Đại
đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt
- Đoàn kết không phải là sách lược, không chỉ diễn ra trong một giai đoạn cách mạng mà còn diễn ra lâu dài trong cả cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng XHCN.
Đại
đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng Việt
- Đoàn kết không phải là sách lược, không chỉ diễn ra trong một giai đoạn cách mạng mà còn diễn ra lâu dài trong cả cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và trong cách mạng XHCN.
Theo Hồ Chí Minh: Đoàn kết là sự liên kết chặt chẽ của số đông người có chung mục đích lý tưởng, lợi ích hợp thành chữ ĐỒNG để tạo ra một sức mạnh tổng hợp cả về vật chất và tinh thần, đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu lý tưởng, được thể hiện ở 4 chữ: ĐÔNG - ĐÍCH - KẾT - ĐỒNG.
Thể chế cần phải đi trước một bước khi có thể. Chính phủ kiến tạo thể chế, chính sách nhằm sẵn sàng chấp nhận và thử nghiệm cái mới một cách có kiểm soát; hình thành văn hóa chấp nhận và thử nghiệm cái mới; làm điểm, làm nhanh, sau đó đánh giá và nhân rộng; thúc đẩy phát triển công nghiệp sáng tạo. Chính phủ đẩy nhanh tiến trình phát triển Chính phủ điện tử, hướng tới Chính phủ số.
Doanh nghiệp
công nghệ số Việt Nam là lực lượng chủ lực phát triển các hạ tầng, nền tảng,
dịch vụ, tư vấn, cung cấp giải pháp chuyển đổi số; đi từ ứng dụng, đến sản phẩm, dịch vụ, đến làm chủ một số công nghệ lõi,
từ đó, vươn ra thị trường toàn cầu.
Dịch
vụ du lịch số
Du lịch 4.0 (Tourism 4.0) là phát triển du lịch một cách thông minh với sự hỗ trợ của công nghệ số, để tạo ra và cung cấp các dịch vụ thuận tiện nhất cho khách du lịch và làm du khách hài lòng như: Cá nhân hóa - yêu cầu quan trọng của chuyển đổi số ngành du lịch; ảnh hưởng của thiết bị di động; tích hợp AI, IoT, Chatbots; thực tế ảo.
Dịch vụ tài chính số
Tài chính số là ứng dụng kết nối các hoạt động liên
quan đến ngân hàng, đòn bẩy hoặc nợ, tín dụng, thị trường vốn, tiền và đầu tư.
Về cơ bản, dịch vụ tài chính số tập trung vào các vấn
đề: Mở rộng quy mô; thanh toán điện tử; sinh trắc học; tự động hóa; phân tích dữ
liệu; trí tuệ nhân tạo.
Dịch vụ y tế số
Dịch
vụ y tế số trong ngành y tế giúp đổi mới trong các thiết bị y tế, khả năng kết
nối của chúng cũng như cải thiện chẩn đoán và cải tiến dược phẩm; gia tăng của
dịch vụ chăm sóc sức khỏe theo yêu cầu; phát triển của thiết bị y tế di động;
quản lý hồ sơ sức khỏe điện tử tốt hơn.
Nhờ
công nghệ, bệnh nhân được điều trị tốt hơn với các công cụ thực tế ảo, thiết bị
y tế có thể đeo được, telehealth và công nghệ di động 5G. Mặt khác, các bác sĩ
có thể hợp lý hóa quy trình làm việc của họ bằng cách sử dụng các hệ thống hỗ
trợ trí tuệ nhân tạo.
Dịch vụ nội dung thông tin số là dịch vụ được cung cấp trên môi trường mạng hoạt động trực tiếp hỗ trợ, phục vụ sản xuất, khai thác, phát hành, nâng cấp, bảo hành, bảo trì sản phẩm nội dung thông tin số và các hoạt động tương tự khác liên quan đến nội dung thông tin số như:
Dịch
vụ phân phối, phát hành sản phẩm nội dung thông tin số;
Dịch
vụ nhập, cập nhật, tìm kiếm, lưu trữ và xử lý dữ liệu số;
Dịch
vụ quản trị, duy trì, bảo dưỡng, bảo hành các sản phẩm nội dung thông tin số;
Dịch
vụ chỉnh sửa, bổ sung tính năng, bản địa hóa các sản phẩm nội dung thông tin số;
Dịch
vụ đào tạo từ xa; dịch vụ khám, chữa bệnh từ xa; dich vụ truyền thông được cung
cấp trên môi trường mang;
Các
dịch vụ nội dung thông tin số khác.
Công nghiệp số là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được “chế tạo, chế biến, chế tác, chế phẩm” bằng công nghệ số.
Trong
sản xuất công nghiệp, các công việc lặp đi lặp lại, vất vả và phức tạp được
thực hiện bởi robot làm việc cùng với các công nhân vận hành tại công xưởng.
Các công nhân vận hành cũng tốn ít thời gian chờ đợi hàng hóa hoặc quy trình xử
lý hoặc điền vào tài liệu hàng ngày, bởi lẽ hệ thống thông tin giúp tối ưu hóa
dòng chảy vật liệu và theo dõi các KPIs. Phân tích theo thời gian thực
(real-time analytics) và điều khiển quy trình tiên tiến cho phép nhận diện các
lỗi và sai sót chất lượng ngay lập tức, giảm thiểu phế liệu và việc tiến hành
lại. Đồng thời hệ thống tồn kho tự động, chẳng hạn hộp kết nối không dây có máy
ảnh tự động sắp xếp lại khi mức độ đầy hàng (fill level) của chúng giảm xuống
dưới một mức nhất định, đảm bảo rằng tồn kho luôn chính xác, hàng hóa có thể dễ
dàng xác định vị trí và lượng tồn kho an toàn nằm ở mức đủ chứ không quá cao.
Về
phía khách hàng, kỹ thuật số có khả năng thay đổi sâu sắc cách mà các công ty
công nghiệp tương tác với khách hàng và phục vụ họ. Thương mại điện tử và các cửa
hàng online cho phép các công ty sản xuất công nghiệp dễ dàng tiếp cận lượng
khách hàng ổn định để giải quyết đầu ra cho sản xuất công nghiệp.
Về
phía nhà cung cấp nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, nếu trước đó phải dựa
vào phân tích chủ quan để hoạch định giá cả, khi ứng dụng công nghệ số họ có thể
sử dụng các công cụ dữ liệu nhanh hơn để tối ưu hóa giá cả.
Các
giám đốc kinh doanh có thể đưa ra quyết định phân bổ nguồn lực thông minh dựa
trên đầu vào cho sản kịp thời từ nhân viên bán hàng, dữ liệu về năng suất làm
việc của mỗi cá nhân, và các khuyến nghị tự động từ các công cụ. Nhân viên bán
hàng khi đưa ra khuyến nghị không phải dựa vào linh cảm về những nhu cầu mà khách
hàng của họ muốn, mà thay vào đó, tận dụng những phân tích sâu sắc (insights) về
sản phẩm và khách hàng mục tiêu và những mô phỏng minh họa cho khách hàng trong
suốt quá trình tư vấn sản phẩm. Khả năng thu hút khách hàng mới, nâng cao cross
- selling, và giảm rò rỉ có thể giúp tăng doanh thu từ 5 đến 15%, trong khi sự
hài lòng của khách hàng có thể đạt được từ 20 đến 30%.
Nông nghiệp số hay nông nghiệp thông minh là nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao (cơ giới hóa, tự động hóa,...); công nghệ sản xuất, bảo vệ sản phẩm an toàn (hữu cơ, theo GAP…); công nghệ quản lý, nhận diện sản phẩm theo chuỗi giá trị gắn với hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Đặc trưng cơ bản của nông nghiệp số:
Thứ nhất, số hóa và hiện
thực hóa các hoạt động sản xuất kinh doanh từ nông trại, vận chuyển, chế biến,
marketing đến người tiêu dùng thông qua hệ thống kết nối internet vạn vật.
Thứ hai, kết hợp hữu cơ
giữa công nghệ vật lý, công nghệ sinh học và công nghệ điều hành trong tổ chức
nông trai, các phân xưởng, cơ sở hạ tầng, tạo giống, các tác nghiệp.
Thứ ba, tự động hoá và
thông minh hóa các hệ thống điều hành giữa thế giới thực với thế giới ảo các
hoạt động liên kết theo chiều ngang và theo chiều dọc trong chuỗi giá trị thực
phẩm nông sản từ nông trại đến bàn ăn.
Thứ tư, đảm bảo cho chuỗi
giá trị thực phẩm nông sản diễn ra liên tục, hiệu quả và bền vững.
Thứ năm, đổi mới và sáng
tạo là động lực chủ yếu của tăng trưởng nông nghiệp. Trong bối cảnh toàn cầu
hóa và kinh tế số, vòng đời của sản phẩm
cùng loại ngày càng ngắn, ngày càng nhiều sản phẩm và dịch vụ bị thay thế. Vì
thế, đổi mới và sáng tạo thông qua phát triển kinh tế số sẽ là động lực cho
tăng trưởng của các ngành, trong đó có nông nghiệp.
Cấu thành của nông nghiệp số:
Cách
mạng công nghiệp 4.0 có trọng tâm là nền công nghiệp 4.0 với sự phát triển và kết hợp không ranh giới của Công nghệ vật lý (Physical Technologies-PT), Công
nghệ sinh học (Biological Technologies-BT) và Công nghệ vận hành (operational
technologies-OT). Là ngành kinh tế chịu sự tác động của cuộc cách mạng này, nền
nông nghiệp số bao gồm bốn bộ phận hữu cơ.
Thứ nhất, công nghiệp 4.0
trong nông nghiệp
Công nghệ rô bốt tự động (Autonomous robots): Công nghệ rô bốt thực hiện các khâu và quá trình
canh tác tự động như gieo trồng, chăm sóc, vắt sữa, phối trộn thức ăn, chế
biến, nông sản... đã được phát triển vượt bậc, có khả năng tương tác hữu hiệu
với nhau, làm việc trực tiếp hiệu quả với con người và sẽ được ứng dụng rộng
rãi trong các nông trại, cơ sở chế biến, các phân xưởng sản xuất kinh doanh, thực
hiện các tác nghiệp chuẩn xác và hiệu quả.
Mô phỏng: Công nghệ mô
phỏng có thể giúp xây dựng, thử nghiệm các quyết định, các thiết kế dựa trên
nền tảng số liệu thực và một thế giới thực trong các mô hình ảo, được dùng phổ
biến để dự tính, dự báo thị trường, sự biến đổi khí hậu, thời tiết, tính toán
các phương án sản xuất, chế tạo, chọn lọc và tạo giống cây trồng và vật nuôi
trong thế giới ảo trước khi có sự thay đổi thực diễn ra, do đó, hạn chế rủi ro,
tăng được hiệu xuất, năng suất và chất lượng.
Kết hợp các hệ thống ngang và hệ thống dọc: Với phát triển cao của trí thông minh nhân tạo, các nông trại, doanh nghiệp, cơ quan quản
lý nhà nước sẽ liên kết với nhau chặt chẽ theo chiều đứng và chiều ngang để tối
ưu hóa quá trình ra quyết định, quản lý và điều hành, tăng hiệu lực và hiệu quả
của chuỗi giá trị trong nông nghiệp vì có sự liên kết ngang trong nội bộ của
từng nhóm tác nhân và giữa các tác nhân trong chuỗi giá trị với nhau.
Internet vạn vật: Sự phát triển cao của IT đã
cho phép nhiều thiết bị chuyên dùng, di động kết nối và giao tiếp hiệu quả với
nhau, dưới sự điều hành của trung tâm điều khiển một cách tập trung, giúp phi
tập trung hóa sự phân tích và ra các quyết định kịp thời, tăng hiệu lực, hiệu
suất trong sản xuất - kinh doanh nông nghiệp.
Đám mây điện toán: Công nghệ này đã được phát
triển để lưu giữ, chia sẻ nhanh và hữu hiệu thông tin về khách hàng, thị
trường, sản xuất - kinh doanh giữa các bộ phận trong một doanh nghiệp, giữa các
doanh nghiệp trong cùng một địa bàn (tỉnh, vùng, quốc gia, các châu lục), tiết
kiệm được chi phí lưu giữ và chia sẻ dữ liệu.
Chế tạo tích lũy: Các công nghệ chế tạo tích lũy
mà đặc biệt là công nghệ in 3D được dùng để tạo nguyên mẫu và tạo ra từng bộ
phận cấu thành của sản phẩm sẽ được sử dụng rộng rãi trong thiết kế các máy
móc, nông cụ, nhà xưởng và mô phỏng các quá trình sinh học để chọn tạo giống
cây trồng và vật nuôi một cách hiệu quả.
Thực tế ảo: Các hệ thống
dựa trên thực tế ảo sẽ hỗ trợ lựa chọn vật tư, thiết bị, hàng hóa và gửi hướng
dẫn sử dụng, bảo trì, sửa chữa thông qua các thiết bị di động và giúp cải thiện
việc ra các quyết định, quy trình làm việc, khuyến nông và chuyển giao công
nghệ nông nghiệp không bị giới hạn bởi không gian, thời gian và quy mô.
Cơ sở dữ liệu và phân tích quy mô lớn: Trong bối cảnh phát triển nông nghiệp hiện nay,
việc thu thập, phân tích kỹ càng các số liệu như thiên tai, thời tiết, thị
trường, khách hàng, công nghệ… từ rất nhiều nguồn khác nhau, trên các quy mô
khác nhau (phân xưởng, nông trại, tập đoàn, tỉnh, vùng, quốc gia, châu lục,
toàn cầu...) sẽ là khả thi.
Siêu an ninh mạng: Với
sự kết nối ngày càng tăng thì nhu cầu bảo vệ và bảo mật các hệ thống công -
nông nghiệp, chuỗi giá trị từ sản xuất đến bàn ăn ngày càng tăng. Do vậy,
đảm bảo an ninh, phát triển các giao diện tin cậy và nhận diện nhanh chóng các
lỗ hổng trong bảo mật các quá trình sản xuất - kinh doanh ngày càng trở nên cấp
thiết.
Thứ hai, công nghệ vật lý trong nông nghiệp
Trong nền nông nghiệp số,
các công nghệ vật lý như công nghệ nano, công nghệ cảm biến và các vật liệu mới
đã có sự phát triển vượt bậc. Công nghệ nano đã có sự
đột phá trong thiết kế, phân tích, chế tạo và ứng dụng các cấu trúc, thiết bị
và hệ thống bằng việc điều khiển hình dáng, kích thước trên quy mô nanomet
(1nm=10-9m), làm tăng tỉ trọng gói (Packing density). Công nghệ này
có nhiều tiềm năng chế tạo những sản phẩm và
vật liệu mới để tạo ra các máy móc, thiết bị, nông cụ, vật liệu làm nhà xưởng, nông trại phục vụ cho quá trình canh tác và chế biến
với sức bền cao, chịu đựng trong mọi hoàn cảnh bất lợi, tăng hiệu dụng và thân
thiện hơn với môi trường. Công nghệ cảm biến
(Sensor technology) đã có bước đột phá quan trọng về âm thanh, nhiệt, hình ảnh,
ánh sáng và thời gian và được ứng dụng trong lĩnh vực internet vạn vật, chế
tạo, điều khiển và tự động hóa các quá trình sản xuất - kinh doanh và
quản lý ở phạm vi một nông trại, vùng, quốc gia và toàn cầu, giúp tự động quan
trắc, cảnh báo và xử lý kịp
thời, chính xác các diễn biến về môi trường, từng cá thể trên đồng ruộng hay
trại nuôi và toàn vùng. Tế bào quang điện (Solar
cells) được phát triển sử dụng pin mặt trời, giúp điều hành quá trình quản lý
sinh vật được chính xác và hiệu quả.
Thứ ba, công nghệ sinh học trong nông nghiệp
Trong nông nghiệp số,
công nghệ sinh học như các công nghệ gen, công nghệ tế bào, công nghệ phân tử…
đã có bước phát triển vượt bậc. Sự ra
đời công nghệ “chỉnh sửa gen” để có thể thêm hay bớt axit Deoribonucleic (DNA)
tại các vị trí chính xác trong bộ gen để tạo ra giống cây trồng có đặc tính
trông đợi như màu sắc, hình dáng quả, chất lượng và khả năng kháng lại dịch
hại.
Thứ tư, nhóm công nghệ điều hành trong nông nghiệp
Các công nghệ điều
hành như phân tích và ra quyết định kinh doanh, lập kế hoạch, quản trị tác
nghiệp, điều hành và giám sát một quá trình sản xuất ra một sản phẩm, vận hành
một nông trại và cả hệ thống các nông trại, các phân xưởng, các chuỗi giá trị
nông sản đã được thay đổi về chất. Quy trình quản lý một chuỗi giá trị cả theo
chiều ngang và chiều dọc đã và đang được chuyển đổi từ công nghệ quản lý truyền
thống sang công nghệ điều hành và quản trị số gắn kết các hệ thống số với hệ
thống thực, giữa các hệ thống sản xuất - kinh doanh thực và hệ thống ảo trên
nền tảng của IOT. Công nghệ điều hành là “bà đỡ” cho sự phát huy hiệu quả của
công nghệ vật lý, công nghệ sinh học trên nền tảng của CN4.0. Hệ thống nông nghiệp thông minh đã được phát triển
để tự động tính toán nhu cầu, nước, dinh dưỡng của cây trồng và vật nuôi và các
yếu tố cần thiết khác, giúp ra các quyết đỉnh kỉp thời và hiệu quả.
Kinh tế số lõi là khả năng phát triển mạnh mẽ phần cứng và phần mềm số để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế số ngay trong nước. Đây là lĩnh vực mới nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển của nền kinh tế khi phát triển kinh tế số.
Để
kinh tế số phát triển mạnh cần phát triển kinh tế số lõi, đó là khả năng phát
triển mạnh mẽ phần cứng và phần mềm số để đáp ứng nhu cầu: phát triển kinh tế số
ngay trong nước. Đó là phải có khả năng cung cấp tương đối tốt cho Chính phủ,
các doanh nghiệp và nhân dân công nghệ số để nhanh chóng ứng dụng vào thực tiễn
quản lý, quản trị và sản xuất kinh doanh... Hơn nữa, cần đẩy mạnh phát triển phần
mềm để cung cấp đáp ứng yêu cầu ngày một cao của phát triển kinh tế số.
Bên
cạnh việc sản xuất phần cứng và phần mềm cung cấp cho thị trường trong nước thì
cũng phát triển phần cứng và phần mềm để cung cấp cho thị trường bên ngoài. Đây
là khả năng có thể đem lại nguồn thu lớn cho các nền kinh tế, cùng như làm cho
nền kinh tế có thể tự chủ được để phát triển kinh tế số.
Đặc trưng của phát triển kinh tế số được tập hợp trong 3 quá trình xử lý chính đan xen với nhau, bao gồm: xử lý vật liệu; xử lý năng lượng; xử lý thông tin.
Trong đó, việc xử lý thông tin đóng
vai trò quan trọng nhất và cũng là lĩnh vực dễ số hóa nhất. Tính kết nối giữa
các chủ thể và chu trình kinh tế nhờ vào các thành tựu của công nghệ thông tin
và Internet giúp kết nối hóa các nguồn lực, lược bỏ nhiều khâu trung gian và
tăng cơ hội tiếp cận chuỗi giá trị toàn cầu. Có thể dựa trên khả năng kết nối
thông qua các thiết bị di động và khả năng tiếp cận với cơ sở dữ liệu lớn,
những tính năng xử lý thông tin sẽ được nhân lên bởi những đột phá công nghệ
trên nhiều lĩnh vực.
Một là, phát triển kinh tế dịch vụ
Theo nghĩa rộng, mọi nền kinh tế đều
là kinh tế dịch vụ (dịch vụ là nền tảng của trao đổi mà không phải là hàng hóa).
Khu vực dịch vụ có tỷ trọng lớn nhất trong toàn bộ nền kinh tế, vì vậy, kinh tế
dịch vụ được coi như một khung lĩnh vực của kinh tế số.
Theo nghĩa hẹp, thành phần kinh tế
dịch vụ trong kinh tế số bao gồm tính toán đám mây (cloud computing) và họ “X
là một dịch vụ” (“X as a service”: “XaaS”) chẳng hạn, Hạ tầng là một dịch vụ
(Infrastructure as a Service: IaaS), Nền tảng là một dịch vụ (Platform as a
Service: PaaS), Phần mềm là một dịch vụ (Software as a Service: SaaS), Thông
tin là một dịch vụ (Information as a Service: INaaS), Quy trình là một dịch vụ
(Business Process as a Service: BPaaS), Trí tuệ nhân tạo (TTNT) là một dịch vụ
(AI as a Service: AIaaS),…
Hai là, phát triển kinh tế đuôi dài
Kinh tế “Đuôi dài” là hình ảnh minh
họa sự kéo dài của rất nhiều sản phẩm hạng thấp được bán cho người tiêu dùng
tạo nên một doanh thu đáng kể trong kinh tế đuôi dài. Sản phẩm điển hình trong
kinh tế đuôi dài là sách, ca khúc (âm nhạc),… được số hóa. Lợi thế của số hóa
là cung cấp các kho lưu trữ có dung lượng “vô hạn” và cơ chế tự phục vụ tạo
nên tập các thị trường (được gọi là kinh tế đuôi dài) trong đó các sản
phẩm “hạng” thấp tìm được nhiều người tiêu dùng sử dụng.
Ba là, phát triển kinh tế dữ liệu
Dữ liệu được đánh giá là “dầu mỏ của
tương lai”, có vai trò nhiên liệu thô cho nền kinh tế ở thế kỷ 21 giống như dầu
mỏ trong thế kỷ 20, và kết quả là, nền kinh tế dữ liệu đã hình thành và ngày
càng phát triển rất nhanh chóng.
Bốn là, phát triển kinh tế thịnh
vượng
Kinh tế thịnh vượng là “nền kinh tế
mà vai trò nhà cung cấp và người tiêu dùng trở nên mờ nhạt để tiến tới hợp nhất
(người tiêu dùng bền vững: prosumer)”, “kinh tế tuần hoàn vĩ mô có tác
động xã hội và sinh thái tiêu cực hoặc tích cực tối thiểu, một hệ sinh thái của
nhà sản xuất và nhà tiêu dùng bền vững có quan hệ hiệp đồng và tuần hoàn với
các chuỗi/mạng cung cấp sâu rộng mà sự rò rỉ của cải ra khỏi hệ thống là cực
tiểu”. Đặc trưng điển hình của kinh tế thịnh vượng là kết nối mật thiết nhà
cung cấp - người tiêu dùng để triệt tiêu lãng phí và tiết kiệm tài nguyên thiên
nhiên.
Phát triển kinh tế chia sẻ là hình thức kinh tế cho phép và tạo điều kiện chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa và dịch vụ.
Kinh tế chia sẻ đề cập đến một mô
hình thị trường cho phép và tạo điều kiện chia sẻ quyền truy cập vào hàng hóa
và dịch vụ. Không giống cách thiết lập chuỗi cung ứng cổ điển (một công ty đưa
ra các quyết định về hàng tồn kho và cung ứng), trong kinh tế chia sẻ, nguồn
cung là cộng đồng và có thể được điều chỉnh bởi một nền tảng. Quá trình kết hợp
cung - cầu với nhu cầu trong kinh tế chia sẻ đòi hỏi những phối cảnh và công cụ
mới để giải quyết các thách thức và xác định các cơ hội.
Phát triển kinh tế chia sẻ là phát
triển thị trường cung cấp giá trị từ việc tiếp nhận tài sản chưa được sử dụng
đúng mức, làm cho tài sản được truy nhập trực tuyến để cung cấp tới cộng đồng
nhằm giảm thiểu nhu cầu sở hữu tài sản đó. Năm thành tố trong kinh tế chia sẻ
là tài sản còn nhàn rỗi (thời gian nhàn rỗi của bất cứ thứ gì được
biến thành doanh thu), nền tảng CNTT - Internet (làm cho tài sản truy
cập được), cộng đồng (không chỉ theo quan hệ cung cấp - sử dụng mà
còn tin tưởng lẫn nhau, cộng tác tạo giá trị), giá trị (các bên liên
quan nhận được) và tiện lợi (giảm nhu cầu sở hữu tài sản).
Phát triển kinh tế gắn kết lỏng là hình thức gắn kết các nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng trên cơ sở một gig (hoặc công việc) để hỗ trợ kinh doanh theo yêu cầu.
Phát
triển kinh tế gắn kết lỏng (hoặc kinh tế tạm thời) được chỉ dẫn bằng rất nhiều
tên gọi khác nhau như kinh tế chia sẻ (sharing economy hoặc shaeconomy),
kinh tế tự do (freelance economy), kinh tế cộng tác (collaborating
economy hoặc collaborative consumption), kinh tế ngang hàng (peer
economy), làm việc đám đông (crowdworking), kinh tế truy cập (access economy),
kinh tế theo nhu cầu (on-demand economy), kinh tế 1099 (1099 economy: tên một mẫu
thuế đặc biệt mang số hiệu 1099 - MISC của Mỹ), kinh tế nền tảng (platform
economy),…
Phát triển kinh tế gắn kết lỏng là phát
triển các thị trường gắn kết các nhà cung cấp dịch vụ với người tiêu dùng trên
cơ sở một gig (hoặc công việc) để hỗ trợ kinh doanh theo yêu cầu. Trong mô hình
kinh tế gắn kết lỏng, nhân công gig ký hợp đồng chính thức với công ty theo yêu
cầu để cung cấp dịch vụ tới khách hàng của công ty. Khách hàng tiềm năng yêu
cầu dịch vụ thông qua một nền tảng công nghệ dựa trên Internet hoặc ứng dụng
điện thoại thông minh cho phép họ tìm kiếm nhà cung cấp hoặc chỉ định các công
việc. Các nhà cung cấp (nhân công gig) tham gia công ty theo yêu cầu cung cấp dịch
vụ đặt ra và được hưởng thù lao theo công việc.
Đặc trưng cơ bản của phát triển kinh
tế gắn kết lỏng là các cam kết ngắn hạn giữa người sử dụng lao động, nhân công
và khách hàng.
Tình trạng các hội, nhóm tiêu cực xuất hiện trên không gian mạng có xu hướng ngày càng gia tăng đang nguy cơ gây tác động xấu đối với người sử dụng mạng nói riêng và việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội nói chung. Thực tế này đang đòi hỏi các cơ quan chức năng cần sớm có các biện pháp ngăn chặn hiệu quả, cũng như đặt ra yêu cầu mỗi người dân khi tham gia mạng xã hội phải hết sức tỉnh táo để không trở thành nạn nhân của "thế giới ảo".