Thứ Tư, 7 tháng 9, 2022

Luận điệu sai trái về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam

 Xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN được xác định là nội dung trọng tâm của đổi mới chính trị tại Việt Nam. Thời gian qua, các cơ quan chức năng đã tích cực thảo luận, lấy ý kiến đóng góp để hoàn thiện Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá, nhiều đối tượng xấu đã xuyên tạc, công kích, đưa ra các bài viết làm sai lệch bản chất vấn đề. Một số bài viết cho rằng đã là nhà nước pháp quyền thì không thể đi đôi với XHCN, đưa ra “kiến nghị” đòi bỏ nội dung XHCN trong đề án xây dựng nhà nước pháp quyền.

Thậm chí, một số người nhân danh cấp tiến, đổi mới để vu cáo rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện “đứng trên pháp luật” nên không thể có nhà nước pháp quyền; cho rằng việc đưa ra định hướng XHCN chỉ để mang lại lợi ích cho Đảng chứ không phải vì lợi ích quốc gia, dân tộc; việc đặt đề án xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN là nhằm che đậy cho bản chất độc tài của chế độ… Những luận điệu trên  thể hiện rõ ý đồ chống phá chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Ngược dòng lịch sử, tư tưởng về nhà nước pháp quyền xuất hiện từ sớm, gắn với các nhà tư tưởng nổi tiếng như Socrates (469-399 Tr.CN), Aristoteles (384-322 Tr.CN), Cicero (l06-43 Tr.CN), John Locke (1632 - 1704), Montesquieu (1698 - 1755), Jean Jacques Rousseau (1712 - 1778), I.Kant (1724 - 1804), Hegel (1770 - 1831) v.v… Mục tiêu của nhà nước pháp quyền là xây dựng và thực thi một nền dân chủ, đảm bảo quyền lực chính trị thuộc về nhân dân.

Những yếu tố cơ bản để xây dựng một nhà nước pháp quyền là xã hội có dân chủ, đất nước có một hệ thống pháp luật đầy đủ và mọi cá nhân, tổ chức trong xã hội đều phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền vừa là một giá trị chung của nhân loại, vừa là một giá trị riêng của mỗi một dân tộc, quốc gia. Tuỳ thuộc vào đặc điểm lịch sử, chính trị, kinh tế - xã hội và trình độ phát triển mà các quốc gia khác nhau sẽ xây dựng một mô hình nhà nước pháp quyền cụ thể một cách thích hợp.

Tại Việt Nam, mô hình mà chúng ta lựa chọn là nhà nước pháp quyền XHCN. Điều này đã được ghi nhận cụ thể tại khoản 1, Điều 2 Hiến pháp 2013: “Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”. Việc xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hoàn toàn phù hợp cả về mặt lý luận và thực tiễn.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Như vậy, đây là bộ máy quyền lực của chính quần chúng nhân dân lao động, phục vụ lợi ích của đại đa số người dân trong xã hội.

Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ. Tại Việt Nam, Đảng, Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức có nghĩa vụ và trách nhiệm tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân. Mọi hành vi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, hách dịch, cửa quyền đều kiên quyết bị xử lý.

Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, Đảng Cộng sản là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo không có nghĩa là “đứng trên pháp luật”, “không tuân thủ pháp luật” như những gì các đối tượng xấu cố tình bôi nhọ. Tất cả các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mọi hành vi vi phạm pháp luật tuỳ theo tính chất, mức độ, hậu quả sẽ bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

Việc Việt Nam xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN là phù hợp với mong muốn, nguyện vọng của nhân dân. Như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ rõ: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người. Chúng ta cần sự phát triển về kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, chứ không phải gia tăng khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng xã hội. Chúng ta cần một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, chứ không phải cạnh tranh bất công, "cá lớn nuốt cá bé" vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và các phe nhóm. Chúng ta cần sự phát triển bền vững, hài hòa với thiên nhiên để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai, chứ không phải để khai thác, chiếm đoạt tài nguyên, tiêu dùng vật chất vô hạn độ và hủy hoại môi trường. Và chúng ta cần một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân, chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có”.

Trong những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, chúng ta đã đạt được những kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực. Sau 35 năm thực hiện đổi mới, kinh tế nước ta duy trì được tốc độ tăng trưởng bình quân khá cao (khoảng 6%/năm), cơ cấu kinh tế thay đổi theo chiều hướng tích cực, tiềm lực, quy mô và sức cạnh tranh của nền kinh tế được nâng lên. Môi trường hoà bình, ổn định được giữ vững, là tiền đề quan trọng để đất nước phát triển. Công tác xoá đói giảm nghèo được triển khai mạnh mẽ, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều của cả nước đã giảm bình quân trên 1,4%/năm giai đoạn 2016 – 2020. Lĩnh vực y tế, văn hoá, giáo dục cũng đạt được nhiều thành tựu. Trong quan hệ quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng tăng cao và được bầu giữ nhiều vị trí quan trọng trong các tổ chức quốc tế. Đây là những minh chứng rõ ràng khẳng định Việt Nam đang phát triển đúng hướng.

Quá trình phát triển cũng bộc lộ những hạn chế, khiếm khuyết, trong đó có vấn đề tham nhũng, suy thoái, những hiện tượng tiêu cực trong đời sống văn hoá, xã hội còn diễn biến phức tạp, nhiều vấn đề tồn tại kéo dài khiến dư luận bức xúc, ảnh hưởng tới sự uy nghiêm của luật pháp và niềm tin của người dân vào thể chế. Tuy nhiên, những tồn tại đó có nguyên nhân khách quan, chủ quan, nhất là trong điều kiện đất nước hội nhập, mở cửa, luật pháp chưa đầy đủ, còn những kẽ hở bị lợi dụng; công tác quản lý Nhà nước còn những yếu kém, còn tình trạng cán bộ, đảng viên suy thoái, nhũng nhiễu.

Vấn đề là Đảng, Nhà nước ta nghiêm túc nhìn nhận hạn chế, thiếu sót, đưa ra các giải pháp trước mắt và lâu dài để chấn chỉnh, đặc biệt là việc xây dựng Đề án “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam đến năm 2030, định hướng đến năm 2045”. Vì vậy, không có lý do gì để các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ” để giở trò “đâm bị thóc, chọc bị gạo”, xuyên tạc tình hình, bôi nhọ Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Hiện thực sinh động phản bác những trò xảo biện trong dịp Quốc khánh

 Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Song, có những luận điệu ngay từ cách đặt vấn đề đến lý giải cho thấy sự ngô nghê của người viết, dường như họ cố tình không nhìn thấy gì cả, không nghe thấy gì cả, cứ phết lên đó gam màu càng đen, càng xám là được, bất chấp sự thể ra làm sao.

Chẳng hạn, bài viết trên trang mạng của tổ chức Việt Tân đặt câu hỏi khôi hài “Ngày 2/9 nên gọi là ngày gì?”. Bằng việc đưa ra những hiện tượng tiêu cực trong xã hội rồi người viết đả kích rằng “dân chỉ là bầy cừu làm thuê mà không hề có một tổ chức nào bảo vệ”; “đừng nhìn dân như một bầy cá thể yếu ớt”! Trong một bài viết khác về suy ngẫm ngày 2/9, cũng bằng việc phân tích kiểu đánh tráo khái niệm, bản chất, dẫn dắt với những lý lẽ sai lệch, người viết đả kích “vậy sau khi giành được chính quyền, chính quyền đó có về tay nhân dân không?”! Thậm chí, bài viết này còn xuyên tạc rằng: “Đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”! Từ đó, đánh lái thành “cuộc cách mạng giành chính quyền về tay nhân dân, hơn 70 năm qua vẫn chưa xong”…

Đọc những câu chữ trên cho thấy rõ tư duy của những người cố tình viết lấy được, nói lấy được, kiểu như đã nhận đặt bài của tổ chức, cá nhân nào đó, cầm “xèng” rồi thì phải “trả  bài” sao cho càng lộng ngôn, càng xuyên tạc, miệt thị cay độc càng có tiền.

Cổ suý tư tưởng chống phá nói trên, một số mạng hải ngoại phân tích kiểu râu ông cắm cằm bà, tiếp cận các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực hiện nay trong bộ máy cơ quan Đảng, Nhà nước rồi phán rằng, hiện thực đất nước là “gam màu xám xịt”. Họ cho rằng, 77 năm sau Quốc khánh 2/9/1945, Việt Nam vẫn trì trệ, lạc hậu vì “sự bảo thủ của Đảng”, coi Việt Nam “cũng chẳng có vị thế gì” trên bản đồ quốc tế, thậm chí còn cho rằng, ngày nay các nước không muốn kết bạn với Việt Nam vì “sợ cộng sản”! Rõ ràng, với cái cách xảo biện như thế, một mặt cho thấy động cơ chống phá đến cùng của một số cá nhân, tổ chức, song cũng phơi bày sự thật là họ cũng đã “hết cách”, xoay đi xoay lại chỉ bài vở cũ, kiểu như “cứ rượu xong là chửi”!

Ở đây, cần thấy rằng:  

Thứ nhất, về ý nghĩa, bản chất của Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9, bất cứ nhìn từ góc độ nào cũng phải tôn trọng sự thật khách quan của lịch sử và điều này đã được sử sách nước ta cũng như thế giới ghi nhận. Với Cách mạng Tháng Tám, chính quyền về tay nhân dân, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người dân của một nước độc lập, làm chủ vận mệnh của mình. Nước Việt Nam từ một nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ. Từ đây, đất nước, xã hội và con người Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.

Thứ hai, từ thành quả của Cách mạng Tháng Tám, nước Việt Nam đã phấn đấu, đạt được những thành tựu hết sức to lớn. Hiện thực đó được thể hiện bằng bức tranh sống động trong giai đoạn đổi mới hiện nay, điều mặc nhiên ai cũng thấy rõ. Các quyền con người được khẳng định trong Hiến pháp và cụ thể hoá từ thực tiễn và chính người dân ghi nhận, hưởng thụ, không thể bôi lem, biến tấu kiểu “đến ngày hôm nay, nhân dân Việt Nam chẳng có một quyền gì”!

Thứ ba, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và quốc tế đánh giá, coi Việt Nam như thế nào, hãy để sự thật khách quan lên tiếng, không thể tẩy trắng kiểu “không có vị trí gì”!

Sự thực là, cũng trong những ngày đầu tháng 9 này, phái đoàn Việt Nam đang tham dự Hội nghị thượng đỉnh Cảnh sát Liên hợp quốc lần thứ ba (UNCOPS), diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc tại New York từ 30/8-3/9, gửi đi thông điệp Việt Nam sẵn sàng tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình quốc tế. Tại khóa họp 50 Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc diễn ra tháng 6 vừa qua, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đã đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đó chỉ là hai trong rất nhiều hoạt động quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục tham gia, thể hiện rõ nét Việt Nam là một đối tác tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Cũng trong dịp Quốc khánh này, các nước đã chúc mừng, đánh giá cao thành tựu, vị thế của Việt Nam. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào hòa bình, ổn định trong khu vực. Theo người đứng đầu Liên hợp quốc, “Việt Nam cho thấy những cam kết mạnh mẽ của một quốc gia luôn tích cực nỗ lực xây dựng lòng tin và đối thoại, làm cầu nối tìm kiếm giải pháp hòa bình cho các cuộc xung đột trên thế giới”. Đánh giá của Tổng Thư ký Liên hợp quốc phản ánh sự tin tưởng, kỳ vọng vào những đóng góp trách nhiệm của Việt Nam đối với hòa bình, an ninh khu vực và quốc tế, đồng thời cũng cho thấy vai trò và vị thế quốc tế ngày càng cao của Việt Nam.

Việc Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm kỳ ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc 2020-2021 là một trong những minh chứng điển hình. Việt Nam được đánh giá đã thể hiện vai trò chủ động, cân bằng, trách nhiệm khi đưa ra những đề xuất, đóng góp thiết thực vào hoạt động của Hội đồng Bảo an, chung tay giải quyết những thách thức toàn cầu. Nổi bật là việc khi đại dịch COVID-19 bùng phát và lây lan trên toàn cầu, Việt Nam chủ trì đề xuất, thương lượng và thúc đẩy để Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thành lập Ngày Quốc tế phòng, chống dịch bệnh vào 27/12 hằng năm; cùng với Đức khởi xướng và trở thành nước sáng lập Nhóm Bạn bè của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982, ra mắt cuối tháng 6/2021. Tại buổi lễ kỷ niệm 1 năm ngày thành lập Nhóm diễn ra ở New York tháng 6 vừa qua, đại diện nhiều nước đã hoan nghênh sáng kiến của Việt Nam cũng như các nước đồng sáng lập nhóm, góp phần đề ra cam kết của đông đảo thành viên Liên hợp quốc, các nước thành viên UNCLOS đối với Công ước vốn lâu nay được coi là “Hiến pháp của đại dương”.

Từ tháng 6/2014 đến tháng 8/2022, có 512 lượt sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp Việt Nam được cử đi làm nhiệm vụ ở phái bộ Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei... Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc phụ trách các hoạt động hòa bình Jean-Pierre Lacroix đã cảm ơn Việt Nam về sự ủng hộ mạnh mẽ cũng như những đóng góp tích cực đối với các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc. Ông Lacroix đánh giá cao tính chuyên nghiệp, sự tận tụy, nỗ lực, hy sinh của các binh sĩ Việt Nam khi phải thực hiện nhiệm vụ trong những môi trường khó khăn; đặc biệt bệnh viện dã chiến cấp 2 của Việt Nam tại Nam Sudan đã đóng vai trò quan trọng trong thành công chung của phái bộ Liên hợp quốc tại quốc gia châu Phi này.

Chính sự sẵn sàng và tinh thần trách nhiệm khi tham gia đóng góp vào công việc chung của cộng đồng quốc tế đã giúp Việt Nam tạo dựng được lòng tin, liên tiếp được bầu vào nhiều tổ chức đa phương quan trọng như Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC)... Đây cũng là động lực để Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, đại diện cho khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Điều này cũng thể hiện sự tự tin của Việt Nam trong việc gánh vác các trọng trách của quốc tế.

Tại khu vực, Việt Nam ngày càng khẳng định là một thành viên chủ động, tích cực, có trách nhiệm, đóng góp hết mình vì sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN).

Đánh giá về những thành tựu đối ngoại của Việt Nam, Đại sứ Philippines Kridelka, Trưởng phái đoàn thường trực Bỉ tại Liên hợp quốc khẳng định: “Việt Nam có tiếng nói mạnh mẽ và có được lòng tin của thế giới, nhất là ở châu Á, châu Phi và cả châu Âu cũng như Mỹ”. Trong các phát biểu khi tham dự lễ kỷ niệm 77 năm Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhiều đại diện chính phủ, tổ chức quốc tế đã đề cao vị thế và coi trọng hợp tác với Việt Nam.

Sự tham gia chủ động, tích cực và có trách nhiệm của Việt Nam trên trường quốc tế đã cho thấy một Việt Nam tự tin, sẵn sàng gánh vác nhiều trọng trách quốc tế vì hòa bình và phát triển bền vững. Đó là hiện thực khách quan, do quốc tế ghi nhận, đánh giá chứ không phải tự mình nói về mình. Vậy mà vẫn có những thành phần viết, nói theo kiểu không nghe, không biết, không thấy thì đủ hiểu động cơ của họ như thế nào.

Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động

 Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”.

Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á - Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”.

“Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; "Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm.

Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

Góp phần động viên tinh thần yêu nước, củng cố lòng tin

 Ngày 11/1, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ (Ban Chỉ đạo quốc gia 515), tổ chức Hội nghị tổng kết thực hiện Đề án tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ (Đề án 1237) và Đề án xác định hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin (Đề án 150) giai đoạn 2013 - 2020; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin giai đoạn 2021 - 2025. 

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam, Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515; Thượng tướng Võ Minh Lương, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515 và Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội Nguyễn Bá Hoan, Phó Trưởng ban Chỉ đạo quốc gia 515, đồng chủ trì Hội nghị.

Giai đoạn 2013 - 2020, các cấp, ngành, địa phương, đơn vị đã quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc, tích cực, hiệu quả Chỉ thị 24 của Bộ Chính trị, Quyết định 1237, Quyết định 150 của Thủ tướng Chính phủ; tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với công tác tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin. Với việc triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp, công tác này đã được thực hiện toàn diện, đi vào nền nếp và trở nên sâu sắc hơn, từ đó hoàn thành cơ bản các mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, góp phần ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương, làm tăng thêm niềm tin của nhân dân, thân nhân liệt sĩ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Từ năm 2013 đến nay, toàn quốc đã tìm kiếm quy tập được gần 17.000 hài cốt liệt sĩ (ở trong nước hơn 8.000, ở Lào trên 2.000, ở Campuchia hơn 6.000); tiếp nhận hơn 38.000 mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ; phân tích, lưu trữ ADN được hơn 23.000 mẫu; xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin được hơn 4.000 trường hợp (bằng phương pháp thực chứng được gần 3.000 trường hợp, bằng phương pháp giám định ADN được hơn 1.000 trường hợp); xác minh, kết luận bổ sung, đính chính thông tin được 1.260/1.736 ngôi mộ của nghĩa trang liệt sĩ tỉnh Đăk Lắk (đạt 72,58% số mộ có một phần thông tin; 55,9% tổng số mộ trong nghĩa trang). Các đơn vị, địa phương đã quản lý chặt chẽ địa bàn; tổ chức đón nhận, bàn giao, truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ trang nghiêm, trọng thị, chu đáo; công bố, trả kết quả xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đúng quy định.

Với những thành tích xuất sắc trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, đã có 2.749 tập thể, cá nhân được khen thưởng.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Võ Minh Lương nhấn mạnh: Trong những năm tới, cùng với việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, các cấp, ngành, đơn vị cần đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về nhiệm vụ này; đồng thời chủ động thu thập, kết nối, xử lý thông tin về liệt sĩ, mộ liệt sĩ, giải mã ký hiệu, phiên hiệu đơn vị trong chiến tranh.

Cùng với đó, việc kiện toàn tổ chức, lực lượng chỉ đạo, thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin cần được quan tâm hơn nữa; song song với việc tăng cường hoạt động tìm kiếm quy tập, tổ chức thực hiện quy trình xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin; mở rộng quan hệ, tăng cường hợp tác quốc tế, đồng thời bảo đảm nguồn lực, phương tiện, trang bị, kinh phí, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ công tác này.

Thay mặt Ban Chỉ đạo quốc gia 515, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam biểu dương tinh thần chủ động, tích cực, sáng tạo của các cấp, ban, bộ, ngành, địa phương, đơn vị, Văn phòng Ban Chỉ đạo quốc gia và Cơ quan Thường trực Ban Chỉ đạo; đặc biệt là các cán bộ, nhân viên, chiến sĩ trực tiếp làm nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đã luôn nhận thức sâu sắc nhiệm vụ, có ý chí, quyết tâm cao, sẵn sàng chấp nhận, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đồng thời khẳng định kết quả thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin trong thời gian qua đã góp phần động viên tinh thần yêu nước, củng cố lòng tin của nhân dân, thân nhân liệt sĩ đối với Đảng, Nhà nước; ổn định tình hình chính trị - xã hội ở các địa phương và trong cả nước.

Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đề nghị các cấp, ngành, đơn vị cần bám sát tình hình thực tiễn những năm tới, với tất cả trách nhiệm và tình cảm tiếp tục tạo điều kiện tốt nhất cho công tác này. Trong đó, cần tăng cường sử dụng các phương tiện công nghệ mới, kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, đặc biệt là phát huy các sáng kiến trong việc thu thập, tiếp nhận thông tin phục vụ công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ. Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đồng thời đề nghị các địa phương thường xuyên quan tâm đến công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các gia đình thương binh liệt sĩ.

Màn kịch “kêu oan” sau phiên toà phúc thẩm xét xử Trịnh Bá Phương, Nguyễn Thị Tâm

 Tung tin giả, tô vẽ hình tượng để kêu oan cho các bị cáo trước, trong và sau phiên tòa đã trở thành chiêu trò quen thuộc của những đối tượng chống phá Việt Nam. Đây cũng là thời cơ để các đối tượng “mượn gió bẻ măng” nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ ngành Tư pháp và chế độ. 

Ngay sau khi TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm 2 bị cáo Trịnh Bá Phương (sinh năm 1985) và Nguyễn Thị Tâm (sinh năm 1972), cùng trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, Hà Nội về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, các đối tượng tự xưng “nhà dân chủ”, các trang báo như BBC, RFA, VOA... đã đồng loạt lên tiếng “bẻ lái” vụ án, tìm cách tẩy trắng tội danh nhằm “kêu oan” cho các đối tượng.

Vở kịch này khởi nguồn từ bài viết của một nhân vật với danh nghĩa luật sư, tung lên trên mạng xã hội. Nội dung của bài viết phản ánh về quá trình diễn ra phiên tòa xét xử phúc thẩm, trong đó chủ yếu tập trung ngòi bút của mình để “ca ngợi” bị cáo Trịnh Bá Phương và Nguyễn Thị Tâm với những lời lẽ thật mĩ miều như: “tại phiên tòa, tâm thế của các bị cáo rất hiên ngang, mạnh mẽ và bình tĩnh trong phiên đối chấp trước tòa”! Và cũng theo tác giả này, biểu hiện đó của các bị cáo cho thấy “khả năng xử lý thật đáng làm người ta phải kinh ngạc”!?

Các “nhà dân chủ” giả hiệu ở trong và ngoài nước cho đến các trang báo điện tử thiếu thiện chí với Việt Nam như BBC, VOA, RFA... cũng “té nước theo mưa”, tạo nên làn sóng phản đối tẩy chay phiên tòa, “tẩy trắng” tội danh cho các đối tượng.

Xuất hiện những bài viết có nội dung ca ngợi, xây dựng các bị cáo trở thành những “người hùng”, coi đó là biểu tượng của những những người “dám đấu tranh cho sự phản kháng quật cường trước các vấn đề trong xã hội”! Nhưng “vải thưa không che được mắt thánh”, đối chiếu với những bằng chứng về các hành vi phạm tội của các đối tượng, chúng ta thấy rõ những thông tin, luận giải của những “nhà dân chủ” nêu trên là trò hề, là vở hài kịch được vẽ ra để tung hứng.

Trò diễn kịch bấy lâu nay, các đối tượng tung ra hòng lừa bịp những người còn thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin nhằm cố tạo làn sóng ngược dòng, thể hiện chút nghĩa tình với các bị cáo đã bị sa vào vòng lao lý, không bỏ rơi những “chân rết” của mình trong “cuộc đấu tranh vì dân chủ”! Hoặc cũng có thể là họ cố tình đóng vai những người “đạo đức”, tỏ ra bênh vực, đồng cảm để bày tỏ sự quan tâm, động viên, khích lệ tới thân nhân của các đối tượng chống đối. 

Thực tế quá trình đấu tranh, xử lý các đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước, nhân dân, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia cho thấy, không ít người đã lầm tưởng dẫn tới sự tự tin thái quá khi được các tổ chức, cá nhân thù địch, chống phá Việt Nam hậu thuẫn, chống lưng hoặc được các trang báo điện tử thiếu thiện chí ở nước ngoài dùng làm trò tiêu khiển như những quân cờ.

Khi được những tổ chức, cá nhân thù địch “hỏi quan điểm” dưới dạng trao đổi, phỏng vấn, đánh giá về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, số “chân rết” này ảo tưởng về sự bao bọc, đãi ngộ vật chất nên mặc nhiên trả lời theo chủ ý của kẻ xấu, xuyên tạc tình hình thực tế mà không nghĩ đến hậu quả của sự xảo trá, bôi nhọ do mình gây ra.

Đã có nhiều “tấm gương mờ” vì ảo tưởng và động cơ tiêu cực mà tiếp tay cho kẻ xấu. Việc xét xử được thông tin công khai, rộng rãi trên các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm nâng cao ý thức cảnh giác, sự răn đe, cảnh tỉnh cho những người lầm đường lạc lối. Thế nhưng, bên cạnh những người đã kịp thức tỉnh “quay đầu là bờ” thì vẫn còn có một số người vẫn ngoan cố, bảo thủ, không nhận ra lỗi lầm của mình, bị những lợi ích vật chất làm lu mờ tâm trí, để các thế lực xấu dần biến họ trở thành những “con rối” để sai khiến thực hiện các hành vi xâm hại đến an ninh, trật tự.

Trường hợp của bị cáo Trịnh Bá Phương là một ví dụ điển hình cho điều này. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Tâm thừa nhận hành vi lợi dụng mạng xã hội Facebook, thực hiện việc phát trực tiếp các video, đăng tải các bài viết, trạng thái, chia sẻ trên tài khoản cá nhân các nội dung liên quan đến sự việc ở xã Đồng Tâm. Từ đó, bị cáo Tâm mong muốn tòa phúc thẩm xem xét, giảm nhẹ. Thế nhưng bị cáo Trịnh Bá Phương tiếp tục không thừa nhận hành vi phạm tội, không thành khẩn, vẫn quanh co chối tội và có hành vi chống đối.

Trong khi đó, các tài liệu chứng cứ phản ánh về hành vi phạm tội của Trịnh Bá Phương đã được làm rõ. Ngoài tuyên truyền, xuyên tạc vụ Đồng Tâm, Trịnh Bá Phương còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách gồm 278 trang mà kết quả giám định cho thấy có nội dung tuyên truyền xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân; xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân. Như vậy, cùng trong một vụ án, cùng tính chất, hành vi phạm tội nhưng bị cáo Nguyễn Thị Tâm đã biết ăn năn hối cải, nhận tội và mong được pháp luật khoan hồng để sửa sai nhưng người còn lại là Trịnh Bá Phương thì ngoan cố, không chịu nhận tội, còn thể hiện hành vi chống đối ngay tại phiên tòa.

Đối với trường hợp của Trịnh Bá Phương, việc bị cáo này không nhận tội cho thấy ý thức chống đối đến cùng. Các thế lực xấu nhân cơ hội đó đã tìm cách tung hô, cổ suý, coi bị cáo Phương như “người hùng”, ca ngợi “dũng cảm, bản lĩnh”! Qua những gì đã thể hiện, bản thân Trịnh Bá Phương luôn ảo tưởng về con đường mà mình đang theo đuổi nên từ trước đến nay, dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần răn đe, giáo dục nhưng Phương không những không nhận thức được những hành vi sai trái mình đã phạm phải mà ngược lại, thường tìm cách quanh co, chối bỏ sự thật, cố tình thực hiện các hành vi chống đối manh động hơn.

Do đó, trong phiên tòa phúc thẩm, dù những chứng cứ buộc tội quá rõ ràng nhưng bị cáo vẫn bảo thủ, bao biện hành vi phạm tội của mình. Và một nguyên nhân khác dẫn tới việc bị cáo ngoan cố chối tội chính là tâm lý ảo tưởng, luôn mong chờ về sự can thiệp từ bên ngoài, cho rằng phủ nhận tội trạng sẽ được các tổ chức, cá nhân bên ngoài can thiệp, từ đó chờ đợi ngày được “minh oan”, được trao thưởng kiểu “giải nhân quyền”, tìm đường ra hải ngoại như các đối tượng Trần Thị Nga, Nguyễn Văn Đài, Bạch Hồng Quyền, Tạ Phong Tần, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh...

Quốc có quốc pháp, gia có gia quy, những ai cố tình lấy lợi ích cá nhân đặt trên lợi ích của xã hội, bán rẻ lương tâm, làm tay sai, quân cờ cho các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước thì tất yếu phải bị xử lý. Đây vừa là  biện pháp mang tính răn đe, vừa là biện pháp phòng ngừa chung. Do vậy, các cá nhân đã, đang hoặc nuôi ý tưởng thực hiện hành vi phạm pháp, lợi dụng chiêu bài dân chủ, nhân quyền để chống phá lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân thì hãy biết dừng lại, biết “quay đầu là bờ” trước khi quá muộn.

Luận điệu bôi nhọ công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta

 Thời gian qua, với quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được Đảng, Nhà nước ta tiến hành một cách công khai, minh bạch, quyết liệt từ Trung ương đến cơ sở. Hàng loạt cán bộ cấp cao sai phạm thuộc diện Trung ương và địa phương quản lý đều đã bị xử lý về các hành vi tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Chỉ trong chưa đầy một năm trở lại đây, có 3 ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII bị cách chức hoặc bị khởi tố và 2 ủy viên Trung ương Đảng khác đang bị đề nghị xem xét, kỷ luật vì có những vi phạm nghiêm trọng, làm thiệt hại lớn về tiền, tài sản của Nhà nước. Dưới sự chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và sự tham gia của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, thoái hóa, biến chất đã được nhân dân hết sức đồng tình, tin tưởng, ủng hộ; uy tín của chế độ ngày càng được củng cố. 

Với âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, trên diễn đàn mạng xã hội, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, chống suy thoái, biến chất của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, bóp méo, cho đó là “cuộc đấu tranh thanh trừng nội bộ giữa các phe phái và các nhóm lợi ích”, vu cáo  Đảng, Nhà nước ta đang ở thế “lưỡng nan đối nghịch” với hàm ý chống tham nhũng nhưng ngại thay đổi thể chế chính trị! Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Nhiều bài viết còn phủ nhận những kết quả về công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước ta khi cho rằng, Đảng, Nhà nước đã phát động chống tham nhũng, suy thoái nhưng đều thất bại, không thành công, tệ nạn ngày càng gia tăng. Từ đó, số này đưa ra quan điểm, chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập” để kiểm soát quyền lực, kêu gọi phải thay đổi thể chế thì mới có thể chống tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất.

Điển hình như trên trang RFA (Đài Á châu tự do) ngày 24/6/2022 đã đăng bài viết “Thuốc đặc trị chữa tham nhũng: thay đổi thể chế”. Bài viết đánh lận vấn đề rằng, “Việt Nam từ nhiều năm qua ra quyết tâm chống tham nhũng nhưng vẫn có hàng trăm cán bộ cấp cao bị kỷ luật bằng nhiều hình thức do tham nhũng. Liệu có diệt được tham nhũng trong thể chế hiện hành hay không?”.

Tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là hiện tượng mang tính xã hội, nó tồn tại ở các quốc gia, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra, không phân biệt chế độ xã hội, thể chế chính trị nào, chế độ đa đảng hay một đảng lãnh đạo. Chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc RFA cũng như các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin.

Thực tế, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta đã luôn nhận thức rõ tính nguy hiểm của tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Đảng, Nhà nước đã luôn có quyết tâm chính trị cao và kiên quyết phòng, chống, khắc phục tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đảng viên và cán bộ Nhà nước. Đảng, Nhà nước ta luôn coi tham nhũng, tiêu cực là “giặc nội xâm”, một trong các nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, phải kiên quyết đấu tranh loại ra khỏi đời sống xã hội. Đảng ta cũng xác định phải chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí; xử lý kịp thời, nghiêm minh các hành vi tham nhũng, lãng phí, hành vi bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng. Kết hợp giữa xây và chống, phòng ngừa gắn liền với xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng; không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” trong chống tham nhũng ở Việt Nam.

Minh chứng rõ cho điều đó là các văn kiện của Đại hội Đảng, các chỉ thị, nghị quyết về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Đồng thời, việc xử lý nghiêm minh mọi hành vi tham nhũng, tiêu cực, không có ngoại lệ, không có “vùng cấm” đã được thể hiện rõ kết quả trong báo cáo tại Hội nghị toàn quốc tổng kết 10 năm công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực giai đoạn 2012-2022 được Bộ Chính trị tổ chức vào ngày 30/6/2022 vừa qua.

Trong 10 năm qua, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do tham nhũng. Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã kỷ luật hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý, trong đó có 33 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, hơn 50 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang. Chỉ tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã kỷ luật 50 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 8 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 20 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang.

Vậy nên, những luận điệu cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái của cán bộ trong Đảng, Nhà nước ta là phổ biến, là “căn bệnh kinh niên, nan y không thể chữa trị của chế độ độc đảng cầm quyền” hay đó là cuộc “đấu tranh, thanh trừng nội bộ giữa các phe phái”… là hoàn toàn sai trái.  Đó là những quan điểm cố tình bôi đen, xuyên tạc nhằm làm sai lệch bản chất, ý nghĩa công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta, cố tình lấy cớ để chống phá, can thiệp vào công việc nội bộ, làm suy giảm niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ.

Thiết thực chăm lo đối tượng chính sách

 

Tỉnh Vĩnh Long có hơn 70.000 đối tượng chính sách, trong đó có hơn 16.300 liệt sĩ, 4.500 thương binh, 2.850 Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Thời gian qua, cùng với các ban, ngành, đoàn thể, Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long đã thực hiện nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa, thể hiện trách nhiệm, khơi dậy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” trong lực lượng vũ trang (LLVT) tỉnh.

Năm 1989, ông Nguyễn Thành Tâm (60 tuổi, ở khóm Vĩnh Phú, phường Tân Ngãi, TP Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long) rời chiến trường Campuchia trở về cuộc sống đời thường bên gia đình. Thời gian gần đây, vết thương ở đầu tái phát cùng những di chứng chiến tranh khiến sức khỏe ông suy giảm nhiều, kèm theo những triệu chứng mất ngủ thời gian dài, không kiểm soát được hành vi, không giao tiếp với ai. Chia sẻ khó khăn với gia đình, Bộ CHQS tỉnh đã tổ chức thăm hỏi, tặng gia đình sổ tiết kiệm trị giá 10 triệu đồng.

Trung tá Nguyễn Thanh Phong, Trưởng ban Chính sách, Phòng Chính trị cho biết: “Dịp kỷ niệm Ngày Thương binh-Liệt sĩ (27-7) vừa qua, chúng tôi đẩy nhanh tiến độ xét duyệt, bàn giao 2 căn nhà tình nghĩa, trao 4 sổ tiết kiệm tặng gia đình thương binh, liệt sĩ có hoàn cảnh khó khăn; trao 20 suất quà tặng thương binh, mỗi phần quà trị giá 1 triệu đồng. Phối hợp cùng các sở, ban, ngành giúp đỡ 195 đối tượng hoàn chỉnh hồ sơ, chi trả 500 triệu đồng theo đúng chế độ ưu đãi. Mặc dù công việc đan xen, thời gian gấp rút, nhất là quá trình rà soát, thẩm định hồ sơ có lúc gặp khó khăn nhưng anh em luôn động viên nhau cố gắng hoàn thành sớm nhất có thể”.

Hiện có 12 cán bộ là con liệt sĩ đang công tác trong LLVT tỉnh Vĩnh Long. Họ đều là những cán bộ trách nhiệm, nhiệt tình trong công tác, góp phần xây dựng đơn vị. Liệt sĩ Châu Văn Nghĩa (hy sinh năm 1989, quê ở xã Hiếu Nhơn, huyện Vũng Liêm) có 2 người con theo binh nghiệp, đó là Thiếu tá Châu Thị Thu Hồng, Trợ lý tiếp công dân, Thanh tra quốc phòng Bộ CHQS tỉnh và Thiếu tá Châu Hoàng Dũng, Chính trị viên phó, Ban CHQS huyện Bình Tân. Tại buổi họp mặt do đơn vị tổ chức dịp kỷ niệm 75 năm Ngày Thương binh-Liệt sĩ, anh Dũng bày tỏ: “Tôi xin gửi lời cảm ơn sự quan tâm, động viên của thủ trưởng các cấp đã dành cho hai anh em tôi.

Dù ở cương vị nào, chúng tôi cũng phấn đấu hết sức mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ, tiếp bước truyền thống của gia đình”. Thiếu tá Lê Văn Lặc, Trợ lý dân quân, Ban CHQS huyện Trà Ôn là con liệt sĩ Lê Văn Sáng, hy sinh năm 1985, vừa được xét tặng nhà tình nghĩa trong đợt này. Anh Lặc cho biết: “Vợ chồng tôi tích cóp hơn 3 năm nay nhưng chưa đủ tiền để xây một mái nhà kiên cố. Được cấp trên quan tâm hỗ trợ một phần kinh phí xây nhà, gia đình tôi mừng lắm. Có nhà mới rộng rãi, việc thờ cúng cha tôi cũng thuận tiện hơn”. Bên cạnh đó, hằng năm, đơn vị tổ chức họp mặt cựu chiến binh từng tham gia Đoàn Quân sự 9901 Cửu Long, cùng ôn lại những chiến công, sự hy sinh to lớn của thế hệ cha anh, nhắc nhở thế hệ trẻ mãi trân trọng, giữ gìn và tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng.

Theo Đại tá Lê Quang Vũ, Chủ nhiệm Chính trị Bộ CHQS tỉnh Vĩnh Long, để tiếp tục thắp sáng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, cán bộ, chiến sĩ LLVT tỉnh tích cực tham gia Quỹ đền ơn đáp nghĩa, đồng thời huy động mọi nguồn xã hội hóa chăm sóc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và sức khỏe cho người có công. Cơ quan chuyên môn tiếp nhận, khẩn trương giải quyết các hồ sơ đề nghị xác nhận thương binh, liệt sĩ còn tồn đọng, bảo đảm chặt chẽ, đúng quy định, giúp các gia đình hưởng đầy đủ những chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước.

Doanh trại khang trang, cốt cách, tâm hồn đẹp

 

Đến Trung đoàn Vận tải 654 (Cục Hậu cần, Quân khu 4), chúng tôi ấn tượng ngay từ khi bước chân vào cổng đơn vị chính là cảnh quan môi trường xanh, sạch, đẹp của đơn vị. Hệ thống doanh trại khang trang với thảm cỏ xanh mướt, bồn hoa, cây cảnh được chăm sóc, cắt tỉa đẹp mắt. Đi sâu vào bên trong đơn vị, các pa nô, khẩu hiệu được bố trí trang trọng.

Theo Thượng tá Nguyễn Tiến Sỹ, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Trung đoàn Vận tải 654, xác định xây dựng cảnh quan, môi trường đơn vị xanh, sạch, đẹp sẽ tác động tích cực đến tâm tư, tình cảm của bộ đội, tạo môi trường sinh hoạt, học tập, huấn luyện, vui chơi giải trí thân thiện lành mạnh, phong phú. Do đó, chỉ huy trung đoàn thường xuyên quán triệt, giáo dục cho cán bộ, nhân viên ý nghĩa tầm quan trọng của việc xây dựng cảnh quan môi trường, đồng thời, đơn vị chủ động đầu tư kinh phí, chỉ đạo các cơ quan, phân đội trong toàn trung đoàn củng cố, sửa sang lại hệ thống doanh trại.

Để môi trường, cảnh quan doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp, Trung đoàn Vận tải 654 đã tổ chức phát động thi đua, triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng cảnh quan đơn vị. Ngoài sự đầu tư của trên, đơn vị phát huy nội lực trong cán bộ, nhân viên không kể ngày nghỉ, giờ nghỉ tập trung chỉnh trang đơn vị, chăm sóc chu đáo. Vì vậy, mặc dù thời tiết khắc nghiệt nhưng khuôn viên đơn vị cây cối, vườn hoa vẫn xanh tốt.

Trung úy QNCN Đặng Quốc Anh, nhân viên lái xe Đại đội 5, Tiểu đoàn 34 cho biết: “Doanh trại chính quy, xanh, sạch, đẹp là môi trường tốt để cán bộ, nhân viên hưởng thụ nhu cầu văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh trong toàn đơn vị. Do đó, chúng tôi luôn tự giác chăm sóc xây dựng cảnh quan môi trường, góp phần cùng đơn vị hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao”.

Tìm hiểu chúng tôi được biết, từ đầu năm 2021 đến nay, đơn vị đã huy động hơn 1.000 ngày công của cán bộ, nhân viên tu sửa và làm mới hệ thống doanh trại sở chỉ huy trung đoàn, khối các cơ quan, phân đội; trồng gần 1.000 cây có bóng mát, cây ăn quả. Với bàn tay khéo léo, sáng tạo của bộ đội, đơn vị đã cải tạo được gần 2.000m2 thảm cỏ, làm mới hàng trăm khẩu hiệu, 25 tiểu cảnh, bồn hoa lớn, nhỏ... tạo cảnh quan môi trường luôn sáng, xanh, sạch, đẹp.

Đại úy Thái Doãn Dũng, Chính trị viên Tiểu đoàn 34 cho biết: “Xây dựng cảnh quan môi trường chính quy, xanh, sạch, đẹp đã đi vào nếp nghĩ của cán bộ, chiến sĩ trong tiểu đoàn. Nhưng chỉ có doanh trại đẹp không thì chưa đủ, chúng tôi luôn quan tâm xây dựng cốt cách, tâm hồn người chiến sĩ biết cảm nhận và trân trọng cái đẹp, sống có lý tưởng đẹp, trách nhiệm cao trong thực hiện nhiệm vụ được giao”.

Với sự đồng sức, đồng lòng của cán bộ, chiến sĩ, Trung đoàn Vận tải 654 không những hoàn thành tốt nhiệm vụ vận chuyển vật chất, trang bị cấp phát cho các cơ quan, đơn vị trong lực lượng vũ trang Quân khu 4 mà luôn là điểm sáng trong xây dựng, tôn tạo cảnh quan môi trường, góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho bộ đội, được Bộ Quốc phòng tặng bằng khen về thực hiện phong trào thi đua xây dựng đơn vị vận tải, chính quy, xanh, sạch, đẹp.

Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn

 Mới đây, khi ghé thăm một bạn đồng ngũ (cùng nhập ngũ ngày 21-8-1970 vào Tiểu đoàn 38, Bộ tư lệnh Thủ đô) là anh Nguyễn Quang Phấn ở quận Thanh Xuân (Hà Nội), tôi được anh tặng bản "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh (diễn đạt bằng thơ) do anh chuyển thể thành bài thơ gồm 80 câu thơ (560 từ) theo thể thơ bảy chữ. Nhận được món quà tinh thần rất có ý nghĩa từ người bạn cựu chiến binh, tôi dành thời gian đọc bài thơ rồi đối chiếu với "Di chúc" của Bác và bị cuốn hút từ đầu đến cuối bài thơ.

Trong "Di chúc" được công bố năm 1969 với khoảng 1.100 chữ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến nhiều nội dung rất lớn, mang giá trị tư tưởng và giá trị thực tiễn sâu sắc. Đó là về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta, là những lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về Đảng, về đoàn viên, thanh niên, về nhân dân lao động, về phong trào cộng sản quốc tế, về việc riêng và về những mong muốn cuối cùng của Người.

Nhớ lại ngày ấy, vì là công dân của Thủ đô Hà Nội, chúng tôi có vinh dự được thay mặt đồng bào và chiến sĩ cả nước đến viếng Bác tại Hội trường Ba Đình và dự Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh vào ngày 9-9-1969 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Hôm đó, chúng tôi được nghe đồng chí Lê Duẩn-Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng đọc toàn văn "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và 5 lời thề của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân trước anh linh của Người. Chúng tôi cũng được chứng kiến những tình cảm tiếc thương vô hạn của đồng bào, đồng chí và bạn bè quốc tế đối với Bác Hồ và những dấu ấn sâu đậm đó đã được thế hệ chúng tôi mang theo trong suốt cuộc đời.

Cho nên khi được tiếp cận với bài thơ của cựu chiến binh Nguyễn Quang Phấn thì những ký ức năm xưa lại ùa về khiến chúng tôi rất xúc động, nhất là khi đọc những lời dặn dò của Bác Hồ về Đảng. Những lời Bác dạy bằng văn xuôi đã được anh Phấn chuyển tải thành các câu thơ dung dị, thể hiện đầy đủ nội dung cơ bản của Bác trong "Di chúc": “Điều trước tiên nói về Đảng ta/ Lịch sử trong mấy chục năm qua/ Cách mạng đã luôn giành thắng lợi/ Nhờ sự tài tình của Đảng ta... Đảng ta là một Đảng cầm quyền/ Đảng viên phải liêm, chính, kiệm, cần/ Là người lãnh đạo, người đầy tớ/ Phải thật trung thành với nhân dân...”; hay: “Nhân dân lao động, cả triệu người/ Ở miền núi cũng như miền xuôi/ Chịu nhiều áp bức và đau khổ/ Của thực dân, phong kiến bao đời/ Từ ngày theo Đảng cho đến nay/ Dân ta vẫn cần cù, hăng say/ Đảng cần kế hoạch cho thật tốt/ Để đời sống được nâng từng ngày...”.

Chia sẻ với chúng tôi, cựu chiến binh Nguyễn Quang Phấn chân thành bộc bạch: Những tình cảm yêu kính Bác Hồ trong anh được hình thành từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, được bồi đắp qua thời gian quân ngũ, rồi những năm công tác trong cơ quan nhà nước. Từ khi về hưu, có thêm thời gian tìm hiểu qua sách báo về cuộc đời và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh nên vào dịp kỷ niệm 130 năm Ngày sinh của Bác (19-5-2020), anh đã dành thời gian chuyển thể "Di chúc" của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành bài thơ. Khi được bày tỏ tình cảm của mình đối với Bác thì cũng là cơ hội để mình tự soi lại lòng mình, như nhà thơ Tố Hữu đã viết trong bài thơ "Bác ơi " (tháng 9-1969): “Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn”.

Qua bài thơ về di chúc của Bác, anh cũng muốn nhắn nhủ đến thế hệ trẻ hôm nay hãy vững tin và kiên định đi theo con đường mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn: “Còn những ai chưa được một lần/ Trong đời gặp Bác? Hãy nhanh chân/ Tiến lên phía trước! Trên cao ấy/ Bác vẫn đưa tay đón lại gần...” ("Theo chân Bác"-Tố Hữu-1970).

Tiếp thêm động lực phấn đấu


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến công tác thi đua, khen thưởng, Người từng dạy: “Thi đua là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ”. Quán triệt sâu sắc lời huấn thị của Người, Trung đoàn 152 (Quân khu 9) và Trung đoàn 659 (Cục Hậu cần Quân khu 9) luôn chú trọng xây dựng động cơ phấn đấu cho từng cán bộ, chiến sĩ qua các phong trào thi đua.

Là cán bộ trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm do đó trong quá trình công tác, Trung úy Nguyễn Hữu Châu, Trung đội trưởng Trung đội 3, Đại đội 1, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 152) xác định bản thân phải luôn chủ động cố gắng, phát huy tối đa sở trường, năng lực công tác.

Trung úy Nguyễn Hữu Châu thường xuyên bám sát, nắm bắt kịp thời diễn biến tư tưởng của bộ đội để định hướng, giáo dục, không để xảy ra lệch lạc trong suy nghĩ, hành động; xây dựng tinh thần đoàn kết, động cơ, mục tiêu phấn đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Nhờ chủ động thực hiện hiệu quả các biện pháp, 6 tháng đầu năm 2022, tập thể Trung đội 3 và cá nhân Trung úy Nguyễn Hữu Châu được Trung đoàn 152 khen thưởng trong Phong trào Thi đua Quyết thắng.

Ngay từ đầu năm, Đại úy Nguyễn Trọng Trung, Đại đội trưởng Đại đội 2, Tiểu đoàn 1 (Trung đoàn 152) đã cùng Ban Chỉ huy đại đội triển khai nhiều biện pháp thiết thực nâng cao chất lượng huấn luyện chiến sĩ mới. Trong đó, chú trọng công tác bồi dưỡng cán bộ trực tiếp huấn luyện; kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện với rèn luyện và yêu cầu cán bộ chỉ huy từ đại đội đến trung đội nắm chắc hoàn cảnh gia đình, trình độ, năng khiếu, sở thích cũng như mối quan hệ xã hội từ khi bộ đội vào đơn vị.

Qua đó, kịp thời động viên, khen thưởng các đồng chí có thành tích tốt, cũng như có biện pháp giúp đỡ, động viên, chia sẻ với những chiến sĩ gặp hoàn cảnh khó khăn. Theo Đại úy Nguyễn Trọng Trung, nhờ thực hiện tốt phương châm “Trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”, cán bộ, chiến sĩ đại đội nhận thức rõ trách nhiệm của mình, thực hành huấn luyện, rèn luyện nghiêm túc, tích cực. Kết quả kiểm tra kết thúc khóa huấn luyện chiến sĩ mới, đơn vị có 7/11 nội dung đạt giỏi, an toàn về mọi mặt.

Khi kết thúc huấn luyện chiến sĩ mới, Trung đoàn 659 đã chú trọng lựa chọn những cá nhân tiêu biểu, sâu sát với bộ đội để biểu dương, khen thưởng kịp thời, nhất là đội ngũ hạ sĩ quan được tăng cường huấn luyện. Trong đó, Trung sĩ Nguyễn Chí Lập, Tiểu đội trưởng Tiểu đội 2, Trung đội 1, Đại đội 3, Tiểu đoàn 41 từ khi tiếp nhận chiến sĩ mới đến khi kết thúc khóa huấn luyện luôn xác định rõ trách nhiệm, quản lý, kèm cặp từng chiến sĩ trong tiểu đội và tích cực tham gia các hoạt động phong trào. Hoàn thành nhiệm vụ, Trung sĩ Nguyễn Chí Lập được tặng giấy khen. Điều đó khiến Lập càng thêm quyết tâm trong vai trò Tiểu đội trưởng Tiểu đội vệ binh, Ban Tham mưu, rèn luyện chiến sĩ trong tiểu đội chững chạc về tác phong, điều lệnh, canh phòng, bảo vệ an toàn đơn vị.     

Tập trung thực hiện các chỉ tiêu thi đua bằng những việc làm, hành động cụ thể, trong 6 tháng đầu năm 2022, Trung đoàn 659 duy trì tốt lực lượng, phương tiện sẵn sàng cơ động thực hiện nhiệm vụ vận tải. Theo đó, đơn vị sử dụng gần 400 chuyến xe hoạt động gần 200.000km; huấn luyện chiến sĩ mới đạt loại giỏi; thực hiện tốt Cuộc vận động 50 gắn với Phong trào “Văn hóa giao thông với bình yên sông nước”.

Quan tâm công tác giáo dục nâng cao nhận thức về ý nghĩa của các phong trào thi đua, Trung đoàn 152 và Trung đoàn 659 còn chú trọng thực hiện tốt công tác tuyên truyền, biểu dương, nhân rộng gương “người tốt, việc tốt”; bình xét thành tích của cá nhân gắn với thành tích tập thể. Qua đó, góp phần xây dựng động cơ phấn đấu thường xuyên cho cán bộ, chiến sĩ, đồng thời giúp các đơn vị đẩy khá, xóa yếu, phấn đấu vươn lên nhận và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao.

 

Hiện thực sinh động phản bác những trò xảo biện trong dịp Quốc khánh

 Xuyên tạc, bôi lem về giá trị, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 của dân tộc Việt Nam vốn là chiêu bài “truyền thống” của các thế lực xấu, cứ đến dịp lại khui lên kiểu “bình cũ, rượu mới”.

Đẩy lùi những tác phẩm “núp bóng nghệ thuật” làm tha hóa tư tưởng con người

 

Thời đại hội nhập quốc tế và xã hội phát triển góp phần làm cho đời sống văn học-nghệ thuật (VHNT) ngày càng phong phú. Song VHNT cũng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm, phức tạp.

Tiếp tục nâng cao ý thức cảnh giác với dịch bệnh

BỘ Y TẾ BAN HÀNH QUY ĐỊNH MỚI NHẤT VỀ ĐEO KHẨU TRANG CHỐNG COVID-19 TẠI NƠI CÔNG CỘNG Ngày 7/9, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định này “Hướng dẫn sử dụng khẩu trang phòng, chống dịch COVID-19 tại nơi công cộng”. Theo đó tất cả người dân, trừ trẻ em dưới 5 tuổi ở khu vực công bố cấp độ dịch mức độ 3, 4 phải đeo khẩu trang khi ra nơi công cộng. Bộ Y tế khẳng định, việc sử dụng khẩu trang tại nơi công cộng là một biện pháp dự phòng cá nhân góp phần làm giảm sự lây lan của dịch COVID-19 trong cộng đồng, bảo vệ sức khỏe người dân nhất là đối tượng nguy cơ cao như người có bệnh lí nền, người cao tuổi, người suy giảm miễn dịch, người béo phì. Theo hướng dẫn, nơi công cộng được hiểu là nơi phục vụ chung cho nhiều người tại những địa điểm có không gian kín như rạp hát, rạp chiếu phim, vũ trường, nhà hàng,... hoặc các địa điểm có không gian mở như sân vận động, công viên, đường phố, bến xe,... Bộ Y tế quy định, các trường hợp bắt buộc phải sử dụng khẩu trang áp dụng chung với người có biểu hiện bệnh viêm đường hô hấp cấp, người mắc hoặc nghi ngờ mắc COVID-19; tất cả các đối tượng (trừ trẻ em dưới 5 tuổi) khi đến nơi công cộng thuộc khu vực đã được công bố cấp độ dịch ở mức độ 3 hoặc mức độ 4. Việc áp dụng đeo khẩu trang với các trường hợp cụ thể áp dụng như sau: Tại cơ sở y tế; nơi cách li y tế; nơi lưu trú mà có người đang cách ly y tế hoặc đang theo dõi, giám sát y tế: áp dụng với tất cả các đối tượng (trừ những người cách li ở trong phòng đơn; người bị suy hô hấp, người bệnh đang phải thực hiện thủ thuật y tế theo chỉ định của bác sĩ, trẻ em dưới 5 tuổi). Đối với nhân viên y tế tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thực hiện theo Hướng dẫn về lựa chọn và sử dụng phương tiện phòng hộ cá nhân trong phòng, chống bệnh dịch COVID-19 tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được ban hành kèm theo Quyết định số 2171/QĐ-BYT ngày 05/8/2022 của Bộ Y tế. Khi sử dụng phương tiện giao thông công cộng (máy bay, tàu hỏa, tàu thủy, tàu điện, phà, xe khách, xe buýt, taxi,...): áp dụng với hành khách; người điều khiển, người phục vụ trên phương tiện giao thông công cộng; nhân viên phục vụ, người quản lí, người lao động tại nhà ga, bến xe, bến tàu, nhà chờ khi tiếp xúc trực tiếp với hành khách. Tại trung tâm thương mại, siêu thị, chợ đầu mối: áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lí, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Tại nơi có không gian kín, thông khí kém (quán bar, vũ trường; karaoke; cơ sở dịch vụ xoa bóp, làm đẹp; phòng tập thể dục, thể hình; cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn, uống phục vụ tại chỗ; rạp chiếu phim, nhà hát, rạp xiếc, nhà thi đấu, trường quay): áp dụng với nhân viên phục vụ, người bán hàng, người quản lí, người lao động khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Tại cơ sở văn hóa, du lịch, nơi tổ chức sự kiện tập trung đông người (các công trình di tích; bảo tàng, thư viện, triển lãm, nhà trưng bày; khu du lịch, khu vui chơi, giải trí; sự kiện văn hóa, thể dục, thể thao; lễ cưới, lễ tang, lễ hội, hội chợ): áp dụng với nhân viên phục vụ, người quản lý, người lao động, người bán hàng khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và người tham dự. Tại nơi tiếp nhận hồ sơ, nơi giao dịch: áp dụng với nhân viên tiếp nhận hồ sơ, nhân viên giao dịch khi tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Các trường hợp khác ngoài các địa điểm, đối tượng đã quy định ở trên được khuyến khích sử dụng khẩu trang khi đến nơi công cộng. Bộ Y tế đề nghị các Bộ, ban, ngành theo thẩm quyền, phạm vi quản lí tăng cường đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra việc tổ chức thực hiện hướng dẫn này. UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện việc sử dụng khẩu trang tại nơi công cộng theo Hướng dẫn này. Người đứng đầu các tổ chức, cơ sở, địa điểm, khu vực được giao quản lí trong phạm vi áp dụng hướng dẫn chịu trách nhiệm việc tổ chức triển khai; đôn đốc, nhắc nhở, kiểm tra, giám sát; tuyên truyền, phổ biến và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người biết, thực hiện Hướng dẫn này. Trong trường hợp nhận thấy tại khu vực, địa điểm được giao quản lý chưa được đề cập ở trên mà có nguy cơ lây nhiễm thì người đứng đầu có trách nhiệm./. Hải Ninh 30A ST

Phòng, chống "Diễn biến hoà bình" trên lĩnh vực tư tưởng-văn hoá hiện nay

 

 “Diễn biến hoà bình" (DBHB) là một chiến lược chống phá các nước XHCN bằng hình thức tổng hợp phi vũ trang là chính của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, với mục đích giành "chiến thắng mà không cần chiến tranh". Đó là một chiến lược phản động, cực kỳ nguy hiểm, nhằm xoá bỏ CNXH, hoặc chuyển hoá các nước XHCN vào quỹ đạo các nước tư bản chủ nghĩa (TBCN). Ngày nay, chiến lược " DBHB " đang được các thế lực thù địch sử dụng với nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt hơn và đang phát triển từ " DBHB" kết hợp với bạo loạn, lật đổ sang " DBHB" kết hợp ly khai, bạo loạn lật đổ. Đối với Việt Nam, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược này với mục tiêu không che đậy như nhiều chính khách phương Tây tuyên bố: “ chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam theo kiểu Đông Âu", cụ thể là: xoá bỏ  vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xoá bỏ chế độ XHCN, chuyển hóa Việt Nam theo hướng TBCN. Bởi vậy, " DBHB" đã và đang là một trong các nguy cơ của cách mạng Việt Nam.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang đẩy mạnh “DBHB” chống phá ta toàn diện, trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an  ninh, đối ngoại... Và không loại trừ, khi có điều kiện và thời cơ, chúng kết hợp cả “DBHB”, bạo loạn lật đổ với biện pháp vũ trang, tiến hành chiến tranh xâm lược. Song, trọng tâm, then chốt vẫn là phá hoại về  chính trị-tư tưởng, trong đó lấy phá hoại về tư tưởng- văn hoá là khâu đột phá. Để thực hiện điều này, chúng đã và đang tổ chức phối hợp lực lượng phản động trong nước tập trung xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam; kêu gọi và kích động đòi "đa nguyên chính trị", "đa đảng đối lập", đòi " tự do hoá về chính trị" theo hướng dân chủ tư  sản; núp dưới chiêu bài " dân chủ", "nhân quyền" để truyền bá tư tưởng tư sản và các quan điểm “xã hội dân chủ” ở Việt Nam. Lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, chống tham nhũng và những sơ hở, yếu kém của một bộ phận tổ chức, cán bộ trong quản lý kinh tế, xã hội để kích động, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phá hoại an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Trắng trợn hơn, chúng còn nuôi dưỡng, bảo trợ, tiếp tay cho bọn phản động đội lốt tôn giáo, bọn ngụy quân, ngụy quyền trước đây không chịu cải tạo, cũng như những hoạt động của bọn cơ hội chính trị cấu kết với các thế lực phản động bên ngoài đẩy mạnh các hoạt động chống phá, kích động bạo loạn, lật đổ, nhằm gây bất ổn về chính trị, tạo cớ để can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

Âm mưu của các thế lực thù trong thời kỳ mới

 

Chống phá cách mạng Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng hiện nay, các thế lực thù địch có sự điều chỉnh về thủ đoạn “diễn biến hòa bình” rất nguy hiểm. Vì vậy, chúng ta phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được lơ là, chủ quan, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng.

Trong tình hình mới, đấu tranh chống "diễn biến hòa bình" luôn nhiệm vụ cấp bách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong đó, năm 1994 Đảng xác định âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là “4 nguy cơ trước mắt” của Đảng. Tới nay, cùng với các nguy cơ đã được Đảng chỉ ra, nguy cơ âm mưu “diễn biến hòa bình” vẫn đang tồn tại, thậm chí có phần gay gắt, phức tạp hơn.

Đáng chú ý, thời gian gần đây các thế lực thù địch đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hòa bình” với cấp độ ngày càng gay gắt, quyết liệt, hòng làm gây hỗn loạn về tư tưởng, tạo ra “những khoảng trống” để nhằm mục đích xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Các thế lực thù địch tập trung lợi dụng triệt để sử dụng Internet, các trang mạng xã hội, để truyền bá các quan điểm sai trái, tung tin xuyên tạc đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; vu cáo, bịa đặt, bôi nhọ hình ảnh các đồng chí lãnh đạo cấp cao nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của  Nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Nhận diện và đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế

 

Những năm trước đây, trong lĩnh vực kinh tế, các thế lực thù địch chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng nhiều hình thức, như: tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận lý luận kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng, chính sách của Nhà nước; tiến hành phá hoại nền kinh tế thông qua các hoạt động viện trợ, đầu tư, liên doanh, liên kết; lôi kéo, dụ dỗ, làm tha hóa đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế. Nhưng hiện nay, quá trình toàn cầu hóa tạo ra sự phát triển mạnh mẽ về nhiều mặt trong đời sống kinh tế - xã hội, âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù định cũng có sự điều chỉnh, rất tinh vi và xảo quyệt.

Theo đó, các thế lực thù địch luôn tìm cách phủ định tính khách quan và bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong khi Việt Nam xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) là mô hình tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ. Và mô hình kinh tế này vẫn đang phát triển đúng hướng thể hiện qua mức tăng trưởng kinh tế trung bình giai đoạn 2011-2020 khoảng 5,9%/năm; thiết lập quan hệ kinh tế tầm đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác chiến lược toàn diện với 30 quốc gia; GDP/người/năm tăng từ 1.331 USD (năm 2010) lên khoảng 2.750 USD (năm 2020). Mặc dù vậy, các thế lực thù địch vẫn ra sức công kích sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam. Chúng cho rằng, kinh tế thị trường mang bản chất chủ nghĩa tư bản, không thể dung hòa với tính định hướng XHCN, do đó, trong chế độ XHCN không thể tồn tại kinh tế thị trường mà chỉ là mô hình cóp nhặt. Thậm chí có luận điểm cho rằng, Việt Nam thừa nhận kinh tế thị trường chính là đang mở đường cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển, nhất là khi Đảng ta xác định phát triển thành phần kinh tế tư nhân “trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế”.

Thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực kinh tế của các thế lực thù địch được thể hiện bằng nhiều hình thức, như: tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận lý luận kinh tế cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam…

Bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN được Đảng ta xác định là dựa trên chế độ sở hữu toàn dân về tư liệu sản xuất chủ yếu, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần song kinh tế nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, các thế lực thù địch lại cho rằng: kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là tấm áo khoác XHCN mang nội dung tư bản, sở hữu toàn dân chỉ là một khái niệm. Thậm chí, bàn đến chế độ sở hữu toàn dân về đất đai được xác định trong Hiến pháp năm 2013:

Ở một góc độ khác, để đảm bảo yếu tố định hướng XHCN, nền kinh tế thị trường ở nước ta không phải là hoàn toàn tự do mà có “khuôn khổ” - đó là đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Những rủi ro tiềm ẩn đối với trẻ em trên không gian mạng

 

Với đặc điểm nổi trội là tính kết nối nhanh, chia sẻ rộng, chỉ cần một chiếc điện thoại hay một máy tính kết nối Internet, trẻ em có thể truy cập và tham gia vào rất nhiều trang mạng như: Facebook, Zalo, Youtube, Twitter… hay đăng nhập vào các phần mềm, ứng dụng hỗ trợ khác. Mạng internet giúp trẻ em tiếp cận với nguồn thông tin khổng lồ, là phương tiện vui chơi, giải trí, học tập và tiếp cận, kết nối xã hội. Tuy nhiên, những rủi ro về đời sống thực cũng như những rủi ro trên không gian mạng đã biến trẻ em thành nhóm dễ tổn thương nhất trong xã hội, trẻ em cũng chính là đối tượng chịu ảnh hưởng nhiều từ những thông tin tiêu cực trên Internet. Trẻ em có thể tiếp cận những nội dung thông tin độc hại như bạo lực, khiêu dâm, dẫn đến làm lệch lạc suy nghĩ và ảnh hưởng tới sự phát triển lành mạnh; bị phát tán những nội dung thông tin riêng tư, cá nhân; tiếp cận, sử dụng mạng quá mức có thể dẫn đến tình trạng nghiện Internet. Trên môi trường mạng, các em cũng có thể bị lợi dụng và nghiêm trọng hơn là có thể bị lừa dảo, dụ dỗ, lôi kéo, hoặc ép tham gia vào các hoạt động vi phạm pháp luật; bị xam hại tình dục, mại dâm trẻ em, buôn bán trẻ em và bắt nạt trực tuyến. Đe doạ trực tuyến giúp những kẻ bắt nạt làm tổn thương và làm nhục nạn nhân chỉ bằng một nút bấm…, gây rối loạn tâm thần, ảnh hưởng sức khoẻ, việc học tập của giới trẻ.

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), hơn 13% trẻ vị thành niên từ 10 – 19 tuổi phải chung sống với rối loạn tâm thần, trong đó, 86 triệu em thuộc nhóm 15 – 19 tuổi và 80 triệu em thuộc nhóm 10 – 14 tuổi àm một trong những nguyên nhân chính là do ảnh hưởng của Internet và mạng xã hội gây nên. Bên cạnh đó, trẻ em cũng dễ bị tiêm nhiễm, học theo các nội dung độc hại trên mạng xã hội; bắt chước những trò chơi nguy hiểm trên Internet… Thời gian qua, không ít hình ảnh học sinh đánh nhau, chửi bậy hay các vụ việc kinh hoàng với cảnh xả súng giết người, các hoạt động nguy hiểm, “trò chơi lạ” trên mạng xã hội đã và đang du nhập vào cuộc sống hàng ngày của trẻ mà người lớn không hề hay biết, ảnh hưởng trực tiếp đến nhận thức của trẻ em. Nhiều trẻ đã học theo những nội dung bạo lực, tiêu cực và trở thành nạn nhân của “kẻ săn mồi” Internet. Một số trẻ nghiện video, games; dần hạn chế giao tiếp, rối loạn tâm lý, chống đối xã hội, hoang tưởng, trầm cảm, thậm chí trở thành nạn nhân của tội phạm buôn bán người hoặc bị xâm hại tình dục, nghiêm trọng hơn nữa là bị sát hại và tự tử.

Các hình thức xâm hại trên mạng với trẻ em rất đa dạng, bao gồm: thuyết phục, đe doạ trẻ em tham gia các hoạt động tình dục thông quan webcam, điện thoại thông minh; tạo và chia sẻ những hình ảnh hoặc video gây tổn thương; thành lập các trang web hay các nhóm trên mạng để công kích một trẻ em cụ thể; khích lệ việc trẻ tự hủy hoại bản thân; gắn mã độc tự phát tán vào đường link, ID các lớp học trực tuyến và các nhóm xã hội có đông đảo trẻ em tham gia với những hình ảnh 18+ và những nội dung, video nhạy cảm, phức tạp về chính trị…

Trong những rủi ro đối với trẻ em trên môi trường mạng, xâm hại tình dục trẻ em là một trong những rủi ro có thể dẫn đến tổn thương tâm lý và cơ thể suốt đời. Thời gian qua, đã xảy ra những vụ việc đáng tiếc, đau lòng đối với trẻ nhỏ liên quan đến mạng xã hội trên phạm vi cả nước. Trong những năm qua, Việt Nam thế hiện sự quan tâm rất lớn đến vấn đề bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng với việc triển khai nhiều biện pháp, phương pháp đồng bộ. Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo vệ trẻ em nói chung và trên không gian mạng nói riêng. Tham gia các công ước quốc tế liên quan đến bảo vệ trẻ em. Ban hành hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ trẻ em trên không giang mạng như: Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; Luật Trẻ em năm 2016; Luật Tiếp cận thông tin năm 2016; Luật An ninh mạng năm 2018; Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày 7/6/2019 của Thủ tướng Chính phủ trong đó có giao Bộ Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm chủ trì xây dựng Đề án “Bảo vệ thông tin cá nhân, hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên không gian mạng”; Quyết định số 830/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc “Bảo vệ và hỗ trợ trẻ em tương tác lành mạnh, sáng tạo trên môi trường mạng giai đoạn 2021 – 2025”. Đây là lần đầu tiên ở cấp quốc gia Việt Nam về bảo vệ thông tin bí mật đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em trên mạng Internet và ngăn chặn, xử lý các hành vi lợi dung môi trường mạng thực hiện các hành vi bị nghiêm cấm đối với trẻ em dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật.

Đấu tranh với tội phạm trên không gian mạng - cuộc chiến không tiếng súng

 

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển, ngoài những lợi thế, tiện ích của mạng internet, hệ thống viễn thông mang lại phục vụ đời sống nhân dân thì các loại tội phạm cũng lợi dụng triệt để môi trường không gian mạng để hoạt động phạm tội. Dự báo thời gian tới, tình hình tội phạm lợi dụng mạng internet, mạng viễn thông có xu hướng gia tăng, diễn biến rất phức tạp với những thủ đoạn tinh vi, khó lường và rất khó đấu tranh, xử lý. Bởi vậy, để đấu tranh, ngăn chặn hoạt động của các loại tội phạm lợi dụng không gian mạng thực sự hiệu quả, ngoài việc triển khai các giải pháp đồng bộ của lực lượng Công an, rất cần sự chung sức của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân. Trong đó cần phải tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, cảnh báo phương thức, thủ đoạn hoạt động của các loại tội phạm trên không gian mạng nhằm góp phần nâng cao nhận thức trong các tầng lớp nhân dân; không tự ý cài đặt các phần mềm, ứng dụng không rõ nguồn gốc, không tham gia các giao dịch ảo. Trong trường hợp bị tống tiền hoặc phát hiện dấu hiệu nghi ngờ lừa đảo phải kịp thời thông báo và phối hợp với cơ quan Công an đấu tranh, ngăn ngừa tội phạm, tuyệt đối không tự ý chuyển tiền theo yêu cầu của đối tượng. Để tránh bị đối tượng tiếp cận người dùng phải thường xuyên thay đổi mật khẩu thư điện tử, các tài khoản mạng xã hội; không truy cập vào các đường link lạ, sử dụng bảo mật hai lớp, đăng nhập bằng mã xác nhận gửi về số điện thoại qua đăng ký tài khoản ngân hàng. Khi có người thân, bạn bè nhờ nhận, chuyển tiền hoặc vay tiền qua tài khoản mạng xã hội cần phải kiểm tra qua số điện thoại cá nhân hoặc gọi video call, kiểm tra, xác minh thông tin bằng các thủ thuật để nhận diện.