâm phục. Vì thế, “chỉ có ít nhân vật lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó. Người sẽ được ghi nhớ không phải chỉ là người giải phóng cho Tổ quốc và nhân dân bị đô hộ mà còn là một nhà hiền triết hiện đại đã mang một viễn cảnh và hy vọng mới cho những người đang đấu tranh không khoan nhượng để loại bỏ bất công, bất bình đẳng khỏi trái đất này”(5).
HỌC VÀ LÀM THEO BÁC ĐỂ TỰ SOI, TỰ SỬA SUỐT ĐỜI
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người sống mãi trong lòng nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế, vì rằng “Hồ Chí Minh không còn với chúng ta theo nghĩa vật chất. Nhưng Người rất gắn bó với chúng ta về mặt đạo lý, tinh thần”(6). Và cũng vì thế, việc nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh và học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân không chỉ giúp cho mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người, mà còn góp phần trang bị hệ thống quan điểm và phương pháp cách mạng của Người, để kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng.
Thông qua việc học tập và làm theo đó, giúp mỗi người nâng cao năng lực tư duy lý luận và phương pháp công tác; nâng cao tinh thần độc lập, tự chủ, đổi mới, sáng tạo; sự tự soi, tự sửa mình và rèn luyện đạo đức, tư cách, phẩm chất cách mạng theo tư tưởng, đạo đức và phong cách của Người. Đồng thời, góp phần nâng cao lòng yêu nước; tinh thần và trách nhiệm phụng sự Tổ quốc và nhân dân, làm cho tư tưởng Hồ Chí Minh thực sự là một bộ phận cấu thành trong nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; tiếp tục lan tỏa sâu rộng trong đời sống tinh thần của nhân dân ta. Vì thế, việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị nêu trên không phải chỉ là công việc một sớm, một chiều, mà đó là công việc thường xuyên, liên tục, suốt đời của mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức cơ sở Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân.
Việc học và làm theo Bác theo từng nội dung của mỗi Chỉ thị, ứng với mỗi nhiệm kỳ Đại hội của Đảng đều là một cuộc vận động chính trị sâu sắc; đều được triển khai sâu rộng từ Trung ương đến địa phương. Những nhiệm kỳ gần đây, việc học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay"; Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" gắn với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã tạo được sự chuyển biến rõ rệt từ nhận thức sang hành động, nâng cao vai trò tiền phong, gương mẫu của cán bộ lãnh đạo, quản lý và người đứng đầu tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị. Hằng năm và sau mỗi nhiệm kỳ của Đảng, các cơ quan chức năng đều tiến hành nghiêm túc việc tổ chức sơ kết, tổng kết để đánh giá thành tựu, hạn chế, đề ra các nhóm giải pháp để nâng cao hơn nữa chất lượng của việc học tập và làm theo các Chỉ thị này, góp phần quan trọng vào công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Đây cũng là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thiết thực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của mỗi cấp ủy.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được thì đâu đó cũng vẫn còn những địa phương, cơ quan, đơn vị triển khai việc học và làm theo Bác một cách chung chung, hình thức. Cũng vẫn còn một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, thiếu tính tiền phong, gương mẫu, quan liêu trong công tác, hách dịch, thậm chí xa rời quần chúng. Bên cạnh đó, có người còn vi phạm Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng và vi phạm pháp luật như tham ô, tham nhũng hoặc rời xa lý tưởng cách mạng, cổ xúy cho đa nguyên, đa đảng… dẫn đến phải chịu sự trừng phạt của pháp luật. Việc những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" phải dính vòng lao lý cũng là có thật. Và các vụ án tham nhũng những năm gần đây; những cán bộ, đảng viên bị đưa ra khỏi Đảng, chịu án tù… đã bị các đối tượng cơ hội, phản động, đã bị các thế lực thù địch lợi dụng “sự kiện đó” để chống phá Đảng và chế độ cũng là có thật.
Việc mượn những sự kiện liên quan đến các vụ án tham ô, tham nhũng và sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của một phận cán bộ, đảng viên đã suy thoái để bẻ cong mục đích, nội dung và ý nghĩa của việc triển khai thực hiện các Chỉ thị nêu trên là một trong những âm mưu, thủ đoạn của chiến lược "diễn biến hòa bình" mà các thế lực thù địch thường dùng. Luận điệu xuyên tạc và sự quy chụp rằng việc học tập và làm theo 3 Chỉ thị này trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân càng ngày càng “tuột dốc mãi”; “càng học càng có nhiều củi gộc vào lò” của các thế lực thù địch về thực chất chỉ là sự suy diễn thiển cận, một chiều. Thực tế, những kết quả đạt được từ các cuộc vận động chính trị sâu rộng trong gần hai thập niên thực hiện Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/T, Chỉ thị số 05-CT/TW (2003-2022) trong cả hệ thống chính trị không chỉ làm cho tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người lan tỏa sâu rộng trong thực tiễn, mà còn góp phần quan trọng vào kết quả của công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đảm bảo để Đảng xứng đáng với vai trò tiền phong là không thể phủ nhận!.
Dù là các tên gọi khác nhau, song có thể khẳng định rằng, từ Đại hội IX đến Đại hội XII của Đảng, các cấp ủy từ Trung ương đến địa phương đã chỉ đạo, hướng dẫn các cấp ủy và đội ngũ cán bộ, đảng viên xây dựng kế hoạch phấn đấu tu dưỡng, rèn luyện học và làm theo Bác theo Chỉ thị số 23-CT/TW, Chỉ thị số 03-CT/TW, Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện các Nghị quyết chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đồng bộ, nghiêm túc. Việc học tập, làm theo Bác ngày càng đi vào nền nếp, phù hợp với điều kiện cụ thể của mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị và những kết qủa này đã được thông tin khá đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông từ Trung ương đến địa phương.
TRỞ THÀNH NHU CẦU TỰ THÂN CỦA MỖI CẤP ỦY, CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
Gần hai năm qua, để đưa Nghị quyết Đại hội XIII vào cuộc sống, Đảng ta đã tiếp tục đẩy mạnh học và làm theo Bác gắn với công tác công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã được ban hành.
Trên tinh thần, “Đảng không che giấu khuyết điểm của mình, không sợ phê bình. Đảng phải nhận khuyết điểm của mình mà tự sửa chữa, để tiến bộ, và để dạy bảo cán bộ và đảng viên”(7), việc gắn thực hiện Kết luận số 01-KL/TW với Kết luận số 21-KL/TW trong mỗi cấp ủy, mỗi cán bộ, đảng viên cũng đã cho thấy những kết quả tích cực. Tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo Bác đã trở thành công việc thường xuyên của toàn Đảng và hệ thống chính trị, góp phần làm cho ý thức tự giác rèn luyện, nêu gương của cán bộ, đảng viên, của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu được tăng cường. Tinh thần nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị không chỉ góp phần tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động của mỗi tập thể, cá nhân, mà còn làm cho sự đoàn kết thống nhất trong từng tổ chức được tăng cường. Đồng thời, cũng làm cho ý thức, trách nhiệm và sự trau dồi phẩm chất, đạo đức, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên được nâng lên, từng bước ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Cho nên, không thể xuyên tạc vô căn cứ, cũng như không thể quy chụp như các thế lực thù địch bịa đặt, bôi đen rằng: Việc học và làm theo Bác “cũng chỉ làm cho xong để báo cáo”; là học nhưng đâu vẫn hoàn đấy như “ngựa vẫn quen đường cũ”; học và làm theo Bác đã bao năm rồi mà “vẫn trơ ra”…
Cuối cùng, phải khẳng định rằng, dù các thế lực thù địch sử dụng nhiều chiêu trò chống phá, xuyên tạc và bôi đen sự thật; dù các thủ đoạn bẻ cong, vu khống, bôi nhọ đã và đang được áp dụng, song Hồ Chí Minh - “tên Người phản ánh một cuộc đời đặc biệt rất hiếm có trong các vị lãnh đạo Nhà nước và trong các nhà chính trị của thời đại chúng ta. Con đường Người đã đi qua đánh dấu bằng cuộc đấu tranh gian khổ, bằng những khó khăn lớn lao nhưng đồng thời cũng đánh dấu bằng những thắng lợi chính trị độc đáo phản ánh lịch sử của dân tộc Người trong khoảng 50 năm vừa qua”(
😎
vẫn đồng hành cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân trên hành trình kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người; các trước tác của Người, liên quan đến Người… là di sản tinh thần quý báu của nhân dân Việt Nam và nhân loại cần lao. Cho nên, thế giới có thể đổi thay, hằng ngày luôn biến động, song trên các phương tiện truyền thông, các nhà xuất bản, các hiệu sách, triển lãm, các rạp chiếu phim, nhà hát… ở khắp mọi miền đất nước và cả ở nước ngoài, những ấn phẩm, tác phẩm, bộ phim, kịch, những câu chuyện kể, những công trình nghiên cứu chuyên sâu của các nhà khoa học, học giả, các chính khách trong nước và quốc tế… về Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các trước tác của Người vẫn xuất hiện như một phần không thể thiếu trong đời sống chính trị, văn hóa, tinh thần của người Việt Nam và bạn bè quốc tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người “cao mà không xa”, “sáng mà không chói”, Người tỏa sáng từ cốt cách, tâm hồn, trí tuệ của một bậc đại trí, đại nhân, đại dung chứ không giống như sự suy diễn thiển cận của một vài cá nhân nào đó. Thực tế là, “nhà cách mạng vĩ đại Hồ Chí Minh và chắc chắn Người là một trong những người hiếm có của thời đại chúng ta, mà người ta có thể nói rằng: không có Người, lịch sử có thể đã đi theo một con đường khác. Lịch sử đã đặt Người vào đúng chỗ của mình, trong quá trình đó, Người là nhân vật sáng tạo quyết định”(9). Vì thế, Người luôn đồng hành cùng dân tộc Việt Nam, nhân dân Việt Nam trong hành trình đến tương lai. Và cũng vì thế, tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh không phải là “không cần thiết”, không phải chỉ là “hình thức” như các thế lực thù địch ảo tưởng, xuyên tạc, mà đó chính là nhu cầu tự thân, nền nếp của mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên tại mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị cũng như của các tầng lớp nhân dân cả nước!
ST
Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm cán bộ, công nhân Nhà máy Xe lửa Gia Lâm (Hà Nội) ngày 19-5-1955. Ảnh tư liệu.
Có thể là hình ảnh về một hoặc nhiều người và mọi người đang đứng
Thích
Bình luận
Chia sẻ