Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022
SỨC MẠNH TỪ NHÂN DÂN - SỨC MẠNH CỦA THẮNG LỢI LỚN!
CHÍNH, TÀ BẤT MINH - VÌ ĐÂU ĐẾN NỖI?
Yêu nước ST.
Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm
Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan?

Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).
Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng "việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng...". Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.
Nhận diện và đấu tranh chống âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin
Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao vai trò, tầm vóc của chủ nghĩa Mác-Lênin và luôn khẳng định là một người mácxít-lêninít. Trong âm mưu, thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động đã rất tinh vi, xảo quyệt khi âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Đấu tranh phản bác âm mưu này là một việc làm thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
V.I. Lênin vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trong điều kiện cụ thể của nước Nga Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) thông qua đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đã minh chứng rằng, nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc và đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng cũng cho thấy, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai cấu phần hợp thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể thiếu một yếu tố nào.
Xã hội dân sự đúng nghĩa là một bước tiến quan trọng của xã hội loài người trong tiến trình hướng tới một xã hội phi nhà nước. Tuy nhiên, một số tổ chức đã mượn danh “xã hội dân sự” nhằm làm phức tạp tình hình chính trị - xã hội, hướng đến mục tiêu thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam như đã từng xảy ra ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu trước đây. Vì vậy, cần đề cao cảnh giác, nhận diện đúng và vạch trần thủ đoạn chống phá nguy hiểm này.
Nhận diện về xã hội dân sự và tổ chức “xã hội dân sự”
Xét về bản chất, xã hội dân sự (Civil Society) là xã hội tự lập phi nhà nước, được hình thành, hoạt động trong không gian công cộng và tư nhân, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước. Không thể phủ nhận xã hội dân sự là một bước tiến của loài người trong tổ chức cộng đồng, bên cạnh sự tiến bộ của các thiết chế nhà nước ngày càng hợp lý (nhà nước chuyển từ cai trị sang phục vụ, nhà nước của dân, do dân, vì dân,…) thì xã hội cũng hình thành một loạt các thiết chế xã hội đa dạng, phong phú. “Điều này phù hợp với xu thế: nhà nước sẽ nhỏ đi và xã hội sẽ lớn lên, được C. Mác đề cập trong lý luận về chủ nghĩa xã hội”1. Theo đó, chặng đường tiến bộ đáng kể của nhân loại biểu hiện ở vai trò tự quản trong cộng đồng ngày càng mạnh lên. Vai trò tự quản ấy chính là nằm ở các tổ chức xã hội với các thiết chế riêng bên cạnh thiết chế nhà nước, đó là các bộ phận hợp thành của xã hội dân sự.
“Giá trị đáng ghi nhận của xã hội dân sự là những phát kiến, kiến nghị, đề xuất có cơ sở lý luận và thực tiễn, phù hợp với quan điểm, đường lối của đảng cầm quyền. Theo C. Mác: chủ quyền của nhân dân phải trở thành vấn đề trung tâm trong một xã hội dân sự đích thực, làm cơ sở cho một chế độ dân chủ và một nhà nước dân chủ chân chính”2. Đây là tư tưởng cách mạng sâu sắc, có tính định hướng cho việc nhìn nhận, đánh giá và xác định tính đúng đắn của một tổ chức được coi là xã hội dân sự đích thực hay giả danh để chống phá chính quyền nhân dân.
Hiện nay, xu hướng mang tính phổ biến trong quá trình phát triển của nhiều quốc gia là mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. Theo đó, xã hội dân sự được cộng đồng quốc tế rất quan tâm, coi đó là một nhân tố của xã hội hiện đại, một tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của chế độ xã hội ở một quốc gia. Nhiều văn kiện của các tổ chức quốc tế và khu vực đã có các quy định về quyền con người, về xã hội dân sự, tổ chức “xã hội dân sự”. Nhiều tổ chức “xã hội dân sự” đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; bảo đảm thực thi dân chủ, nhân quyền; góp phần tích cực vào thúc đẩy dân chủ hóa và xây dựng nhà nước pháp quyền, phát triển các lĩnh vực giáo dục, y tế, v.v.
Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân là thành quả cách mạng được thể chế hóa và phát huy trên thực tế. Tuyên ngôn độc lập của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) là sự kế thừa, phát triển những giá trị quyền con người, quyền công dân của nhân loại trong thời đại mới. Trong các bản Hiến pháp (năm 1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đều thể hiện rõ bản chất của chế độ ta là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; là chế độ dân chủ do nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đã quy định các điều kiện cụ thể để thành lập, hoạt động của tổ chức xã hội dân sự. Trên thực tế, bên cạnh các tổ chức chính trị, đoàn thể quần chúng, nhiều hội, tổ chức phi chính phủ đã và đang được thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, hoạt động công khai, hợp pháp, mang lại những lợi ích đáng kể cho xã hội và cộng đồng. Tuy nhiên, vẫn còn các hội, tổ chức quần chúng tự phát thành lập, không có tư cách pháp nhân, mang tính hình thức, chạy theo lợi nhuận kinh tế đơn thuần, hoạt động tùy tiện, kém hiệu quả, không phát huy được vai trò đại diện cho lợi ích của hội viên; cá biệt còn một số tổ chức có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây phương hại đến an ninh quốc gia, buộc các cơ quan chức năng phải chấn chỉnh, xử lý. Lợi dụng điều này, các thế lực thù địch đã xuyên tạc, vu cáo Nhà nước ta vi phạm dân chủ, nhân quyền. Đó là sự đơm đặt vô căn cứ, mang nặng tính thù địch.
“Xã hội dân sự” trá hình - tiền đề của chế độ đa nguyên, đa đảng
Thực tế cho thấy, ngay từ ý tưởng cho đến quá trình thành lập và hoạt động, do tính chất nhạy cảm về chính trị - xã hội, nhiều tổ chức đã trượt khỏi bản chất, hình ảnh tích cực của xã hội dân sự đích thực, trở thành công cụ để các thế lực thù địch lợi dụng chống phá chế độ. Các tổ chức núp bóng “xã hội dân sự” này thường trá hình dưới danh nghĩa bảo vệ “dân chủ”, “nhân quyền”, nhằm hướng lái vào phê phán vai trò lãnh đạo của Đảng, họ cho rằng: chế độ độc đảng là “độc tài toàn trị”, là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng, sai lầm, v.v. Các thế lực thù địch còn tìm cách thao túng, lôi kéo, chi phối tổ chức “xã hội dân sự” cho mục tiêu của mình. Nhìn chung, các hoạt động chống phá dựa trên công cụ là tổ chức “xã hội dân sự” trá hình mà họ thường sử dụng, tập trung vào các thủ đoạn chủ yếu sau: Một là, đề cao vai trò “phản biện xã hội” của các tổ chức giả danh “xã hội dân sự”, hướng lái hoạt động của các tổ chức này dần đối lập về tư tưởng chính trị với Nhà nước ta. Hai là, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp. Một số tổ chức “xã hội dân sự” không đứng trên lập trường của giai cấp công nhân và nhân dân lao động; hướng lái mục tiêu hoạt động nhằm phục vụ lợi ích của một số nhóm người, đối lập với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Ba là, lợi dụng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để hướng lái các tổ chức “xã hội dân sự” vào các hoạt động trái với tôn chỉ, mục đích, vi phạm pháp luật. Bốn là, gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người “bất đồng chính kiến” trong nước hoạt động theo khuynh hướng “độc lập”, hình thành “xã hội dân sự” trái pháp luật, chống Nhà nước, tạo tiền đề cho sự ra đời của các tổ chức chính trị đối lập, thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập nhằm tiến tới mục tiêu thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cùng với đó, họ mượn cớ “phản biện xã hội”, “kiểm soát quyền lực”, nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để mị dân bằng các hoạt động xây dựng quan hệ thương mại và phát triển,... gây phương hại đến an ninh quốc gia.
Sử dụng công cụ tổ chức “xã hội dân sự” và chiêu bài “đa nguyên chính trị” làm mũi nhọn chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng
Với “yêu sách”, đòi mở rộng quyền tự do, dân chủ vô chính phủ ở các nước xã hội chủ nghĩa, chống lại nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện chế độ đa đảng và các tổ chức chính trị đối lập, các thế lực thù địch đã, đang thực hiện mưu đồ thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Gần đây, họ tập trung tuyên truyền luận điệu: độc quyền, thủ tiêu dân chủ là nguyên nhân của những sai lầm và yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Họ tăng cường tập hợp lực lượng, thành lập các tổ chức, “đảng phái chính trị” đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam, như: “Đảng Dân chủ của thế kỷ XXI”, “Thanh niên dân chủ Sơn Hà”, “Liên đảng Lạc Hồng”, “Đảng Thăng tiến Việt Nam”,... với mưu đồ tác động, thiết lập chế độ đa nguyên, đa đảng, chuẩn bị điều kiện và tiền đề cho sự thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.
Thời gian tới, các thế lực thù địch tiếp tục núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ quan trọng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, với các hướng: Một là, gia tăng hoạt động truyền bá “xã hội dân sự” nhằm gây áp lực xã hội đối với đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; làm tiền đề cho sự ra đời, phát triển của các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình ở Việt Nam. Hai là, tiếp tục tác động, can thiệp vào vấn đề “dân chủ“ “nhân quyền”, coi đó như động lực để thúc đẩy sự phát triển của “xã hội dân sự” trá hình. Ba là, tập trung tuyên truyền, tác động để phá hoại nội bộ, thúc đẩy quá trình suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhằm gây dựng, phát triển lực lượng cho các tổ chức “xã hội dân sự” chính trị đối lập. Bốn là, gia tăng tác động nhằm chuyển hóa các tổ chức xã hội dân sự đích thực ở Việt Nam, nhất là các hội, các tổ chức phi chính phủ trở thành các tổ chức “xã hội dân sự” theo hướng đối lập với Nhà nước ta. Từ đó, trực tiếp chi phối, khích lệ các hoạt động chống phá chế độ, đòi thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Năm là, sử dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình làm công cụ tuyên truyền, tác động tư tưởng, kích động, lôi kéo, tập hợp một bộ phận quần chúng nhân dân, kết hợp với các hoạt động gây mất ổn định chính trị - xã hội nhằm chuẩn bị điều kiện để phát động các hoạt động gây rối, như: “cách mạng đường phố”, “cách mạng màu”,... để thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.
Kiên quyết đấu tranh với hoạt động thúc đẩy “xã hội dân sự” của các thế lực thù địch
Đấu tranh ngăn chặn, vô hiệu hóa âm mưu trên, triệt tiêu mầm mống của các hoạt động gây rối, bạo loạn lật đổ là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài. Do đó, hệ thống chính trị và toàn xã hội cần thống nhất và nâng cao nhận thức, nhận diện đúng về “xã hội dân sự”; phân biệt và đánh giá đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng của các tổ chức xã hội dân sự đích thực; không nhầm lẫn, đánh đồng với các tổ chức “xã hội dân sự” trá hình. Làm tốt công tác thông tin tuyên truyền, nâng cao tinh thần cảnh giác cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; vạch trần âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong việc cổ súy, lợi dụng, núp bóng tổ chức “xã hội dân sự” vào mục đích thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Xây dựng và phát huy mạnh mẽ “thế trận lòng dân” trong nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân; xây dựng và củng cố vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống âm mưu chiến lược “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch, phản động, chống đối, cơ hội chính trị.
Cùng với đó, các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác nắm tình hình, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền các cấp tập trung lãnh đạo, định hướng các tổ chức xã hội dân sự đích thực tuân thủ và chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các tổ chức xã hội dân sự phát huy tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, giữ vững ổn định chính trị - xã hội; thường xuyên đề cao cảnh giác trước âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị tác động, lôi kéo, kiên quyết bảo vệ Đảng, không chấp nhận đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của đất nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế.
Nguồn: TS. BÙI THANH TUẤN, Viện Chiến lược Công an, Bộ Công an
Hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Lào nâng lên tầm cao mới
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc.Phóng viên: Xin Chủ tịch nước đánh giá tầm quan trọng và ý nghĩa của quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt Nam - Lào?
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Việt Nam và Lào là hai nước láng giềng gần gũi bên nhau như anh em sinh đôi chỉ cách nhau một dãy núi, cùng chung dòng nước Mê Công, có mối quan hệ truyền thống và gắn bó lâu đời. Người dân hai nước coi nhau như anh em ruột thịt, thường xuyên chia sẻ, hỗ trợ, giúp đỡ nhau trong mọi hoàn cảnh.
Từ sự gắn kết do điều kiện tự nhiên cũng như lịch sử của hai dân tộc có cùng ước vọng giành độc lập, tự do và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào ngày nay, với ý chí cách mạng quật cường, Nhân dân Việt Nam và Lào đã đứng lên đấu tranh giành được chính quyền vào năm 1945, lập nên Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa vào ngày 2-9-1945 và Nhà nước Lào Ít-xa-la vào ngày 12-10-1945.
Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Lào nói riêng và liên minh chiến đấu Việt - Lào nói chung trong những năm tiếp theo dẫn đến việc ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào ngày 23-7-1962 công nhận độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Lào. Chỉ hai tháng sau đó, vào ngày 5-9-1962, Việt Nam và Lào chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao. Đây là mốc son đánh dấu giai đoạn phát triển mới của quan hệ hai nước trong thời kỳ hiện đại. Kể từ đây, liên minh chiến đấu của quân và dân hai nước Việt - Lào ngày càng được thắt chặt, cả trên mặt trận quân sự và mặt trận ngoại giao. Tình đoàn kết gắn bó keo sơn, tinh thần “hạt gạo chia đôi, cọng rau bẻ nửa” đã đưa cách mạng hai nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, mà đỉnh cao là Đại thắng Mùa Xuân 30-4-1975 tại Việt Nam và Chiến thắng ngày 2-12-1975 tại Lào.
Bước sang giai đoạn mới, trước những đòi hỏi và thách thức của công cuộc xây dựng và phát triển ở mỗi Đất nước, trên cơ sở nhận thức sâu sắc về ý nghĩa và tầm quan trọng của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, ngày 18-7-1977, hai bên đã ký Hiệp ước Hữu nghị và hợp tác, khẳng định tình đoàn kết bền chặt và cam kết mạnh mẽ về hợp tác, ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước.
Trong 45 năm qua, Hiệp ước này đã trở thành một tài sản quý giá và có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cơ sở pháp lý vững chắc để hai nước không ngừng mở rộng quan hệ hữu nghị đặc biệt và hợp tác toàn diện. Hiệp ước cũng là tiền đề để hai nước ký kết hàng loạt văn kiện và thoả thuận hợp tác trên tất cả các lĩnh vực chính trị, đối ngoại, an ninh, quốc phòng, kinh tế, thương mại, đầu tư, giáo dục đào tạo…
Có thể nói, mối quan hệ đặc biệt Việt - Lào được các lãnh tụ vĩ đại của hai dân tộc là Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Cay-xỏn Phôm-vi-hản và Chủ tịch Xu-pha-nu-vông đặt nền móng, được vun đắp bằng mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ lãnh đạo, quân và Nhân dân hai nước và ngày càng được củng cố, không ngừng phát triển, trở thành một tấm gương mẫu mực về sự thủy chung, trong sáng, vững bền, “có một không hai” trong quan hệ giữa các dân tộc.
Lịch sử gắn bó của hai nước đã chứng minh: nếu không có liên minh chiến đấu và tình đoàn kết đặc biệt Việt - Lào, thì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của hai nước trước đây khó có thể giành được thắng lợi trọn vẹn, công cuộc bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, trong thời kỳ đổi mới và hội nhập ở mỗi nước, không thể có được những thành tựu to lớn như ngày nay.
Phóng viên: Xin Chủ tịch cho biết những thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ hai nước và những điểm sáng đáng chú ý thời gian gần đây?
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Trong 60 năm qua, mặc dù tình hình thế giới và khu vực có nhiều biến động phức tạp, thuận lợi và thách thức đan xen, song có thể khẳng định Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt - Lào đã không ngừng phát triển vững chắc, ngày càng sâu rộng, thực chất và hiệu quả.
Quan hệ chính trị - đối ngoại ngày càng gắn bó, tin cậy với trao đổi đoàn, tiếp xúc cấp cao, thường xuyên trên tất cả các kênh. Hai bên nỗ lực duy trì, phát huy hiệu quả các cơ chế hợp tác song phương các cấp ngành, địa phương, phối hợp triển khai tốt các Thoả thuận cấp cao và các cấp. Sự phối hợp chặt chẽ và ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn đa phương đã góp phần bảo vệ lợi ích, nâng cao uy tín và vị thế mỗi nước ở khu vực và trên thế giới.
Hợp tác quốc phòng - an ninh không ngừng được đẩy mạnh, tiếp tục là một trong những trụ cột quan trọng trong mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, góp phần bảo đảm vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mỗi nước, cũng như môi trường hoà bình, ổn định phục vụ phát triển và hợp tác.
Hợp tác kinh tế đạt được nhiều kết quả tích cực, đem lại lợi ích thiết thực cho người dân và doanh nghiệp hai bên. Trao đổi thương mại hai chiều gần đây liên tục tăng trưởng hàng năm ở mức hai con số; kim ngạch hai chiều 8 tháng đầu năm 2022 đã đạt trên 1 tỷ USD, tăng hơn 20% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam luôn là nước đầu tư lớn thứ ba vào Lào với hơn 200 dự án FDI đang hoạt động và tổng vốn hơn 5 tỷ USD. Hợp tác giáo dục đào tạo, là hợp tác chiến lược theo hướng chú trọng chất lượng cao. Hợp tác các lĩnh vực khác, như năng lượng, giao thông vận tải, văn hóa, y tế... không ngừng được củng cố đi vào chiều sâu. Hợp tác giữa các địa phương, nhất là giữa các tỉnh giáp biên, ngày càng gắn bó khăng khít. Mặc dù còn có những khiếm khuyết, nhưng tới nay, đã có hàng nghìn dự án hỗ trợ phát triển ODA, các dự án, chương trình hợp tác, các khoản viện trợ của các Bộ, cơ quan, địa phương Việt Nam được xây dựng, triển khai và phát huy hiệu quả giúp các bạn Lào.
Đối mặt với dịch Covid-19, hai bên đã dành cho nhau sự giúp đỡ kịp thời, hiệu quả về tài chính, trang thiết bị, vật tư y tế, hỗ trợ cán bộ y tế phòng chống dịch..., là tinh thần luôn tương trợ, bên nhau trong mọi hoàn cảnh.
Công trình Nhà Quốc hội mới của Lào, quà tặng của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam dành cho Đảng, Nhà nước và Nhân dân Lào được bàn giao và khánh thành năm 2021 đã trở thành một trong những biểu tượng của quan hệ đặc biệt Việt - Lào trong giai đoạn mới. Việc Cảng quốc tế Lào - Việt tại Vũng Áng, Hà Tĩnh bắt đầu đi vào khai thác gần đây góp phần giúp nước bạn Lào có đường ra biển. Cùng với đó, các công trình, dự án hợp tác mang dấu ấn của tình hữu nghị Việt - Lào đã và đang xuất hiện ngày càng nhiều trên đất nước hoa Chăm-pa tươi đẹp... Nổi bật là Liên doanh viễn thông Unitel (Viettel) hoạt động từ 2009, hiện là nhà mạng hiện đại lớn nhất, đáp ứng 57% thị trường Lào.
Phóng viên: Chủ tịch nước mong muốn nhìn thấy quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào trong thời gian tới phát triển như thế nào?
Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc: Cá nhân tôi trên nhiều cương vị công tác đã có nhiều năm gắn bó, đóng góp vào phát triển của quan hệ hợp tác Việt - Lào. Với tình cảm sâu nặng dành cho nước bạn Lào anh em và quan hệ hai nước, tôi luôn mong muốn và tin tưởng mối Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện Việt - Lào sẽ tiếp tục được các thế hệ lãnh đạo và Nhân dân hai nước tiếp tục, vun đắp phát triển, nở hoa thơm, kết trái ngọt, đem lại lợi ích cho Nhân dân hai nước.
Với nền tảng quan hệ vững chắc đã được thử thách, Việt Nam và Lào có nhiều thuận lợi và tiềm năng to lớn để tăng mạnh quy mô hợp tác. Điều đó đòi hỏi hai bên có quyết tâm cao, nỗ lực mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả hợp tác.
Thứ nhất, tiếp nối truyền thống cách mạng hào hùng của các thế hệ đi trước, cùng nhau gìn giữ, không ngừng củng cố trụ cột quan hệ chính trị để định hướng tổng thể quan hệ đặc biệt Việt - Lào trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng Cay-xỏn Phôm-vi-hẳn.
Thứ hai, cùng nỗ lực nâng tầm hợp tác kinh tế thành một trụ cột xứng tầm với quan hệ đặc biệt Việt - Lào, có tư duy hợp tác mới với nhiều biện pháp mạnh, đột phá, vừa phát huy nội lực, vừa mở rộng hợp tác quốc tế. Xây dựng nền kinh tế Lào độc lập tự chủ, hội nhập quốc tế rộng mở. Trọng tâm là thúc đẩy hợp tác thương mại, đầu tư, kinh doanh; mở rộng kết nối về năng lượng, viễn thông, giao thông, hướng hàng hóa của Lào ra biển Việt Nam đi quốc tế; quan tâm và giải quyết kịp thời các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp...
Thứ ba, trên cơ sở nền tảng chính trị tin cậy, tiếp tục củng cố trụ cột hợp tác quốc phòng - an ninh để cùng giữ vững môi trường hoà bình, ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, kịp thời ngăn chặn mọi âm mưu "diễn biến hoà bình", chống phá, chia rẽ quan hệ hai nước.
Thứ tư, hai bên tiếp tục coi giáo dục đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là lĩnh vực hợp tác chiến lược, mang tính “đột phá”, không chỉ phục vụ nhu cầu phát triển của mỗi nước, mà còn góp phần thắt chặt tình cảm gắn bó và đoàn kết giữa hai nước; phối hợp chặt chẽ hơn nữa để nâng cao chất lượng tuyển sinh, giảng dạy và học tập nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu thị trường lao động Lào.
Cuối cùng, hai bên đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục về truyền thống quan hệ đặc biệt và hợp tác toàn diện của hai nước, với các hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả gắn với những kết quả hợp tác cụ thể trong cuộc sống, để các tầng lớp Nhân dân, nhất là thế hệ trẻ hai nước, thêm vững niềm tin, chung tay giữ gìn, vun đắp phát triển và làm tươi mới quan hệ hữu nghị truyền thống hai nước.
Trong bầu không khí phấn khởi của "Năm Đoàn kết hữu nghị Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam 2022" và Ngày kỷ niệm 60 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, chúng ta tin tưởng chắc chắn rằng dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào anh em, mối Quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt, hợp tác toàn diện Việt - Lào sẽ tiếp tục được củng cố và nâng lên tầm cao mới, phát triển tự chủ, phồn vinh vì Nhân dân hai nước, góp phần vào gìn giữ hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Nguồn: Xây dựng Đảng
Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc
(LLCT) - Trên cơ sở kế thừa học thuyết quân sự Mác - Lênin, tinh hoa quân sự thế giới, truyền thống quân sự độc đáo của dân tộc và điều kiện thực tiễn của cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã có những tư tưởng đúng đắn và cách làm độc đáo, sáng tạo để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam rộng khắp và mạnh mẽ, góp phần to lớn đưa cách mạng giải phóng dân tộc đến thắng lợi hoàn toàn. Những chỉ dẫn của Người tiếp tục soi sáng cho sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Quân đội Việt Nam nỗ lực phấn đấu, xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại - Ảnh: qdnd.vn
Thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc mà đỉnh cao là Tổng khởi nghĩa Tháng Tám (năm 1945), giành chính quyền về tay nhân dân, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á; mở ra một kỷ nguyên mới - độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất của cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Thắng lợi đó là minh chứng xác đáng cho tính khoa học, đúng đắn và sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh trong việc giải quyết những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc là một trong những tư tưởng đặc sắc của Người, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng và trở thành cơ sở, nền tảng cho đường lối, quan điểm của Đảng về xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hiện nay.
1. Xây dựng lực lượng chính trị làm cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
Ngay từ rất sớm, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã khẳng định, các dân tộc bị áp bức muốn được giải phóng, trước hết phải trông cậy vào lực lượng của bản thân mình. Theo Người, lực lượng đó bao gồm hai lực lượng cơ bản là lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang. Trong đó, lực lượng chính trị không những là cơ sở để xây dựng lực lượng vũ trang, là cơ sở cho đấu tranh quân sự, mà còn là lực lượng trực tiếp tiến công đánh địch trên mặt trận chính trị, tư tưởng; đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ; chống địch khủng bố, cướp bóc; bảo vệ cơ sở cách mạng, bảo vệ quân chủ lực; tiến hành công tác địch vận làm tan rã hàng ngũ địch...
Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng ta muốn có một đội võ trang mạnh, trước hết phải có một đội quân tuyên truyền mạnh, đội quân chính trị vững”(1). Người còn nhấn mạnh: “Ở nước ta hiện nay, muốn đánh Pháp, đuổi Nhật thì ai là người vác súng, ai là người tự giác, tự nguyện đứng dậy làm cách mạng. Đó là quảng đại quần chúng. Cho nên phải tuyên truyền vận động quần chúng. Có như vậy, cách mạng mới thắng được”(2).
Theo Hồ Chí Minh, muốn xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang thì trước tiên phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động quần chúng nhân dân giác ngộ chính trị, tự nguyện, tự giác ủng hộ cách mạng, đi theo cách mạng. Phải xây dựng được cơ sở chính trị vững chắc, phải làm cho nhân dân thấy được mục đích chính nghĩa của cách mạng để mà dốc sức cho cách mạng. Có như vậy, cách mạng mới có lực lượng, có sức mạnh để giành thắng lợi. Đồng thời, từ lực lượng chính trị, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang.
Thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn quan tâm xây dựng và phát triển lực lượng chính trị làm cơ sở cho việc xây dựng lực lượng vũ trang. Người chú trọng công tác tuyên truyền, giác ngộ, cổ vũ quần chúng nhân dân tham gia cách mạng. Ngay từ năm 1923, trong Thư gửi các bạn cùng hoạt động ở Pháp, Người đã nêu rõ ý định và quyết tâm của mình: “trở về nước, đi vào quần chúng, thức tỉnh họ, tổ chức họ, đoàn kết họ, huấn luyện họ, đưa họ ra đấu tranh giành tự do độc lập”(3). Đặc biệt, để quần chúng đến với cách mạng, đi theo cách mạng, Người chú trọng đào tạo, huấn luyện cán bộ làm nòng cốt cho công tác tuyên truyền, vận động quần chúng. Từ năm 1925 -1927, khi hoạt động cách mạng ở Trung Quốc, Người không chỉ quan tâm lựa chọn, gửi một số thanh niên yêu nước Việt Nam vào học ở Trường Quân sự Hoàng Phố (Quảng Châu, Trung Quốc), mà còn trực tiếp mở các lớp huấn luyện, đào tạo cán bộ làm nguồn cho cách mạng. Sau này khi trở về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng, Người cũng đã cử nhiều đoàn cán bộ đi học quân sự ở nước ngoài. Đồng thời, Người cũng chú trọng mở các lớp huấn luyện chính trị và quân sự ở trong nước, rồi đưa họ về các địa phương để xây dựng cơ sở cách mạng(4). Theo Người, đây là những hạt giống tốt, phải làm cho nó nảy nở ra trăm ngàn hạt giống tốt khác.
Thực tế, khi trở về địa phương, các cán bộ cách mạng đã tích cực tuyên truyền, vận động, giác ngộ, tổ chức quần chúng tham gia đấu tranh cách mạng. Từ phong trào đấu tranh của lực lượng chính trị đã từng bước hình thành nên các đội vũ trang đầu tiên của cách mạng như: các Đội Tự vệ đỏ trong Xô viết Nghệ - Tĩnh, rồi đến Đội du kích Bắc Sơn, các Trung đội Cứu quốc quân... Và sau này là Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân - tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay. Đây chính là lực lượng vũ trang chủ lực, chính quy đầu tiên, góp phần quan trọng làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành chính quyền về tay nhân dân.
Sự trưởng thành và lớn mạnh của lực lượng vũ trang trong phong trào đấu tranh cách mạng là minh chứng sinh động cho quan điểm của Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng chính trị làm cơ sở vững chắc để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đúng như Người đã chỉ dẫn: “Có chính quyền cách mạng của địa phương, có căn cứ địa vững vàng, đội du kích nhờ đó mà phát triển lực lượng và hóa ra quân chính quy”(5).
2. Vũ trang toàn dân để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng
Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thực hiện mục tiêu đó, theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chỉ có bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân được vũ trang thì mới đánh đổ được sự thống trị bằng bạo lực phản cách mạng của thực dân, đế quốc và tay sai.
| Người chỉ rõ: “Cách mạng vô luận vào thời đại nào, theo về hoàn cảnh nào, muốn cho thành công thì nhất định phải dùng vũ lực, bởi vì thống trị giai cấp nó đè nén mình, nó hà hiếp mình, là nó cậy nó có vũ lực của nó nên bây giờ cách mạng cũng phải có vũ lực của mình”(6). Vì thế, Người luôn quan tâm xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân. Để xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, Người cho rằng, vũ trang toàn dân là cách tốt nhất, nhanh nhất và hiệu quả nhất. | Mục tiêu của cách mạng giải phóng dân tộc là đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc. Thực hiện mục tiêu đó, theo lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, chỉ có bạo lực cách mạng của quần chúng nhân dân được vũ trang thì mới đánh đổ được sự thống trị bằng bạo lực phản cách mạng của thực dân, đế quốc và tay sai. |
Thực tế, ngay từ khi về nước trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã không ngừng hiện thực hóa tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và vũ trang toàn dân. Người khẳng định: “Mục tiêu của ta là tiêu diệt bọn đế quốc, bọn phong kiến thống trị chứ không phải là giết một thằng là xong. Hôm nay chúng ta giết thằng này, ngày mai chúng lại đưa thằng khác lên. Chủ trương đúng đắn nhất của những người cách mạng chân chính là biết cách tổ chức quần chúng lại thành một khối thống nhất, vững chắc, đấu tranh tiêu diệt cả chế độ của chúng”(7).
Người nhấn mạnh: “Vì cuộc kháng chiến của ta là cuộc kháng chiến của toàn dân cần phải động viên toàn dân, vũ trang toàn dân”(8). Cách mạng Việt Nam là cách mạng giải phóng dân tộc, do toàn thể dân tộc Việt Nam tiến hành. Do đó, bên cạnh việc giáo dục, giác ngộ, tổ chức nhân dân tham gia cách mạng, cần phải coi trọng việc xây dựng lực lượng vũ trang và vũ trang toàn dân để nhân dân trực tiếp đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền.
Tháng 5-1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị Trung ương 8, quyết định nhiều vấn đề hệ trọng của cách mạng Việt Nam như: quyết định sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược của Đảng, khẳng định vấn đề giải phóng dân tộc là nhiệm vụ hàng đầu của cách mạng Việt Nam; đề ra chủ trương tổ chức Mặt trận Việt Nam Độc lập Đồng minh (gọi tắt là Việt Minh), xây dựng căn cứ địa cách mạng, xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang, chuẩn bị đón thời cơ tiến hành tổng khởi nghĩa.
Trên cơ sở phân tích rõ tình hình cách mạng Việt Nam và quốc tế, Hội nghị đã khẳng định: “Cách mạng Việt Nam phải kết liễu bằng một cuộc khởi nghĩa vũ trang”(9). Đây là một chủ trương quan trọng, tiếp nối tư tưởng khởi nghĩa vũ trang và vũ trang toàn dân mà Người đã xác định trước đây.
Trên tinh thần đó, trong thư Kính cáo đồng bào (ngày 6-6-1941), lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh kêu gọi đồng bào cả nước: “Hỡi đồng bào yêu quý! Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: Người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng”(10). Người chỉ rõ, công việc cứu nước là công việc chung của cả dân tộc chứ không phải của một nhóm người, càng không phải của một số ít người. Chỉ có thể tập hợp được cả dân tộc vào khởi nghĩa vũ trang thì mới bảo đảm đưa cách mạng đến thắng lợi. Do đó, toàn thể dân tộc Việt Nam, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo; từ các tầng lớp công, nông, binh, thanh niên, phụ nữ, trí thức, tiểu thương, đến các vị thân sỹ, phú hào, chức sắc tôn giáo, quan lại, công chức làm việc cho chính quyền thực dân, phong kiến, bất kỳ ai là người Việt Nam có lòng yêu nước thì hãy tham gia vào Mặt trận Việt Minh để cùng gánh vác công việc cứu nước, giành cho được độc lập dân tộc.
Thực hiện quan điểm đó, Mặt trận Việt Minh đã tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, làm cho lực lượng cách mạng Việt Nam không ngừng phát triển, từ không đến có, từ yếu thành mạnh. Đây là bước chuẩn bị quan trọng nhất, là tiền đề để xây dựng các lực lượng vũ trang cách mạng sau này, đồng thời bảo đảm cho cách mạng giải phóng dân tộc nhanh chóng đi đến thắng lợi.
3. Xây dựng quân đội chủ lực làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang cách mạng
Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cho rằng, muốn tiến hành thắng lợi cách mạng giải phóng dân tộc thì lẽ đương nhiên phải vũ trang cách mạng. Tức là phải vũ trang cho nhân dân để tiến hành cách mạng; phải thành lập các lực lượng vũ trang cách mạng, nhất là xây dựng quân đội chủ lực làm lực lượng nòng cốt. Người khẳng định: “Vì muốn hành động có kết quả thì về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung một phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực”(11).
Người cũng chỉ rõ nhiệm vụ của quân chủ lực là: “dìu dắt cán bộ vũ trang của các địa phương, giúp đỡ huấn luyện, giúp đỡ vũ khí nếu có thể được, làm cho các đội này trưởng thành mãi lên”(12), quân chủ lực là “đội quân đàn anh, mong cho chóng có những đội đàn em khác”(13).
Hồ Chí Minh quan tâm việc chuẩn bị mọi điều kiện cho việc thành lập quân đội chủ lực làm nòng cốt cho lực lượng vũ trang cách mạng. Tháng 10-1941, Người đã chỉ đạo cho xây dựng thí điểm Đội du kích Pác Bó (còn gọi là Đội du kích Cao Bằng). Đội có nhiệm vụ: “Bảo vệ cơ quan và cán bộ đặc biệt; võ trang tuyên truyền cách mạng trong quần chúng; xây dựng nền nếp cho các lực lượng vũ trang sau này; công tác đặc biệt; giao thông liên lạc đặc biệt”(14). Đây là đội quân kiểu mới được thành lập nhằm bảo vệ căn cứ cách mạng, huấn luyện chính trị, quân sự cho các đội tự vệ, du kích ở địa phương, làm liên lạc nối căn cứ của Đảng với miền xuôi. Đồng thời, đây cũng là đội quân nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang của cách mạng sau này.
Thực tế, từ căn cứ địa Cao Bằng, phong trào cách mạng phát triển nhanh chóng ra các tỉnh lân cận như Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên dẫn đến sự hình thành chiến khu Việt Bắc.
Mặc dù phong trào cách mạng đã phát triển mạnh mẽ ở nhiều nơi, nhưng theo Hồ Chí Minh, nếu bây giờ chỉ hoạt động bằng hình thức vận động chính trị thì chưa đủ để đẩy phong trào đi tới, trong khi đó “Lực lượng nòng cốt còn ít và chưa vững vàng. Vũ khí ít ỏi lại không tập trung”(15). Do đó, tháng 12-1944, tại Cao Bằng, Người chỉ thị thành lập đội vũ trang chính quy mang tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Đội có nhiệm vụ hoạt động vũ trang tuyên truyền, kết hợp chính trị với quân sự, nhưng chính trị trọng hơn quân sự.
Trong Chỉ thị thành lập, Hồ Chí Minh chỉ rõ nhiệm vụ của Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đối với các đội vũ trang địa phương, đó là “đưa các cán bộ địa phương về huấn luyện, tung các cán bộ đã huấn luyện đi các địa phương, trao đổi kinh nghiệm, liên lạc thông suốt, phối hợp tác chiến”(16). Tuy lực lượng còn mỏng, vũ khí trang bị vừa ít vừa thô sơ, nhưng theo Hồ Chí Minh, tương lai của Đội sẽ rất vẻ vang: “Tuy lúc đầu quy mô của nó còn nhỏ, nhưng tiền đồ của nó rất vẻ vang. Nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc, khắp đất nước Việt Nam”(17).
Thật vậy, ngay sau khi thành lập, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã gây được tiếng vang lớn, nhờ những chiến công xuất sắc khi tiến công hai đồn giặc ở Phay Khắt và Nà Ngần (ngày 25 và ngày 26-12-1944), tiêu diệt, bắt sống toàn bộ sỹ quan, binh lính ở hai đồn này và thu nhiều vũ khí của chúng. Sự xuất hiện bất ngờ của Đội cùng với chiến thắng buổi đầu vang dội đó đã có tác động mạnh mẽ, gây hoang mang cho hàng ngũ địch; đồng thời, tạo dựng niềm tin, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng của quần chúng, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đón thời cơ vùng dậy Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trên cả nước.
Những tư tưởng đúng đắn, sáng tạo và khoa học cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, kịp thời trong thực tiễn, Hồ Chí Minh đã xây dựng cho cách mạng Việt Nam một lực lượng vũ trang rộng khắp và mạnh mẽ, góp phần to lớn vào sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, giành lại độc lập dân tộc và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Thành công đó là minh chứng sinh động và đậm nét cho những cống hiến to lớn của Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng. Đó cũng là những minh chứng thuyết phục cho giá trị và ý nghĩa sâu sắc của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang mà ngày nay chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng vào việc xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang để bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong mọi tình huống.
Qua hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta đạt được những thành tựu rất quan trọng, rất đáng tự hào, nhưng cũng còn không ít khó khăn, thách thức. Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) chỉ rõ: “Các thế lực thù địch chống phá ngày càng quyết liệt. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều thách thức”(18). Đặc biệt, tình hình thế giới và khu vực đang có những thay đổi rất nhanh chóng, phức tạp, khó lường, nhất là “môi trường an ninh, tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông còn diễn biến phức tạp”(19). Do đó, để chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa, “kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, biển, đảo, vùng trời; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”(20), xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang hiện nay là vấn đề có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tiếp tục xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, công an tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030, xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”(21). Đây là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, đáp ứng kịp thời yêu cầu đòi hỏi của thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Quán triệt và vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang trong cách mạng giải phóng dân tộc vào thực hiện thắng lợi chủ trương trên của Đảng, xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình hiện nay, cần tập trung vào những nội dung chủ yếu sau:
Một là, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang
Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến chất lượng chính trị và sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn là lực lượng chính trị tin cậy, trung thành; là công cụ bạo lực sắc bén để bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ. Đặc biệt, trước âm mưu thủ đoạn “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an của các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với lực lượng vũ trang. Việc giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang hiện nay là vô cùng quan trọng, không chỉ bảo đảm cho lực lượng vũ trang phát triển đúng hướng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà còn góp phần làm thất bại âm mưu thâm độc của kẻ thù. Điều này được Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân”(22).
Hai là, xây dựng lực lượng vũ trang phát triển toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở
Sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang là sức mạnh tổng hợp của nhiều yếu tố như số lượng, cơ cấu, tổ chức, biên chế; chính trị tinh thần và kỷ luật; vũ khí trang bị kỹ thuật quân sự; khoa học và công nghệ quân sự; bản lĩnh, trình độ, năng lực lãnh đạo, chỉ huy của đội ngũ cán bộ, sĩ quan... Vì vậy, việc xây dựng lực lượng vũ trang mạnh, có sức mạnh chiến đấu cao, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, đòi hỏi phải quan tâm chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang một cách toàn diện cả về quân sự, chính trị, hậu cần và kỹ thuật. Trong đó, lấy xây dựng chính trị làm cơ sở để phát huy sức mạnh của các yếu tố khác; bảo đảm cho lực lượng vũ trang luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân, đồng thời có quyết tâm và ý chí chiến đấu cao nhất để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Ba là, phát huy sức mạnh toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang
Theo Hồ Chí Minh, lực lượng vũ trang cách mạng là lực lượng vũ trang nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Lực lượng vũ trang trưởng thành và lớn mạnh nhờ sự tin yêu, đùm bọc, che chở, giúp đỡ của nhân dân. Do đó, sự nghiệp xây dựng lực lượng vũ trang hiện nay cần tiếp tục phát huy sức mạnh của toàn dân, dựa vào nhân dân để xây dựng và phát triển. Phát huy sức mạnh toàn dân trong xây dựng lực lượng vũ trang là phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền, nhân dân địa phương, các tổ chức chính trị - xã hội... Tự nguyện, tự giác thực hiện tốt đường lối, chính sách quốc phòng toàn dân của Đảng, Nhà nước; tích cực động viên con em tham gia nghĩa vụ quân sự, đóng góp sức người, sức của để giúp đỡ lực lượng vũ trang thực hiện nhiệm vụ.
Bốn là, chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang
Chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với lĩnh vực đặc thù; bù đắp phần nào những khó khăn, vất vả, mất mát, hy sinh của họ. Đồng thời, trực tiếp góp phần bảo đảm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang và thân nhân của họ; tạo động lực mạnh mẽ để họ yên tâm công tác và cống hiến hết mình cho đơn vị. Vì vậy, việc quan tâm, chăm lo thực hiện tốt chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang là một nội dung quan trọng trong việc xây dựng và nâng cao sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang hiện nay.
Nguồn: TS PHẠM VĂN MINH
Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
NGUYỄN HỒNG NGUYÊN
Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng
Kỷ niệm trọng thể 35 năm UNESCO ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh
![]() |
Quang cảnh Lễ kỷ niệm. |
Dự Lễ kỷ niệm có đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ; Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Võ Thị Ánh Xuân, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước; Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Lê Hải Bình, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cùng đại diện các lãnh đạo, nguyên lãnh đạo bộ, ban, ngành đoàn thể Trung ương cùng điểm cầu từ cơ quan đại diện Việt Nam tại nước ngoài.
Về phía quốc tế có: Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO Audrey Azoulay cùng đại diện các cơ quan, tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
Phát biểu tại Lễ kỷ niệm, đồng chí Phạm Bình Minh, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ nêu rõ: Năm 1987, Đại hội đồng UNESCO đã ra Nghị quyết số 24C/18.65 về kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nghị quyết khẳng định Người “là một biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam, góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội” và “là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc trong việc khẳng định bản sắc dân tộc của mình và tiêu biểu cho việc thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau”.
Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhận xét, vào thời điểm đó, Việt Nam đứng trước vô vàn khó khăn. Việc UNESCO vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là nguồn cổ vũ, động viên tinh thần lớn lao, tiếp thêm sức mạnh để cả dân tộc Việt Nam quyết tâm, chung sức, đồng lòng khắc phục khó khăn, vượt qua mọi thử thách, thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Kết quả, sau hơn 35 năm Đổi mới, Việt Nam đã đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Phó Thủ tướng nhấn mạnh, đối với dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, người thầy vĩ đại của cách mạng Việt Nam, nhà ngoại giao lỗi lạc, là khởi nguồn cho niềm tin tất thắng của cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc và phồn vinh của nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam giành những thắng lợi vĩ đại, vẻ vang, tiêu biểu là: Cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập cho dân tộc; hai cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân, thống nhất đất nước. Tư tưởng của Người cũng chính là nền tảng để Việt Nam bước vào sự nghiệp Đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Đối với nhân dân thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh là người bạn thân thiết, mẫu mực, thủy chung; là biểu tượng của khát vọng hòa bình, đấu tranh chống áp bức, bất công; là sứ giả của hòa bình, của đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển giữa các dân tộc trên thế giới. Người không chỉ là “Anh hùng giải phóng dân tộc”, đã truyền cảm hứng, cổ vũ cho các dân tộc bị áp bức, khát khao tự do, đứng lên đánh thắng chủ nghĩa thực dân cũ và mới, mà còn là “Nhà văn hóa kiệt xuất”, là hiện thân sinh động về việc coi trọng, gìn giữ, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, tôn trọng sự khác biệt, đa dạng và thúc đẩy sự hiểu biết, đoàn kết. Như một số chuyên gia từng nhận xét: Cả diện mạo của Nguyễn Ái Quốc toát lên sự lịch thiệp và tế nhị. Từ Nguyễn Ái Quốc tỏa ra một nền văn hóa, có lẽ là một nền văn hóa của tương lai. Hay “Chỉ có ít nhân vật trong lịch sử trở thành một bộ phận của huyền thoại ngay từ khi còn sống và rõ ràng Hồ Chí Minh là một trong số đó”.
Vì lẽ đó, nhiều năm qua, với tình cảm yêu mến, kính trọng, bạn bè quốc tế đã tổ chức nhiều hoạt động tưởng niệm, nghiên cứu, tìm hiểu về thân thế, sự nghiệp và tôn vinh những phẩm chất cao đẹp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trên khắp năm châu đều có những trường học, con đường, công viên, bảo tàng, tượng đài mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, những tác phẩm văn học, thơ ca, thước phim tư liệu… về Người đã, đang được chia sẻ, lan tỏa rộng rãi. Các hoạt động trên đã góp phần tăng cường sự kết nối, hiểu biết, đoàn kết, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với các nước trên thế giới.
Nhớ về Chủ tịch Hồ Chí Minh, Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh nhắc lại câu thơ mà Nhà thơ Tố Hữu đã viết vào đúng ngày 6-9 cách đây 53 năm: “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”. “Yêu Bác” chính là học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác một cách thực chất, thường xuyên, sáng tạo và khoa học.
![]() |
Đồng chí Phạm Bình Minh tặng sách Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO Audrey Azoulay. |
Tại Lễ kỷ niệm, bà Audrey Azoulay, Tổng Giám đốc Tổ chức UNESCO cho biết, vào năm 1987, Tổ chức UNESCO mới có 155 thành viên nhưng nay đã là 193 thành viên. Ở thời điểm đó, UNESCO đã xét quyết định vinh danh hai lãnh tụ là Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Jawaharlal Nehru với những giá trị trường tồn của di sản mà hai danh nhân này để lại cho thế giới.
Theo bà Audrey Azoulay, di sản lớn nhất Chủ tịch Hồ Chí Minh để lại chính là việc Người đã có tầm nhìn đúng đắn về giáo dục đối với toàn dân. Hiện nay, việc kế thừa và phát triển một cách hiệu quả nhất di sản tốt đẹp này của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự hợp tác hiệu quả giữa UNESCO và Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực bảo tồn và phát huy giá trị về bản sắc văn hóa dân tộc. Một lần nữa, bà Audrey Azoulay khẳng định cam kết, bằng những thành tựu hợp tác trước đó, UNESCO sẽ tích cực hơn nữa trong hợp tác với Việt Nam thời gian tới.
Nhân dịp này, cuốn sách song ngữ: “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh” cũng được ra mắt với sự chào đón nồng nhiệt của những người dân yêu mến, kính trọng Người. Cuốn sách đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng viết lời tựa, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn viết lời giới thiệu.
Các đại biểu dự Lễ kỷ niệm đã dành thời gian tham quan triển lãm ảnh và sách về Chủ tịch Hồ Chí Minh; tham quan Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch.
* Chiều cùng ngày, Hội thảo quốc tế: “Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại” đã được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến với hai phiên: Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại; Các hoạt động lan tỏa di sản Hồ Chí Minh. Chủ trì Hội thảo có các đồng chí Nguyễn Dy Niên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao; Lê Hải Bình, Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Phương Nga, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam; Đỗ Hùng Việt, Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã thảo luận sôi nổi về sự nghiệp cách mạng và tư tưởng của Hồ Chí Minh đối với dân tộc Việt Nam nói riêng, với thế giới nói chung. Các đại biểu đều nhất trí cho rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất, Người đã cống hiến cả cuộc đời mình cho độc lập, tự do của Tổ quốc, ấm no, hạnh phúc của nhân dân và để lại những giá trị tiêu biểu, cao quý cho nhân loại. Người là kết tinh cho trí tuệ, đạo đức, phẩm giá, khí phách, lương tri của dân tộc và thời đại, rạng ngời cốt cách của một vĩ nhân, có sức lan tỏa và tầm ảnh hưởng vượt không gian, thời gian. Trở thành huyền thoại ngay từ khi còn sống và sau hơn 50 năm kể từ khi qua đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn được nhân loại tiến bộ không ngừng tôn vinh và ngợi ca. Đến nay, ở 22 quốc gia trên thế giới đã có 36 tượng, tượng đài Hồ Chí Minh; 6 bia tưởng niệm, 14 khu tưởng niệm, 5 trường học, 6 đại lộ, 7 con đường trên thế giới mang tên Hồ Chí Minh. Ở Việt Nam, có khoảng 700 di tích và địa điểm lưu niệm Hồ Chí Minh, phân bố ở hơn 30 tỉnh, thành phố trên cả nước. Hàng ngàn nghiên cứu viết về Người. Tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh được ghi trong nhiều bộ bách khoa toàn thư, từ điển danh nhân lỗi lạc trên thế giới…
Các chuyên gia, nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước đểu khẳng định, di sản của Hồ Chí Minh đối với nhân loại luôn có giá trị trường tồn. Thế hệ ngày nay cần ghi nhớ, học tập và lan tỏa những giá trị cao quý này cho thế hệ mai sau.
Nguồn: Ngô Khiêm







