Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Một số đề xuất đối với công tác truyền thông chính trị trên mạng xã hội

 Thứ nhất, lựa chọn các kênh mạng xã hội phù hợp

Thực tế, trên internet hiện nay có nhiều mạng xã hội khác nhau, người dùng có thể lựa chọn bất kỳ một mạng xã hội nào phù hợp với nhu cầu, sở thích, hay mục đích của mình. Tuy nhiên, ở góc độ bảo đảm hoạt động truyền thông chính trị được thông suốt và hiệu quả, cần thiết chọn lựa những nền tảng mạng xã hội phổ biến, dễ dùng và có tính bảo mật cao.

Theo báo cáo của We are social, tính đến tháng 2-2022, ở Việt Nam, những mạng xã hội phổ biến là Facebook, Zalo, Messenger, Tik Tok, Instagram. Trong đó, 93,8% người có độ tuổi từ 16 tới 64 đang sử dụng internet ở Việt Nam có sử dụng Facebook, với các nền tảng mạng xã hội phổ biến khác như Zalo hay Messenger, tỷ lệ tương ứng là 91,3% và 82,2%.

Tuy nhiên, nếu như Youtube giữ vị trí số 1 ở bảng xếp hạng năm 2021, thì năm 2022, Tik Tok - nền tảng video ngắn đang nổi lên như một sự thay thế. Người làm truyền thông chính trị cần nắm bắt xu thế để tiếp cận được đông đảo công chúng hơn.

Với lợi thế của sự phổ biến và tính dễ dùng, Facebook và Zalo là những nền tảng mạng xã hội được nhiều cơ quan lựa chọn như kênh giao tiếp, kết nối chủ đạo trong đơn vị của mình. Tuy nhiên, mỗi mạng xã hội lại có lợi thế và phương thức hoạt động khác nhau. Có mạng xã hội thì phổ biến hơn, tuy nhiên lại không được đánh giá cao về tốc độ và lợi thế trong chuyển tải thông tin. Trong khi đó, có mạng xã hội dù bảo đảm tính dễ dùng nhưng lại không được coi trọng ở khâu bảo mật thông tin. Chính vì vậy, cần dựa vào điều kiện, hoàn cảnh, nhu cầu, mục đích của mỗi đơn vị, cơ quan để lựa chọn nền tảng mạng xã hội cho hoạt động kết nối của đơn vị mình một cách phù hợp.

Thứ hai, tăng cường bảo mật thông tin

Về mặt kỹ thuật, cần đẩy mạnh ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ để làm tốt công tác bảo mật đường truyền mạng, bảo mật cổng thông tin, trang thông tin điện tử; tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn thông tin mạng tại cơ quan, đơn vị, tạo dựng các “tường lửa” để phòng, chống hiệu quả tin tặc tấn công, lấy cắp thông tin nội bộ, thông tin thuộc bí mật nhà nước trên mạng máy tính

Bên cạnh đó, cần tập huấn, xây dựng bộ quy tắc ứng xử cho các cán bộ, nhân viên ở các cơ quan có hoạt động truyền thông chính trị. Luật Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2018 không chỉ quy định những vấn đề liên quan đến các chiến lược an ninh chính trị, an ninh quốc gia, cơ yếu, quốc phòng, quân sự, đối ngoại... mà còn quy định những nội dung không được phép để rò rỉ, phát tán, như: thông tin về quy trình chuẩn bị và triển khai, thực hiện công tác tổ chức, cán bộ; đề thi, đáp án thi tuyển chọn lãnh đạo, quản lý và tuyển dụng, nâng ngạch công chức, viên chức; đề thi, đáp án và thông tin liên quan đến việc tổ chức kỳ thi cấp quốc gia(2)...

Thứ ba, xây dựng đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, phụ trách sản xuất nội dung riêng cho mạng xã hội

Kỹ năng sử dụng mạng xã hội như một kênh truyền thông chính trị, tương tác với công chúng là một hoạt động còn khá mới mẻ với nhiều cơ quan. Phương thức hoạt động trên mạng xã hội khác rất nhiều với các phương thức truyền thông, kết nối truyền thống. Do đó, để bảo đảm việc sử dụng mạng xã hội một cách hiệu quả, cần xây dựng và đào tạo đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp, giỏi kỹ năng sử dụng mạng xã hội như một kênh truyền thông chính thức. Nhóm nhân lực sẽ hỗ trợ chọn lựa, xây dựng và duy trì các nền tảng mạng xã hội phù hợp với đơn vị và phù hợp với công chúng của họ.

Cùng với đội ngũ chuyên nghiệp, cần tăng cường các nội dung riêng cho mạng xã hội, thay vì chỉ đăng lại các tin tức trên website hoặc chia sẻ các đường link từ báo chí. Hiện nay, bản thân các cơ quan báo chí cũng đang chuyển dịch từ xu hướng “online first” (ưu tiên các nội dung trên mạng trước) sang “mobile first” (ưu tiên các nội dung cho di động) và “social first” (ưu tiên các nội dung cho mạng xã hội trước). Bởi thực tế mạng xã hội đã chứng minh hiệu quả tiếp cận công chúng so với các loại hình truyền thông khác. Vì vậy, đầu tư nội dung riêng, hình thức phù hợp với công chúng mạng xã hội là việc làm cần thiết.

Để nội dung đó đạt được hiệu quả, cần phải có hình thức thể hiện phù hợp với thị hiếu của công chúng mạng xã hội. Đa phần trong số cư dân mạng sẽ thích tin ngắn, bằng hình ảnh, chứa đựng cảm xúc, không quan tâm nhiều đến những vấn đề lý luận trừu tượng. Vì vậy, truyền thông chính trị trên mạng xã hội nên thông qua những sự kiện, sự việc thời sự, những câu chuyện giản dị người thật việc thật. Đồng thời, tăng cường truyền thông thị giác như hình ảnh, đồ họa, video, video streaming... Đặc biệt hình thức live stream đang được công chúng mạng ở Việt Nam rất ưa thích.

Thứ tư, tăng cường truyền thông qua người nổi tiếng, người có tầm ảnh hưởng (KOLs), định hướng phát ngôn cho các cán bộ, đảng viên và các cá nhân thuộc cơ quan

Những năm gần đây, mạng xã hội ở Việt Nam xuất hiện các KOLs - Key Opinion Leaders - được hiểu là những người có ảnh hưởng lên cộng đồng mạng; nắm giữ các “sức mạnh” truyền thông và trở thành một “thế lực” có thể chi phối, điều hướng dư luận trên không gian mạng... từ đó tạo ra các tác động lớn đối với xã hội. Với số lượng người theo dõi từ vài chục đến vài trăm nghìn người, những KOLs Việt Nam nếu hoạt động tích cực sẽ có tác động rất lớn đến công chúng.

Trên thực tế, các tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan báo chí hầu hết đã có fanpage và thực hiện truyền thông chính trị tại page, nhưng còn ít sử dụng các KOLs trong công tác này. Thậm chí, những năm qua, có rất nhiều KOLs đã lợi dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin sai sự thật, thu hút tài khoản mạng của phần tử xấu, tuyên truyền, kích động gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Vì vậy, cần có các biện pháp quản lý đội ngũ KOLs, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, thông tin sai sự thật; đồng thời tận dụng họ góp sức cho việc lan truyền các thông tin chính thống.

Cần xác định mỗi cán bộ, đảng viên là một chủ thể truyền thông chính trị trên mạng xã hội. Hiện nay, vẫn còn tình trạng một số cán bộ cơ quan nhà nước, hay một số nhà báo nhân danh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, để đăng tải trên mạng xã hội những thông tin chưa được kiểm chứng, những ý kiến cá nhân trái chiều, đi ngược lại với quan điểm trên báo chí chính thống, gây tổn hại tới lợi ích quốc gia. Do đó, mỗi cơ quan cần phải xây dựng quy tắc ứng xử trên mạng xã hội phù hợp với tính chất thông tin của mình. Đồng thời, hướng dẫn cán bộ, đảng viên thực hiện nghiêm quy tắc, có những phát ngôn phù hợp, thúc đẩy sự tham gia tích cực của họ vào công tác truyền thông chính trị.

Thứ năm, “cá nhân hóa” thông tin, tăng cường tương tác với công chúng

“Cá nhân hóa” có thể hiểu là một hình thức tương tác giữa người dùng với hệ thống, sử dụng các tính năng công nghệ để điều chỉnh nội dung, phân phối và sắp xếp thông tin cho phù hợp với sở thích của từng người. Mục tiêu của cá nhân hóa là tương tác với công chúng thực sự như những cá nhân riêng biệt. Như vậy, cùng một thông điệp nhất quán, nhưng nội dung và hình ảnh gửi đến cho công chúng có thể khác nhau...

Thông tin chính trị cần phải được lan truyền rộng khắp, tạo ra nhận thức chung cho toàn dân. Nhưng chắc chắn một cách truyền tải tin giống nhau lại không thể thỏa mãn tất cả đối tượng công chúng ở các độ tuổi, ngành nghề, thị hiếu khác nhau. Giả sử người làm truyền thông lựa chọn theo phong cách phục vụ đối tượng trẻ, thì có thể lại bỏ lỡ mất cơ hội tiếp cận các đối tượng khác. Vì vậy, ứng dụng trí tuệ nhân tạo để “cá nhân hóa” thông tin, gửi tới mỗi người một phiên bản thông tin phù hợp nhu cầu và thị hiếu của họ... giúp tăng cơ hội tiếp cận và truyền tải thông điệp hiệu quả hơn.

Như vậy, việc sử dụng mạng xã hội trong công tác truyền thông chính trị là một hoạt động cần được thúc đẩy vì nó mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả chính quyền và người dân. Tuy nhiên, để bảo đảm sử dụng mạng xã hội hiệu quả, cần phải lựa chọn kênh phù hợp, tăng cường bảo mật thông tin, xây dựng đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, có những bộ quy tắc cụ thể cũng như sử dụng các KOLs trong truyền thông chính trị và nắm bắt xu hướng cá nhân hóa thông tin.

Tác động của mạng xã hội tới hoạt động truyền thông chính trị ở Việt Nam hiện nam

 Xét về mặt tích cực, mạng xã hội là kênh giúp lan truyền, phổ biến rộng rãi các thông tin chính trị, góp phần quan trọng trong việc phổ biến, tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; từ đó củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân vào đường lối lãnh đạo của Đảng.

Nếu như các phương tiện truyền thông truyền thống thường bị giới hạn bởi khả năng lan truyền thông tin, thì mạng xã hội gần như phá bỏ được ranh giới này. Một thông tin chính trị được đăng tải trên mạng xã hội ngay lập tức có thể tiếp cận được hàng triệu công chúng trên khắp thế giới, và công chúng tiếp tục trở thành người lan tỏa thông tin thông qua hoạt động chia sẻ. Cứ như vậy, thông tin chính trị được lan truyền một cách không giới hạn.

Thậm chí với công chúng báo chí hiện nay, nhiều người đã có thói quen đọc báo qua mạng xã hội, bằng cách tiếp nhận những thông tin được đăng tải trên fanpage của các cơ quan báo chí, hoặc click vào những đường link được chia sẻ trên mạng xã hội, thay vì tìm đến trang chủ của các tờ báo. Sự chuyển dịch trong phương thức tiếp nhận thông tin này đặt ra bài toán với những người làm truyền thông. Dường như việc sử dụng mạng xã hội để mở rộng tiếp cận công chúng không chỉ là lựa chọn nữa, mà đã thành một con đường tất yếu.

Trên thực tế, ở Việt Nam những năm qua, việc sử dụng mạng xã hội như một kênh truyền thông chính trị quan trọng đã trở nên phổ biến ở các tổ chức chính trị - xã hội và cơ quan báo chí. Hầu hết các cơ quan công quyền từ Trung ương đến địa phương đều có trang fanpage. Các lãnh đạo và cá nhân thuộc các tổ chức cũng sử dụng mạng xã hội như một kênh thông tin. Tuy vậy, ở cấp độ địa phương, các trang fanpage này chủ yếu chia sẻ đường link từ các báo, hoặc đăng tin hoạt động của tổ chức, chưa có các thông tin tuyên truyền sâu, chưa đầu tư nội dung riêng phù hợp nền tảng mạng xã hội, lượng tương tác và theo dõi cũng còn khá khiêm tốn so với tiềm năng. Do vậy, cơ hội cho các mạng xã hội tham gia vào công tác truyền thông chính trị ở Việt Nam lớn hơn nhiều so với những gì đang diễn ra trên thực tế.

Hiện nay, hầu hết các cơ quan báo chí dùng mạng xã hội như một kênh phát hành, mở rộng và tương tác với công chúng. Nhiều tin tức đăng trên mạng xã hội nhận được lượng tương tác cao. Đặc biệt, nhiều cơ quan báo chí cũng đã nhanh nhạy, bắt kịp xu thế, phát triển trên các nền tảng mạng xã hội mới nổi...

Mạng xã hội cũng là nơi để công chúng có thể trao đổi, thảo luận, bày tỏ quan điểm về các thông tin. Khi thông tin chính trị được thảo luận có định hướng trên phạm vi rộng sẽ dễ tạo được sự đồng thuận của cộng đồng đối với các chính sách.

Mạng xã hội cũng là kênh tương tác hiệu quả với công chúng, giúp thu nhận thông tin phản hồi để nắm bắt và định hướng dư luận xã hội.

Trước đây, khi chưa có sự bùng nổ của các trang mạng xã hội, chủ thể truyền thông rất khó nắm bắt được dư luận của đông đảo công chúng. Ngày nay, nhờ có mạng xã hội, ai cũng có thể trở thành nguồn phát thông tin nên cũng đễ dàng chia sẻ và trao đổi quan điểm, ý kiến cá nhân của mình tới đông đảo mọi người. Hoạt động tương tác giúp tạo ra sự gần gũi giữa công chúng và chủ thể truyền thông, cung cấp dữ liệu khá đầy đủ về đặc điểm nhu cầu, trình độ, sở thích của từng nhóm công chúng, để chủ thể truyền thông có chiến lược thông tin phù hợp. Đồng thời, hoạt động tương tác cũng giúp chủ thể truyền thông nắm bắt dư luận xã hội nhanh chóng, chính xác để có những định hướng kịp thời, đặc biệt trong các sự kiện chính trị quan trọng.

Thông qua việc bày tỏ quan điểm một cách cởi mở, tự do trong khuôn khổ pháp luật, công chúng mạng xã hội cũng dễ dàng thực hiện quyền phản biện. Đặc biệt, khi có dự thảo luật được đưa ra lấy ý kiến dư luận, mạng xã hội giúp thu thập ý kiến nhanh chóng và rộng rãi. Mạng xã hội còn có một tính năng rất có lợi cho chủ thể truyền thông, đó là những câu hỏi điều tra thăm dò ý kiến công chúng. Dạng câu hỏi thăm dò này rất dễ thực hiện mà hiệu quả lại cao, người trả lời câu hỏi chỉ cần một cú click chuột là đã có thể thể hiện được ý kiến của mình về vấn đề được nêu ra. Thông qua kết quả trả lời phiếu câu hỏi, chủ thể truyền thông có thể rút ra được kết luận cho những vấn đề mà mình đang băn khoăn, đồng thời nắm bắt được xu hướng suy nghĩ của công chúng đối với những sự việc diễn ra trong xã hội. Những kết quả thăm dò này cũng có thể là một tư liệu cho những điều chỉnh chính sách.

Bên cạnh đó, trong bối cảnh xuất hiện nhiều thông tin xấu, độc, người làm truyền thông chính trị có thể sử dụng mạng xã hội như một kênh hiệu quả trong việc phản bác các quan điểm sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bằng cách chia sẻ kịp thời những thông tin chính thống, quan điểm, đường lối của Đảng, người làm truyền thông chính trị có thể ngăn chặn tin giả, tin xuyên tạc, và tranh thủ được sự ủng hộ của quần chúng.

Ngoài ra, mạng xã hội còn là phương tiện cổ vũ, tập hợp quần chúng hưởng ứng các sự kiện lớn của đất nước, đặc biệt với nhóm công chúng trẻ.

Nhờ mạng xã hội, nhiều chiến dịch truyền thông đã được lan tỏa và thực hiện thành công. Chiến dịch “Tôi đi bầu cử” năm 2021 của VTV được coi là một nỗ lực “trẻ hóa” sự kiện chính trị để tiếp cận Gen Z (người trẻ) hiệu quả hơn. Chiến dịch tập trung nhắm đến đối tượng cử tri trẻ từ 18 - 34 tuổi và chú trọng vào Gen Z, giúp họ nhận rõ tầm quan trọng của việc bầu cử là hành động của một công dân trưởng thành, có trách nhiệm với Tổ quốc, từ đó thuyết phục họ đi đến một hành động rất tự nhiên và đáng tự hào: Tôi đi bầu cử.

Chiến dịch đạt được 43 triệu lượt xem và tiếp cận trên các nền tảng mạng xã hội của VTV Digital và VTV.

Tuy vậy, mạng xã hội cũng đang có những tác động tiêu cực đến công tác truyền thông chính trị.

Thứ nhất, mạng xã hội đang bị các thế lực thù địch sử dụng như công cụ chủ yếu để tuyên truyền chống phá, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kích động quần chúng, đặc biệt trong các sự kiện, vấn đề nóng.

Thứ hai, với số lượng công chúng lớn, nhiều tài khoản ảo, nặc danh, gây nhiều khó khăn cho công tác quản lý. Việc ai cũng có thể trở thành người cung cấp thông tin trên mạng xã hội khiến cho tình trạng tin giả, tin sai lệch xuất hiện phổ biến với các hình thức ngày càng tinh vi, gây nhiễu loạn các nguồn tin chính thống.

Hơn nữa, công chúng dễ bị lôi kéo bởi tâm lý “đám đông”. Một vài người có ảnh hưởng lại có tư tưởng sai lệch cũng có thể dẫn dắt dư luận, tạo ra hiệu ứng “tẩy chay”, “ném đá” hoặc phản đối các chính sách dù chưa hiểu rõ đúng - sai.

Thứ ba, mạng xã hội đặt ra bài toán đối với công tác bảo mật thông tin, đặc biệt với những thông tin là bí mật quốc gia. Các tài khoản mạng xã hội của các tổ chức chính trị, các cơ quan đảng, cơ quan báo chí... có thể bị tấn công hoặc xâm nhập, bị đánh cắp thông tin và dữ liệu. Bên cạnh đó, chủ thể truyền thông có thể chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của bảo mật thông tin và mức độ nguy hiểm của việc lộ thông tin cá nhân, tổ chức, nên thường đăng tải các hoạt động hoặc thông tin nội bộ lên mạng xã hội, vô tình tiếp tay cho các phần tử chống phá, xuyên tạc, gây bất ổn chính trị xã hội, an ninh quốc gia. Năm 2021, Bộ Công an ghi nhận 8 triệu cảnh báo tấn công mạng. Cơ quan chức năng phát hiện 30 vụ lộ bí mật nhà nước với 220 đầu tài liệu(1).

Cơ hội lớn, nhưng thách thức cũng không nhỏ. Vì vậy, các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, các nhà lãnh đạo cần trang bị kỹ năng sử dụng công cụ mạng xã hội để đạt được hiệu quả cao trong công tác truyền thông chính trị.

CHUYẾN THĂM TRUNG QUỐC CỦA TBT NGUYỄN PHÚ TRỌNG MANG TẦM NHÌN CHIẾN LƯỢC VÀ KHẲNG ĐỊNH VỊ THẾ UY TÍN CỦA VIỆT NAM

Nhận lời mời của Tổng Bí thư BCH Trung ương ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, Tổng Bí thư BCH Trung ương ĐCS Việt Nam Nguyễn Phú Trọng dẫn đầu đoàn đại biểu cấp cao Đảng Cộng sản Việt Nam thăm chính thức CHND Trung Hoa. Chuyến thăm được đánh giá là có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và có tầm nhìn trên lược về quan hệ song phương giữa hai quốc gia từ ngày 30-10 đến 1-11. Thời điểm của chuyến thăm ngay sau thời điểm Trung Quốc tổ chức đại hội Đảng toàn Quốc diễn ra thành công tốt đẹp cho thấy Trung Quốc đặc biệt coi trọng mối quan hệ với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác giữa hai đảng. Và đây cũng là thời điểm quan trọng để Việt Nam khẳng định được ưu tiên ngoại giao của Việt Nam trong việc mở rộng hợp tác với các quốc gia trên thế giới nói chung và với Trung Quốc nói riêng. Thế nhưng, một số dư luận của các tổ chức chống phá nhà nước lại khua Chiêng gõ trống xuyên tạc chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những thông tin như Việt Nam đi chầu Thiên Triều Trung Hoa được tung lên mạng để tuyên truyền xuyên tạc, cho rằng Việt Nam phụ thuộc Trung Quốc... Tuy nhiên, trong một thế giới phẳng như hiện nay, quốc gia dù lớn hay bé đều bình đẳng với nhau về mọi mặt và nhìn vào công tác tiếp đón trọng thị của Đảng, Nhà nước Trung Hoa dành cho Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng minh chứng cho tất cả. Về quan hệ chính trị, trao đổi, tiếp xúc cấp cao diễn ra thường xuyên với nhiều hình thức linh hoạt, góp phần quan trọng vào việc tăng cường tin cậy chính trị giữa hai Đảng, hai nước. Hợp tác kinh tế, thương mại duy trì phát triển ổn định. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam, trong khi Việt Nam tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới. Trong tương lai Việt Nam là Trung Quốc sẽ tiếp tục mở rộng thêm nhiều mối quan hệ giao lưu hợp tác kinh tế xã hội để tiếp tục thúc đẩy phát triển kinh thế của đất nước. Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đến Trung Quốc ở thời điểm này có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Đó không chỉ là tầm nhìn chiến lược, nghệ thuật ngoại giao mà còn thể hiện vị thế vai trò uy tín của một quốc gia nhỏ lại được một nước lớn như Trung Quốc coi trong. Hồng Hải 30A

Sử dụng mạng xã hội trong truyền thông chính trị ở Việt Nam

 Sự xuất hiện của các trang mạng xã hội đã thay đổi một cách căn bản dòng chảy thông tin, từ mô hình truyền thông một nguồn - nhiều người nhận đến mô hình mạng lưới nhiều nguồn - nhiều người nhận. Bài viết đánh giá tổng quan về truyền thông chính trị trên mạng xã hội ở Việt Nam bằng cách phân tích hoạt động của một số tổ chức chính trị - xã hội và các cơ quan báo chí trên các mạng xã hội Facebook, Zalo, YouTube, Tik tok. Từ đó đưa ra một số khuyến nghị sử dụng mạng xã hội để truyền thông chính trị ở Việt Nam.

Theo Báo cáo Tổng quan phát triển kỹ thuật số Việt Nam 2021 do We are social và Kepios công bố đầu năm 2022: Việt Nam có 76,95 triệu người dùng mạng xã hội (chiếm 97,8% dân số từ 13 tuổi trở lên). Lượng người dùng mạng xã hội cũng có xu hướng tăng nhanh (năm 2022 tăng 6,9% so với năm 2021). Đây là những con số đáng mơ ước với bất kỳ loại hình truyền thông nào, cho thấy tiềm năng lớn của mạng xã hội trong truyền thông chính trị ở Việt Nam.

Thời gian trung bình người Việt sử dụng mạng xã hội là 2 giờ 28 phút mỗi ngày. Con số này cũng lớn hơn nhiều so với trung bình các nước khác trên thế giới, tăng thêm cơ hội cho các nhà truyền thông chính trị tiếp cận công chúng. Tần suất sử dụng mạng xã hội của công chúng cũng ngày càng gia tăng vì họ có thể truy cập mọi lúc, mọi nơi nhờ công nghệ wifi phủ rộng khắp nơi và việc sử dụng phổ biến các thiết bị công nghệ hiện đại như smartphone, máy tính xách tay, máy tính bảng...

Thêm vào đó, lượng người dùng mạng xã hội Việt Nam chủ yếu ở độ tuổi 18-34. Đây có thể coi là “độ tuổi vàng” của dân số nói chung và là độ tuổi mà truyền thông chính trị cần hướng đến. Công chúng độ tuổi này đang là lực lượng lao động chính của xã hội, là trụ cột trong các gia đình, là đối tượng hướng đến của phần lớn các chính sách. Công chúng trẻ này cũng là đối tượng mà các hoạt động tư tưởng văn hóa cần tác động. Thông qua mạng xã hội, các nhà truyền thông chính trị có thể tiếp cận được đối tượng này một cách dễ dàng, hiệu quả, với chi phí thấp.

Theo nghiên cứu của We are social: khi truy cập mạng xã hội, ngoài việc để giữ kết nối với người thân và bạn bè, người dùng quan tâm nhiều nhất đến việc cập nhật tin tức (57,1%). Nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, mạng xã hội đóng vai trò lớn trong lưu lượng truy cập vào các báo điện tử. Vì vậy, ngày nay, nhiều tòa soạn đã quan tâm tới việc tiếp cận công chúng của mình thông qua mạng xã hội, thay vì tập trung đầu tư vào giao diện trang chủ như trước kia. Thói quen này của công chúng Việt Nam cũng là lý do khiến cho các tổ chức, doanh nghiệp và cả các cá nhân, nghệ sĩ... đều lựa chọn mạng xã hội là kênh truyền thông chính. Các mạng xã hội đã chiếm tỷ lệ lớn nhất trong thị phần quảng cáo ở Việt Nam.

Như vậy, với khả năng tiếp cận đông đảo nhóm công chúng trẻ, mạng xã hội đã chứng minh hiệu quả trong việc truyền thông hình ảnh các doanh nghiệp và hoàn toàn có khả năng trở thành công cụ đắc lực cho hoạt động truyền thông chính sách của Chính phủ.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

Trong thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, một trong những thủ đoạn tinh vi mà các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội sử dụng đó là triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội để tuyên truyền, nói xấu chế độ, xuyên tạc quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta; kích động, lôi kéo các phần tử chống phá cách mạng; bôi nhọ nhân sự cấp cao và chia rẽ đoàn kết nội bộ nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực tế cho thấy không ít những thông tin trên mạng đã gây hoài nghi, hoang mang trong xã hội, nhất là giới trẻ, đối tượng thường xuyên tiếp cận với mạng xã hội. Để tiếp tục nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh chống các quan điểm sai trái trên không gian mạng cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau sau: Một là, tổ chức tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho mọi cán bộ, đảng viên, quần chúng về nhiệm vụ đấu tranh, phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân nhận thức rõ “tính hai mặt” của không gian mạng, “nhận diện” rõ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù trong việc sử dụng không gian mạng để chống phá cách mạng nước ta. Từ đó, nêu cao nhận thức, có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, có nhãn quan chính trị đúng đắn, đủ sức “phản biện” trước các thông tin xấu độc trên không gian mạng. Trong tuyên truyền, giáo dục cần tập trung vạch trần, làm rõ âm mưu, thủ đoạn, những vấn đề, sự kiện mới, nóng, phức tạp mà các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, mức độ nguy hại, ảnh hưởng của các thông tin sai trái đó đối với mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng. Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính trị viên, người chỉ huy các cấp trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Hoạt động này phải đặt dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, sự quản lý, điều hành của chính trị viên và người chỉ huy các cấp. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt các quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp đã được xác định trong Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Chủ động, kịp thời xây dựng kế hoạch, hướng dẫn, thành lập lực lượng đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng trong đơn vị. Ba là, phát huy vai trò và sức mạnh của các tổ chức, các lực lượng trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Cuộc đấu tranh phòng, chống các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng nhiều khi không lộ diện rõ. Đặc biệt, hiện nay trong thời đại công nghệ 4.0, mỗi quân nhân trong đơn vị được tiếp cận với trình độ khoa học công nghệ hiện đại, đều có thể truy cập vào các trang mạng, tự mình thiết lập, sử dụng các tài khoản, trang thông tin cá nhân (thư điện tử: Gmail, Yahoo...), Facebook, Zalo, Bloger, Line... để viết tin, bài đấu tranh, phản bác chống quan điểm sai trái, thù địch. Chủ động nắm chắc ý đồ, âm mưu, thủ đoạn của các phần tử cơ hội, bất mãn... tạo sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong cuộc đấu tranh “không tiếng súng” này. Bốn là, phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động của lực lượng nòng cốt, chuyên trách trong đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng. Lực lượng này là những cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ, năng lực tốt, có nhiệt huyết, dũng khí, quyết tâm đấu tranh để bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Tích cực, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động và những thông tin xấu độc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị; đồng thời tuyên truyền quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta. Tổ chức comment (bình luận), chia sẻ các tin, bài viết tích cực; tạo mối liên kết chặt chẽ với lực lượng tham gia đấu tranh trên mạng xã hội của cơ quan, đơn vị mình. Thực hiện nghiêm chế độ sơ, tổng kết, rút kinh nghiệm và báo cáo về kết quả đấu tranh và đề ra các biện phát đấu tranh trong thời gian tiếp theo có hiệu quả. Đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị trên không gian mạng là cuộc chiến đấu lâu dài, khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức, các lực lượng trong đơn vị, trong đó lực lượng chuyên trách làm nòng cốt, góp phần làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Văn Trung 30A

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VẤN ĐỀ ỨNG XỬ VĂN HÓA TRÊN MẠNG XÃ HỘI

Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của xã hội, công nghệ thông tin nói chung, internet và các trang MXH (MXH) nói riêng đã và đang ảnh hưởng rất lớn đến mọi mặt đời sống xã hội và sinh hoạt của con người. Khi mà con người đã coi MXH là “môi trường xã hội”, thì văn hóa ứng xử ở đó lại là một vấn đề cần được quan tâm. MXH là một thành tựu khoa học kỹ thuật của con người. Nó đem con người đến gần với nhau hơn. Nó giúp người ta nói lên suy nghĩ của mình được nhiều hơn. Và đặc biệt, nó giúp cho người truyền tải cảm hứng, giúp cho cộng đồng gần gũi nhau hơn. Tới đây, với cuộc cách mạng 4.0, các nhà khoa học còn mong muốn xây dựng sự tương tác mạnh mẽ hơn giữa thế giới ảo và thế giới thật. Dễ thấy, sự tác động của hai thế giới, “ảo” và “thật” đã gần nhau lắm. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều câu chuyện không hay đã diễn ra trên MXH cho thấy, việc cộng đồng trong xã hội kêu gọi xây dựng văn hóa ứng xử trên MXH đang trở nên cấp thiết. Để xây dựng một nền văn hóa mạng trong sạch, lành mạnh cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, nâng cao ý thức, rèn luyện hành vi đạo đức, làm cơ sở cho xác định thái độ, hành vi ứng xử văn hóa trên MXH. Ứng xử trên MXH luôn cần có thái độ tôn trọng người khác, biết quan tâm, lắng nghe, chia sẻ, thông cảm. Mọi lời nhận xét, bình luận phải khách quan và tế nhị, tỏ thái độ, cảm xúc phù hợp, không nói xấu, kéo bè cánh nhằm hạ thấp danh dự, nhân phẩm của người khác. Biết cách chọn bạn và quản lý danh sách bạn bè, không nên quá nhiều bạn khiến cho việc kiểm soát thông tin khó khăn. Trước khi kết bạn với những người mới, cần tìm hiểu một cách kỹ lưỡng. Suy nghĩ kỹ về những gì nói và đăng trên mạng, có trách nhiệm với lời nói, hành vi. Tìm hiểu kỹ các nguồn thông tin để kiểm chứng, không nên “tay nhanh hơn não” đưa ra những nhận xét, bình luận vội vàng, không đúng hoặc ác ý. Đưa hình ảnh phù hợp lên mạng, không đưa những hình ảnh hở hang, mang tính khiêu dâm hoặc bạo lực, ảnh selfie diễn ra ở những nơi không phù hợp (đám tang, tai nạn giao thông…). Đề phòng kẻ xấu có thể sử dụng những bức ảnh cho những mục đích không tốt đẹp. Trước khi đăng tải những bức ảnh và các câu chuyện của bạn bè cần có lời xin phép và được sự đồng ý của họ. Có ý thức giữ gìn bản sắc văn hóa ứng xử của dân tộc, giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi giao tiếp trên MXH. Không nên dùng từ ngữ tục tĩu hoặc từ lạ không có trong từ điển tiếng Việt, không nên dùng tiếng lóng, từ viết tắt hoặc ngôn ngữ pha tạp. Phản ứng thận trọng trước các vấn đề nảy sinh trên MXH. Hai là, tuyên truyền, phổ biến Luật An ninh mạng, giúp mỗi người hiểu rõ ý nghĩa, giá trị, nội dung, quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm và những hành vi bị cấm liên quan đến văn hóa ứng xử khi tham gia MXH Luật An ninh mạng nhằm bảo vệ người dùng hợp pháp trên không gian mạng; phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống Nhà nước, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, kích động biểu tình, phá rối của các thế lực phản động. Phòng ngừa, ngăn chặn, ứng phó, khắc phục hậu quả của các đợt tấn công mạng, khủng bố mạng và phòng, chống nguy cơ chiến tranh mạng. Luật An ninh mạng quy định rõ những hành vi bị cấm liên quan đến văn hóa ứng xử như: Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; hoạt động mại dâm, tệ nạn xã hội, mua bán người; đăng tải thông tin dâm ô, đồi trụy, tội ác; phá hoại thuần phong, mỹ tục của dân tộc, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng(5)… Những quy định của Luật không xâm phạm đến quyền con người, không cản trở tự do ngôn luận, không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của cá nhân, tổ chức như những thông tin trên MXH, blog, web phản động tuyên truyền, xuyên tạc. Thực hiện đúng Luật nghĩa là bảo vệ chính mình, người thân và gia đình, đồng thời, góp phần bảo vệ an ninh mạng quốc gia. Ba là, sử dụng các giải pháp về công nghệ hỗ trợ cho xây dựng văn hóa ứng xử trên MXH Ngoài việc áp dụng luật, quy tắc ứng xử, chế tài cụ thể, cần sử dụng các giải pháp về công nghệ, chẳng hạn như bảo mật thông tin cá nhân trên mạng, giữ bí mật mật khẩu, đặt chế độ cá nhân hoặc chỉ bạn bè thân thiết và tin cậy mới có thể xem; nghiên cứu sử dụng phần mềm lọc, ngăn chặn thông tin xấu, độc khi mới được đăng tải; nhờ các chuyên gia công nghệ thông tin tư vấn cách sử dụng MXH an toàn. Cơ quan chuyên trách nghiên cứu thành lập bộ phận chuyên tìm kiếm những bài đăng sai sự thật, xúc phạm người khác, những hình ảnh phản cảm, gửi tới nhà cung cấp dịch vụ xuyên quốc gia, các MXH mà người dùng đăng tải và yêu cầu gỡ bỏ. Bốn là, phát huy vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, thầy cô giáo, các bậc phụ huynh; phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức, cơ quan, nhà trường và gia đình trong xây dựng văn hóa ứng xử trên MXH Như vậy, MXH thực sự là một bộ phận quan trọng trong “hệ sinh thái mới”, mang đến cho con người những lợi ích không hề nhỏ. Tuy nhiên, việc sử dụng MXH cũng ẩn chứa những mặt trái tạo nên những nguy cơ biến đổi văn hóa nói chung, văn hóa ứng xử trên MXH nói riêng mà giới nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách và mỗi người cần quan tâm. Đăng Thắng 30A

Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn mãi là ánh dương soi chiếu đường lối cách mạng, là kim chỉ nam cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của Đảng.

Thực tiễn đã chứng minh, chủ nghĩa Mác đang tiếp tục được truyền bá và có sức lan tỏa ngày càng rộng rãi, tinh thần khoa học và cách mạng của Mác vẫn tỏa sáng ngay ở các nước TBCN. Đời sống xã hội đương đại mặc dù có những diễn biến rất phức tạp, trải qua nhiều biến cố thăng trầm, nhưng sự vận động đó không nằm ngoài những dự báo của C.Mác về quy luật phổ biến của lịch sử xã hội loài người. Giáo sư Francis Wheen - nhà khoa học người Anh chuyên nghiên cứu về C.Mác đã khẳng định: C.Mác chưa bị chôn cất dưới đống đổ nát của bức tường Béclin; C.Mác đã tỏ ra là nhà tư tưởng có sức ảnh hưởng lớn nhất của thế kỷ XXI(4)

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đều chứng minh, cho đến nay, trên thế giới chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất bàn về tổng thể mục tiêu, con đường, lực lượng, biện pháp, cách thức để xóa bỏ mọi áp bức, bóc lột và bất công trong xã hội, nhằm mục đích nhân văn cao đẹp là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội. Cần phải khẳng định rằng, lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH của chủ nghĩa Mác - Lênin là chân lý khoa học, bởi lẽ, lý luận ấy không dựa vào nguyện vọng chủ quan và trí tưởng tượng mà được xây dựng trên cơ sở khoa học và cách mạng của chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư. 

Thực tiễn là tiêu chuẩn kiểm định chân lý, cho nên học thuyết nào đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng, sự kỳ vọng của nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân thì học thuyết đó sẽ sống mãi. Thực tiễn thắng lợi của quá trình đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng CNXH và đổi mới kinh tế thành công ở Việt Nam cũng như nhiều quốc gia trên thế giới suốt nhiều thập kỷ qua là minh chứng sinh động nhất về bản chất khoa học, cách mạng, tiến bộ và giá trị nhân văn sâu sắc của chủ nghĩa Mác - Lênin, cho thấy sức sống trường tồn mãnh liệt và sự lan tỏa của chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt trong thời đại ngày nay. Chủ nghĩa Mác - Lênin chính là hiện thân lương tri của nhân loại tiến bộ và yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới; là cơ sở khoa học để Đảng ta đề ra đường lối, chính sách đổi mới, phát triển đất nước, nhất là trong bối cảnh tình hình thế giới biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường như hiện nay. Với ý nghĩa đó, chúng ta có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để tin tưởng và khẳng định rằng: Chủ nghĩa Mác - Lênin, với tư cách là thế giới quan khoa học, là phương pháp luận nhận thức và cải tạo thế giới vẫn bảo toàn và giữ nguyên giá trị. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(5).

Đi lên CNXH là sự lựa chọn đúng đắn duy nhất của Đảng, thể hiện mục tiêu, khát vọng của dân tộc Việt Nam và phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.

Đó là sự thật đã trở thành chân lý mà không ai có thể phủ nhận, bởi lẽ chân lý ấy đã được thử thách và kiểm nghiệm trong thực tiễn đấu tranh cách mạng của nhân dân ta hơn 90 năm qua. Đi lên CNXH chính là sự lựa chọn tất yếu, khách quan, khoa học và hoàn toàn phù hợp với quy luật và xu thế phát triển của đất nước ta. Do có tính tất yếu khách quan, cách mạng và khoa học ấy, ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mới có sức mạnh lan tỏa, hiệu triệu quần chúng vùng lên làm cách mạng, làm nên những mốc son lịch sử chói lọi, đưa dân tộc Việt Nam đến độc lập, tự do và từng bước xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc như ngày hôm nay. 

Sự lựa chọn đúng đắn ấy một lần nữa được khẳng định bằng chính những thành công to lớn có ý nghĩa lịch sử qua hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đúng như khẳng định của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIII: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(6). Chỉ có những kẻ tráo trở, táng tận lương tâm, cố tình nhắm mắt, bịt tai phủ nhận sự thật lịch sử mới có thể bịa đặt, phê phán con đường duy nhất đúng đắn ấy.

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là đột phá lý luận của Đảng, được thực tiễn kiểm định là hoàn toàn đúng đắn.

Cả trên phương diện lý luận và thực tiễn đã chứng minh: sự lựa chọn KTTT định hướng XHCN ở nước ta hoàn toàn không phải một kiểu lắp ghép “đầu Ngô mình Sở” như các thế lực thù địch, phản động quy chụp mà là sự trung thành, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Học thuyết Mác đã chỉ rõ, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản, mà là thành tựu phát triển chung của nhân loại, là nấc thang phát triển tất yếu của xã hội nên sẽ còn tồn tại ở các phương thức sản xuất khác nhau. Nếu như trong chủ nghĩa tư bản, kinh tế thị trường được coi là mục tiêu, do vậy, các nhà tư bản có thể bất chấp thủ đoạn, cách thức, lợi dụng tối đa ưu thế của kinh tế thị trường để chiếm đoạt giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt, thì ở Việt Nam, xuyên suốt các kỳ đại hội, Đảng ta xác định rõ, kinh tế thị trường chỉ là phương tiện, là cách thức để tạo lập, xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH, lấy con người là trung tâm, vì mọi người và do con người, phát huy đầy đủ vai trò làm chủ của nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, tuyệt nhiên không vì mục đích giành lấy lợi nhuận tối đa bằng mọi giá như CNTB đã và đang làm.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần khẳng định: Lựa chọn mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN không phải là sự gán ghép chủ quan giữa kinh tế thị trường và CNXH, mà là sự nắm bắt và vận dụng xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay. Do đó, “Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới”(7). Và, với phương châm: bắt tay vào hành động, thực tiễn sẽ cho câu trả lời, chắc chắn rằng thực tiễn sẽ từng bước làm sáng tỏ được các vấn đề nêu trên.

Sau nhiều năm nhìn lại, những đánh giá, phân tích trên ngày càng xác đáng. Thực tiễn phát triển của đất nước ta thời gian qua đã chứng minh, KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là khái niệm mơ hồ, chứa đựng các yếu tố gây xung đột, mâu thuẫn mà ngày càng sáng rõ hơn về sự thống nhất biện chứng giữa KTTT với định hướng XHCN trong quá trình phát triển. Minh chứng lớn nhất là sau hơn 35 năm đổi mới, lựa chọn mô hình KTTT định hướng XHCN ở Việt Nam đã mang lại hiệu quả cao, đất nước phát triển nhanh chóng, từ chỗ nghèo nàn, lạc hậu trở thành một trong những nền kinh tế năng động, có tốc độ tăng trưởng kinh tế và có độ mở lớn hàng đầu thế giới (tới 200% GDP)(8). Năm 2019, giữa bức tranh ảm đạm của nền kinh tế thế giới do chịu tác động của đại dịch Covid-19, Việt Nam đã vượt trội lên như một điểm sáng hiếm hoi được IMF và WTO đánh giá là một trong số 20 nền kinh tế có đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu và vào tốp 20 nền thương mại hàng hóa lớn nhất thế giới(9). Nền KTTT định hướng XHCN ở nước ta, về cơ bản đã hội tụ đủ các yếu tố của nền KTTT hiện đại theo các chuẩn mực quốc tế. Kể từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007 cho đến nay, đã có 90 nước công nhận Việt Nam là quốc gia có nền KTTT. Theo đánh giá và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF), chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (GCI) của Việt Nam đã cải thiện mạnh, tăng 13 bậc từ vị trí 68/131 năm 2007 lên vị trí 55/137 năm 2017, chuyển từ nhóm nửa dưới lên nhóm nửa trên của bảng xếp hạng. Năm 2020, quy mô GDP Việt Nam đứng thứ 44 thế giới, đứng thứ 4 Đông Nam Á và bình quân GDP/đầu người đứng thứ 6 khu vực. “Thương hiệu Quốc gia Việt Nam” là thương hiệu tăng giá trị nhanh nhất thế giới khi tăng tới 29% so với năm 2019 lên 319 tỷ USD; từ vị trí 42 lên 33 trong danh sách 100 thương hiệu quốc gia của Brand Finance(10). Điều này chứng minh, kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam không phải là dị biệt mà đã hòa mình vào dòng chảy kinh tế thế giới và thông lệ quốc tế, ngày càng hội nhập và hoàn thiện. 

Vậy nên kinh tế thị trường và định hướng XHCN chẳng những không hề mâu thuẫn với nhau mà trái lại, sự lựa chọn mô hình kinh tế thị trường, mục tiêu “định hướng XHCN” của Việt Nam còn có tác động tích cực làm hạn chế mặt trái của kinh tế thị trường, giải quyết được các vấn đề xã hội tốt hơn nhiều so với các nước tư bản chủ nghĩa có cùng mức phát triển kinh tế, được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao: Năm 2019, Việt Nam được đánh giá và xếp hạng vào tốp 10/163 “nước đáng sống nhất thế giới” trong bảng xếp hạng của HSBC Expat, đứng thứ 83/128 nước trong xếp hạng các nước an toàn nhất thế giới, xếp thứ 94/156 nước trong bảng xếp hạng quốc gia hạnh phúc(11). Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ; chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704%, thuộc vào nhóm nước có HDI cao của thế giới(12).

Đấu tranh, phản bác các quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch, ngăn chặn hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch về CNXH và con đường đi lên CNXH, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là cuộc chiến lâu dài, đặc biệt khó khăn và nhiều thử thách. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, nhiều xu thế phức tạp, tác động của quá trình toàn cầu hóa, sự phát triển của khoa học - công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, cuộc đấu tranh chống lại âm mưu của các thế lực thù địch ở nước ta sẽ có những diễn biến gay gắt, quyết liệt và ngày càng phức tạp. Song, với bản lĩnh, trí tuệ, sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự đoàn kết đồng lòng của cả hệ thống chính trị, chúng ta hoàn toàn tự hào và tuyệt đối tin tưởng cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng tất yếu giành thắng lợi, con đường đi lên CNXH chính là tương lai tươi sáng của đất nước.

Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 Hiện nay, đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận đang diễn ra hết sức phức tạp. Các thế lực thù địch không ngừng đưa ra các quan điểm sai trái, vu cáo, bịa đặt, tìm mọi thủ đoạn hòng chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng ta, nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân mất phương hướng về chính trị, tư tưởng để âm mưu xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Bài viết vạch trần bản chất các quan điểm sai trái, thù địch; làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. 

    Nhận diện các quan điểm sai trái, thù địch về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Thực hiện âm mưu chống phá Việt Nam trên lĩnh vực tư tưởng, “Diễn biến hòa bình” là một chiến lược nằm trong hệ thống chiến lược phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc. Thực chất, đây là thủ đoạn “chiến thắng không cần chiến tranh”, sử dụng biện pháp phi vũ trang để chống phá, nhằm tiến tới lật đổ chế độ chính trị ở các nước XHCN. Chúng đã nhiều lần công khai tuyên bố: đối với Việt Nam, Mỹ đã thua trong chiến tranh, bây giờ phải tìm mọi cách thắng trong hòa bình; đã thua trên chiến trường, bây giờ phải thắng trên thị trường. Với mục tiêu đó, tấn công trên mặt trận tư tưởng luôn được các thế lực thù địch coi là “mũi đột phá” hòng làm suy giảm niềm tin, gây hỗn loạn tư tưởng, tạo khoảng trống để dần đưa vào hệ tư tưởng tư sản, thủ tiêu hệ tư tưởng XHCN ở nước ta. Với luận điệu: “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm, cây bút là phương tiện đi vào trái tim, khối óc con người”, các thế lực thù địch lợi dụng triệt để các phương tiện thông tin, sự phát triển của internet, các trang mạng xã hội, các loại sách, báo để truyền bá các quan điểm sai trái, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam; phủ nhận thành quả cách mạng mà Đảng và nhân dân ta đã dày công vun đắp; chống phá quá trình đổi mới toàn diện đất nước; bài bác, phủ nhận CNXH và tô hồng chủ nghĩa tư bản, trắng trợn đưa ra yêu sách đòi Việt Nam phải từ bỏ con đường đi lên CNXH. 

Phủ nhận và xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lênin, thủ tiêu nền tảng tư tưởng của Đảng 

Thực hiện âm mưu xóa bỏ hệ tư tưởng XHCN ở nước ta, trước hết, các thế lực thù địch, phản động tấn công vào “trái tim” và “đầu não” của Đảng, tập trung phản kích, phủ định những giá trị trường tồn của chủ nghĩa Mác, coi đó là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược “diễn biến hòa bình”.

Ngày 19-5-2018, đài Á châu tự do (RFA) đăng tải bài viết của Blogger với nội dung phản động, bôi nhọ chủ nghĩa Mác, cho rằng: Chủ nghĩa Mác chỉ đúng trong thời kỳ tư bản công nghiệp, còn ngày nay nhân loại đã bước vào thời kỳ văn minh tin học, kinh tế tri thức dựa trên nền tảng công nghệ số, kỹ thuật số nên lý luận của Mác không còn thích hợp. Cổ xúy cho luận điệu phản động này, có ý kiến cho rằng: Mọi sự vật đều có quá trình phát sinh, phát triển và tất yếu có diệt vong nên chủ nghĩa Mác cũng sẽ phải diệt vong; và do vậy: chủ nghĩa Mác chẳng qua là một hiện tượng văn hóa của thế kỷ XIX cần phải đưa vào bảo tàng lịch sử... Chúng không chỉ quy kết sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu chính là sự lạc hậu, lỗi thời của học thuyết Mác về con đường đi lên CNXH. Chúng còn trắng trợn bịa đặt: “CNXH vì đẻ non nên đã chết yểu, đã bị xóa sổ trên toàn thế giới”. Với dẫn chứng, các quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Thái Lan, Malaixia không có chủ nghĩa Mác dẫn đường, không có đảng cộng sản lãnh đạo và không đi theo con đường CNXH mà vẫn rất phát triển; chỉ còn vài nước “ngoan cố” như Trung Quốc, Cu Ba và Việt Nam tôn thờ chủ nghĩa Mác. Từ đó, chúng kết luận một cách phản động và bịa đặt: Việt Nam đang bế tắc không chỉ về kinh tế mà còn cả tinh thần. Không ai còn tin vào chủ nghĩa Mác.  

Mũi dùi mà các thế lực thù địch lựa chọn để công kích chủ nghĩa Mác là phủ nhận bản chất cách mạng và khoa học của học thuyết giá trị thặng dư. Chúng lý sự: nhà tư bản có được giá trị thặng dư chính là nhờ đầu óc sáng tạo, áp dụng tiến bộ kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, nhờ có vốn và tài quản lý. Chúng cho rằng, trên lĩnh vực phân phối, tư bản đối xử với công nhân rất tốt, trả tiền công cao gấp nhiều lần tiền công của các doanh nghiệp XHCN. Chúng tự huyễn hoặc: ngày nay, ở các nước tư bản chủ nghĩa, đời sống của công nhân đã khá giả, sự bần cùng hóa chỉ là số ít. Do vậy, lý luận của C.Mác cho rằng mối quan hệ giữa giai cấp tư sản với giai cấp công nhân dựa trên mâu thuẫn đối kháng về lợi ích là không đúng. Đây là những luận điệu xảo trá, thể hiện rõ mưu đồ của các thế lực thù địch khi cố tình xuyên tạc và phủ nhận bản chất cách mạng của học thuyết Mác, do đó phải bị lên án. 

Công kích, bôi nhọ CNXH và phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên CNXH

Phủ nhận và xuyên tạc học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của C.Mác, chúng đưa ra luận điệu: mô hình chủ nghĩa cộng sản dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, xây dựng xã hội không còn bóc lột, áp bức và bất công giai cấp chỉ là sự mơ mộng hão huyền. Không khó để nhận ra, đây là luận điệu phản động, bóp méo lịch sử và hiện tại, cố tình phủ nhận những giá trị tốt đẹp của CNXH đang hiện hữu ở Việt Nam. Thế nhưng, luận điệu này cũng đã gây ra sự hoang mang, bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn và khoa học của CNXH cho không ít người. Thậm chí có những người quay giáo trở cờ, vong ơn bội nghĩa, quay lưng với lợi ích quốc gia dân tộc, nối giáo cho giặc, phụ họa với các luận điệu thù địch để công kích, bài bác CNXH, tô hồng chủ nghĩa tư bản.

Đi lên CNXH là sự lựa chọn duy nhất đúng đắn, thể hiện khát vọng của Đảng và nhân dân ta. Vậy nhưng, hiện nay vẫn có những giọng điệu lạc lõng của các thế lực thù địch, phản động, vô lý đòi Đảng ta, nhân dân ta phải từ bỏ mục tiêu, con đường đã chọn để đi theo con đường khác, vì chúng cho rằng: đi lên CNXH là con đường sai lầm, “là đưa dân tộc vào chỗ chết”. Tính chất cơ hội hữu khuynh trong luận điệu của các thế lực thù địch còn bộc lộ ở chỗ cố tình lợi dụng sự kiện Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu tan rã để phản bác, phủ nhận con đường CNXH mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. 

Với tinh thần dám nhìn thẳng vào sự thật và đánh giá đúng sự thật, chúng ta thừa nhận CNXH hiện thực bên cạnh những thành tựu vĩ đại cũng mắc phải sai lầm, yếu kém. Nhưng, CNXH ở Liên Xô và Đông Âu chỉ là một mô hình cụ thể của CNXH, mang màu sắc riêng có của Liên Xô và Đông Âu. Và, nó sụp đổ là do những sai lầm chủ quan chết người của chính những người đứng đầu đảng cộng sản đã “tự diễn biến” rồi dẫn đến “tự chuyển hóa” và do đường lối cải tổ sai lầm nghiêm trọng. Chúng ta không thể đánh đồng hiện tượng với bản chất, không thể nhầm lẫn giữa cái riêng với cái chung, và do vậy, không thể đồng nhất mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu với CNXH nói chung, lại càng không thể quy kết sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu thành hạn chế, sai lầm cố hữu, căn bệnh trầm kha của chủ nghĩa cộng sản. 

Phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước và xuyên tạc đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

Không chỉ phủ nhận con đường đi lên CNXH, tấn công vào đường lối đổi mới và các thành tựu phát triển kinh tế cũng là trọng điểm chống phá của các thế lực thù địch. Với những luận điệu sặc mùi cơ hội, xuyên tạc, phản động, chúng tấn công thẳng vào mô hình kinh tế thị trường (KTTT) định hướng XHCN ở Việt Nam. 

Chúng phủ nhận mô hình KTTT định hướng XHCN, mặc nhiên cho rằng kinh tế thị trường chỉ là sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Với nhận thức lệch lạc và ấu trĩ, chúng lý sự: Kinh tế thị trường, các quy luật của kinh tế thị trường và định hướng XHCN là những yếu tố đối lập nhau, loại trừ nhau như nước với lửa. Chúng khuyên chúng ta nên bỏ định hướng XHCN, phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa như các nước phương Tây thì nền kinh tế đất nước mới phát triển nhanh được. Những luận điệu cơ hội, phản động này thực chất là nhằm làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào con đường phát triển kinh tế mà Đảng ta đã lựa chọn. Những kẻ có tư tưởng ấu trĩ đó có lẽ không phải không biết rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam khi lựa chọn xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã phải trải qua biết bao trăn trở. Đó là cả một hành trình thay đổi để thích nghi bắt nguồn từ chính đòi hỏi và mệnh lệnh của cuộc sống.

Chúng xuyên tạc rằng: Việt Nam xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo sẽ tạo ra sự phân biệt đối xử, không thể bình đẳng, do đó sẽ không thể có kinh tế thị trường thật sự; việc lựa chọn nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam là bóp nghẹt kinh tế tư nhân và không có tự do cạnh tranh; Đảng Cộng sản nói một đằng làm một nẻo, định hướng con đường XHCN nhưng lại chủ trương phát triển kinh tế tư nhân. Đó đều là những luận điệu thâm độc, đưa ra nhằm định hướng người dân từ bỏ mục tiêu CNXH.

Chúng cố tình phủ nhận thực tế là từ sau đổi mới đến nay, Việt Nam chủ trương phát triển kinh tế thị trường, đa dạng hóa các hình thức sở hữu, phát triển kinh tế nhiều thành phần, các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế có quyền bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo đúng các quy định của pháp luật trên tất cả các lĩnh vực; không phân biệt đối xử hay hạn chế khả năng cạnh tranh của thành phần kinh tế tư nhân.

Thực tiễn hơn 35 năm đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, khẳng định vai trò, vị thế của kinh tế tư nhân. Để bảo đảm có một môi trường cạnh tranh công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân, tại Hội nghị Trung ương 5 khóa XII, Đảng ta đã thông qua 3 nghị quyết: Nghị quyết số 11-NQ/TW về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN; Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền KTTT định hướng XHCN; Nghị quyết số 12-NQ/TW về tiếp tục cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước. 

Ba nghị quyết này đã thể hiện rất rõ quan điểm và quyết tâm của Đảng ta về việc xây dựng một nền KTTT mang tính cạnh tranh cao, công bằng giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân. Tại Hội nghị Chính phủ với các địa phương ngày 30-12-2019, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: Khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân phát triển, thực sự trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế, cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể trở thành lực lượng nòng cốt để nâng cao năng lực nội sinh, tính tự chủ của nền kinh tế và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế(1).

Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân của người Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, hiệu quả, bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế”(2). Trong những năm qua, khu vực kinh tế tư nhân đã đóng góp khoảng 40% GDP, 30% vào ngân sách nhà nước và thu hút khoảng 85% lực lượng lao động(3). Những thay đổi trong chủ trương, chính sách đã tạo ra những động lực to lớn cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở nước ta. Đảng ta đã nhận thức rất đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng đặc biệt của kinh tế tư nhân trong quá trình phát triển, kinh tế tư nhân là một trong số các thành phần kinh tế bình đẳng, cùng cạnh tranh lành mạnh theo đúng các quy định của pháp luật. Rõ ràng, trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay không tồn tại sự phân biệt đối xử, kỳ thị hay ngăn trở kinh tế tư nhân như luận điệu mang tính xuyên tạc, bôi nhọ của các thế lực thù địch, phản động.

Thực hiện tốt nhiệm vụ đấu tranh trên không gian mạng bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

 Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch trên không gian mạng, cấp ủy, tổ chức đảng cần quan tâm thực hiện tốt một số giải pháp sau:

    Một là, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức quán triệt, giáo dục, nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cán bộ, đảng viên về nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới, đưa nhiệm vụ này vào chỉ tiêu nghị quyết lãnh đạọ của cấp ủy, chi bộ, nhằm tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động, xác định đây là nhiệm vụ chính trị quan trọng của cấp ủy, tổ chức đảng, trách nhiệm của đảng viên, nhất là bí thư cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị, từ đó đề cao trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ đạt hiệu quả thiết thực.

    Hai là, phải làm tốt công tác phối hợp, thường xuyên bám sát sự chỉ đạo của cơ quan nghiệp vụ cấp trên; các sự kiện chính trị quan trọng, những vấn đề phức tạp nhạy cảm và hoạt động của các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước, quân đội trên internet, MXH, có kế hoạch tổ chức đấu tranh phản bác kịp thời, hiệu quả.

    Ba là, tăng cường công tác quản lý tư tưởng, kỷ luật, mối quan hệ của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ trong thực hiện nhiệm vụ, nhất là khi tiếp xúc với Nhân dân giải quyết các vấn đề nhạy cảm. Kịp thời phát hiện và ngăn ngừa những biểu biện suy thoái về chính trị tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, không để xảy ra thiếu sót, sơ hở, để các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá, xuyên tạc.

    Bốn là, thường xuyên tổ chức sơ, tổng kết rút kinh nghiệm, kịp thời khen thưởng, động viên những tập thể, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ, khích lệ, cổ vũ cán bộ tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng…

Chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch đối với quân độ

 Chúng ta thường nhận ra mục tiêu chống phá đối với quân đội đó là: Chúng thường đưa ra một số luận điểm “Quân đội trung lập, Quân đội chỉ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, không bảo vệ Đảng…” vì một chế độ chính trị một đảng hay nhiều đảng thì do Nhân dân bầu ra chứ không phải do quân đội.

Đây là luận điểm phi lý, bởi vì trong bất kỳ xã hội nào, bản chất của quân đội cũng là bản chất của giai cấp cầm quyền, nên không thể có một quân đội nào lại không phục vụ giai cấp, đứng ngoài giai cấp.

Lênin đã đề ra nguyên tắc căn bản để xây dựng quân đội kiểu mới, Người viết “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và chăm lo đến Hồng Quân như chăm lo đến con ngươi trong mắt mình”. Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ khi đặt tên Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã có nghĩa là chính trị, trọng hơn quân sự “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”.

Gần đây thế lực thù địch phát động nhiều chiến dịch với nhiều đợt tấn công vào quân đội với tần suất, phương thức, thủ đoạn, luận điệu hết sức thâm độc, nổi lên là: (1) Tiếp tục chiến dịch tấn công vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, phớt lờ những thành tích, chiến công, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm, suy diễn “mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội đã thay đổi” nên đã bị “khuất phục, làm ngơ trước sự xâm lấn biển, đảo của Trung Quốc”; qua đó, chúng đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, cổ súy, kêu gọi phải “dân sự hóa”, “phi chính trị hóa” quân đội; (2) Lợi dụng một số thông tin, tư liệu, sử liệu chưa thống nhất, chúng phát tán nhiều tin, bài, video clip, phóng sự, bình luận, suy diễn, áp đặt ý kiến chủ quan gây nghi ngờ, mâu thuẫn giữa cán bộ quân đội với cựu chiến binh, giữa cựu chiến binh và những nhân chứng lịch sử; phát động phong trào xét lại lịch sử quân đội, dân tộc; (3) Lợi dụng việc kiện toàn nhân sự cán bộ cấp cao quân đội, chúng phát tán nhiều thông tin xấu độc trên MXH về các vấn đề liên quan đến tài sản, đời tư, mối quan hệ các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo cấp cao Bộ Quốc phòng nhằm bôi nhọ danh dự, uy tín, gây nghi ngờ giữa các đồng chí cán bộ chủ chốt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và trong nội bộ quân đội; (4) Một số đối tượng lợi dụng việc kiện toàn tổ chức, tinh giản biên chế quân đội, phong, thăng quân hàm cán bộ cấp tướng trong quân đội, công an, chúng bình luận, suy diễn gây chia rẽ đoàn kết giữa quân đội với công an; (5) Gần đây, lợi dụng vụ việc quân nhân tử vong, chúng sử dụng nhiều phương thức, thủ đoạn “dương đông, kích tây”, đưa thông tin hiện trường vụ việc, gây bán tín bán nghi, làm dư luận bị cuốn theo; đẩy “nóng vấn đề”, kích động cộng đồng mạng xã hội “tạo áp lực, đòi yêu sách đối với quân đội”, kích động dư luận trong Nhân dân, tẩy chay, không cho con em nhập ngũ vào quân đội.

Tích cực và tiêu cực của mạng xã hội (MXH)

 Tính đến đầu quý I/2022, Việt Nam có 72,10 triệu thuê bao internet (chiếm 73,2% dân số) và 77 triệu tài khoản MXH (chiếm 78,1% dân số). Trong đó, MXH Facebook có khoảng 70 triệu tài khoản, Facebook Messenger có khoản 54 triệu tài khoản, Youtube có khoảng 62,5 triệu tài khoản, Zalo khoảng 45 triệu tài khoảng và có đến 156 triệu thuê bao di động (chiếm 158,6% dân số).

Chúng ta không thể phủ nhận MXH ngày càng góp phần quan trọng trong việc củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và điều hành của Chính phủ.

Ví dụ như tháng 10-2015, Chính phủ đã lập 2 tài khoản Facebook là “Thông tin Chính phủ” và “Diễn đàn Cạnh tranh quốc gia” với kỳ vọng giúp người dân tiếp cận kịp thời các văn bản quy phạm pháp luật mới ban hành, thông tin thời sự chính trị, kinh tế - xã hội, hoạt động của lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Gần đây nhất, trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19, việc điều hành của Chính phủ, hoạt động của các ban, bộ, ngành thông qua trực tuyến, online, MXH đã chứng minh điều đó.

MXH góp phần tích cực vào sự phát triển nhận thức, tư duy và kỹ năng sống của con người, vào sự phát triển của văn hóa cộng đồng, thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế trên lĩnh vực văn hóa của Việt Nam. Các MXH, nhất là MXH xuyên quốc gia như Facebook, Youtube… đã tạo ra những cơ hội, khả năng tiếp xúc, giao lưu văn hóa, thúc đẩy xích lại gần nhau, hiểu biết lẫn nhau giữa dân tộc ta với các dân tộc khác trên thế giới. Thông qua MXH, thế giới biết đến Việt Nam hơn như một dân tộc yêu chuộng hòa bình, tôn trọng công lý, năng động với một kho tàng các giá trị văn hóa phong phú, đầy bản sắc.

Tuy nhiên, MXH đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật Nhà nước. MXH tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa. MXH đang trở thành công cụ, môi trường “màu mỡ” để tội phạm lợi dụng hoạt động (hiện nay, thường xuyên có khoảng trên 3.000 trang mạng blog, gần 500 trang facebook fanpage; trên 100 trang youtube và gần 10.000 tài khoản MXH facebook đăng tải hàng trăm ngàn tin, bài có nội dung xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước; vu khống, bôi nhọ, xúc phạm các tổ chức, cá nhân các đồng chí lãnh đạo), đây chính là những con sâu, những mầm mống u nhọt mà chúng ta cần tập trung loại bỏ.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 04 THÁNG 11 NĂM 1951

     “… Muốn thắng, thì ta phải tích cực, tự động, bí mật, mau chóng, kiên quyết, dẻo dai. Chắc thắng mới đánh. Nhưng tuyệt đối chớ chủ quan khinh địch...”[*]!
     Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các cán bộ, chiến sĩ chủ lực và dân quân du kích trong Chiến dịch Hòa Bình”, Người viết tháng 11 năm 1951.
     Đây là thời điểm Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định mở Chiến dịch Hòa Bình nhằm mục đích tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng thị xã Hòa Bình, đập tan phòng tuyến sông Đà và tạo điều kiện phát triển chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ. Đây là sự chỉ đạo sát sao, sự động viên khích lệ của Bác, thể hiện nhãn quan chính trị, quân sự thiên tài nhạy bén của Người đã đánh giá đúng tình hình địch, ta, phán đoán trước được âm mưu, hành động xảo quyệt của những tên đế quốc, thực dân xâm lược. Đó còn là phương châm, tư tưởng, nguyên tắc chỉ đạo tác chiến của chiến dịch, đồng thời phản ánh rõ nét tư tưởng “đánh chắc thắng” của Chủ tịch Hồ Chí Minh - một tư tưởng đã trở thành nguyên tắc chỉ đạo cao nhất, đem lại niềm tin, nguồn sức mạnh chính trị, tinh thần to lớn để tiếp thêm sức mạnh và ý chí quyết chiến, quyết thắng cho các chiến sĩ ngoài mặt trận.
     Quán triệt lời dạy của Người, quân và dân ta đã chiến đấu anh dũng, lập công xuất sắc, đập tan cuộc tiến công lên Hòa Bình cùng với âm mưu lập “Xứ Mường tự trị” của thực dân Pháp. Thắng lợi của Chiến dịch Hòa Bình là thành công của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc chỉ đạo tiến công chiến dịch và đưa quân đội ta có bước tiến mới về trình độ chiến thuật, kỹ thuật, về khả năng chiến đấu liên tục dài ngày trên hai mặt trận rộng lớn và phức tạp; tạo ra cơ hội thuận lợi cho các chiến trường khác đẩy mạnh chiến tranh du kích, liên tục tiến công, tiêu diệt sinh lực địch, phát triển lực lượng kháng chiến và mở rộng thêm nhiều vùng căn cứ làm cho cục diện chiến trường thay đổi ngày càng có lợi cho ta, góp phần cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu của quân và dân ta trên các chiến trường.
     Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” đối với cách mạng nước ta và sẵn sàng can thiệp bằng vũ trang khi cần thiết. Để đánh thắng các thế lực thù địch, Quân đội ta cần chủ động nắm chắc tình hình, đánh giá và dự báo đúng các tình huống phức tạp có thể xảy ra; phát hiện kịp thời âm mưu, hành động của chúng để chuẩn bị lực lượng đủ mạnh và các kế hoạch, phương án tác chiến cụ thể sẵn sàng ngăn chặn, đẩy lùi từ xa; duy trì nghiêm chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo, nhất là các khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố có thể gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống. Mỗi cán bộ, chiến sĩ cần xây dựng cho mình bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm cao, sẵn sàng đập tan mọi ý đồ xâm lược của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
[*] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2011, tập 7, tr.391.
Môi trường (Yêu nước) ST.

ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TỘC

 

Trong công cuộc đổi mới đất nước, đường lối, chủ trương của Ðảng, Nhà nước về ĐĐK toàn dân tộc ngày càng được hoàn thiện và thể chế hóa bằng các chính sách, pháp luật. Các tầng lớp nhân dân đã nỗ lực chung sức, chung lòng cùng Ðảng, Nhà nước vượt qua khó khăn, thử thách, giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an sinh xã hội và tiếp tục nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra các chủ trương và giải pháp chủ yếu để xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Đó là thực hiện tốt chính sách xã hội, tạo điều kiện cho mọi giai cấp, tầng lớp xã hội phát triển vững mạnh. Cùng với phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, việc tăng cường đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí cũng được Đảng ta xác định là cơ sở để tạo sự đồng thuận xã hội, đồng thuận giữa nhà nước và nhân dân, qua đó tăng cường khối ĐĐK toàn dân tộc. Thực tế trong công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm chăm lo, bảo đảm lợi ích chính đáng của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt chính sách xã hội, thể hiện sự ưu việt của chế độ xã hội nước ta. Đại đoàn kết (ĐĐK) toàn dân tộc chính là tư tưởng cơ bản, nhất quán và xuyên suốt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Người, đoàn kết là lực lượng vô địch để khắc phục mọi khó khăn, giành lấy thắng lợi trước mọi kẻ thù. Sức mạnh đại đoàn kết giống như bức tường đồng bao quanh Tổ quốc, dù kẻ thù có hung tàn, xảo quyệt đến mức nào, khi đụng đầu nhằm vào bức tường đó sẽ đều thất bại. Thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta xác định vấn đề ĐĐK dân tộc là mục tiêu, nhiệm vụ hàng đầu của Đảng, phải được quán triệt trong các lĩnh vực, từ đường lối, chủ trương, chính sách đến thực tiễn.

Để phát huy tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, Nghị quyết Đại hội XIII xác định cần phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị trong xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng là điều kiện tiên quyết để Đảng ta thực sự xứng đáng là hạt nhân đoàn kết của toàn xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng chính là ngọn cờ tập hợp, quy tụ sức mạnh của khối ĐĐK toàn dân tộc. Để thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh", Đảng ta xác định, cần giải quyết tốt các mối quan hệ, thu hẹp những khác biệt giữa các bộ phận xã hội trong xây dựng khối ĐĐK toàn dân tộc. Giải quyết tốt vấn đề này không chỉ trực tiếp góp phần củng cố sức mạnh của khối ĐĐK toàn dân tộc mà còn là cơ sở để đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn thâm độc của các thế lực thù địch hòng chống phá khối ĐĐK dân tộc ở nước ta... 

Tuy nhiên, trong quá trình đổi mới, đất nước ta đang đứng trước những khó khăn, thách thức, ảnh hưởng tới sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc. Đó là sự phân hóa giàu nghèo; tệ nạn quan liêu, tham nhũng, xa rời quần chúng nhân dân; một bộ phận cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống... Lợi dụng tình trạng này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức xuyên tạc, hòng phá hoại khối ĐĐK toàn dân tộc, làm xói mòn lòng tin của nhân dân với Đảng, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.

Để tiếp tục phát huy sức mạnh ĐĐK toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, cần phải tiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện nhất quán quan điểm: Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; ĐĐK toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các tầng lớp, giai cấp và các thành phần trong xã hội, trong đó đặc biệt chú trọng việc không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đồng thời Cấp ủy, chính quyền, mặt trận các cấp cần tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc, miền núi và vùng đồng bào có đạo, đồng thời phát huy tốt vai trò của người có uy tín trong đồng bào dân tộc, chức sắc tôn giáo trong việc thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo; quan tâm chăm lo từng hộ dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vận động và giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng đời sống ấm no, hạnh phúc. Và phát huy truyền thống đoàn kết, nhân nghĩa, khoan dung của dân tộc, cùng nhau hợp sức xây dựng một xã hội đồng thuận cao trên tinh thần cởi mở, độ lượng, tin cậy lẫn nhau vì sự ổn định và phát triển toàn diện, bền vững của đất nước. 

 

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG KẾT THÚC TỐT ĐẸP CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC TRUNG QUỐC TỪ NGÀY 30.10 - 1.11

 

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam tại sân bay Bắc Kinh có Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Liên lạc Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Lưu Kiến Siêu; Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Phạm Sao Mai và một số cán bộ, nhân viên Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc. Đón Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn tại sân bay Nội Bài có Chủ tịch nước Nguyễn Xuân PhúcThủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, cùng nhiều lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước.

Trong chuyến thăm, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình; nhận Huân chương Hữu nghị do Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình thay mặt Đảng, Chính phủ Trung Quốc trao tặng; hội kiến với Thủ tướng Quốc vụ viện Lý Khắc Cường, Ủy viên trưởng Ủy ban Thường vụ Nhân đại toàn quốc Lật Chiến Thư, Chủ tịch Chính hiệp toàn quốc Uông Dương. Tại các cuộc hội đàm, hội kiến, hai bên đã thông báo cho nhau về tình hình mỗi Đảng, mỗi nước; đi sâu trao đổi ý kiến và đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng về quan hệ hai Đảng, hai nước Việt - Trung và tình hình quốc tế, khu vực hiện nay. Nhân dịp này, hai bên ký kết 13 văn kiện hợp tác giữa các ban, bộ, ngành, địa phương.

GIỮ VỮNG BẢN SẮC VĂN HÓA GẮN VỚI HỘI NHẬP KINH TẾ

 

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, để đặt ách đô hộ đối với Việt Nam, các thế lực xâm lược luôn tìm mọi cách để đồng hóa dân tộc ta, trước hết về văn hóa. Song, lịch sử cũng chứng minh rằng, không có một thế lực nào thực hiện được dã tâm đó, bởi nền văn hóa đặc sắc đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước đã trở thành cốt cách, nền tảng của dân tộc ta. Chủ động phát hiện và giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh: giữa cái cũ và cái mới, giữa truyền thống và hiện đại, giữa cái đặc thù và cái phổ biến

Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra sôi động, là bước ngoặt để Việt Nam chuyển mình và cất cánh; tuy nhiên trong quá trình mở cửa, giao lưu hội nhập về kinh tế, thường kéo theo những tác động trên mặt trận tư tưởng, văn hóa cả tích cực lẫn tiêu cực.... trong hội nhập văn hóa; tạo điều kiện thuận lợi phát huy nguồn cảm hứng của mọi cá nhân, cộng đồng trong sáng tạo những giá trị hiện thực của văn hóa dân tộc theo định hướng của Đảng. Đồng thời, kế thừa giá trị văn hóa truyền thống đã được hình thành, thử thách, tôi luyện trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước; tiếp thu những giá trị văn hóa tiên tiến của nhân loại, sáng tạo giá trị văn hóa mới, nhằm phát huy cao độ giá trị văn hóa dân tộc và ngăn chặn hiệu quả sự “xâm lăng văn hóa” phản tiến bộ len lỏi vào đời sống tinh thần nhân dân.

Trong một thế giới đầy biến động ngày nay, nhiều tổ chức, nhà đầu tư, du khách quốc tế tìm đến Việt Nam vì sự ổn định về chính trị và cũng vì một Việt Nam lôi cuốn, hấp dẫn bởi nét văn hóa đặc sắc, độc đáo đó. Song, các thế lực thù địch không muốn Việt Nam phát triển theo đường lối độc lập, tự chủ. Cái họ muốn là đất nước Việt Nam từ bỏ quá khứ, từ bỏ bản sắc của mình để “hòa nhập”, “phát triển” theo ý đồ của họ, mà thực chất là “hòa tan” vào văn hóa phương Tây. Điều đó lý giải vì sao chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch ngày càng đẩy mạnh “xâm lăng văn hóa” đối với Việt Nam. Vì vậy, nhận diện đúng và kiên quyết đấu tranh chống “xâm lăng văn hóa” không chỉ là một yêu cầu quan trọng, cấp bách trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa hiện nay mà còn góp phần thiết thực đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực làm tha hóa con người Việt Nam. Đó chính là yếu tố bảo đảm cho Việt Nam trường tồn và phát triển.