Thứ Tư, 12 tháng 10, 2022

Cảnh giác trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch chống đối với chủ trương,của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”

 Tổ chức lực lượng “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã ra sức chống phá bằng chiêu trò, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi. Chúng tung rất nhiều tin tức xấu độc, bịa đặt… phát tán trên mạng xã hội hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá gay gắt và quyết liệt hơn. Trên trang mạng Baotiengdan.com có bài viết của Trần Văn với nội dung “Liệu Việt Nam có học được gì từ bi kịch của Quân đội Nga?” và một số quan điểm về “tinh giảm biên chế của Quân đội ta” hay lợi dụng các trang mạng xã hội đưa tin sai sự thật về diễn tập khu vục phòng thủ, những hoạt động quân sự, quốc phòng, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý của các đơn vị để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội.

Những bài viết này đều nhằm thực hiện âm mưu phá hoại, xuyên tạc cắt xén thông tin, chế giễu, làm mất thanh danh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, những hành động chống phá của một số cá nhân trên với mục đích làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội, hướng lái dư luận theo mưu đồ đen tối, phản động của chúng. Các ý kiến trên thực chất là luận điệu xuyên tạc, âm mưu bôi nhọ, chống phá Quân đội ta, hòng gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Thủ đoạn này tuy không mới, nhưng nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về đúng - sai, thật - giả, gây nên sự dao động trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Chúng phải nhận thức được rằng: đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030 và các năm tiếp của Quân đội. Với mục tiêu, yêu cầu là: Quân đội có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh lực lượng phù hợp; sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi đất nước chuyển sang thời chiến.

 Bên cạnh đó, chủ trương trên bắt nguồn từ quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức quân đội. Người khẳng định “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. 

Trong giai đoạn mới, đây là vấn đề cụ thể hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng, Nhà nước về điều chỉnh tổ chức, biên chế, huy động tiềm lực quốc phòng; ưu tiên đầu tư, nâng cao sức mạnh cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Ngoài ra, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội. Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Sở dĩ Đảng ta xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tóm lại, khi điều chỉnh, tổ chức, biên chế trong Quân đội là một vấn đề phức tạp, liên quan đến tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Đặc biệt là liên quan đến con người, nhất là ở các đơn vị phải giải thể, sáp nhập, chuyển đổi mô hình hoạt động. Vì vậy, trong quá trình tiến hành phải tiến hành đồng bộ, hiệu quả, có sự đồng thuận và quyết tâm cao của tất cả các cấp, lực lượng, lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp.

Như vậy, những luận điệuphản động, cơ hội chính trị, suy nghĩ cho rằng: “Quân đội tinh giảm để giảm bớt gánh nặng cho xã hội”. Các phát tán trên đều là bịa đặt, không đúng sự thật. Để góp phần đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, mỗi quân nhân cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn đen tối của những kẻ như Trần Văn./

Đấu tranh với những chiêu trò xuyên tạc Quy định số 37-QĐ/TW, của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về “Những điều đảng viên không được làm”

 Ngày 25/10/2021, Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam (khóa XIII) ký ban hành Quy định số 37-QĐ/TW về “Những điều Đảng viên không được làm” (3) (sau đây gọi là Quy định số 37), nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong tình hình mới.

Thế nhưng, với thái độ hằn học, dã tâm thâm độc, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã đưa ra những lời lẽ xuyên tạc, với thủ đoạn “kẻ tung, người hứng”. Một số đài báo nước ngoài và các trang mạng xã hội, như: “Việt Tân”, “Việt Nam thời báo”, “Tiếng dân”… đã dùng những luận điệu dối trá để dẫn dắt dư luận rằng: “Quy định số 37 là không cần thiết, lấn sân sang cơ quan hành pháp; vì những điều trong Quy định số 37 pháp luật cũng cấm rồi, chỉ những đảng viên đứng trên pháp luật, nằm ngoài pháp luật thì mới cần quy định này”. Thực chất, những luận điệu xuyên tạc trên nhằm mục đích hạ thấp vị trí, vai trò, ý nghĩa quan trọng của Quy định số 37; phủ nhận những thành tựu to lớn của công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tạo ra tình trạng “tự diễn biến tư tưởng” trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và quần chúng Nhân dân; đồng thời, gây dư luận tiêu cực để hạ thấp uy tín của Đảng với động cơ đen tối, nhằm chống phá Đảng ta. Do đó, chúng ta cần khẳng định rằng, trong bối cảnh hiện nay, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 về “Những điều đảng viên không được làm” là rất cần thiết, mang tính cấp bách bởi một số lý do sau đây:

Thứ nhất, quy định về kỷ luật Đảng là công việc hệ trọng, nhằm xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của Nhân dân vào vai trò lãnh đạo của Đảng; góp phần ngăn chặn từ sớm, từ xa sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; phòng ngừa “tự diễn biến, tự chuyển hóa”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn chúng ta: “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng. Một Đảng có gan thừa nhận khuyết điểm của mình, vạch rõ những cái đó, vì đâu mà có khuyết điểm đó, xét rõ hoàn cảnh sinh ra khuyết điểm đó, rồi tìm kiếm mọi cách để sửa chữa khuyết điểm đó. Như thế mới là một Đảng tiến bộ, mạnh dạn, chắc chắn, chân chính” (4).

Thứ hai, sau 10 năm thực hiện Quy định số 47-QĐ/TW, ngày 01/11/2011 về “Những điều đảng viên không được làm” (2) đã tạo sự chuyển biến rõ rệt trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đội ngũ cán bộ, đảng viên đã nhận thức rõ hơn về nhiệm vụ, trách nhiệm đối với công tác xây dựng Đảng và việc tự tu dưỡng, tự rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống. Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện, một số nội dung trong Quy định số 47 đã xuất hiện những bất cập trong công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đảng viên hiện nay. Chính vì vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 thay thế Quy định số 47 là để tiếp tục thực hiện có hiệu quả công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Thứ ba, Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) được ban hành chính là cụ thể hóa tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Hiến pháp năm 2013, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 101-QĐ/TW ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp”…

Như vậy, việc Đảng ta ban hành Quy định số 37 là hết sức cần thiết, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên; từ đó, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn trái ngược với những luận điệu bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cho rằng: “Đảng đang suy yếu và rệu rã nên phải ban hành Quy định số 37”.

Ngoài những luận điệu chống phá trên, các thế lực thù địch còn công kích, xuyên tạc vào một số điểm mới bổ sung trong Quy định. Đáng chú ý, tại Điều 3 đã quy định: “Cấm đảng viên phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh…”. Các thế lực thù địch cho rằng: “việc Đảng ta bổ sung điều này chứng tỏ Đảng đang đứng bên bờ suy vong, chế độ sắp suy tàn do sự tha hóa biến chất của cán bộ, đảng viên”. Điển hình như đối tượng Nguyễn Huy Vũ cố tình suy diễn rằng: “mục đích duy nhất hiện nay của đảng viên chỉ vì lợi ích vật chất và địa vị; đã qua rồi cái thời mà người ta tham gia vào Đảng Cộng sản vì lý tưởng thơ ngây”. Đây là những luận điệu phản động, thù địch, nhằm ý đồ quy chụp, phủ nhận bản chất cách mạng của Đảng ta. Bởi vì, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, nên mỗi quần chúng ưu tú khi vào Đảng đều phải phấn đấu, rèn luyện vì mục đích lý tưởng cách mạng của Đảng; kiên định, trung thành với nền tảng tư tưởng, chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Vì vậy, việc bổ sung, phát triển quy định trên là yêu cầu, đòi hỏi khách quan trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị.

Trong Điều 9 của Quy định số 37, Đảng ta cấm: “… đảng viên không được nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định. Bằng sự suy diễn vô căn cứ, nhìn nhận vấn đề phiến diện, các thế lực thù địch cho rằng: “việc cấm đảng viên mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài là vi phạm quyền công dân mà Hiến pháp Việt Nam đã quy định”; chúng viện dẫn một số vụ tham nhũng, lãng phí của một bộ phận cán bộ, đảng viên để đánh đồng hiện tượng tham nhũng là bản chất của chế độ ta, nên Đảng mới bổ sung điều cấm này vào Quy định. Chúng ta thấy rõ, luận điệu trên của các thế lực thù địch đã cố tình lờ câu cuối của điều này, đó là: “trái quy định của pháp luật, trái quy định của Đảng” để công kích, chống phá.

Tại Điều 1, Quy định số 15-QĐ/TW, ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa X) về “Đảng viên làm kinh tế tư nhân” đã nêu rõ: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân phải trực tiếp tham gia lao động; có quyền kinh doanh các ngành, nghề mà pháp luật không cấm…” (1). Như vậy, quan điểm nhất quán của Đảng ta là động viên, khuyến khích mọi công dân Việt Nam; trong đó, có đội ngũ đảng viên tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng, làm giàu đúng pháp luật. Hơn nữa, trong thực tế, chỉ những đảng viên tha hóa, thiếu niềm tin, thiếu trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân mới nhập quốc tịch nước ngoài; những đảng viên chuyển tiền ra nước ngoài là biểu hiện cho sự suy thoái, phải làm như vậy để che đậy tài sản làm ăn phi pháp. Vì thế, đây là điều cấm thể hiện quyết tâm cao của Đảng trong công cuộc phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đáp ứng tốt hơn yêu cầu xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong bối cảnh hiện nay.

Có thể khẳng định, Quy định số 37 ra đời được ví như “chiếc gương” để mỗi tổ chức đảng, đảng viên “tự soi, tự sửa”, không để mình bị tha hóa, biến chất. Thực hiện tốt những điều đảng viên không được làm trong Quy định số 37-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) sẽ góp phần xây dựng Đảng ta thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn. Để phòng, chống, đấu tranh có hiệu quả những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; trước hết, mỗi cơ quan, đơn vị cần quản lý, nắm chắc tình hình hoạt động trên các trang mạng xã hội; chủ động đề ra các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn từ sớm, từ xa với những luồng dư luận trái chiều. Cùng với đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng trong đơn vị nắm chắc và thực hiện nghiêm những nội dung trong Quy định số 37, gắn với vạch trần tính chất nguy hiểm của chiêu trò thổi phồng mặt trái, khuyết điểm mà các thế lực thù địch đang tiến hành, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam nói chung, chống phá Đảng ta nói riêng.

Đối với mỗi cá nhân, nhất là những người tham gia mạng xã hội cần hết sức cảnh giác, tỉnh táo để không “nối giáo cho giặc”. Trước mọi thông tin cần có nhãn quan chính trị rõ ràng; nhìn nhận vấn đề phải khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể và phát triển; phân tích thông tin một cách đa chiều, tìm ra bản chất của vấn đề, tránh mắc mưu địch. Khi tiếp cận thông tin, cần phải phân biệt được: đâu là thông tin chính thống; đâu là những thông tin sai trái, xuyên tạc, phản động; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội; kiên quyết phê phán, đấu tranh để bảo vệ cái đúng, loại trừ cái sai trái, tiêu cực. Đó chính là biện pháp hữu hiệu để mỗi cán bộ, đảng viên tự miễn dịch trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch.

Cán bộ, chiến sĩ Binh chủng Tăng thiết giáp giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” trong tình hình mới

Trải qua 63 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, bài học về giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp vẫn luôn được gìn giữ, phát huy, góp phần làm nên truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng” của Binh chủng Tăng thiết giáp, là hành trang, động lực mạnh mẽ để Binh chủng hoàn thành xuất sắc trọng trách cao quý mà Đảng, Nhà nước, quân đội và nhân dân giao phó. Cách đây 63 năm, ngày 5-10-1959, tại Quế Lâm, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc), giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn cam go, thử thách, để đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra, Bộ Quốc phòng Việt Nam công bố Quyết định số 449/NĐ về việc thành lập trung đoàn xe tăng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam mang phiên hiệu 202. Trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp luôn chiến đấu kiên cường, anh dũng, sáng tạo, giành nhiều chiến thắng vẻ vang, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Để làm nên những chiến thắng vẻ vang đó, yếu tố quan trọng và có ý nghĩa quyết định là “bản lĩnh, tinh thần thép” của các cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp. “Bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp là sự kiên định, vững vàng, không bao giờ xa rời đường lối chính trị, trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, đặt trọn niềm tin vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; là sự kết tinh cao độ của chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời đại Hồ Chí Minh, là cơ sở, nguồn gốc, động lực mạnh mẽ tạo nên bản lĩnh, ý chí, sức mạnh chiến đấu và niềm tin tất thắng của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp. Bản lĩnh, tinh thần ấy được biểu hiện cụ thể, sinh động ở việc giác ngộ sâu sắc mục tiêu, lý tưởng cách mạng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lòng yêu nước nồng nàn, khát vọng cháy bỏng giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc; ý chí quyết chiến, quyết thắng kẻ thù xâm lược, sẵn sàng hiến dâng, hy sinh cuộc đời và tuổi thanh xuân cho đất nước. Ngay từ những ngày đầu thành lập và trong những năm tháng xây dựng, củng cố lực lượng, cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp luôn khát khao sớm được tham gia chiến đấu bằng vũ khí, trang bị của mình. Nguyện vọng đó thôi thúc mỗi người ngày đêm miệt mài học tập, rèn luyện, từng bước làm chủ vũ khí, trang bị; nâng cao trình độ tác chiến hiệp đồng quân, binh chủng và khả năng chiến đấu, sẵn sàng tham gia đánh địch. Chiến thắng Tà Mây - Làng Vây năm 1968 là mốc son chói lọi, mở đầu và đặt nền móng cho truyền thống “Đã ra quân là đánh thắng”, thể hiện “bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp. Trong chiến dịch này, quân và dân ta gặp muôn vàn khó khăn bởi đế quốc Mỹ trực tiếp tham chiến, đưa quân vào miền Nam thực hiện chiến lược “Chiến tranh cục bộ”. Mặc dù bị máy bay địch đánh phá ác liệt khiến xe tăng hư hỏng nhiều, nhưng cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Tăng thiết giáp 198 vẫn kiên trì, sáng tạo, khắc phục mọi khó khăn, tổ chức hành quân bằng xích, vượt gần 1.500km đường Trường Sơn hiểm trở, với khát vọng sớm được tiêu diệt quân thù. Khí thế, tinh thần “Dám đánh, quyết đánh, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược” đã giúp cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp có được sức mạnh phi thường, vượt qua “mưa bom, bão đạn” của kẻ thù, nhanh chóng thọc sâu, chia cắt, tiêu diệt địch, làm chủ căn cứ Tà Mây - Làng Vây. Theo dòng chảy của lịch sử dân tộc, “bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp ngày càng được hun đúc, tôi rèn, góp phần xây dựng lực lượng lớn mạnh, trưởng thành nhanh chóng; phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với các bộ phận, lực lượng tiến công địch trên khắp các chiến trường. Trong Đại thắng Mùa Xuân năm 1975, hình ảnh những chiếc xe tăng mang số hiệu 390 và 843 dũng mãnh húc đổ cánh cổng sắt Dinh Độc lập trưa ngày 30-4-1975 đã đánh dấu mốc son lịch sử của cách mạng Việt Nam, thể hiện bản lĩnh, sức mạnh của quân đội cách mạng nói chung, ý chí quyết tâm, sức mạnh tinh thần của cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp nói riêng. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, thường xuyên, trực tiếp là Ban Thường vụ, Đảng ủy Binh chủng Tăng thiết giáp, công tác đảng, công tác chính trị, trọng tâm là công tác chính trị - tư tưởng của Binh chủng luôn có sự đổi mới toàn diện, đồng bộ về nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp với đối tượng và tình hình mới. Nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả được triển khai, nhân rộng, như: “Tiếng nói chính trị viên”, “5 điều biết trong tuần”, “Đảng viên kèm cặp giúp đỡ quần chúng”, “Tâm tình người chiến sĩ”, “Tổ tư vấn tâm lý, pháp lý quân nhân”, “Câu lạc bộ Lý luận trẻ”; “Mô hình bổ trợ học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, “Mô hình bổ trợ tuyên truyền thực hiện Nghị quyết số 847 của Quân ủy Trung ương”. Có những mô hình khai thác tốt nền tảng các trang mạng xã hội, như Group Facebook “Lửa thép”, “Sắt son niềm tin với Đảng”, “Tư tưởng thép”…, góp phần lan tỏa, chia sẻ, nhân rộng, tôn vinh các tập thể, cá nhân điển hình tiên tiến và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Tổ chức hàng trăm hội thảo khoa học, diễn đàn, tọa đàm, tham quan học tập; triển khai thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các đợt sinh hoạt chính trị về công tác tư tưởng, quản lý kỷ luật, về công tác xây dựng Đảng và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, về nội dung tác phẩm “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng… Qua đó, góp phần giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ trong toàn Binh chủng. Tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng; phẩm chất đạo đức tốt, lối sống trong sáng, giản dị; không dao động trước mọi khó khăn, thử thách; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm và dám chịu trách nhiệm; rèn luyện sức khỏe dẻo dai, có tinh thần ham học hỏi, cầu tiến bộ, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đội tuyển xe tăng với tinh thần “Đoàn kết, hiệp đồng, lập công tập thể” tham gia Hội thao quân sự quốc tế Army Games giành Huy chương Vàng bảng 2 (năm 2020), vào bán kết ở bảng 1 (năm 2022). Trong thiên tai, dịch bệnh, hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ xung phong, tình nguyện tham gia tuyến đầu chống dịch bệnh COVID-19; không ngại khó khăn, hiểm nguy, dầm mình trong mưa bão, giúp nhân dân chằng chống nhà cửa, gia cố đê kè, ngăn dòng nước lũ… Những hình ảnh đó đã làm sáng ngời thêm phẩm chất cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" và thắt chặt tình đoàn kết quân - dân. Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực có nhiều biến động phức tạp, khó đoán định; thời cơ, vận hội đan xen với nguy cơ, thách thức. Ở trong nước, những tác động của mặt trái cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế; sự chống phá quyết liệt, điên cuồng của các thế lực thù địch; những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong một bộ phận cán bộ, đảng viên,… đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” của cán bộ, chiến sĩ Binh chủng. Thực hiện lời căn dặn của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu trong lần đến thăm, chúc Tết cán bộ, chiến sĩ Binh chủng (ngày 11-2-1999): “Tăng thiết giáp là khối sắt thép cơ động, có sức đột kích mạnh, nhưng cái quan trọng nhất là thép tư tưởng, chính trị mới là cái quyết định nhất, cơ bản nhất”, hơn lúc nào hết, cán bộ, chiến sĩ tăng thiết giáp cần giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” trong mọi tình huống, kiên quyết không để bị động, bất ngờ. Theo đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, chiến sĩ trong Binh chủng về giữ vững và phát huy bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Cấp ủy, chỉ huy các cấp, nhất là cán bộ chủ trì ở các cơ quan, đơn vị cần quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho bộ đội, trong mọi tình huống phải giữ vững và phát huy “bản lĩnh, tinh thần thép” của người lính xe tăng. Các cơ quan, đơn vị tiếp tục tập trung quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Nhà nước, quân đội, Binh chủng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó, trọng tâm là thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””; Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh””; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12-8-2019, của Thường vụ Quân ủy Trung ương, “Về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới”; Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28-12-2021, của Quân ủy Trung ương, về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Giáo dục truyền thống yêu nước, nhiệm vụ của quân đội, Binh chủng, làm cho cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; nắm vững thời cơ, thách thức, thuận lợi, khó khăn; phân biệt rõ “đối tượng”, “đối tác” của cách mạng Việt Nam, “đối tượng tác chiến của quân đội”, không mơ hồ, mất cảnh giác, xử lý tốt các tình huống, không để bị động, bất ngờ; nêu cao ý chí quyết tâm, xây dựng niềm tin vững chắc vào khả năng chiến đấu, chiến thắng của quân và dân ta. Tuyên truyền, giáo dục để cán bộ, chiến sĩ nhận rõ những mặt trái của cơ chế thị trường hiện nay và những ảnh hưởng của nó đến tư tưởng, tâm lý trong công việc cũng như cuộc sống. Tổ chức học tập, quán triệt những quy định, hướng dẫn của Đảng, quân đội, Binh chủng về những điều đảng viên không được làm, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp. Xây dựng tinh thần đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, tương trợ, giúp đỡ nhau trong công việc, cuộc sống; kiên quyết đấu tranh với những nhận thức lệch lạc, không đúng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, nhất là tư tưởng bảo thủ, ngại khó, ngại khổ, thấy lợi thì nhận về mình, khó khăn thì đùn đẩy cho người khác. Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục chính trị cho cán bộ, chiến sĩ hằng năm, trong đó nội dung trọng tâm là công tác giáo dục, quán triệt, tuyên truyền về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật của quân đội, quy định của đơn vị… Qua đó, kịp thời biểu dương, khen thưởng tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc; chấn chỉnh, nhắc nhở đối với tập thể, cá nhân làm chưa tốt, cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật, chất lượng công việc chưa cao. Hai là, nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; kết hợp huấn luyện với rèn luyện bản lĩnh, chính trị, tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ. Các cơ quan, đơn vị trong Binh chủng quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối quốc phòng, quân sự của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về công tác huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu cho toàn thể cán bộ, chiến sĩ, trọng tâm là Kết luận số 60-KL/QUTW, ngày 18-1-2019, của Quân ủy Trung ương, “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 765-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương”, Chỉ thị số 106/CT-BQP, ngày 5-11-2021, của Bộ Quốc phòng, “Về thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, Chỉ lệnh công tác quân sự, quốc phòng năm 2022 của Tổng Tham mưu trưởng với chủ đề “Năm triển khai Kế hoạch điều chỉnh lực lượng”; Nghị quyết số 09-NQ/ĐU, ngày 24-12-2021, của Đảng ủy Binh chủng Tăng thiết giáp, “Về lãnh đạo công tác huấn luyện và đổi mới 4 nội dung cơ bản trong công tác huấn luyện năm 2022”. Trên cơ sở đó, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tăng cường rèn luyện cán bộ, chiến sĩ không ngừng nâng cao trình độ, khả năng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ, nhất là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp. Bám sát phương châm “cơ bản, thiết thực, vững chắc” và vận dụng đúng đắn, sáng tạo 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện; coi trọng huấn luyện đồng bộ, chuyên sâu, sát nhiệm vụ, địa bàn, đối tượng tác chiến. Làm chủ vũ khí, trang bị kỹ thuật, đặc biệt là vũ khí công nghệ mới, hiện đại; nâng cao khả năng hiệp đồng tác chiến với các quân, binh chủng, lực lượng công an, dân quân tự vệ, dự bị động viên trong diễn tập, xây dựng khu vực phòng thủ, tạo thế liên hoàn vững chắc. Xây dựng ý thức, tâm thế chủ động bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”, không để bị động, bất ngờ trong mọi điều kiện, hoàn cảnh; xây dựng ý chí quyết chiến, quyết thắng, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Kết hợp huấn luyện quân sự với giáo dục chính trị và rèn luyện thể lực của bộ đội, nâng cao bản lĩnh, quyết tâm và khả năng cơ động trong mọi điều kiện, hoàn cảnh. Kiên quyết đấu tranh khắc phục biểu hiện buông lỏng lãnh đạo, tư tưởng bảo thủ, ngại đổi mới, ngại khó, ngại khổ và “bệnh thành tích trong huấn luyện”. Ba là, nâng cao trình độ, năng lực, phương pháp, tác phong công tác cho đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp quán triệt và thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, Quân ủy Trung ương về công tác cán bộ; sắp xếp, bổ nhiệm, bố trí cán bộ ở vị trí lãnh đạo, quản lý, đặc biệt là người đứng đầu phải có năng lực, chuyên môn, phẩm chất đạo đức tốt, được mọi người tín nhiệm, không hám danh lợi, có bản lĩnh chính trị vững vàng, không ngại khó, ngại khổ, năng động, nhạy bén, sáng tạo trong ứng xử, giải quyết những sự việc, tình huống nảy sinh trong công việc cũng như trong cuộc sống, là hạt nhân đoàn kết để quy tụ sức mạnh trí tuệ của tập thể. Thường xuyên phối hợp với các đơn vị bạn để chia sẻ, trao đổi thông tin, kinh nghiệm trong lãnh đạo, quản lý, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện, “Mẫu mực, tiêu biểu”. Tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cán bộ, chiến sĩ của Binh chủng với nhân dân địa phương, qua đó, vừa để nắm chắc địa bàn đóng quân, vừa xây dựng “thế trận lòng dân” gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Chú trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ các cấp về phương pháp tổ chức quản lý, chỉ huy, điều hành huấn luyện theo từng cương vị, chức trách. Trong quá trình thực hiện, luôn bám sát phương châm bồi dưỡng “trực tiếp, tại chỗ”, cấp trên bồi dưỡng cấp dưới, cán bộ có kinh nghiệm bồi dưỡng cán bộ mới. Bốn là, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Hiện nay, các thế lực thù địch, phản động triệt để lợi dụng các phương tiện truyền thông xã hội và một số hãng truyền thông quốc tế để đẩy mạnh chống phá cách mạng nước ta. Do đó, cấp ủy, chính ủy, chính trị viên và người chỉ huy các cấp phải chủ động nắm chắc và kịp thời vạch rõ những âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ thù; tăng cường phổ biến, quán triệt để cán bộ, chiến sĩ thường xuyên nâng cao cảnh giác, chuẩn bị tốt các biện pháp đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá. Kịp thời ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tổ chức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng thông qua sinh hoạt chuyên đề, tọa đàm, diễn đàn; viết tin, bài gửi các báo, tạp chí ở trong và ngoài quân đội; khai thác có hiệu quả hệ thống truyền thanh nội bộ ở mỗi đơn vị và các trang mạng xã hội;… Phát huy vai trò chủ động của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc chia sẻ, làm lan tỏa các tin, bài có nội dung tốt, đấu tranh với thông tin xấu, độc, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

Nhận diện và đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta

 Trước tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, Đảng ta và Nhà nước ta đã kiên quyết xử lý và bước đầu có kết quả nhất định được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị lại tỏ ra hằn học, tung ra các luận điệu sai trái hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Chúng cho rằng, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là một “quốc nạn không có thuốc chữa” và nguyên nhân của tham nhũng bắt nguồn từ yếu tố “Đảng cầm quyền”. Vì vậy, “Cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công được”. Chúng suy diễn rằng “việc xử lý các vụ tham nhũng vừa qua vẫn là “giơ cao đánh khẽ”, thực chất đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là trò “đấu đá nội bộ” hay “thanh trừng phe phái” lẫn nhau”Đây là những luận điệu hết sức thâm độc nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước; giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng, yếu kém về chính trị tư tưởng. Không những thế, chúng còn ngụy biện rằng, tình trạng tham nhũng ở Việt Nam là do chế độ “độc đảng” nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng ta trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực... Do đó, chúng ta cần hết sức tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, kịp thời đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, lệch lạc.

Trước hết, trong thời gian qua chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Điều đó không chỉ nâng cao chất lượng tổ chức đảng, đảng viên mà còn góp phần rất quan trọng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh của đất nước. Do vậy, các thế lực thù địch cho rằng “Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam không thể thành công được” là xuyên tạc thực tế ở nước ta hiện nay. Hơn nữa, theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, “phần lớn tham nhũng xảy ra ở các quốc gia có chế độ đa đảng, tam quyền phân lập”. Ở châu Á, tình trạng tham nhũng tuy không nhiều nhưng vẫn còn diễn biến hết sức phức tạp. Do đó, việc thế lực thù địch khẳng định tham nhũng chỉ xảy ra ở những nước có chế độ một đảng duy nhất lãnh đạo như Việt Nam là trái với thực tế, xuyên tạc bản chất ưu việt của chế độ ta. Tuy nhiên, tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực, là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ ta; tham nhũng tồn tại  tất cả các quốc gia, các chế độ chính trị xã hội khác nhau mà không dễ gì để xóa bỏ nó tận gốc. Chính vì vậy, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực chúng ta phải tiến công một cách kiên trì, kiên quyết, thường xuyên, liên tục, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”.

Trong luận điệu chúng cho rằng “công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Việt Nam là “giơ cao, đánh khẽ”, “thanh trừng bè phái trong nội bộ” là rất phản động, cố tình xuyên tạc nhằm phủ nhận năng lực lãnh của Đảng Cộng sản Việt Nam trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Trên thực tế, Đảng ta đã xử lý rất công minh, chính xác, kịp thời đúng người, đúng tội những cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ thuộc diện Trung ương, Bộ Chính trị quản lý nhằm làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng, làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ xứng đáng với niềm tin của nhân dân đối với Đảng, chứ không phải như những luận điệu các thế lực thù địch xuyên tạc.

Để tiếp tục phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc thành tựu phòng, chống tham nhũng tiêu cực của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng phải tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt những nội dung cơ bản của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, XIII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phòng chống tham nhũng, tiêu cực; nhất là, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Đồng thời, tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Ban Chỉ đạo Trung ương; thực hiện tốt chủ trương thành lập và phát huy vai trò của Ban Chỉ đạo cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do đồng chí bí thư tỉnh ủy, thành ủy làm trưởng ban.

Thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị hiện nay của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Do đó, phải tiến hành đồng bộ, với phương châm “nhận thức phải chín, tư tưởng phải thông, quyết tâm phải lớn và phương pháp phải đúng” (1), “dọc ngang thông suốt”, tránh “trên nóng, dưới lạnh”, “đầu voi, đuôi chuột”, “đánh trống bỏ dùi”… làm cho dân tin vào Đảng và mỗi đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân./.

Toàn quân quán triệt và thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương

Quán triệt các nghị quyết, kết luận, chỉ thị của Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngày 28/12/2021, Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết số 847-NQ/QUTW về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Đây là Nghị quyết rất quan trọng, cấp thiết, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý được Đảng, Nhà nước và Nhân dân tôn vinh, bởi những cống hiến, hy sinh to lớn của lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được kết tinh từ truyền thống yêu nước của dân tộc; sự giáo dục, rèn luyện của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh; sự tin tưởng, giúp đỡ của nhân dân, cùng những nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ của cán bộ, chiến sĩ. Còn chủ nghĩa cá nhân là thứ giặc vô cùng nguy hiểm, với những biểu hiện đa dạng, lúc tinh vi, kín đáo, khi lộ liễu, biến báo khó lường, xuất hiện ở nhiều lúc, nhiều nơi, nhiều đối tượng, nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực quân sự, quốc phòng, làm phá hoại sự nghiệp cách mạng, sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng, của dân tộc. Vì thế, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong Quân đội là nhiệm vụ chính trị quan trọng, vừa cấp thiết trước mắt, vừa thường xuyên, cơ bản lâu dài, nhằm xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú; góp phần xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã đề ra nhiều chủ trương, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt nội dung quan trọng này, bước đầu đạt nhiều kết quả tích cực. Nhận thức của cán bộ, đảng viên, quần chúng về bản chất cách mạng, giá trị cốt lõi của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, cùng những biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân không ngừng được nâng cao. Việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền; xây dựng kế hoạch thực hiện các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, của Quân ủy Trung ương về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thường xuyên được đổi mới cả về hình thức và phương pháp. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; kiểm soát quyền lực, tăng cường kỷ luật, kỷ cương của cán bộ, đảng viên có nhiều chuyển biến tích cực. Những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới được nhiều cấp ủy, chỉ huy đơn vị và các tổ chức quần chúng cụ thể hóa trong triển khai Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, gắn kết với thực hiện phong trào Thi đua Quyết thắng. Việc nhận diện, đấu tranh, ngăn chặn và xử lý những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được Quân ủy Trung ương, cấp ủy các cấp lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nền nếp, nghiêm túc. Nguyên tắc tập trung dân chủ luôn được phát huy; công tác cán bộ được triển khai đồng bộ, hiệu quả; Quy chế Dân chủ cơ sở được duy trì thường xuyên và ngày càng được mở rộng; công tác tự phê bình và phê bình luôn được đề cao. Qua thực tiễn sinh động, những mô hình mới, cách làm hay, sáng tạo trong phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân ngày càng nhiều, đa dạng, hiệu quả, tạo sức lan tỏa ngày càng sâu rộng trong toàn quân và xã hội1. Đặc biệt, đã có nhiều tấm gương cán bộ, chiến sĩ hy sinh quên mình vì sự bình yên, hạnh phúc của nhân dân; nhất là trong phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn. Những kết quả đó là rất quan trọng, có ý nghĩa cả về trước mắt và lâu dài, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Bên cạnh kết quả đạt được, nhận thức, trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có mặt còn hạn chế; việc nhận diện các biểu hiện, tác hại của chủ nghĩa cá nhân còn lúng túng, mơ hồ. Tình trạng vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội chưa được ngăn chặn, đẩy lùi một cách căn bản, thậm chí có nơi còn diễn biến phức tạp, tinh vi, trong đó có cả tập thể, cá nhân, cán bộ cao cấp,… làm ảnh hưởng đến truyền thống, uy tín của Quân đội, phẩm chất và hình ảnh cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, v.v. Những năm tới, nhiệm vụ xây dựng Quân đội, tăng cường quốc phòng bảo vệ Tổ quốc có sự bổ sung, phát triển mới, với yêu cầu ngày càng cao; Quân đội tiếp tục có sự điều chỉnh về tổ chức lực lượng; hậu phương, gia đình không ít cán bộ, chiến sĩ còn nhiều khó khăn. Trong khi đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt,… sẽ tác động đến tâm tư, tình cảm và việc thực hiện nhiệm vụ của cán bộ, chiến sĩ. Tình hình đó đòi hỏi toàn quân phải đoàn kết, thống nhất, tập trung xây dựng Quân đội vững mạnh về mọi mặt, trước hết là vững mạnh về chính trị, làm cơ sở để nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Để làm được điều đó, cùng với thực hiện toàn diện các mặt công tác, việc quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 847-NQ/QUTW, ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới (sau đây gọi tắt là Nghị quyết 847) là nội dung rất quan trọng; là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong toàn quân, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì các cấp. Trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung sau: Một là, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên, quần chúng trong thực hiện Nghị quyết. Cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy các cấp cần lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục để việc thực hiện Nghị quyết 847 trở thành đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn quân, làm cho mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhận thức sâu sắc và tự giác thực hiện các nội dung của Nghị quyết. Nội dung tuyên truyền, giáo dục phải bảo đảm để cán bộ, chiến sĩ thấm sâu những giá trị thiêng liêng, cao quý cùng những đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”; ý nghĩa, mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp của Nghị quyết; thấy rõ những biểu hiện và tác hại của chủ nghĩa cá nhân, cũng như nhiệm vụ, giải pháp đấu tranh, ngăn chặn trong cơ quan, đơn vị. Đồng thời, nhận thức rõ, việc Quân ủy Trung ương ban hành Nghị quyết 847 còn thể hiện vai trò “gương mẫu đi đầu trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; Quân đội phải thực sự trong sạch nội bộ, đi đầu trong đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, lãng phí” theo chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương. Từ đó, mỗi cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam nêu cao trách nhiệm, niềm vinh dự, không ngừng phát huy, tô thắm thêm phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục phải đa dạng, linh hoạt, phong phú, sinh động, phù hợp với từng đối tượng; chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục chính trị; tổ chức các buổi tọa đàm, giao lưu, cuộc thi tìm hiểu về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, nhất là ở cấp cơ sở. Cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp cần cụ thể hóa việc thực hiện Nghị quyết vào các nhiệm vụ thường xuyên của cơ quan, đơn vị và phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa ở cơ sở để nâng cao chất lượng tuyên truyền. Các cơ quan thông tấn, báo chí Quân đội cần phát huy ưu thế và vai trò của mình, chủ động xây dựng các chuyên trang, chuyên mục về phát huy phẩm chất “Bộ đôi Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân; tích cực đổi mới về nội dung, hình thức; phối hợp với các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương để nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền, tạo sự lan tỏa trong toàn quân và xã hội. Hai là, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong tổ chức thực hiện Nghị quyết. Thực hiện sự chỉ đạo của Quân ủy Trung ương và hướng dẫn của Tổng cục Chính trị, đến nay các cấp ủy, tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội đã làm tốt công tác quán triệt, học tập Nghị quyết. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước khởi đầu, bởi để tinh thần của Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống, trở thành nếp sống, nếp nghĩ và việc làm hằng ngày của cán bộ, chiến sĩ, cần phải có quá trình hoạt động liên tục, tích cực cả về bề rộng và chiều sâu. Do vậy, các cơ quan chức năng của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần tiếp tục nghiên cứu các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Trung ương và văn bản quy phạm pháp luật để tham mưu xây dựng và ban hành các kết luận, chỉ thị, đề án, chương trình hành động cụ thể, bảo đảm triển khai đồng bộ, thống nhất trong toàn quân. Cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị tiếp tục quán triệt, thực hiện nghiêm Kế hoạch số 952-KH/QUTW, ngày 01/3/2022 của Thường vụ Quân ủy Trung ương; Hướng dẫn số 88/HD-CT, ngày 12/01/2022 của Tổng cục Chính trị về tổ chức học tập, quán triệt, tuyên truyền, triển khai thực hiện các kết luận, quy định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, v.v. Nghiên cứu, cụ thể hóa các đặc trưng cơ bản của phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” và các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân ở từng đối tượng để mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng dễ nhận diện, “tự soi, tự sửa”; nhất là những đặc trưng mới, cấp thiết, như “tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung”, “kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí”,… được xác định trong Nghị quyết. Căn cứ vào đặc điểm nhiệm vụ, các cấp ủy, tổ chức đảng ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo thực hiện Nghị quyết 847 hoặc cụ thể hóa vào nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ thường kỳ, đột xuất và giai đoạn; xây dựng chủ trương, biện pháp lãnh đạo, kế hoạch, chương trình hành động với phương châm: kế hoạch “một”, biện pháp “mười” và quyết tâm phải “hai mươi”. Trong quá trình thực hiện, cần kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; trong đó, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách; đề cao vai trò của cấp ủy, cán bộ chủ trì; phát huy tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo, hướng dẫn, triển khai thực hiện Nghị quyết; xây dựng, ban hành quy chế, quy định cụ thể để khuyến khích và bảo vệ cán bộ, đảng viên, quần chúng phát hiện và dám đấu tranh với các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, làm ảnh hưởng đến uy tín, truyền thống tốt đẹp của Quân đội và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Ba là, kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện Nghị quyết 847 với thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; các cuộc vận động trong và ngoài Quân đội. Nghị quyết 847 là sự tiếp tục và cụ thể hóa quan điểm của Đảng về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong Quân đội; đó cũng là bước tiếp nối việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trong tình hình mới. Vì vậy, quá trình lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết, cấp ủy, chỉ huy các cấp phải kết hợp chặt chẽ với thực hiện các nghị quyết, kết luận, chỉ thị,... của trên về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, trọng tâm là Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW; Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Chỉ thị số 855-CT/QUTW, ngày 12/8/2019 của Thường vụ Quân ủy Trung ương về đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới, v.v. Đồng thời, việc thực hiện Nghị quyết 847 phải đặt trong tổng thể các giải pháp xây dựng cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”, tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; nhất là trong xây dựng đơn vị vững mạnh về chính trị, tổ chức đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm các biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, những hành vi tham nhũng, tiêu cực. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị cần bổ sung nội dung của Nghị quyết 847 vào mục tiêu, chỉ tiêu của phong trào Thi đua Quyết thắng và các phong trào thi đua, cuộc vận động khác; lấy việc thực hiện các nội dung của Nghị quyết làm giải pháp thực hiện các khâu đột phá mà nghị quyết đại hội Đảng các cấp đã xác định. Trong tổ chức thực hiện, các cơ quan, đơn vị cần xây dựng kế hoạch linh hoạt, lồng ghép các nội dung phù hợp, hiệu quả, tránh hình thức, máy móc dẫn đến chồng chéo, thời gian thực hiện nhiều nhưng không khả thi, hiệu quả thấp. Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm: “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo” trong thực hiện Nghị quyết. Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân ở từng cơ quan, đơn vị, suy đến cùng là tổng thể các hoạt động của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và kết quả quá trình tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi quân nhân; đó cũng là sự thể hiện ở chính phẩm chất, nhân cách, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Vì thế, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp là vô cùng quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả thực hiện Nghị quyết, cũng như nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Cấp ủy, cán bộ chủ trì các cấp cần quán triệt quan điểm: cán bộ, đảng viên giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện, nêu gương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Tiếp tục học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, quán triệt, thực hiện nghiêm các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng về nêu gương. Trọng tâm là Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 646-QĐ/QUTW, ngày 06/11/2012 của Thường vụ Quân ủy Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong Quân đội”. Trên cơ sở đó, xác định rõ những nội dung mà cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì các cấp cần phải nêu gương trong thực hiện Nghị quyết; tập trung vào: tư tưởng chính trị; đạo đức lối sống; đổi mới phương pháp, tác phong công tác theo hướng khoa học, cụ thể, sát thực tiễn, hướng về cơ sở; tinh thần “tự soi, tự sửa”, tự rèn, tự phê bình và phê bình; nói đi đôi với làm, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện quan liêu, cửa quyền, tham ô, tham nhũng, lãng phí, v.v. Để nêu cao trách nhiệm trong việc nêu gương, các cấp ủy cần nghiên cứu, cụ thể hóa văn bản của trên để hoàn thiện các quy định cụ thể về trách nhiệm nêu gương, về thực hành “tự soi, tự sửa” của cán bộ, đảng viên ở cơ quan, đơn vị mình, nhất là đối với cán bộ chủ trì, người đứng đầu các cấp trong gương mẫu, đi đầu phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân theo phương châm: “trên làm gương mẫu mực, dưới tích cực làm theo”. Bảo đảm, việc nêu gương phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, mọi lúc, mọi nơi, từ việc nhỏ tới việc lớn, tạo hiệu ứng tích cực trong toàn quân. Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm, nhân rộng điển hình tiên tiến trong thực hiện Nghị quyết 847. Thực tiễn thời gian qua cho thấy, một trong những nguyên nhân của việc phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ và chống chủ nghĩa cá nhân ở một số cơ quan, đơn vị hiệu quả chưa cao là do công tác kiểm tra, đôn đốc không thường xuyên, giấu giếm khuyết điểm; có nơi “phát nhưng không động”, cam kết nhưng không thực hiện đúng những cam kết của mình,… dẫn đến việc thực hiện trở nên hình thức, hiệu quả thấp, thậm chí tạo điều kiện cho chủ nghĩa cá nhân nảy sinh, phát tác trong cơ quan, đơn vị. Vì vậy, trong quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 847 lần này, đòi hỏi cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp chủ động đưa nội dung phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân thành một nội dung trong kế hoạch kiểm tra, giám sát. Quá trình thực hiện phải nắm vững và thực hiện hiệu quả tư tưởng chỉ đạo: “chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả”, “giám sát phải mở rộng, kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm”. Kết hợp chặt chẽ giữa công tác kiểm tra với giám sát của cấp ủy đảng đối với cán bộ, đảng viên; chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt, nhất là tình hình chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên trong cơ quan, đơn vị để kịp thời điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, giải pháp mới nhằm phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân. Thực hiện nghiêm Chỉ thị số 26-CT/TW, ngày 09/11/2018 của Bộ Chính trị (khóa XII) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong điều tra, xem xét, xử lý các vụ án, vụ việc; Quy định số 109-QĐ/TW, ngày 03/01/2018 của Ban Bí thư (khóa XII) về công tác kiểm tra của tổ chức đảng đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Cùng với đó, định kỳ, các cơ quan, đơn vị tổ chức sơ kết, tổng kết, rút ra những bài học kinh nghiệm, xác định những chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết trong thời gian tiếp theo. Đồng thời, làm tốt công tác phát hiện các mô hình mới, cách làm hiệu quả; những tập thể và cá nhân tích cực đấu tranh, phê phán chủ nghĩa cá nhân để tôn vinh, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng trong toàn quân. Với nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, tích cực, chủ động, sáng tạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn quân, tin tưởng rằng chúng ta sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết 847, không ngừng phát huy, làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân một cách triệt để, hiệu quả. Qua đó, góp phần xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, có chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Chủ nghĩa dân tộc và một số biểu hiện mới của chủ nghĩa dân tộc hiện nay

Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng hiện nay, chủ nghĩa dân tộc đang có xu hướng trỗi dậy, ảnh hưởng đến quá trình phát triển của các quốc gia - dân tộc. Việt Nam cũng chịu tác động của vấn đề này theo cả hai chiều: tích cực và tiêu cực. Vì vậy, nhận diện rõ những biểu hiện mới của chủ nghĩa dân tộc cùng những tác động, ảnh hưởng của nó để Việt Nam có thể chủ động trong hoạch định đường lối, chiến lược phát triển đất nước trong bối cảnh mới là vấn đề cấp thiết hiện nay. “Biểu hiện mới” được hiểu là: vấn đề mới phát sinh; hoặc có những vấn đề tuy đã xuất hiện từ lâu, không phải là vấn đề mới, nhưng quá trình vận động, phát triển lại xuất hiện, chứa đựng những yếu tố mới. Thể hiện: - Thứ nhất, trong bối cảnh cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản, chống chủ nghĩa tư bản vì mục tiêu CNXH, cũng như cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc được chỉ đạo, định hướng và liên kết chặt chẽ với nhau bởi ý thức hệ của giai cấp công nhân. Trên thực tế, việc giải quyết hài hòa mối quan hệ này trở thành yếu tố hết sức quan trọng gắn kết các quốc gia dân tộc, cùng tương trợ, giúp đỡ lẫn nhau vì một lý tưởng chung, đó là bảo đảm chủ quyền dân tộc và xây dựng thành công CNXH ở mỗi nước cũng như trên phạm vi toàn thế giới. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng CNXH ở một số nước, chính những vi phạm lập trường mácxít trong giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề giai cấp và vấn đề dân tộc; giữa CNXH và chủ nghĩa dân tộc đã dẫn đến những rạn nứt, mâu thuẫn trong nội bộ, thậm chí, nó trở thành một trong những nguyên nhân làm tan vỡ hệ thống XHCN, đồng thời khiến cho chủ nghĩa quốc tế XHCN cũng rơi vào tình trạng suy thoái, khủng hoảng trầm trọng. - Thứ hai, chủ nghĩa dân tộc có tầm ảnh hưởng lớn trong mối quan hệ quốc tế. Hiện nay, việc đề cao lợi ích dân tộc đến mức cực đoan, xem nhẹ lợi ích quốc tế, thậm chí bất chấp luật pháp quốc tế đang là hiện tượng diễn ra phổ biến. Trong đời sống chính trị hiện đại, có một thực tế mới là giai cấp cầm quyền ở một số quốc gia bị chi phối bởi chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, đề cao thái quá “tinh thần dân tộc”, từ đó làm trỗi dậy chủ nghĩa dân tộc cực đoan, chủ nghĩa cường quyền nước lớn, chủ nghĩa thực dụng... và chúng đang ngày càng chi phối các mối quan hệ quốc tế. Các nước lớn tìm cách áp đặt, thậm chí, xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước nhỏ, bất chấp luật pháp quốc tế. Thí dụ, từ năm 2010 đến nay, sự can thiệp của Mỹ và một số nước phương Tây vào các nước Ảrập, đặc biệt là Xyri khiến cho các nước này rơi vào tình trạng hỗn loạn, chiến tranh liên miên, đất nước tan rã và các nhóm Hồi giáo cực đoan nổi dậy gây ra hậu quả tàn khốc ở khu vực này. Trong bối cảnh mới hiện nay, chủ nghĩa dân tộc ngày càng được khuyếch trương và mang những sắc thái mới. Thí dụ, Mỹ dưới thời của Tổng thống Donal Trump với chính sách “nước Mỹ trên hết”, “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại”; hay Trung Quốc với “giấc mơ Trung Hoa” và những hành động vi phạm trắng trợn luật pháp quốc tế nhằm giành lợi thế ở khu vực Biển Đông... là những minh chứng cho thấy những toan tính của các nước lớn đang bị chi phối nặng nề của chủ nghĩa dân tộc cường quyền, chủ nghĩa dân tộc cực đoan. - Thứ ba, chủ nghĩa dân tộc được kích hoạt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, nhiều giá trị đã biến đổi, trong đó chủ nghĩa dân tộc phát triển mạnh ở nhiều lĩnh vực. Bên cạnh mặt tích cực, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế có nhiều tác động tiêu cực, nó không phân chia lợi ích và cơ hội đồng đều cho các quốc gia, khu vực, cộng đồng người, dân tộc. Một số tộc người, nhóm dân cư, giới xã hội... bị tụt lại, hoặc bị gạt ra bên lề của quá trình này. Ở một số quốc gia, khi quyền lợi kinh tế bị đe dọa, phải cạnh tranh khốc liệt với các tập đoàn kinh tế, với các nhóm nhập cư hay từ các nước, họ có xu hướng chống lại toàn cầu hóa. Từ đó, nhiều quốc gia đã đưa ra những quyết định bảo hộ, trước hết là bảo hộ thương mại để bảo vệ lợi ích kinh tế của quốc gia - dân tộc mình. Chủ nghĩa dân tộc trong trường hợp này kiên quyết chống lại toàn cầu hóa khi lợi ích kinh tế của quốc gia dân tộc bị vi phạm, thậm chí, sẵn sàng chà đạp lên lợi ích của các quốc gia dân tộc khác. Trong bối cảnh trỗi dậy mạnh mẽ của chủ nghĩa dân tộc hiện nay, Việt Nam không tránh khỏi bị tác động, ảnh hưởng. Để phát huy mặt tích cực, hạn chế tác động tiêu cực của chủ nghĩa dân tộc, cần quán triệt những quan điểm cơ bản của Đảng. phải luôn chủ động đấu tranh phòng, chống diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ; kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng vấn đề dân tộc, cũng như các vấn đề khác để chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN hoặc cố tình chia rẽ phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Tăng cường hợp tác quốc tế về quốc phòng, an ninh, thực hiện tốt trách nhiệm của Việt Nam trong việc tham gia giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc; đồng thời kiên quyết, kiên trì đấu tranh, trong đó có đấu tranh pháp lý để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển đảo và các lợi ích chính đáng của Việt Nam ở Biển Đông cũng như trên trường quốc tế, qua đó thúc đẩy hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc và thích ứng với chuyển biến của tình hình mới nhằm bảo đảm an ninh quốc gia và bảo vệ chủ quyền đất nước, tạo thế và lực phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Lễ kỷ niệm 35 năm tổ chức UNESCO thông qua Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

Ngày 11/10, tại trụ sở của UNESCO ở thủ đô Paris (Pháp), Phái đoàn Việt Nam tại UNESCO và Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp đã trang trọng tổ chức hoạt động kỷ niệm 35 năm Tổ chức UNESCO ra Nghị quyết số 24C/18.65 vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh - Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hoá kiệt xuất của Việt Nam với sự tham gia, đồng bảo trợ của tổ chức UNESCO. Tham dự về phía Việt Nam có bà Lê Thị Thu Hằng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao; Đại sứ Việt Nam tại UNESCO Lê Thị Hồng Vân; đại diện Ban thư ký UNESCO Việt Nam, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, cán bộ nhân viên Phái đoàn Việt Nam tại UNESCO và Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp, các cơ quan báo chí Việt Nam thường trú tại Pháp. Về phía UNESCO có bà Audray Azoula, Tổng Giám đốc UNESCO; ông Xing Qu, Phó Tổng giám đốc UNESCO; đại diện một số ban trực thuộc Ban thư ký UNESCO. Ngoài ra có gần 200 khách mời là Trưởng đoàn các nước, các Đại sứ bên cạnh UNESCO, bạn bè của Việt Nam như bà Elisabeth Helfer Aubrac, con gái nuôi của Bác Hồ; nhà sử học Alain Russio, tác giả của nhiều công trình nghiên cứu, tác phẩm về Chủ tịch Hồ Chí Minh; lãnh đạo các hội đoàn, Hội hữu nghị Việt-Pháp, cộng đồng người Việt tại Pháp. Sự kiện “Hồ Chí Minh: Con người vì hoà bình, danh nhân văn hoá kiệt xuất” tại trụ sở UNESCO lần này là môt hoạt động trong chuỗi các sự kiện kỷ niệm 35 năm do Bộ Ngoại giao chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức ở trong và ngoài nước. Trước đó đã diễn ra các hoạt động mít-tinh, ra mắt sách “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh”, triển lãm “Chủ tịch Hồ Chí Minh: Cuộc đời và sự nghiệp” và hội thảo quốc tế: “Di sản Hồ Chí Minh đối với nhân loại” tại Bảo tàng Hồ Chí Minh, Hà Nội ngày 6/9. Chuỗi các hoạt động kỷ niệm nhân dịp 35 năm đã góp phần lan tỏa sâu rộng hơn nữa về cuộc đời, sự nghiệp, tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến người dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế. Đây cũng là một hoạt động thiết thực góp phần thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Tham dự và phát biểu khai mạc, bà Lê Thị Thu Hằng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao đã nêu bật ý nghĩa của Nghị quyết UNESCO tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhấn mạnh việc UNESCO ra Nghị quyết là sự ghi nhận đối với đóng góp, cống hiến lớn lao của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân trên thế giới trước áp bức, bất công, vì độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội; đồng thời tôn vinh những lý tưởng cao đẹp, bản sắc văn hóa và khát vọng của Người và dân tộc Việt Nam về một thế giới hòa bình, bình đẳng và hạnh phúc. Hồ Chí Minh là hình mẫu tiêu biểu cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam. Người thấu hiểu sâu sắc và đặt niềm tin vào giá trị chân, thiện, mỹ, vào bản chất cao đẹp của con người, như tinh thần Hiến chương của UNESCO “Vì chiến tranh bắt đầu từ tâm trí con người, nên phải xây dựng thành trì về hòa bình trong tâm chí con người”. Thay mặt cho Tổ chức UNESCO, phát biểu tại buổi lễ, Phó Tổng giám đốc Xing Qu đánh giá cao việc Việt Nam tổ chức chuỗi các hoạt động kỷ niệm 35 năm UNESCO ra Nghị quyết vinh danh Chủ tịch Hồ Chí Minh, đặc biệt ý nghĩa của sự kiện kỷ niệm ngay chính tại trụ sở UNESCO tại Paris mà UNESCO vinh dự đồng hành. Ông Xing Qu khẳng định tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về giáo dục, khoa học, văn hóa có giá trị vượt giới hạn không gian, thời gian, cũng chính là sứ mệnh mà UNESCO đang theo đuổi ngày nay và nhấn mạnh việc giữ gìn và phát huy giá trị của các vĩ nhân trong đó có Chủ tịch Hồ Chí Minh là trách nhiệm của chung của nhân loại. Tổng Giám đốc Audrey Azoulay cũng đã đến dự và chia sẻ những ấn tượng hết sức tốt đẹp về chuyến thăm Việt Nam vừa qua, được tham dự các hoạt động kỷ niệm 35 năm UNESCO ra Nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Việt Nam, đến thăm những di sản của Việt Nam được UNESCO công nhận cũng như chứng kiến những thành tựu nhiều măt của Việt Nam, đặc biệt là về văn hoá, giáo dục và an sinh xã hội. Bà trân trọng gửi lời cảm ơn đến Lãnh đạo của Việt Nam, Bộ Ngoại giao, Ban thư ký UNESCO và các bộ ngành, địa phương đã dành cho bà sự đón tiếp trọng thị và nồng ấm, chân tình. Bà Lê Thị Thu Hằng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao và Đại sứ Việt Nam tại UNESCO Lê Thị Hồng Vân cùng các đại biểu.© Được Thế giới & Việt Nam cung cấp Bà Lê Thị Thu Hằng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao và Đại sứ Việt Nam tại UNESCO Lê Thị Hồng Vân cùng các đại biểu. Bà Lê Thị Thu Hằng, Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao và Đại sứ Việt Nam tại UNESCO Lê Thị Hồng Vân cùng các đại biểu. Tại buổi lễ, Nhà sử học Pháp Alain Ruscio bày tỏ xúc động được tham dự sự kiện tôn vinh về một nhân vật mà ông luôn dành sự mến mộ, kính trọng và tâm huyết để tìm hiểu, nghiên cứu. Ông Alain Ruscio chia sẻ vắn tắt về cuộc đời hoạt động vẻ vang của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhấn mạnh về những dấu ấn của Người đối với hòa bình thế giới và cho rằng những di sản của Bác Hồ chính là nguồn cảm hứng cho những giá trị phổ quát tốt đẹp của nhân loại. Trong khuôn khổ Lễ kỷ niệm, đã tổ chức trưng bày ảnh và sách về cuộc đời, sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh, biểu diễn văn nghệ một số tác phẩm lấy cảm hứng từ Bác và quê hương Việt Nam của nhóm hợp ca “Quê hương” của cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. Nhà xuất bản chính trị quốc gia cũng đã trao tặng cuốn sách “Tình cảm của nhân dân thế giới với Chủ tịch Hồ Chí Minh” cho các khách mời.
Ai đang đánh tráo khái niệm về nhân quyền? Cái gọi là “thư ngỏ” của một vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền gửi tới các quốc gia thành viên Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) nhằm vận động không bỏ phiếu cho Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thật thiếu cơ sở. Ngoài việc thường xuyên “đâm bị thóc, chọc bị gạo” vấn đề nhân quyền của các quốc gia mà họ thù địch, thì vài tổ chức nhân danh quốc tế về nhân quyền này đã làm được gì để quyền con người trên thế giới tốt đẹp hơn? Thật lố bịch khi họ lại tự cho mình có quyền phán xét, mặc cả, ra điều kiện về nhân quyền đối với các quốc gia có chủ quyền như Việt Nam. Một bản kiến nghị “tổ ong” Tổ ong có hình thức thủng lỗ chỗ. Thư ngỏ của một số tổ chức này giống như một tổ ong. Nó chỉ có phần lõm mà không có phần lồi. Thôi thì vẫn còn một chút niềm tin vớt vát rằng, nhiều khả năng nguồn thông tin mà các tổ chức nhân danh nhân quyền này tiếp nhận được về Việt Nam thông qua một lăng kính méo mó. Vì họ không được mắt thấy, tai nghe, tiếp nhận thông tin sai lệch nên họ mới đưa ra kiến nghị rằng “Việt Nam là một quốc gia vi phạm nhân quyền nghiêm trọng và triền miên, không tuân thủ các cam kết, có thành tích hợp tác kém với Hội đồng Nhân quyền (HRC)”. Họ tiếp tục chụp mũ: Tình hình nhân quyền đang xấu đi ở Việt Nam như đàn áp các tổ chức phi chính phủ, các nhà báo độc lập, các nhóm tôn giáo, những người bảo vệ môi trường và đất đai, những người ủng hộ nhân quyền... Trong khi đó, báo cáo của họ lại phớt lờ, không đề cập đến những thành tựu với sự nỗ lực không mệt mỏi mà Việt Nam đã đạt được khi phấn đấu cho quyền con người. Những thành tựu ấy không chỉ được “tai nghe, mắt thấy” ở Việt Nam, mà còn được chính các tổ chức lớn của LHQ báo cáo, đánh giá định kỳ, như Chương trình Phát triển của LHQ (UNDP); Tổ chức Y tế thế giới (WHO) hay chính Hội đồng Nhân quyền (HRC)... Đến đây thì "thư ngỏ" đã “lòi đuôi cáo” khi nó rất không công bằng, cố tình chỉ thấy cây mà không chịu thấy rừng. Không chỉ dịp này, năm nào cũng vậy, họ luôn cùng nhau “tiền hô hậu ủng” để cho ra đời những bản báo cáo về nhân quyền đầy màu sắc chính trị, sai sự thật để chống phá Việt Nam và một số quốc gia mà họ cho là đối lập về hệ tư tưởng. Điều đầu tiên cần nói rõ, những tổ chức nhân danh nhân quyền trên không có tư cách để đánh giá, chấm điểm, xếp loại về nhân quyền ở Việt Nam, chứ chưa nói đến việc làm sai trái khi cố tình gửi yêu sách đến LHQ. Chính lịch sử hàng trăm năm đấu tranh cho sự tiến bộ của loài người, vì quyền con người, các quốc gia trong mái nhà chung LHQ đã thống nhất một quan điểm: “Áp đặt tiêu chuẩn dân chủ, nhân quyền cho một quốc gia là vô lý”. Các nước trên thế giới ở những trình độ phát triển khác nhau, thể chế chính trị khác nhau nên không thể lấy giá trị, tiêu chuẩn về dân chủ, nhân quyền của nước này áp đặt cho nước khác. Các văn kiện pháp lý về quyền con người được LHQ quy định rất rõ ràng. Không quốc gia nào, kể cả LHQ, có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền quốc gia, chứ đừng nói gì đến các tổ chức nhân danh. Mục 7, Điều 2, Chương I, Hiến chương LHQ khẳng định: “Hiến chương này hoàn toàn không cho phép LHQ được can thiệp vào những công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất cứ quốc gia nào...”. Trong môi trường hội nhập, sự trao đổi, hợp tác, đối thoại trên lĩnh vực quốc tế về nhân quyền là rất quan trọng, vì có thể bổ sung thêm cơ chế, kinh nghiệm trong việc bảo đảm quyền con người, tuy nhiên, theo các quy định pháp lý, nó chỉ nhằm bổ sung chứ không thể thay thế các cơ chế về bảo đảm quyền con người đang vận hành tại các quốc gia. Vậy thì mấy tổ chức nhân danh nhân quyền kia lấy tư cách gì để đòi tước tư cách một quốc gia có chủ quyền như Việt Nam? Họ chẳng có tư cách gì! Sự thật không như họ nói Cùng với việc bác bỏ nội dung sai sự thật, không khách quan với định kiến xấu mà một số tổ chức nhân danh nhân quyền quốc tế đã đưa ra về tình hình Việt Nam, ngày 22-9, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, về việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Thị Thu Hằng nhấn mạnh, những nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực bảo đảm quyền con người trong thời gian vừa qua đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chúng ta hãy kiểm chứng lời của người phát ngôn: Trước tiên, xin được dẫn đánh giá của bà Caitlin Wiesen, Trưởng đại diện thường trú UNDP tại Việt Nam qua Báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2020: “Với chủ trương phát triển lấy con người làm trung tâm, ưu tiên phát triển con người và thúc đẩy bình đẳng trong các chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội của đất nước, Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao. Đây là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn, nhanh hơn trong giai đoạn tới”. Từ nhiều năm nay, LHQ luôn lấy Việt Nam là một điểm sáng về phát triển con người, nhất là trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ về xóa đói, giảm nghèo, về công bằng và tiến bộ xã hội. Việt Nam nằm trong số những quốc gia đạt tốc độ giảm đói nghèo nhanh nhất thế giới. Năm 2006, Việt Nam đã tuyên bố hoàn thành "Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) về xóa nghèo", về đích trước gần 10 năm so với thời hạn. Cũng theo bà Caitlin Wiesen, quốc tế nhìn nhận rất tích cực những thành quả Việt Nam đạt được trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo trong vài thập kỷ vừa qua. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định chính sách nhất quán của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển”(1). Chính sách phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam là công bằng, hướng tới mọi đối tượng, không chỉ chú trọng phát triển kinh tế ở thành thị, mà luôn dành nguồn lực lớn, sự quan tâm sâu sắc tới xây dựng nông thôn mới, chăm lo đời sống người nông dân. Qua từng năm, hầu hết các chỉ tiêu về phát triển văn hóa, xã hội đều thay đổi nhanh chóng. Một điểm đặc biệt của Việt Nam được quốc tế đánh giá rất cao, đó là đất nước rất chú trọng đến Chỉ số phát triển con người (HDI), dù kinh tế chưa đạt được như các nước tiên tiến. Báo cáo hằng năm của UNDP cho thấy, Việt Nam nằm trong nhóm các nước có tốc độ tăng HDI cao nhất thế giới. Nếu năm 1990, HDI của Việt Nam chỉ đạt mức thấp là 0,48 thì đến năm 2021, HDI của Việt Nam được UNDP công bố là 0,703, xếp thứ 115 trong số 191 quốc gia và vùng lãnh thổ. Cùng với quan tâm phát triển con người, quyền của các nhóm yếu thế như phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật... có những bước tiến rõ rệt. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua; được LHQ đánh giá là điểm sáng về thực hiện bình đẳng giới trong thực hiện các mục tiêu Thiên niên kỷ. Phát biểu tại phiên họp cấp cao Khóa họp thường kỳ lần thứ 46 Hội đồng Nhân quyền LHQ ngày 22-2-2021, Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh (nay là Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ) khẳng định: "Là một thành viên tích cực của LHQ cũng như cộng đồng quốc tế, Việt Nam khẳng định thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế về quyền con người, và luôn nỗ lực thúc đẩy phát triển quyền con người cả ở trong nước cũng như trên thế giới". Một quốc gia có trách nhiệm giữa nói và làm Cũng tại buổi họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao ngày 22-9 vừa qua, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam khẳng định: "Chính sách nhất quán của Việt Nam là bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người. Điều này đã được quy định cụ thể trong Hiến pháp 2013 và nhiều văn bản pháp luật khác có liên quan". Quyền con người ở Việt Nam đã được thể hiện toàn diện, đầy đủ trong hiến pháp-đạo luật nền tảng của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Từ bản Hiến pháp đầu tiên năm 1946 đến Hiến pháp 2013, đã quy định rất rõ các quyền dân sự, chính trị; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Đặc biệt, Hiến pháp 2013 đã dành riêng một chương gồm 36 điều chế định và hiến định rõ ràng các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đây là bản hiến pháp được quốc tế đánh giá là đỉnh cao trong hoạt động lập hiến bảo vệ quyền con người, quyền công dân, nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam và với chuẩn mực quốc tế về quyền con người. Đơn cử như Điều 24 Hiến pháp 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Cùng với hiến pháp và các bộ luật, đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người, như: Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ; Công ước về quyền trẻ em; Công ước về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người; Công ước về quyền của người khuyết tật... Dù là quốc gia phải chịu nhiều đau thương, mất mát do chiến tranh tàn phá, nhưng đến nay, chúng ta có quyền tự hào, tự tin khi Nhà nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật khá toàn diện, trong đó lấy con người làm trung tâm. Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là phù hợp với thực tiễn. Việt Nam không những đã có nhiều đóng góp tích cực mà còn có kinh nghiệm khi phấn đấu cho quyền con người. Trước đó, năm 2013, Việt Nam lần đầu tiên trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2014-2016 với số phiếu 184/192, cao nhất trong số các nước thành viên mới. Khi đó, những sáng kiến của Việt Nam trong nhiệm kỳ 2014-2016 được quốc tế đánh giá cao, tiêu biểu như việc Việt Nam phối hợp cùng các quốc gia khác đưa ra: Vấn đề về bảo đảm quyền lao động của người khuyết tật; về bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động trên biển; Nghị quyết về tác động của biến đổi khí hậu với quyền trẻ em; về nâng cao giáo dục trong phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em gái... Việc Việt Nam tiếp tục ứng cử là thành viên của Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 là hoàn toàn xứng đáng. ASEAN cũng đã chính thức công nhận Việt Nam là ứng cử viên duy nhất của khối. Đó là minh chứng xác đáng cho những thành tựu và nỗ lực không ngừng của Việt Nam cho một cuộc sống tươi đẹp trên hành tinh xanh. Việt Nam ứng cử làm thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 cùng nhiều cam kết, ưu tiên với thông điệp “Tôn trọng và Hiểu biết-Đối thoại và Hợp tác-Tất cả các quyền con người cho tất cả mọi người”. Việt Nam cũng đã được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) ủng hộ là ứng cử viên duy nhất của hiệp hội cho nhiệm kỳ này. TRÍ TUỆ TỎA SÁNG

Tự phê bình và phê bình phải làm thường xuyên, liên tục, nghiêm túc ở từng đảng viên hiện nay

Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc, là quy luật phát triển của Đảng, là phương pháp để giáo dục, rèn luyện đảng viên, là vũ khí sắc bén để chống tả khuynh và hữu khuynh; uốn nắn những lệch lạc trong nhận thức; ngăn chặn suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; khắc phục tư tưởng ngại khó, ngại khổ; tư tưởng chủ quan, nóng vội, duy ý chí… nhằm mục đích để xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, tăng cường đoàn kết, thống nhất từ trong tư duy, nhận thức, lý tưởng đến hành động cách mạng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tự phê bình là cá nhân, (cơ quan hoặc đoàn thể) thật thà nhận khuyết điểm của mình để sửa chữa, để người khác giúp mình sửa chữa, mà cũng để người khác biết mà tránh những khuyết điểm mình đã phạm. Phê bình là thấy ai (cá nhân, cơ quan, đoàn thể) có khuyết điểm thì thành khẩn nói cho họ biết để họ sửa chữa, để họ tiến bộ”. Người thường nhắc nhở cán bộ, đảng viên thực hiện tự phê bình và phê bình “như rửa mặt hàng ngày”, mỗi tổ chức đảng coi tự phê bình và phê bình là công việc thường xuyên. Nêu cao tính tự giác, tính chiến đấu, tính nêu gương, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, làm rõ những ưu, khuyết điểm, nguyên nhân, đề xuất những biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm...được như thế thì trong đảng sẽ không có bệnh mà “Đảng sẽ mạnh khỏe vô cùng”. Tự phê bình và phê bình phải làm thường xuyên, liên tục, nghiêm túc ở từng đảng viên. Toàn thể đảng viên cần nêu cao tính tự giác, tính chiến đấu, tính nêu gương, chân thành, thẳng thắn, khách quan, trung thực, phải chú ý làm rõ cả ưu điểm và khuyết điểm, phải kết hợp chặt chẽ cả hai mặt tự phê bình và phê bình để mỗi cán bộ, đảng viên đều có thể rút kinh nghiệm cho chính mình, khắc phục những khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình là để học cái hay, tránh cái dở, chứ không phải để nói xấu nhau, tìm ra điểm yếu của nhau để chê bôi. Phê bình và tự phê bình là để cho tính dân chủ trong Đảng tốt hơn, kỷ luật cao hơn, cán bộ, đảng viên gương mẫu, có tinh thần trách nhiệm hơn, làm cho mỗi tổ chức mạnh hơn, lãnh đạo tốt hơn. Tuy nhiên, để tự phê bình và phê bình có kết quả, đúng mục đích, có ý nghĩa đối với từng đảng viên thì tự phê bình và phê bình phải được thực hiện đúng phương pháp, nghiêm túc, không nể nang, không “dĩ hòa vi quý”, không thêm cũng không bớt và phải căn cứ vào sự việc có thật để nhận xét, đánh giá và phân tích, vạch rõ cả ưu điểm và khuyết điểm, mềm dẻo, khéo léo để đảng viên có khuyết điểm nhận ra khuyết điểm của mình, có thái độ đúng đắn để tiếp thu các ý kiến phê bình, định hướng đúng đắn cách sửa chữa khuyết điểm. Tự phê bình và phê bình phải xuất phát từ động cơ đúng đắn, mang tính chất xây dựng, có tình đồng chí giúp đỡ lẫn nhau; phải công khai trực tiếp. Mỗi đảng viên cần tự biết tự phê bình mình trước, rèn luyện phê bình mình trước rồi phê bình người khác sau; đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo cần gương mẫu tự phê bình trước, toàn thể đảng viên đều phải thực hiện tự phê bình và phê bình. Mỗi đảng viên tự đặt ra phương pháp để kết hợp chặt chẽ phê bình và tự phê bình với sửa chữa khuyết điểm. Làm tốt những điều này thì chất lượng tự phê bình và phê bình sẽ nâng lên. Khi thực hành tự phê bình và phê bình phải dân chủ, có dân chủ mới mong trong Đảng có nhiều sáng kiến, mới tập trung được trí tuệ. Mất dân chủ, khiến cho các đảng viên và cán bộ dù có ý kiến cũng không dám nói, dù muốn phê bình cũng sợ, không dám phê bình. Lợi dụng phê bình để tranh cãi, gây mất đoàn kết hoặc khuyết điểm chưa rõ thì tìm cách che dấu…Những biểu hiện như vậy là không đúng, trái với quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tự phê bình và phê bình, như thế làm cho tính chiến đấu, dân chủ giảm sút, năng lực lãnh đạo, chất lượng sinh hoạt đảng của chi bộ không thiết thực, những khuyết điểm của tổ chức đảng chậm được phát hiện. Thực tiễn cho thấy đại đa số tổ chức cơ sở Đảng làm tốt công tác tự phê bình và phê bình, tuy nhiên ở một số tổ chức cơ sở Đảng vẫn còn hiện tượng thực hiện công tác quan trọng này theo kiểu "dĩ hòa vi quý", qua loa, đại khái, thiếu thực chất. Bằng chứng là việc tổ chức tự phê bình và phê bình trong đánh giá tổ chức Đảng, đảng viên hằng năm hầu hết có kết quả tốt. Số đảng viên hoàn thành hoặc không hoàn thành nhiệm vụ chiếm tỷ lệ rất nhỏ hoặc không có. Khi những vụ việc tiêu cực bị đưa ra ánh sáng, rất nhiều đảng viên bị xử lý kỷ luật, đã cho thấy thực chất hiệu quả chưa cao trong công tác phê bình và tự phê bình ở một số tổ chức Đảng. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng; nguyên tắc tự phê bình và phê bình thực hiện hiệu quả thấp; Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng khẳng định: “tính chiến đấu trong tự phê bình và phê bình còn yếu”. “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao” Trong điều kiện hiện nay, để công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng đáp ứng yêu cầu đề ra, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải tích cực thực hiện đồng bộ có hiệu quả các giải pháp về tự phê bình và phê bình; mỗi cán bộ, đảng viên cần có nhận thức hết sức đúng đắn, thấy rõ được trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong hoạt động thực tiễn. Tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng không phải là điều gì quá cao xa, không phải là việc riêng của các cấp ủy đảng, của bí thư cấp ủy, mà phải xác định đó là việc thường ngày gắn với hoạt động thường ngày của mỗi cán bộ, đảng viên trong từng nhiệm vụ và công việc cụ thể. Có như vậy, Đảng ta mới ngày càng trong sạch, vững mạnh, đủ sức và uy tín lãnh đạo đất nước và nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.