Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

Luật pháp phải đúng, trúng... và có “hồn”!

 Thời gian này trên truyền thông và mạng xã hội bàn nhiều về doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn lớn do tư nhân làm chủ sở hữu đang vướng vào việc thanh, kiểm tra của cơ quan chức năng và nhiều doanh nghiệp “đình đám” đã bị phong toả, lãnh đạo vướng vào vòng lao lý… từ đó đã gây hệ luỵ xấu cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực. Đặc biệt là thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và dòng tiền lưu thông trong xã hội… từ những hệ luỵ này đã và đang gây bất ổn cho xã hội.


Một góc nhìn của cá nhân tôi… Về vấn đề này cần được làm rõ, minh bạch và sòng phẳng bởi thực tế trong thời gian dài qua việc ban hành các đạo luật, các nghị định, quy định… về kinh doanh thương mại, đầu tư phát triển cần phải được nghiêm túc rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện. Từ những cái chưa hoàn thiện, chưa tốt, chưa chỉn chu dẫn đến việc thực thi chính sách, quy định của pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, dẫn đến sai phạm ngày càng lớn và nguy hiểm hơn. Cũng từ đó tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nếu không giữ được liêm khiết, thanh bạch sẽ lợi dụng vi phạm của doanh nghiệp, doanh nhân để áp đặt cách nghĩ và cách nhìn chủ quan của mình dưới sự bảo hộ vô hình của pháp luật và được nhân danh Nhà nước để xử lý các vấn đề thiếu chuẩn mực, duy ý chí, đôi khi dùng quyền lực của mình để đổi trắng thay đen, làm sai lệch bản chất sự việc. 

Doanh nghiệp và doanh nhân đầu tư kinh doanh để thành công là điều không dễ, phải nói là cực kỳ khó khăn khi luật pháp chồng chéo, khi bị “nhóm lợi ích” cụ thể hoá ra văn bản có lợi cho sân sau, cánh hẩu của mình để ăn chia, để lợi dụng và cuối cùng là doanh nghiệp, doanh nhân lãnh đủ những hậu quả cực kỳ tệ hại đã và đang xảy ra.

Nhiều doanh nghiệp lớn trong thời gian chưa bị thanh, kiểm tra, luôn là doanh nghiệp được truyền thông đưa tin, người lao động ngợi ca hết lời, dùng những câu chữ, câu từ có cánh để “lăng xê”, để tạo thương hiệu, tên tuổi với mục đích dẫn dắt dư luận, nhà đầu tư tham gia. Đến khi có chuyện hoặc có thể có chuyện thì tất cả những lời ngợi ca lúc trước sẽ “quay xe” 180 độ, thi nhau “ném đá”, “đổ bùn đen”. Nghiêm trọng hơn là sự suy luận của một số người có tên tuổi, có ảnh hưởng tới cộng đồng nhằm “dìm hàng” và “bôi cho nhọ”, đôi khi chỉ muốn cho thiên hạ biết mình là ai, mình là người hiểu chuyện, là người có nhãn quan, có quan hệ và có thông tin “mật”.

Nhận xét và đánh giá mọi việc xung quanh, trong cộng đồng và xã hội là quyền của mọi người, trong đó có tôi và các bạn, 
nhưng thiết nghĩ cần phải tiết chế, cần phải có kiểm chứng để tránh làm tổn thương tới người khác khi câu chuyện chưa được sáng tỏ. Chúng ta luôn hiểu rằng “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” không chỉ trong chính trường mà trong thương trường còn khắc nghiệt hơn. Khi người ta dấn thân vào thương trường “bỏ tiền tấn thu bạc cắc” kinh doanh, sản xuất ở mức độ “bé và nhỏ” thì mọi việc thành bại đơn giản. Khi doanh nghiệp lớn dần, có vốn đầu tư, kinh doanh hàng ngàn tỷ đồng và tạo ra hàng ngàn người lao động thì mọi việc sẽ không còn đơn giản nữa.

Có không ít người rất vui khi bất cứ doanh nghiệp lớn nào bị phá sản, bị vướng vào vi phạm pháp luật. Và cũng có nhiều người buồn, trong đó có cá nhân tôi, khi phải nhìn thấy cảnh đó xảy ra với bất cứ doanh nghiệp hay doanh nhân khi gặp biến cố không lợi cho dù là bất cứ lý do nào. Bởi khi đã xảy ra sẽ thiệt hại khôn lường với cá nhân, tập thể không chỉ về tài chính, về uy tín và nguy hại hơn đó là “niềm tin” với thị trường, với luật pháp.

Con người sống ở bất cứ nơi đâu cũng phải thượng tôn pháp luật, muốn cộng đồng xã hội thượng tôn pháp luật thì điều tiên quyết đầu tiên là luật pháp phải minh bạch, rõ ràng, đúng, trúng, chuẩn, phải mang hơi thở của cuộc sống nên cần luật có “hồn”.

VTT (St)

Mấy suy nghĩ về vấn đề xây dựng Đảng hiện nay



Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đối diện với thách thức, diễn biến hết sức phức tạp, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ, các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh mạng,… Đặc biệt, đại dịch COVID-19 từ đầu năm 2020, xảy ra đã tác động mạnh đến nước ta, gây thiệt hại về kinh tế - xã hội và sự phát triển của đất nước. Nếu không giữ vững bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí và hành động, không trong sạch về đạo đức lối sống, không chặt chẽ về tổ chức, không được nhân dân ủng hộ thì Đảng không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên.

Thực tế cho thấy bên cạnh đa số những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu được nhân dân tin tưởng, đã xuất hiện “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Điều đó đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng. Bởi vậy liên tiếp trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XI và XII, BCH Trung ương đã ban hành và tập trung nguồn lực để thực hiện hai nghị quyết chuyên đề quan trọng: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết tập trung vào 3 vấn đề trong đó có ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên đến cuối nhiệm kỳ tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa kịp giảm vẫn là vấn đề nhức nhối, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả điều hành của nhà nước. Từ thực trạng đó BCH Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 04 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái bao gồm 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cùng 4 nhóm nhiệm vụ giải pháp công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình, về cơ chế, chính sách, về kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng, về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII rất đồng bộ, rất toàn diện, rất quyết liệt và có tính đột phá, đem lại kết quả rất cụ thể, đã giải quyết được hàng loạt các vụ việc trong đó có những vấn đề khó, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tạo ra niềm tin to lớn trong nhân dân đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn của Đảng. Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, kết hợp giữa xây và chống. Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta khẳng định tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và nhấn mạnh một số nội dung mới, chủ yếu là: Mở rộng phạm vi không chỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát hợp tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh sự nguy hiểm của biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.

Năm 2016, Đảng đã khởi xướng chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô lớn mà người dân vẫn thường gọi là chiến dịch “đốt lò”, có người là Ủy viên Bộ Chính trị đã bị bắt, có người từng là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân phải đứng trước vành móng ngựa và Bộ trưởng về hưu cũng không thể “hạ cánh an toàn”... Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cùng với chiến dịch “đốt lò” chính là cuộc chiến trực diện nhất, quyết liệt nhất nhằm vào thế lực ghê gớm nhất đang thao túng mọi mặt và đẩy Đảng đứng trước nguy cơ của sự tồn vong, từ đây thắp lên trong nhân dân, cùng những đảng viên yêu Đảng niềm tin và khả năng tự soi, tự sửa, tự chỉnh đốn để trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên thời gian qua chúng ta vẫn phải chứng kiến những vụ việc tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên bị phanh phui. Không ít những cán bộ, đảng viên Trung ương đến địa phương bị xử lý kỷ luật. Lò lửa chống tham nhũng cháy mỗi ngày một to, củi mỗi ngày một nhiều.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc xử lý kỷ luật đưa những đảng viên suy thoái ra khỏi Đảng là giải pháp quan trọng cấp bách, thường xuyên. Nhưng giải pháp cơ bản mang tính chiến lược lâu dài thì phải chú trọng xây dựng tổ chức, xây dựng con người, mà công việc đó bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”. Chất lượng đảng viên quy định chất lượng các tổ chức Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng, vai trò lãnh đạo uy tín của Đảng đối với xã hội do phẩm chất năng lực và trình độ của mỗi đảng viên tạo thành. Đảng viên tốt là do rèn luyện mà nên, mà việc rèn luyện đó không phải ngày một, ngày hai, đó là cả quá trình kiên trì bền bỉ, tự mình trau dồi chuyên môn và phẩm chất đạo đức mỗi ngày. Trong cuộc sống ngày hôm nay với những cám dỗ lớn lao tiền tài, địa vị, nếu không tự mình trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng thì rất khó giữ được tấm lòng trong sáng, kiên định được mục tiêu lý tưởng của người đảng viên. Thực tế đã có những bài học cay đắng do thiếu tu dưỡng đạo đức mà thành, có những đảng viên trong gian khổ thì hăng hái trung thành, nhưng khi có trong tay quyền lực thì kiêu ngạo, xa xỉ, tham ô, lãng phí, có người đã kiên trì phấn đấu gần hết cuộc đời nhưng cuối cùng sự nghiệp lại đổ vỡ, thậm chí vướng vào vòng lao lý, đó là do họ đã không thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức, sớm bằng lòng tự mãn với bản thân để rồi dần suy thoái.

Việc xây dựng đảng viên tốt là công việc xây dựng con người để Đảng vững mạnh từ gốc. Xây dựng con người phải đi liền với xây dựng tổ chức, tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ, chi bộ chính là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh, các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh. Từ những sai phạm của đảng viên dẫn đến trách nhiệm của các chi bộ, sai phạm bắt đầu từ những khuyết điểm nhỏ nếu như không có sự phê bình nhắc nhở quản lý giáo dục của tổ chức lâu dần trở thành vết trượt dài không cứu vãn nổi. Công cuộc cách mạng do nhiều việc nhỏ, nhiều bộ phận xây dựng nên, không có những việc nhỏ, những bộ phận nhỏ cộng lại thì không thành việc lớn. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở phải chăm lo củng cố chi bộ giống như việc muốn làm nhà tốt phải xây nền cho vững, có chi bộ tốt, đảng viên tốt, nền móng vững chắc tất yếu Đảng sẽ mạnh. Trong đó quan trọng nhất vẫn ở người đảng viên, nếu mỗi đảng viên trong chi bộ thực sự suy ngẫm lại bản thân đã nỗ lực, đã cống hiến cho cơ quan, đơn vị, làm gì xứng đáng với lời thề trước Đảng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, có những sửa đổi dù nhỏ nhưng bền bỉ lâu dài thì Đảng ta ngày càng vững mạnh, vững vàng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân, gặt hái những vụ mùa hạnh phúc.

VTT (sT)

Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước và ý nghĩa đối với thanh niên Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước được hình thành và phát triển trên cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam. Đó là sản phẩm tinh thần cao đẹp, tạo nên nguồn cổ vũ mạnh mẽ, đoàn kết nhân dân, đấu tranh giải phóng dân tộc. Là lực lượng nòng cốt của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thanh niên Việt Nam là nhân tố quan trọng, quyết định tương lai và vận mệnh của đất nước. Vì vậy, bồi dưỡng tư tưởng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên là hết sức cần thiết. Khi hiểu rõ và thấm nhuần được tinh thần chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh, lực lượng thanh niên sẽ rèn luyện, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước hiện nay.

 
 1. Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng mang tính thời đại.

Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống nhất, không tách rời nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5, tr.38]. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” [4, tr.161]. Mọi kế sách đều là vô nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba” [3, tr.128].

Hồ Chí Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước. Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy, khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ [7, tr.53]. Từ đó, Người đã tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng 12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó, phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau” [6, tr.272]Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do” [1, tr.553]. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến cứu nước hoàn toàn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay [9, tr.103, 104]. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước” [10, tr.104].

2. Thế hệ thanh niên là lực lượng to lớn trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước

Cho đến nay, chủ nghĩa yêu nước vẫn là giá trị cốt lõi của dân tộc Việt Nam. Đó là một trong những động lực quan trọng nhất góp phần gắn kết cộng đồng, giữ vững độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và thúc đẩy đất nước phát triền. Đặc biệt, trong bối cảnh mới, càng đòi hỏi phải phát huy “tinh thần yêu nước” cao độ của mỗi người, đặc biệt là thế hệ thanh niên.  

Ở bất cứ thời đại nào, thanh niên luôn lực lượng tiên phong trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Sức trẻ cùng với lòng nhiệt huyết của mình, thanh niên Việt Nam không ngại khó khăn, gian khổ, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Nhận thức về vai trò của thanh niên, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, thanh niên là lực lượng quyết định sự phát triển của cách mạng, của dân tộc, “nhà nước thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Để hoàn thành trọng trách lịch sử đó, đội ngũ thanh niên cần phải có ý chí vươn lên, đồng thời Đảng phải có trách nhiệm chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên thành lớp người “vừa hồng, vừa chuyên”.

Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước cho thế hệ thanh niên. Người khẳng định: “cốt nhất của nhà trường là dạy học cho học trò biết yêu nước, thương nòi. Phải dạy cho họ có ý chí tự lập, tự cường, quyết không chịu thua kém ai, quyết không chịu làm nô lệ” [2, tr.102]. Cách tốt nhất để bồi dưỡng lòng yêu nước cho thanh niên là giáo dục truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng. Từ đó bồi đắp, củng cố cho thế hệ trẻ hiểu được giá trị lịch sử, giá trị của cuộc sống hoà bình, tự do, độc lập, xây dựng cho mình hoài bão, khát vọng, ý chí, quyết tâm vượt lên khó khăn, thử thách; có tinh thần đoàn kết, chia sẻ, tương thân, tương ái, sẵn sàng cống hiến và hy sinh vì lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Hiện nay, trước sự biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, có nhiều vấn đề tác động ảnh hưởng đến lòng yêu nước của thanh niên như: tác động của nền kinh tế thị trường, lối sống thực dụng, in-tơ-nét, mạng xã hội… Đặc biệt, sự chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta vẫn diễn ra quyết liệt với thủ đoạn ngày càng tinh vi và xảo quyệt hơn. Là đối tượng nhạy cảm, dễ bị kích động, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để lôi kéo, lợi dụng giới trẻ, gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong bộ phận thanh niên, làm phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái đạo đức, lối sống trong thế hệ tương lai của đất nước. Vấn đề này nếu không được kịp thời giải quyết triệt để sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng với tương lai, tiền đồ của đất nước. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) đã nhấn mạnh: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên” [8, tr.82].

Qua các thời kỳ lịch sử cách mạng, thế hệ thanh niên Việt Nam luôn là lực lượng quả cảm, tiên phong trong các phong trào cách mạng, không ngại gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc. Trong giai đoạn hiện nay, tiếp nối truyền thống quý giá của cha ông để lại, thanh niên Việt Nam không ngừng ra sức phấn đấu lao động, học tập, rèn luyện về mọi mặt, có ý chí vươn lên trong cuộc sống. Họ có nhận thức và thái độ chính trị đúng đắn, kiên quyết đấu tranh những biểu hiện sai trái trong đạo đức và lối sống, có sức đề kháng và còn là lực lượng to lớn trong việc làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch nhằm gây tổn hại đến sự phát triển của đất nước. Phần lớn thanh niên, ngay từ khi còn trong ghế nhà trường đã luôn có ý thức chính trị - xã hội tốt, tích cực tham gia các phong trào, hoạt động đoàn thể để được cống hiến và trưởng thành. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng ngày càng tăng. Minh chứng cho tinh thần yêu nước vẫn luôn là ngọn đèn sáng soi rọi cho mọi suy nghĩ và hành động của thanh niên, hình thành nên một thế hệ thanh niên nhiệt tình, dám làm, dám chịu trách nhiệm và luôn muốn được cống hiến, phụng sự vì một nước Việt Nam hùng mạnh và văn hiến.  

Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng còn một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, suy thoái về đạo đức, lối sống, lãng quên truyền thống cách mạng của Đảng và dân tộc, bàng quan trước tình hình của đất nước. Một số thanh niên còn mơ hồ về chính trị, chưa xác định được trách nhiệm của thanh niên nói chung và bản thân nói riêng, ngại tham gia các hoạt động đoàn thể và các hoạt động xã hội. Một bộ phận thanh niên đi học ở nước ngoài, tiếp cận các tư tưởng phương Tây nhưng không có bản lĩnh chính trị vững vàng nên bị phai nhạt lý tưởng xã hội chủ nghĩa, có những thái độ chỉ trích phê phán chủ quan, phiến diện, thậm chí có thái độ đối lập. Đánh giá về thực trạng thanh niên hiện nay, Nghị quyết số 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá X nhận định: “Một bộ phận thanh niên sống thiếu lý tưởng, giảm sút niềm tin, ít quan tâm đến tình hình đất nước, thiếu ý thức chấp hành pháp luật, sống thực dụng, xa rời truyền thống văn hoá dân tộc”.

Vì vậy, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ Việt Nam là việc làm rất quan trọng và cần thiết. Giáo dục chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thế hệ trẻ không chỉ là duy trì những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, đó còn là tăng thêm sức mạnh nội sinh, phát huy tiềm lực con người cho quá trình phát triển đất nước.

3. Một số giải pháp nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên Việt Nam hiện nay

Đại hội XIII của Đảng xác định:  “Động lực và nguồn lực phát triển quan trọng của đất nước là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc” [11, tr.34]. Vì vậy, nâng cao chất lượng giáo dục, làm rõ hơn nữa những nội dung của chủ nghĩa yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh là nhiệm vụ rất cần thiết, mang tính chiến lược lâu dài trong giai đoạn hiện nay để nâng cao sức đề kháng cho thế hệ thanh niên trước âm mưu “diễn biến hoà bình”, giúp các em có khả năng chủ động đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái, thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta. Trong giai đoạn hiện nay, để nâng cao chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh cho thanh niên cần tập trung vào những giải pháp sau:

Một là, nâng cao chất lượng công tác giáo dục tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước cho thanh niên. Các chủ thể giáo dục như nhà trường, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phải chú trọng nội dung, phương pháp phù hợp với thanh niên. Giáo dục không chỉ cần bám sát nội dung cốt lõi của chủ nghĩa yêu nước mà cần phải được liên hệ, phản ánh với đặc điểm của thời đại. Cần giáo dục sinh động, hấp dẫn và dễ tiếp thu như thông qua: hình ảnh, phim truyện, đàm thoại, diễn đàn khoa học tạo điều kiện để các đoàn viên, thanh niên được trao đổi nhằm nâng cao nhận thức cả về lý luận và thực tiễn. Phương pháp giáo dục chủ nghĩa yêu nước phải xuất phát từ thực tiễn, bám sát thực tiễn, lý luận gắn với thực tiễn; kết hợp hiệu quả giữa giáo dục tại nhà trường với giáo dục trong gia đình và các tổ chức chính trị - xã hội.

Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị, Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015-2030 thông qua 3 phong trào lớn đó là: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo” và “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”. Những nội dung chủ nghĩa yêu nước cần phải được cụ thể, tổ chức sáng tạo, phù hợp với lứa tuổi, đơn vị, cơ quan, địa phương nhằm phát huy hiệu quả.

Hai là, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đoàn phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức, giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”. Vì vậy, phải xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh, có uy tín, trở thành nơi “bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau”.

Trước hết, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức và lối sống lành mạnh, luôn là tấm gương sáng cho đoàn viên noi theo. Đoàn viên thanh niên không ngừng tự giác học tập, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn, phát huy các giá trị truyền thống dân tộc trong xây dựng lối sống. Mặt khác, tổ chức đoàn tiếp tục tăng cường, giáo dục tinh thần yêu nước, những truyền thống quý báu của dân tộc, tổ chức vận động đoàn viên thanh niên không ngừng học tập, rèn luyện ý chí, cống hiến sức mình trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Các tổ chức cơ sở đoàn cần thường xuyên quan tâm đến tâm tư, nguyện vọng của đoàn viên chi đoàn mình. Chủ động dự báo, nắm chắc và dự báo diễn biến tư tưởng, tâm trạng của đoàn viên thanh niên để định hướng, giáo dục và kịp thời giải quyết các vấn đề mới nảy sinh. Đặc biệt, cần kết hợp chặt chẽ giữa tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước với đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước. Thi đua chính là điều kiện, tiền đề quan trọng để biến lòng yêu nước từ “học tập” trở thành “làm theo” trong từng hành động cụ thể.

Ba là, truyền cảm hứng cho thanh niên thông qua gương “người tốt, việc tốt” để giáo dục và tự giáo dục. Thanh niên luôn ngưỡng mộ những người tài giỏi nên cần phát huy các gương điển hình tiên tiến để lôi cuốn, cổ vũ và thuyết phục thanh niên. Thấm nhuần lời dạy của Hồ Chí Minh: một tấm gương tốt, một tấm gương sống còn quý hơn hàng trăm bài diễn văn. Vì vậy, tăng cường tuyên truyền, biểu dương các tấm gương điển hình tiên tiến, bao gồm tiên tiến về: tư tưởng, đạo đức lối sống, tác phong và tiên tiến về mô hình, cách làm để tạo hiệu ứng lan toả, khích lệ tinh thần thi đua học tập và phấn đấu của mỗi người. Khi được truyền cảm hứng sẽ tạo nên sức mạnh nội lực bên trong, cổ vũ và thúc đẩy thế hệ thanh niên Việt Nam nuôi dưỡng ước mơ, hoài bão, sáng tạo với những quyết tâm lớn để kế tiếp những thế hệ trước hoàn thành giấc mơ xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai cùng các nước trên thế giới.

Bốn là, xây dựng hệ giá trị văn hoá chuẩn mực để giáo dục dục cho thanh niên. Để phát huy được tinh thần yêu nước của thế hệ thanh niên theo chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, chúng ta cần phải xây dựng một môi trường xã hội với các giá trị văn hoá chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, sự bùng nổ của in-tơ-nét khiến cho văn hoá phương Tây ảnh hưởng đến lối sống cùng với âm mưu “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch khiến cho một bộ phận thanh niên mơ hồ, hoài nghi và phai nhạt lý tưởng cách mạng. Do vậy, sớm xác định giá trị quốc gia và chuẩn mực giá trị con người Việt Nam hiện đại, tạo cơ sở xây dựng, triển khai, thực hiện các chính sách, giải pháp phục vụ cho sự phát triển con người, khắc phục sự xuống cấp về đạo đức, lối sống trong thế hệ trẻ hiện nay. Trên cơ sở đó, xây dựng môi trường xã hội văn hoá, gắn với việc xây dựng gia đình văn hoá, xã hội văn hoá, đồng thời tăng cường giáo dục ý thức phòng ngừa và ngăn chặn kịp thời những âm mưu tấn công của các thế lực phi văn hoá, phản văn hoá, những suy đồi trong đạo đức, lối sống. Để làm được điều đó, Đảng và Nhà nước cần có những chính sách phù hợp trong xây dựng chính sách phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, sự phát triển kinh tế là tiền đề cho sự phát triển văn hoá, đạo đức. Phát huy sức mạnh của văn hoá, đặc biệt là những giá trị chân - thiện - mỹ, những giá trị phổ biến và phổ quát của văn hoá mà thanh niên cần phải được tiếp thu để trở thành những công dân có đức đức, có văn hoá. Phải có những hình thức, cơ chế, đặc biệt phát huy vai trò của các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, giáo dục, tạo điều kiện cho thanh niên có thể tiếp cận và thấm nhuần các giá trị văn hoá dân tộc, chuyển biến những giá trị văn hoá tốt đẹp vào trong các hoạt động cuộc sống. Có như vậy, mới xây dựng được thế hệ thanh niên mang trong mình tinh thần yêu nước sâu sắc để từ đó kế tiếp và phát huy những truyền thống vẻ vang của dân tộc; để dù hội nhập quốc tế, Việt Nam vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc, kiên định, vững vàng trước mọi thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

VTT (sT)

Chuyển đổi số là một đòi hỏi đối với các cơ quan báo chí - truyền thông

 Sáng 3-11, Báo Nhân Dân, Học viện Báo chí và Tuyên truyền và Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc (KOICA) phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế”. Dự Hội thảo có đồng chí Lê Quốc Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam; PGS, TS. Phạm Minh Tuấn, Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật; PGS, TS. Phạm Minh Sơn, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền; ông Cho Han-Deog, Giám đốc quốc gia KOICA Việt Nam; ông Lee Hee Yong, Giám đốc điều hành Quỹ Xúc tiến truyền thông Hàn Quốc cùng các nhà báo, học giả đến từ các cơ quan báo chí, viện nghiên cứu Việt Nam và Hàn Quốc.

Các đại biểu dự Hội thảo.

Quang cảnh Hội thảo.

"Chuyển đổi số” là từ khóa đặc biệt quan trọng và phổ biến trên các diễn đàn khoa học, báo chí và hành chính trong thời gian qua. Chuyển đổi số không chỉ là một xu hướng mà còn trở thành đòi hỏi đối với các cơ quan báo chí - truyền thông. Đại dịch COVID-19 bùng phát từ đầu năm 2020 càng nhấn mạnh tầm quan trọng và tính cấp bách của chuyển đổi số trong việc thay đổi phương thức vận hành và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan báo chí - truyền thông.

Đồng chí Lê Quốc Minh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân phát biểu tại Hội thảo.

Đồng chí Lê Quốc Minh, Uỷ viên Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Phát biểu tại Hội thảo, đồng chí Lê Quốc Minh cho rằng, chuyển đổi số báo chí không chỉ là vấn đề công nghệ mà còn là chuyển đổi về tư duy, đặc biệt là tư duy người lãnh đạo, cũng như chuyển đổi về văn hóa trong tòa soạn. Công nghệ nằm ở vị trí trung tâm của chiến lược chuyển đổi số nhằm tạo ra những nội dung hấp dẫn và chinh phục các nhóm công chúng mới. Tuy nhiên, nhà lãnh đạo cần có tư duy chuyển đổi số và lan tỏa tư duy này đến mọi cán bộ, phóng viên của cơ quan báo chí.

Trong bối cảnh hoạt động báo chí quốc tế và trong nước đã có rất nhiều thay đổi trong thời gian qua, Báo Nhân Dân và Hội Nhà báo Việt Nam đã tổ chức  nhiều hội thảo để hỗ trợ các cơ quan báo chí tìm cách tháo gỡ những khó khăn và phát triển bền vững trong tương lai. Tuy nhiên rất khó để tìm ra mô hình chung, hiệu quả với tất cả các cơ quan báo chí. Mỗi cơ quan báo chí có một thế mạnh riêng, khó khăn riêng. Do vậy, cần tăng cường trao đổi tìm ra những biện pháp để vượt qua những khó khăn của riêng mình và học hỏi các cơ quan báo chí khác.

Ông Cho Han-Deog, Giám đốc quốc gia KOICA Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Ông Cho Han-Deog, Giám đốc quốc gia KOICA Việt Nam phát biểu tại Hội thảo.

Ông Cho Han-Deog, Giám đốc quốc gia KOICA Việt Nam khẳng định: Chuyển đổi số đã trở thành một xu hướng không thể đảo ngược, xuất hiện trong cả trong lĩnh vực công lẫn khối doanh nghiệp tư. Ông cho rằng: Các công nghệ truyền thông kỹ thuật số như 5G và điện toán đám mây đã trở thành nền tảng để chúng ta làm việc tại nhà. Trí tuệ nhân tạo và in-tơ-nét vạn vật vẫn hiện hữu ở xung quanh mà chúng ta không biết như giới thiệu các sản phẩm đáp ứng mong muốn và nhu cầu mà chúng ta tìm kiếm. Sự chuyển đổi này không chỉ diễn ra trong cuộc sống hằng ngày mà còn là một sự chuyển đổi lớn đang diễn ra trong cấu trúc kinh tế và xã hội.

Theo PGS, TS. Phạm Minh Sơn, Giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền thì “Chuyển đổi số vừa là cơ hội, vừa là thách thức. Nếu thực hiện chuyển đổi số thành công, đó sẽ là cơ hội cho cơ quan truyền thông đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao hiệu quả thông tin và phục vụ công chúng”.

Hội thảo gồm 1 phiên khai mạc và 2 phiên chuyên đề với 6 tham luận do các chuyên gia Việt Nam và Hàn Quốc trình bày. Phiên 1 tập trung vào kinh nghiệm truyền thông chính sách của Việt Nam và Hàn Quốc trong bối cảnh chuyển đổi số với 3 tham luận: “Báo chí – truyền thông trong dòng chảy chuyển đổi số và hội nhập quốc tế” do nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng Biên tập Báo Nhân Dân trình bày; “Vai trò của Quỹ Xúc tiến truyền thông Hàn Quốc trong môi trường số” do ông Lee Hee Yong, Giám đốc điều hành Quỹ Xúc tiến truyền thông Hàn Quốc trình bày; “Đóng góp của xuất bản với truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế từ thực tiễn của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật” do PGS, TS. Phạm Minh Tuấn, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật trình bày.

Phiên 2 tập trung vào các sáng kiến và giải pháp để thúc đẩy truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế với 3 tham luận: “Truyền thống chính sách của Hàn Quốc” qua góc nhìn của nhà báo Nguyễn Công Dũng, Phó Tổng biên tập Thường trực Báo Điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam; “Công nghệ chuỗi khối (blockchain) và hệ sinh thái tin tức mới" do TS. Sonho Kim, Trưởng Phòng Nghiên cứu, Viện Báo chí Hàn Quốc trình bày; “Đào tạo nhân lực truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế” do TS. Lương Ngọc Vĩnh, Trưởng Khoa Tuyên truyền, Học viện Báo chí và Tuyên truyền trình bày.

Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông chính sách trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế” là hoạt động trong khuôn khổ dự án Hỗ trợ Học viện Báo chí và Tuyên truyền nâng cao năng lực thực thi chính sách của Chính phủ (giai đoạn 2) do Cơ quan Hợp tác quốc tế Hàn Quốc tài trợ. Hội thảo là hoạt động thường niên, diễn ra từ năm 2016 trở lại đây. Các hội thảo này là diễn đàn quan trọng cho các chuyên gia Việt Nam và Hàn Quốc trao đổi thông tin, kinh nghiệm và giải pháp cho các vấn đề báo chí, truyền thông và xã hội có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.

VTT (St)

3 LẦN KÊU GỌI TỔNG ĐỘNG VIÊN TOÀN QUỐC

- Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến phát đi ngày 19/12/1946: Vào cuối năm 1946, sau khi những nỗ lực đàm phán hòa bình giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Pháp vào giữa năm 1946 để công nhận một nước Việt Nam độc lập, không thành công. Lời kêu gọi này được phát ra vào sáng ngày 20 tháng 12 năm 1946. Đêm hôm trước – ngày 19 tháng 12 khi chiến sự bùng nổ – là ngày được gọi là "Toàn quốc kháng chiến". - Lời kêu gọi cả nước chống Mỹ của Hồ Chủ tịch phát đi ngày 17/7/1966: Ngày 17-7-1966, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta bước vào giai đoạn ác liệt nhất, đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh bằng không quân đánh phá miền Bắc, trên Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, lời kêu gọi nhân dân cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vang lên: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn!”. - Lời kêu gọi cả nước chống quân xâm lược Trung Quốc được phát đi và ngay trong ngày 5/3/1979: Ngày 5-3-1979, Chủ tịch nước công bố Lệnh tổng động viên trong cả nước để bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Cùng ngày 5-3, Hội đồng Chính phủ ra Nghị định số 83-CP quy định mọi công dân (nam từ 18 đến 45 tuổi, nữ từ 18 đến 35 tuổi) có đủ điều kiện đều gia nhập dân quân du kích tự vệ; thực hiện chế độ làm việc và luyện tập quân sự, đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. - Nguồn: Sưu tầm