Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022

TẦM VÓC, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CỦA CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”

 


Thứ nhất, Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không”là một trong những chiến công oanh liệt, là bản hùng ca vĩ đại trong thế kỷ XX;mãi đi vào lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta như những “Chi Lăng”, “Hàm Tử”, “Đống Đa”, trở thành biểu tượng của ý chí, trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Thứ hai, Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” góp phần bảo vệ vững chắc miền Bắc xã hội chủ nghĩa, giữ vững thành quả cách mạng đã giành được, tạo ra bước chuyển chiến lược căn bản về cục diện của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, góp phần giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Đế quốc Mỹ liên tiếp thực hiện hai cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc mà đỉnh cao là cuộc tập kích đường không chiến lược cuối tháng 12/1972 hòng “đưa miền Bắc về thời kỳ đồ đá”. Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã đập tan âm mưu thâm độc của kẻ thù, bảo vệ vững chắc thành quả cách mạng, tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, thôi thúc toàn dân đoàn kết, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; quyết tâm chiến đấu giành thắng lợi hoàn toàn ở cả hai miền Nam - Bắc.

Thứ ba, Chiến thắng “Hà Nội-Điện Biên Phủ trên không” là thắng lợi của đường lối chiến tranh nhân dân, của thế trận phòng không nhân dân; là chiến thắng của sức mạnh chính trị, tinh thần của toàn dân tộc Việt Nam; là ý chí, quyết tâm dám đánh, biết đánh và quyết thắng giặc Mỹ xâm lược.

Kế thừa và phát triển truyền thống nghệ thuật quân sự Việt Nam,Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” chứng minh cho chân lý: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.Một dân tộc tuy đất không rộng, người không đông nhưng biết đoàn kết đấu tranh cho hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của một Đảng mácxít chân chính, với đường lối và phương pháp cách mạng đúng đắn có thể chiến thắng mọi kẻ thù với vũ khí trang bị hiện đại nhất.

Thứ tư, Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đánh bại sức mạnh quân sự hùng hậu của chủ nghĩa đế quốc, góp phần dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới; làm tăng thêm sức mạnh, củng cố niềm tin cho các lực lượng đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không" làm thất bại toàn bộ các mục tiêu chiến lược phía Mỹ đặt ra; đặc biệt, không những không đè bẹp được ý chí chiến đấu của quân và dân ta mà còn làm tăng thêm tinh thần quyết chiến, quyết thắng của cả dân tộc, làm sụp đổ“thần tượng không lực Hoa Kỳ”,cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc và tiến lên chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Sự thất bại toàn diện cả về chiến lược quân sự và chính trị của đế quốc Mỹ báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân mới. Sau Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” và thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nhiều nước thuộc thế giới thứ ba đã đứng lên đấu tranh giành độc lập, chủ quyền.

Thứ năm,Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” đã chứng minh sức sống của học thuyết Mác - Lênin về chiến tranh, cách mạng và giá trị tư tưởng quân sự Hồ Chí Minh. Đó là những quan điểm, tư tưởng về nguồn gốc, bản chất, tính chất của chiến tranh, về xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiến hành chiến tranh nhân dân bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng... Những quan điểm, tư tưởng đó đã được Đảng ta quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo, hiệu quả, thể hiện trong đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, dựa vào sức mình là chính; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để chiến thắng mọi kẻ thù.

NHẬN DIỆN NHỮNG KẺ CƠ HỘI THỜI NAY

 


Trước hết là những người biết chiều theo sở thích của lãnh đạo. Trong thuật dùng binh có câu "Biết người biết ta - trăm trận trăm thắng". Ngày nay thuật ngữ này được vận dụng ngày càng phổ biến trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Đặc biệt là những đối tượng cơ hội thường dùng để lấy lòng cấp trên với tất cả những sở thích mà đối tượng nắm được, từ món ăn, đồ uống cho đến màu sắc, âm thanh, mùi vị, thậm chí đến cả loại nước hoa mà vợ sếp thích dùng, trò chơi mà con sếp thích chơi.....

Đó sẽ là một lối sống lành mạnh của cá nhân khi biết quan tâm đến nhau một cách chân thành. Nhưng đối tượng cơ hội thường sử dụng thủ đoạn này với sếp ở cấp độ "trên mức tình cảm", với sự có mặt rất đúng lúc mỗi khi sếp "có việc" cùng những món quà hợp khẩu vị và sự lo toan cần thiết. Đổi lại, sếp sẽ ưu ái hơn trong công việc, trong đề bạt bổ nhiệm khi có nhu cầu. Trong mắt sếp, đối tượng này bao giờ cũng nổi lên với hình ảnh một con người dễ mến, giàu tình cảm, tháo vát, đáng yêu và cần thiết trong mọi tình huống, nhất là khi sếp cần.

Khi sếp củng cố được quyền lực và nắm giữ chức vụ quan trọng trong bộ máy quyền lực thì đây chính là cơ hội tốt để móc nối và liên kết "làm ăn". Những tiêu cực, tham nhũng thường bắt nguồn từ những mối quan hệ như thế này.

Đạt đến cấp độ này, là đối tượng đã chuyển hóa từ dạng cơ hội thực dụng sang cơ hội chính trị, tha hóa về phẩm chất của lãnh đạo.

MỸ CẦN VIỆT NAM CHỨ KHÔNG PHẢI ĐÁM LƯU VONG!

         BBC và Việt Tân cay cú, xuyên tạc chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bây giờ họ lại càng cay cú khi đích thân Tổng thống Mỹ Joe Biden mong muốn thăm Việt Nam trong năm nay. Mặc cho những kẻ lưu vong hò hét, chống phá nhưng chính nước Mỹ liên tục đề xuất nầng tầm mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ từ quan hệ đối tác toàn diện lên thành đối tác chiến lược. Tuy nhiên đến nay, Việt Nam chưa đồng ý. Khi nào Mỹ không can thiệp chuyện nội bộ của Việt Nam dưới chiêu bài dân chủ, nhân quyền, tài trợ và nuôi dưỡng đám tàn dư chống phá Việt Nam, khi đó Việt Nam để xem xét. 
     Việt Nam có vị trí địa chính trị vô cùng quan trọng trong chiến lược hướng về Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương của Mỹ, cũng như sáng kiến vành đai và con đường của Trung Quốc. Cả Trung Quốc và Hoa Kỳ rất coi trọng Việt Nam. Biden vẫn rất sáng suốt khi muốn thăm chính thức Việt Nam trong bối cảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa thăm Trung Quốc, được tiếp đón vô cùng trọng thị. Người Mỹ chẳng đếm xỉa đến những kẻ ăn không ngồi rồi như đám ngụy tàn dư. Lợi ích của quốc gia dân tộc là tối thượng, Hoa Kỳ chẳng dại gì mà quan tâm đám du thủ du thực đó.
     Việt Nam thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ trong chính sách ngoại giao, đó là "ngũ tri". Ngũ tri gồm, biết mình, biết người, biết thời thế, biết dừng, biết biến. Cây tre Việt Nam vẫn đứng thẳng, cành uyển, thân chắc, gốc vững vàng. Ta không chọn phe, chỉ chọn lẽ phải, chân lý. Thế nhưng nhiều nước lớn lại buộc phải quan hệ tốt với Việt Nam. Đó chính là sự sáng suốt trong đường lối đối ngoại của Đảng. Tạo môi trường hoà bình, tranh thủ thời cơ và vận hội, không đưa đất nước đến trước những nguy cơ binh lửa. Giờ đây, các nước lớn cần Việt Nam hơn bao giờ hết, Mỹ hay Trung Quốc hay bất kỳ cường quốc nào cũng cần Việt nam./.
Yêu nước ST.

Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân

Đường lối quốc phòng toàn dân (QPTD) là sự nhận thức nhất quán của Đảng ta nhằm xây dựng nền QPTD vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối quốc phòng toàn dân. Ảnh: tuyengiao.vn Tuy nhiên, thời gian gần đây các phần tử cơ hội chính trị và các thế lực thù địch tung ra những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD một cách lạc lõng. Vì vậy, nhận diện, đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD là nhiệm vụ cấp bách trong tình hình hiện nay. Âm mưu thâm độc Mục đích xuyên suốt của các thế lực thù địch là xuyên tạc, phủ nhận bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc; phủ nhận tính chất “tự vệ chân chính” trong đường lối QPTD của Đảng ta; hướng lái Việt Nam theo quỹ đạo của chính sách quốc phòng tư sản. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD trước hết xuất phát từ các thế lực thù địch, phản động nước ngoài. Chúng vừa trực tiếp tấn công, xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD bằng các cơ quan, tổ chức của mình, vừa gián tiếp nuôi dưỡng, ủng hộ, bảo kê các tổ chức, cá nhân phản động ở trong và ngoài nước. Thứ hai là các tổ chức, cá nhân phản động người Việt Nam ở nước ngoài, chủ yếu là số ngụy quân, ngụy quyền. Chúng vừa tập hợp lực lượng, sử dụng chiêu bài tuyên truyền xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; vừa móc nối, kích động các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị trong nước cản trở, phá hoại các dự án kinh tế kết hợp quốc phòng. Thứ ba là đối tượng cơ hội, bất mãn chính trị ở trong nước với bản chất “gió chiều nào xoay chiều ấy”, khi cách mạng gặp khó khăn, thử thách, họ quay sang chống Đảng và xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD. Nội dung các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD thể hiện ở nhiều khía cạnh, màu sắc, tính chất, mức độ khác nhau. Chúng cho rằng, Đảng ta tuyệt đối hóa vị trí, vai trò nền QPTD và mâu thuẫn trong chính nhận thức của mình. Chúng đã viện dẫn Văn kiện Đại hội VIII trước đây: “Trong khi đặt trọng tâm vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta không một chút lơi lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, luôn luôn coi trọng quốc phòng, an ninh, coi đó là nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ”. Bên cạnh đó, chúng cắt cúp nhận định về xu thế trong quan hệ quốc tế theo Văn kiện Đại hội XIII: “Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn” là không phù hợp, cho nên không cần khẳng định vị trí của QPTD nữa (!) Chúng xuyên tạc, phủ nhận các đặc trưng cơ bản nền QPTD, coi chủ trương xây dựng nền QPTD của Việt Nam là “đe dọa hòa bình các nước trong khu vực”. Ở thái cực khác, chúng “khuyên” Việt Nam từ bỏ “4 không” trong Sách trắng Quốc phòng Việt Nam. Chúng phủ nhận nền QPTD ở nước ta “không phải vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành”, “không đếm xỉa đến lợi ích chung của dân tộc”, mà “vì lợi ích của Đảng Cộng sản Việt Nam”(!). Nguy hiểm hơn, chúng phủ nhận sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp của Đảng và sự quản lý thống nhất của Nhà nước đối với sự nghiệp xây dựng nền QPTD, tức là phủ nhận tính chính danh, chính pháp của hoạt động trọng yếu này. Tác hại khôn lường Phương thức, thủ đoạn của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD luôn được thể hiện tinh vi, thâm hiểm với nhiều chiêu thức. Chúng vừa vu khống, bóp méo, cắt xén sự thật và nhận thức về đường lối QPTD; vừa so sánh, đối lập cực đoan giữa đường lối QPTD của Việt Nam với các nước khác theo chiều hướng khen, chê khác nhau, nhưng tất cả đều đi đến mục đích xuyên tạc, phủ nhận bản chất đường lối đó. Về phương tiện, rất nhiều nhóm, tổ chức, diễn đàn khác ở nước ngoài triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin hiện đại, internet và hệ thống mạng xã hội để chống phá. Điển hình là các đài phát thanh của người Việt như: Sài Gòn Radio, Việt Nam Califonia, Diễn đàn dân chủ, Việt Nam tự do (ở Mỹ); các báo, tạp chí: Hồn Việt, Quê mẹ, Công luận (ở Pháp); Độc lập, Dân chủ và phát triển, Cánh én (ở Đức); các trang mạng điện tử và các tài khoản mạng xã hội như: Việt Tân, Đàn chim Việt, Dân chủ Việt Nam, Dân làm báo, Quan làm báo... Các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD đã để lại những hậu quả khôn lường. Đó là sự lệch lạc, suy giảm nhận thức, phai nhạt niềm tin chính trị và lung lạc ý chí của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân vào sự nghiệp cách mạng; ảnh hưởng tiêu cực đến nhiệm vụ xây dựng tiềm lực quốc phòng, lực lượng quốc phòng và thế trận QPTD. Không những vậy, sự xuyên tạc đó còn làm rạn nứt sự thống nhất, đồng thuận trong Đảng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường sức mạnh niềm tin về đường lối quốc phòng hòa bình, tự vệ chính nghĩa Rõ ràng, sự xuyên tạc nêu trên của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đã cố tình lờ đi một sự thật: Đặc trưng cơ bản nhất của nền QPTD là “hòa bình và tự vệ”, là thể hiện sự khác nhau về bản chất trong xây dựng nền quốc phòng của những quốc gia có độc lập chủ quyền đi theo con đường xã hội chủ nghĩa với các nước đế quốc. Việt Nam xây dựng nền QPTD vững mạnh là để tự vệ, chống lại thù trong, giặc ngoài, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Đó chính là nền quốc phòng vì dân, của dân và do toàn thể nhân dân tiến hành, tiếp nối truyền thống, kinh nghiệm của dân tộc ta trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chính vì đó, chúng ta cần xác định cuộc đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của Đảng ta hiện nay phải gắn chặt với thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”; đồng thời gắn với đấu tranh phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị. Để góp phần đấu tranh, làm thất bại âm mưu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD của các thế lực thù địch, chúng ta cần chú trọng thực hiện một số giải pháp chủ yếu. Trước hết cần quan tâm nghiên cứu, làm rõ bản chất khoa học và cách mạng của đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng, Nhà nước ta. Đó là đường lối, chính sách quốc phòng tự vệ, chính nghĩa, trân trọng giá trị của độc lập, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ và khát vọng được sống trong hòa bình của toàn thể dân tộc và nhân dân Việt Nam. Hai là, nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho toàn dân; giữ gìn, phát huy các chuẩn mực văn hóa của Bộ đội Cụ Hồ và bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam; chủ động, tăng cường thông tin sâu rộng với bạn bè quốc tế về mục đích, bản chất đường lối, chính sách QPTD hòa bình, tự vệ chính nghĩa của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ba là, tiếp tục nhận diện, vạch rõ tính chất sai trái, phản khoa học, phản động của các luận điệu xuyên tạc, phủ nhận đường lối QPTD; kết hợp giữa “xây” và “chống”, “xây” là nhiệm vụ cơ bản, lâu dài, “chống” là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên. Bốn là, tiếp tục chăm lo xây dựng nền QPTD vững mạnh, vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, không ngừng củng cố thế trận lòng dân vững chắc, tăng cường sức mạnh niềm tin của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là thành trì, nền tảng chắc chắn nhất để chúng ta chung sức đồng lòng góp phần hiện thực hóa di nguyện cao cả của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”. /.
Đấu tranh, đẩy lùi lối sống thực dụng trong một bộ phận cán bộ, đảng viên Ở nước ta hiện nay, bên cạnh lối sống vì con người, vì cộng đồng xã hội được ví như những đóa hoa tỏa ngát hương thơm làm đẹp cho đời thì vẫn còn một bộ phận người có lối sống tiêu cực, gây hại cho cách mạng và xã hội, đó là lối sống thực dụng. Điều này đã được Nghị quyết Trung ương 4, khóa XII cảnh báo có một bộ phận cán bộ, đảng viên mang biểu hiện: “Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể”. Một loại “vi trùng độc hại” phá hủy nhân cách từ bên trong Trong hơn 9 thập niên lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta đã giáo dục, rèn luyện một lớp thế hệ cán bộ, đảng viên kiên trung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết, trước hết. Có rất nhiều câu chuyện về lối sống cao đẹp của cán bộ, đảng viên trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất nước nhà. Điển hình như câu chuyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước kể về Bí thư Đảng ủy xã Tiến Lộc (Can Lộc, Hà Tĩnh) nảy ra sáng kiến cho vật liệu lót đường trước, rồi mới cho đất đá vào thì đường mới chịu được sức nặng của đoàn xe. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã đã triệu tập đảng viên họp và yêu cầu dỡ nhà, chặt tre lót đường cho xe qua. Được Đảng bộ xã hưởng ứng, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã về dỡ nhà mình trước. Khi dỡ nhà, có người đến hỏi: “Sao ông dỡ nhà?”. Đồng chí trả lời: “Vì miền Nam ruột thịt, vì chiến trường đang thiếu vũ khí chiến đấu, tôi không thể đứng nhìn đoàn xe không qua được. Xe chưa qua, nhà không tiếc!”. Sau đó, đồng chí Bí thư Đảng ủy xã cho người nhà cùng với bộ đội, thanh niên xung phong, vác gỗ, tre ra để làm nền đường. Những tình cảm, trách nhiệm vì dân, vì nước vẫn được phần đông cán bộ, đảng viên giữ gìn, phát huy trong thời đại mới. Tuy nhiên, những năm qua, cũng đã xuất hiện một bộ phận cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng. Một trong những biểu hiện dễ thấy của người cán bộ, đảng viên có lối sống này là sống vị kỷ, xem lợi ích của mình là tối thượng, “miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy”. Những người này thường “vui trước thiên hạ, lo sau thiên hạ”, họ luôn tìm mọi cách thu vén, thậm chí tranh đoạt lợi ích cho riêng mình, bất chấp việc đó có ảnh hưởng đến người khác và tập thể hay không. Cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng thường có tham vọng rất lớn, hám công danh, địa vị; họ tìm mọi cách để đạt được mục tiêu chính trị, leo lên các vị trí chức vụ cao, sẵn sàng “chạy” dưới mọi hình thức để dễ bề kiếm chác. Trong công việc, ngoài mặt thì họ tỏ ra tích cực, trách nhiệm, nhưng đằng sau đó, họ lại làm cho xong việc, làm cho có, cốt “đánh trống ghi tên”; khi gặp khó khăn, người có lối sống thực dụng thường dễ thoái chí, bàn lui, không dám làm, tìm cách đùn đẩy, co cụm sống trong “khoảng an toàn”; khi có thành tích thì tranh công, khi có khuyết điểm thì tìm cách đổ lỗi, không dám nhận trách nhiệm về mình. Thậm chí, người có chức vụ, quyền hạn đã dung dưỡng, bao che cho sai trái, tiêu cực, từ đó tạo ra những nhóm lợi ích để trục lợi. Trong ứng xử, người có lối sống thực dụng chỉ chú tâm vào mối quan hệ đem lại giá trị cho họ, các mối quan hệ có giá trị lợi dụng càng lớn thì càng tỏ vẻ chặt chẽ, thân thiết, nhưng khi mối quan hệ đó không còn mang lại lợi ích cho họ thì nhanh chóng nhạt phai. Trong những dịp được gặp gỡ, trò chuyện với các thế hệ đảng viên đi trước, khi được hỏi về lối sống thực dụng hiện nay, các bậc tiền bối đều cảm thấy lo lắng về tác hại của lối sống này đối với cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên trẻ. Nhiều đảng viên lão thành từng cảnh báo rằng, nếu cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng sẽ rất nguy hại với tổ chức, với sự nghiệp cách mạng của Đảng, làm giảm uy tín, hình ảnh của cán bộ, đảng viên trong lòng nhân dân. Phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin; nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh; thậm chí còn phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao”. Yếu tố tác động, gây ra tính chất nguy hiểm trên đều có sự “góp mặt” của lối sống thực dụng đã và đang hiện hữu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Nêu gương thực hành đạo đức cách mạng-"ngọn lửa" thiêu rụi lối sống ích kỷ, thực dụng Lối sống thực dụng bắt đầu hình thành từ trong tư tưởng, nhận thức, đến một giai đoạn nhất định, nó sẽ được thể hiện thông qua hành động của chủ thể. Từ chỗ cán bộ, đảng viên sẵn sàng hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Đảng, của dân tộc, khi bị tác động bởi lối sống thực dụng nếu không có sự trui rèn đạo đức, lối sống, con người bắt đầu xuất hiện những tư tưởng đắn đo giữa lợi ích chung và lợi ích riêng, giữa cống hiến và hưởng thụ, từng bước tạo ra sự chuyển hóa từ bên trong, khiến cho người mang lối sống này không còn là chính họ của ngày hôm qua. Chúng ta rất quen thuộc với câu nói: “Đảng viên đi trước, làng nước theo sau”. Đây là lời nói dân gian nhưng trong đó chứa đựng tình cảm, sự tin tưởng của nhân dân đối với cán bộ, đảng viên và thể hiện trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đối với nhân dân. Muốn hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của mình và góp phần vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, cán bộ, đảng viên phải thật sự gương mẫu về mọi mặt, nhất là về đạo đức, lối sống. Cán bộ, đảng viên thấm nhuần đạo đức cách mạng thì lối sống thực dụng sẽ không có cơ hội phát sinh, phát triển. Bởi vì, đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng, là thước đo phẩm chất của người cách mạng, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(1). Đạo đức cách mạng là bài thuốc hữu hiệu, đặc trị “vi trùng độc hại”-lối sống thực dụng. Để diệt tận gốc “vi trùng độc hại” này, phương thức tối ưu nhất đó là cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng, tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc rằng: Đảng không phải là nơi để thăng quan, tiến chức, để phát tài. Vào Đảng là để phục vụ nhân dân, phục vụ giai cấp, đảng viên phải trở thành người con hiếu thảo của Tổ quốc, của giai cấp. Điều quan trọng nhất là cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp nói phải đi đôi với làm, nêu gương về đạo đức. Đây là hành động cơ bản thể hiện phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Thực tế trong Đảng ta hiện nay, có không ít cán bộ, đảng viên nói không đi đôi với làm, nói và làm có những khoảng cách, thậm chí trái ngược nhau. Không ít quan chức tự cho mình cái quyền được nói “làm những điều tôi nói, không được nói điều tôi làm”, thậm chí có người rất hay "lên mặt" rao giảng, dạy dỗ người khác bằng những từ đại ngôn, hoa mỹ, nhưng hành động, việc làm lại trái những nguyên tắc của Đảng, thậm chí còn làm ô danh Đảng. Người cán bộ, đảng viên giữ cương vị lãnh đạo, quản lý, chỉ huy muốn thu phục quần chúng, muốn quần chúng tin theo phải thực sự mẫu mực về phương pháp, tác phong làm việc, lời nói gắn liền với việc làm, hành động cụ thể, mang lại ích nước, lợi dân. Mục tiêu, lý tưởng cách mạng của chúng ta là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Để hiện thực hóa mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy, các thế hệ cha ông ta đã không tiếc xương máu hy sinh để giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, tạo cơ sở, tiền đề xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chúng ta được sống trong hòa bình, có cơ hội phát triển toàn diện, những thành tựu to lớn của đất nước hôm nay đã được viết bằng máu và nước mắt của biết bao thế hệ người Việt Nam yêu nước, của lớp lớp cán bộ, đảng viên kiên trung với lối sống cao đẹp, một lòng một dạ phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Vì vậy, rèn luyện và nâng cao đạo đức cách mạng, tận trung với nước, tận hiếu với dân, làm mọi việc để góp phần cho nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc là lương tâm, bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ của thế hệ cán bộ, đảng viên hôm nay./.

Nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới

Nhận diện, đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo và sự trưởng thành, lớn mạnh không ngừng của Đảng, đặc biệt là “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử” sau hơn 35 năm đổi mới đất nước là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố. Song yếu tố giữ vai trò quyết định hàng đầu là sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng với đường lối chính trị độc lập, tự chủ, luôn kiên định, lý tưởng mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân. Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang phát triển mạnh mẽ, tác động đến mọi lĩnh vực và mọi quốc gia, dân tộc. Triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và sự bùng nổ của internet - mạng xã hội và những khó khăn, thách thức của đất nước ta, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội phản động ráo riết, đẩy mạnh hoạt động chống Đảng và Nhà nước ta. Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị khẳng định: “Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân...”. Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên _Ảnh: Tư liệu Gắn kết chặt chẽ yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch với hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, đảng viên, học viên, sinh viên _Ảnh: Tư liệu NHẬN DIỆN ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ Để đấu tranh hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới, trước hết chúng ta cần nhận diện thấu đáo những âm mưu, thủ đoạn chống phá. Thứ nhất, nội dung, phương thức, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch ngày càng tinh vi, thâm độc, xảo quyệt. Nhằm kích động “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong và tạo dựng “ngọn cờ” xây dựng, quy tụ lực lượng, các thế lực phản động, thù địch luôn tìm mọi “mưu ma chước quỷ” móc nối, xâm nhập vào nội bộ của ta, tìm cách phân hóa tổ chức, lôi kéo, mua chuộc các phần tử thoái hóa biến chất, bất mãn, cơ hội chính trị. Trong tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, để tăng thêm hiệu ứng của các thông tin sai trái, chúng chú trọng tập hợp, trích dẫn các ý kiến trái chiều, đi ngược chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước với những “nhãn mác tự phong” như “nhân sĩ, trí thức yêu nước”, “tâm huyết, trách nhiệm vì nhân dân”... Đây là chiêu bài chống phá từ bên trong kết hợp với bên ngoài nhằm từng bước làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Chúng triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội, nhất là vào những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị trọng đại của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá, bằng nhiều chiêu thức mới với phương châm “hư hư, thực thực”, “mưa dầm thấm lâu”, “nói nhiều rồi sẽ tin”..., núp dưới những chiêu bài “góp ý”, “kiến nghị, đề nghị”, “thư ngỏ”... Cùng với phủ nhận, hạ bệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, chúng còn trắng trợn bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước và các cơ quan pháp luật “vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền”; kích động gây dư luận xấu, tạo mâu thuẫn xã hội; gửi thư kiến nghị đến các tổ chức nhân quyền thế giới yêu cầu can thiệp vào tình hình nội bộ Việt Nam; triệt để tán dương, cổ vũ các hành động, hành vi trái pháp luật của những phần tử chống đối; tạo dựng các video clip, phóng sự có giao diện giống của Đài Truyền hình Việt Nam và một số báo, đài địa phương để “dẫn dụ” tâm lý tò mò của nhiều người... Dưới sự hậu thuẫn của một số tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các thế lực thù địch lập ra các hội, nhóm, tổ chức tự xưng, xây dựng kế hoạch, đầu tư kinh phí cho tổ chức, bộ máy, trang thiết bị và hệ thống “chấn rết” hòng kêu gọi, phát động những “phong trào” chống phá toàn diện, mọi lúc, mọi nơi khi có điều kiện. Chúng đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự” và “phản biện xã hội”, liên thông, kết nối với các “hội”, “đoàn”, “nhóm” nhằm thúc đẩy “đấu tranh bất bạo động” theo xu hướng cách mạng màu... Bằng những hình thức tinh vi, chúng triệt để lồng ghép những quan điểm sai chống phá thông qua tổ chức các “hội thảo khoa học”, diễn đàn, sinh hoạt hội, nhóm; cài cắm lực lượng - núp bóng các tổ chức phi chính phủ và dưới danh nghĩa “hỗ trợ nhân đạo” đi đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số để tuyên truyền mị dân, kích động, lôi kéo người dân vào những mưu đồ đen tối; truyền đạo, lập đạo trái phép, tuyên truyền mê tín dị đoan; dùng các “mồi nhử” kinh tế; giả danh cán bộ để lừa dối, tán phát các luận điệu sai trái, phản động. Thứ hai, chúng tập trung, quyết liệt chống phá trên mặt trận chính trị, tư tưởng; xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Chúng tìm mọi cách phủ nhận bản chất cách mạng khoa học, nội dung cơ bản và giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác- Lênin, coi tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là kết quả của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt nam, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lênin. Bịa đặt, vu cáo Đảng, Nhà nước ta “du nhập chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam gây ra chiến tranh, nội chiến tương tàn”, “trung thành quá lâu với chủ nghĩa Mác - Lênin”, “tư tưởng Hồ Chí Minh làm cho đất nước chậm phát triển, nhân dân nghèo đói”. Chúng xuyên tạc, bôi nhọ cuộc đời, sự nghiệp, cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh, rêu rao rằng “Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải nhà tư tưởng mà chỉ là nhà hoạt động thực tiễn nên không có tư tưởng Hồ Chí Minh”... Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Hội thảo khoa học cấp quốc gia: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Hòng phủ nhận mục tiêu, lý tưởng, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, chúng tập trung xuyên tạc những đặc điểm, đặc trưng, mô hình xã hội mà chúng ta đang xây dựng; phủ nhận thành quả qua hơn 35 năm đổi mới của đất nước; xuyên tạc đường lối lãnh đạo của Đảng và thành tựu phát triển kinh tế đất nước ta; cổ súy, tung hô việc phát triển nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa... Đặc biệt, lợi dụng sự suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ các cấp bị xử lý theo Điều lệ Đảng, pháp luật Nhà nước, chúng quy chụp bản chất chung của cán bộ, đảng viên là tham nhũng, tha hóa, biến chất, “bán nước, hại dân”, hòng tạo dựng nhận thức sai lệch, hoài nghi, dao động, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Từ đó, gieo rắc ngờ vực, chia rẽ nội bộ, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với uy tín, vai trò lãnh đạo Đảng và sự quản lý của Nhà nước; ca tụng, khuếch đại chủ nghĩa tư bản mà chúng cho là “thiên đường của tự do, dân chủ, nhân quyền”. Việc Đảng, Nhà nước ta đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực bị chúng “vin” vào để thổi phồng sai lầm, khuyết điểm; bịa đặt, vu cáo Đảng ta “đấu đá, thanh trừng nội bộ”; đơm đặt, bôi nhọ danh dự, uy tín của các lãnh đạo cấp cao... Chúng mượn danh “dân chủ, nhân quyền, tự do, tín ngưỡng tôn giáo” để xuyên tạc, tạo các điểm nóng, kích động bạo động; kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; cổ súy lối sống thực dụng, phản động, bạo lực, khuếch đại cái gọi là “tự do, dân chủ, nhân quyền” của phương Tây; rêu rao, công kích nền báo chí cách mạng của Việt Nam thiếu “tự do ngôn luận, tự do báo chí”; truyền bá các sản phẩm văn học, âm nhạc, báo chí phản động, kích động hận thù... ĐỂ ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÓ HIỆU QUẢ Để bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng; đấu tranh, phản bác có hiệu quả với các quan điểm sai trái, thù địch; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá trong tình hình mới, chúng ta cần tiếp tục chú trọng thực hiện đồng bộ những giải pháp cơ bản sau: Một là, không ngừng giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và từng cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, các cơ quan, ban ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục quán triệt và triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Thường xuyên giáo dục, quán triệt cho cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc mục tiêu, quan điểm và các nhiệm vụ, giải pháp cơ bản tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, trách nhiệm và phát huy vai trò của hệ thống chính trị, cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chủ động đấu tranh phản bác có hiệu quả quan điểm sai trái, thù địch; tăng cường niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới và các nguyên tắc xây dựng Đảng... Hai là, đổi mới, nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao trình độ giác ngộ cách mạng, bản lĩnh chính trị cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Quan tâm đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục chính trị, tư tưởng để không ngừng nâng cao trình độ lý luận chính trị, bồi dưỡng lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho cán bộ, đảng viên, nhất là thế hệ trẻ. Theo đó, đẩy mạnh tuyên truyền đồng bộ trên hệ thống truyền thông, báo chí, internet, mạng xã hội về những nội dung cơ bản, giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở thành nền tảng tinh thần của toàn xã hội; xây dựng niềm tin khoa học vào đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước... Đổi mới mạnh mẽ, khoa học, hiệu quả nội dung, chương trình giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong hệ thống giáo dục quốc dân, phù hợp với từng đối tượng, bậc học; hoàn thiện chương trình đào tạo, bồi dưỡng cập nhật kiến thức lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, học sinh, sinh viên. Cung cấp kịp thời những thông tin nhằm nhận diện đúng các âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch trong tình hình mới, qua đó tăng cường sức đề kháng, nâng cao cảnh giác và tinh thần chủ động trong đấu tranh... Việc đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng phải gắn với công tác tổ chức, cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ, xây dựng tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; nói và làm đúng theo quan điểm, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; tôn trọng và phát huy lịch sử, truyền thống của dân tộc, của Đảng và của địa phương; bồi đắp phẩm chất đạo đức, lối sống, tri thức - năng lực, kiến thức văn hóa - xã hội... Ba là, tăng cường nghiên cứu, dự báo, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch; kịp thời phát hiện và kiên quyết xử lý những phần tử cơ hội, phản động chống Đảng, Nhà nước. Xây dựng, thiết lập hệ thống luận cứ, luận điểm khoa học thuyết phục. Tăng cường các giải pháp công nghệ, kỹ thuật để phát hiện sớm, ngăn chặn từ “gốc” nguồn phát tán thông tin sai trái, thù địch, phản động. Chú trọng xây dựng, phát triển các trang mạng, báo chí có nội dung đấu tranh phù hợp, sát thực tiễn. Tuyên truyền sâu rộng về những thành tựu trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, các định hướng, nhiệm vụ chính trị, kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương... Nghiên cứu ban hành sâu rộng, thường xuyên các văn bản lãnh đạo, chỉ đạo và các quy định cụ thể hóa việc tuyên truyền, quán triệt, học tập lý luận chính trị, lịch sử truyền thống, phẩm chất đạo đức cách mạng, lối sống mới xã hội chủ nghĩa, gương người tốt, việc tốt… Thường xuyên đặt hàng nghiên cứu các đề án, đề tài, chuyên đề về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Nghiên cứu xây dựng Luật thể chế hoạt động báo chí đúng tôn chỉ mục đích, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Quy định chế tài xử phạt nghiêm minh, kịp thời, đủ sức răn đe đối với hoạt động báo chí, thông tin, nhất là thông tin trên internet - mạng xã hội. Chú trọng thông tin, đăng tải về người tốt, việc tốt; các chuyên trang, chuyên mục về đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, vạch trần bản chất phản động, phản khoa học các quan điểm sai trái, thù địch, chống phá, phản động... Nghiêm cấm các hành vi triển lãm, trưng bày, xuất bản, in ấn, tán phát các ấn phẩm, tài liệu có nội dung kích động chống phá chế độ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân, xúc phạm lãnh tụ, danh nhân, xuyên tạc sự thật; xúc phạm, vi phạm thuần phong mỹ tục... Các cơ quan chức năng nghiên cứu ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và quản lý hiệu quả hoạt động văn hóa nghệ thuật, biểu diễn; sâu sát trong định hướng tuyên truyền đối với các cơ quan báo chí, truyền thông; xây dựng cơ chế, thiết lập chủ quyền quốc gia trên không gian mạng, truyền thông, báo chí; thiết lập cơ chế, quy chế, chế tài chặt chẽ, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật đối với những tổ chức, cá nhân vi phạm. Bốn là, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu. Phát huy vai trò, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo, quản lý trong chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết - quy định về trách nhiệm nêu gương, về những điều đảng viên không được làm, về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Ngăn chặn, đẩy lùi và kiên quyết xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”... Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh của cấp trên đối với cấp dưới. Thực hiện tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá - rút kinh nghiệm, đề ra các giải pháp hiệu quả, sát thực tiễn; kịp thời khen thưởng, động viên, nhân rộng các tập thể, cá nhân điển hình, gương người tốt, việc tốt. Phát huy tốt vai trò của Ban Chỉ đạo 35, cơ quan giúp việc của cấp ủy các cấp, lực lượng chuyên trách, kiêm nhiệm làm công tác tư tưởng, lý luận và đội ngũ chuyên gia đầu ngành. Thường xuyên nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện thể chế pháp luật trên tất cả các lĩnh vực quản lý xã hội. Xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức có đủ phẩm chất, năng lực ngang tầm nhiệm vụ. Ban hành các cơ chế quản lý quyền lực hiệu quả và quan tâm chế độ đãi ngộ để cán bộ, đảng viên, công chức toàn tâm, toàn ý thực hiện nhiệm vụ theo chức trách. Thể chế hóa và quản lý có hiệu quả mạng xã hội theo Luật An ninh mạng; kịp thời rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn. Tăng cường quản lý nhà nước về truyền thông - báo chí, nhất là thông tin trên internet và mạng xã hội; kịp thời điều chỉnh, bổ sung hoàn thiện pháp chế, hệ thống quản lý nhà nước, pháp luật về chủ quyền và quy phạm pháp luật cho báo chí, truyền thông, internet, mạng xã hội... Đa dạng hóa nội dung, hình thức đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Có kế hoạch, kịch bản chặt chẽ, bài bản để đấu tranh trực diện, công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội - internet; tổ chức “chiến dịch truyền thông” thống nhất, đa dạng, rộng rãi, có sự phối hợp đồng bộ của nhiều lực lượng để tăng tính hiệu quả và sức lan tỏa./.

Tỉnh táo trước luận điệu xuyên tạc kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) được Đảng ta xác định là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đường lối, quan điểm, chính sách phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự kế thừa và phát triển về tư duy, lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam, có tính khái quát cao, là kết tinh trí tuệ và sức sáng tạo của toàn dân tộc, vừa có tính tổng kết lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn, phản ánh ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn dân ta về phát triển đất nước nhanh và bền vững. Chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước góp phần xây dựng thành phần kinh tế nhà nước phát triển vững mạnh. (Trong ảnh: Công nhân làm việc tại một phân xưởng lắp ráp linh kiện điện tử). Tuy nhiên, bất chấp thực tế đó cũng như những thành tựu Việt Nam đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới, các thế lực thù địch vẫn không ngừng tuyên truyền những luận điểm sai trái, xuyên tạc bác bỏ kinh tế thị trường định hướng XHCN của Việt Nam. Thực tế này đòi hỏi cần tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh chống lại những quan điểm sai trái về vấn đề này. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN - bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta thời kỳ đổi mới, là sự lựa chọn khách quan, phù hợp xu thế vận động chung của nền kinh tế thế giới. Tuy nhiên, đề cập đến mô hình kinh tế này, một số luận điểm cho rằng, kinh tế thị trường và định hướng XHCN như "nước và lửa" không thể kết hợp được với nhau, kinh tế thị trường là của chủ nghĩa tư bản (CNTB), Việt Nam xây dựng kinh tế thị trường định hướng XHCN là trái quy luật... Đây đều là sự xuyên tạc vô căn cứ bởi lẽ, thực tế lịch sử cho thấy, kể từ khi xã hội có sự phân chia thành giai cấp và sự xuất hiện của nhà nước thì nền kinh tế ở bất kỳ quốc gia nào cũng đều chịu sự định hướng chính trị của một giai cấp nhất định trong xã hội. Đó là giai cấp nắm trong tay quyền lực nhà nước, thông qua nhà nước, giai cấp cầm quyền sẽ đề ra những chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, trước hết là lợi ích kinh tế. Do đó, điểm khác nhau cơ bản giữa kinh tế thị trường TBCN và kinh tế thị trường định hướng XHCN là ở chỗ chúng được định hướng bởi những nền chính trị của các giai cấp cầm quyền khác nhau và phát triển theo những mục tiêu khác nhau. Nếu kinh tế thị trường TBCN được định hướng bởi nền chính trị, nhà nước của giai cấp tư sản, hướng tới mục tiêu tăng trưởng tối đa nhằm phục vụ tốt nhất cho lợi ích của giai cấp tư sản thì kinh tế thị trường định hướng XHCN được định hướng bởi nền chính trị của giai cấp công nhân - giai cấp có lợi ích cơ bản thống nhất với lợi ích của nhân dân lao động và toàn thể dân tộc. Vì vậy, những đường lối, chính sách phát triển kinh tế mà nhà nước xã hội chủ nghĩa đưa ra trong khi phục vụ, bảo vệ cho lợi ích của giai cấp công nhân cũng đồng thời phục vụ, bảo vệ lợi ích của các giai tầng khác trong xã hội. Bởi thế, một trong những nét đặc trưng mang bản chất của kinh tế thị trường định hướng XHCN là không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội, môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần, trái lại, tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước đi, từng chính sách và suốt quá trình phát triển. Lịch sử hình thành và phát triển của xã hội loài người chứng minh: kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng có của CNTB, đó là thành tựu phát triển cao của nền văn minh nhân loại, không thể và cũng chưa bao giờ là độc quyền của CNTB. Điều đó đồng nghĩa với việc các nước XHCN đều có thể sử dụng mô hình kinh tế này để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển theo mục đích của mình. Hiện đang xuất hiện một số luận điểm tập trung chứng minh: khi xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế nghĩa là Việt Nam đang "xoay trục" sang phát triển kinh tế thị trường theo hướng TBCN, định hướng XHCN chỉ là mị dân, hình thức. Đây hoàn toàn là ý kiến xuyên tạc, bịa đặt. Có thể thấy, trong thời kỳ quá độ, Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương xây dựng quan hệ sản xuất nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác; kinh tế tư nhân; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài(1)) phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất, nhằm huy động tối đa sức mạnh của mọi thành phần kinh tế, mọi giai tầng xã hội vào phát triển kinh tế, bảo đảm kinh tế phát triển nhanh, bền vững, tốc độ tăng trưởng cao. Đảng, Nhà nước ta xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế, do đó sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm để tạo đà cho sự phát triển chung của nền kinh tế. Nhờ đó, thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam đang có những bước phát triển mạnh mẽ. Qua 35 năm đổi mới "kinh tế tư nhân liên tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá, chiếm tỷ trọng từ 39-40% GDP; thu hút khoảng 85% lực lượng lao động của nền kinh tế, tỷ lệ đóng góp thuế thu nhập doanh nghiệp chiếm khoảng 34,1%,... góp phần quan trọng trong huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu ngân sách nhà nước, tạo việc làm, cải thiện đời sống nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội"(2). Đại hội XIII của Đảng đề ra mục tiêu: phấn đấu đến năm 2030, tỷ trọng đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân vào GDP đạt 60 đến 65%(3). Tuy nhiên, coi kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng không đồng nghĩa với việc chúng ta "tư nhân hóa" nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế theo con đường tư bản chủ nghĩa. Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhưng kinh tế nhà nước mới là thành phần giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước ổn định kinh tế vĩ mô, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy sự phát triển của các thành phần kinh tế (trong đó có kinh tế tư nhân) theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo đảm tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Như vậy, bản thân kinh tế tư nhân ở Việt Nam cũng được định hướng hoạt động và phát triển phù hợp chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội chung của Đảng và Nhà nước chứ không phải phát triển một cách tự phát. Thực tế cho thấy, dưới sự định hướng theo những nguyên tắc thuộc về bản chất của chủ nghĩa xã hội, phần lớn các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân ở Việt Nam luôn nêu cao việc thực hiện đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội và xác định mục tiêu phát triển của mình là góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhằm hiện thực hóa những mục tiêu của CNXH: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Do đó, trong những trường hợp cần thiết, họ có thể chấp nhận hy sinh lợi ích, lợi nhuận trước mắt để bảo vệ cho lợi ích chung của nhân dân. Điều này có thể thấy rất rõ trong thời gian chống dịch COVID-19 vừa qua, hưởng ứng chủ trương chung của Đảng, Nhà nước sẵn sàng hy sinh lợi ích kinh tế trước mắt để bảo vệ tốt nhất sức khỏe và tính mạng cho nhân dân, nhiều doanh nghiệp tư nhân mặc dù sản xuất, kinh doanh cũng đang chịu nhiều thiệt hại, thua lỗ bởi dịch bệnh nhưng vẫn sẵn sàng đóng góp bằng nhiều hình thức khác nhau để phục vụ công tác chống dịch. Với chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước của Đảng và Nhà nước Việt Nam, một số quan điểm cho rằng, chủ trương này thực chất là việc tiến hành "tư nhân hóa" nền kinh tế quốc dân, phát triển kinh tế thị trường theo hướng TBCN. Song thực tế đã chứng minh, chủ trương này ra đời xuất phát từ thực tế một số doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả, do đó cần cổ phần hóa, cấu trúc lại nhằm huy động vốn đầu tư từ chủ thể của các thành phần kinh tế khác, qua đó, nâng cao hiệu quả quản lý và hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, góp phần xây dựng thành phần kinh tế nhà nước phát triển vững mạnh, thật sự xứng đáng trở thành nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Hầu hết các doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa đều có tốc độ tăng trưởng cao hơn, hoạt động hiệu quả hơn. Chẳng hạn như trường hợp của Vinamilk sau khi cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, quy mô tài sản liên tục gia tăng, khả năng tự chủ tài chính được cải thiện. Tính đến hết năm 2020, Vinamilk đã xuất khẩu đến 55 quốc gia và vùng lãnh thổ với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 2,4 tỷ USD. Hay Sabeco, việc tiến hành cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước, thay đổi toàn diện chiến lược kinh doanh là nhân tố chính giúp Sabeco trở thành một trong những công ty dẫn đầu ngành rượu, bia, nước giải khát tại thị trường Việt Nam và trong khu vực... Đặc biệt, trong chủ trương cổ phần hóa, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, Nhà nước cũng có quy định rõ về 13 ngành, lĩnh vực Nhà nước giữ 100% vốn điều lệ; bảy ngành, lĩnh vực, Nhà nước nắm từ 65% vốn điều lệ trở lên(4). Đây đều là những lĩnh vực then chốt, thiết yếu liên quan trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm thực hiện nhiệm vụ chính trị, quốc phòng - an ninh để giữ vững vai trò chủ đạo, định hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường của kinh tế nhà nước. Những luận điệu phê phán, phủ nhận, xuyên tạc bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay của các thế lực thù địch đều nhằm hướng đến một đích đến duy nhất là làm chệch hướng XHCN trong phát triển kinh tế thị trường, từ đó làm chệch quỹ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Do đó, cần hết sức tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai lầm, phi lý và vô căn cứ này; tiếp tục giữ vững niềm tin vào con đường mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn./.

Nhận diện và đấu tranh chống âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin

Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao vai trò, tầm vóc của chủ nghĩa Mác-Lênin và luôn khẳng định là một người mácxít-lêninít. Trong âm mưu, thủ đoạn tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, các thế lực thù địch, phản động đã rất tinh vi, xảo quyệt khi âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Đấu tranh phản bác âm mưu này là một việc làm thiết thực để góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. V.I. Lênin vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác vào xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực trong điều kiện cụ thể của nước Nga _Nguồn: Tạp chí Cộng sản Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (năm 1991) thông qua đã khẳng định: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”(1). Thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi Đảng ra đời đã minh chứng rằng, nhờ có chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh dẫn đường, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập dân tộc và đạt được những thành tựu quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn cách mạng cũng cho thấy, chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là hai cấu phần hợp thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và hai yếu tố này có quan hệ hữu cơ với nhau, không thể thiếu một yếu tố nào. Tuy nhiên, thời gian qua đã xuất hiện một số ý kiến muốn tách rời chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí còn tìm cách luận giải cho rằng chỉ có tư tưởng Hồ Chí Minh mới phù hợp với cách mạng Việt Nam, còn chủ nghĩa Mác-Lênin là “tư tưởng ngoại lai, xa lạ với truyền thống dân tộc”, không phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và đã bị chối bỏ ở nơi quê hương của nó, “du nhập chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam là một sai lầm lịch sử”(2); do đó chỉ cần nói đến tư tưởng Hồ Chí Minh và đi đến kết luận võ đoán rằng: “Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin”(?). Đây thực chất là một quan điểm sai trái, xuyên tạc về mối quan hệ gắn bó mật thiết, hữu cơ giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác-Lênin. Quan điểm này tưởng như là sự đề cao tư tưởng Hồ Chí Minh, tưởng như là sự khẳng định những công lao, cống hiến của Hồ Chí Minh với đất nước và dân tộc Việt Nam, nhưng thực chất là nhằm tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; âm mưu phủ định cơ sở lý luận quan trọng nhất của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin; phủ định thế giới quan và phương pháp luận khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác-Lênin. Đây là bước đi nhằm tiến tới phủ định bản chất khoa học, cách mạng của tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên thực tế, các thế lực thù địch, phản động chưa bao giờ từ bỏ âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới, trong đó nổi lên hiện nay là sự chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Rõ ràng, tư tưởng, văn hóa là mặt trận hết sức gay gắt, quyết liệt của cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, làm thất bại các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, phản động. Thực tế cho thấy đang xuất hiện nhiều hơn những mưu toan kích động, xuyên tạc nhằm “hạ bệ thần tượng”, làm nghi ngờ, gây hoang mang, dao động, thậm chí gây chia rẽ, hỗn loạn nhận thức về nền tảng tư tưởng của Đảng trong hàng ngũ những người cộng sản, từ đó dẫn tới mất phương hướng, mâu thuẫn, rối loạn trong tổ chức và chỉ đạo hoạt động thực tiễn, đưa đến những sai lầm, làm mất uy tín, ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng nhân dân và do đó đánh mất vai trò lãnh đạo đối với hệ thống chính trị. Những mưu toan này có lúc công khai, trắng trợn, có lúc tinh vi, xảo quyệt. Việc tuyên truyền, xuyên tạc về chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tách rời chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí cho rằng “Tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin” là một âm mưu rất tinh vi, xảo quyệt, nằm trong những mưu toan đó của các thế lực thù địch, phản động và thực chất không có gì mới. Nhưng vào những dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của dân tộc, đất nước, kỷ niệm thành lập Đảng, hoặc những sự kiện chính trị đặc biệt, thì những quan điểm này lại xuất hiện theo kiểu “bổn cũ soạn lại”. Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhận diện và đấu tranh phản bác, làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn chống phá, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, trong đó có âm mưu tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin, là công việc mang ý nghĩa hết sức quan trọng và thường xuyên hiện nay. Trước hết, cần phải nhận rõ mưu toan cắt xén và đánh tráo khái niệm của các ý kiến xuyên tạc, tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin. Những ý kiến xuyên tạc, âm mưu tách rời và đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin cho rằng, Hồ Chí Minh là một người yêu nước, là một người theo chủ nghĩa dân tộc, chỉ mong muốn làm thế nào để giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam. Trong khi đó, chủ nghĩa Mác-Lênin là học thuyết về đấu tranh giai cấp, là hệ tư tưởng chỉ của riêng giai cấp công nhân, nên đối lập với cả chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa dân tộc mà Hồ Chí Minh theo đuổi. Những ý kiến kiểu này đã cố ý không thấy một thực tế là Hồ Chí Minh không chỉ muốn giải phóng đất nước, giành lại độc lập cho dân tộc, mà quan trọng hơn nữa là phải làm thế nào để toàn thể người dân được hưởng một cuộc sống hạnh phúc, ấm no thực sự sau khi giành được độc lập, như Người đã từng tâm sự: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”(3). Bởi trong quan niệm của Người, “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”(4). Người chỉ rõ: “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì. Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc đủ”(5). Đó chính là lý do để lý giải vì sao mặc dù đánh giá cao cách mạng Mỹ, cách mạng Pháp và đúc kết được những kinh nghiệm quý báu từ hai cuộc cách mạng tiêu biểu này trong thời cận đại, nhưng Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nêu lên nhận xét về những cuộc cách mạng đó xét về bản chất đều là những cuộc cách mạng “không đến nơi”, chỉ mang lại quyền lợi cho một thiểu số người trong xã hội, trong khi đại đa số những người dân lao động vẫn phải chịu cảnh bị áp bức, bóc lột, bất công và vẫn phải mưu tính làm cách mạng lần nữa. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã quyết định không lựa chọn con đường cứu nước và phát triển của dân tộc Việt Nam theo hình mẫu của các cuộc cách mạng Mỹ và cách mạng Pháp. Thực tế, như chúng ta đều biết, qua quá trình nghiên cứu, khảo sát nhiều trào lưu tư tưởng chính trị trong hành trình bôn ba nước ngoài, Người đã lựa chọn con đường cách mạng do chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ ra: con đường cách mạng vô sản. Đó là con đường thực hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện ba sự nghiệp giải phóng là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người trong một chỉnh thể thống nhất để thực sự mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc triệt để cho tất cả người dân, không phân biệt giàu nghèo, vùng miền, không phân biệt dân tộc đa số hay dân tộc thiểu số, có tôn giáo hay không theo tôn giáo, nam hay nữ, .... Nói cách khác, con đường cách mạng vô sản theo ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin đã đáp ứng được yêu cầu giải phóng dân tộc một cách triệt để mà Hồ Chí Minh luôn phấn đấu thực hiện. Các ý kiến cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin cũng đã đánh tráo khái niệm khi luận giải Hồ Chí Minh đặt vấn đề dân tộc lên trên hết và trước hết, trong khi chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ coi trọng vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp, coi trọng bảo vệ lợi ích của giai cấp công nhân. Như vậy, rõ ràng là tư tưởng Hồ Chí Minh đối lập với chủ nghĩa Mác-Lênin (?). Đúng là trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, khi giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp, Hồ Chí Minh luôn đặt vấn đề dân tộc lên trên hết, trước hết và xác định vấn đề giai cấp phải xếp sau vấn đề dân tộc, phục vụ cho vấn đề dân tộc. Nhưng đây là sự vận dụng và phát triển sáng tạo của Hồ Chí Minh đối với lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin và trên nền tảng của chủ nghĩa Mác-Lênin. Đó là sự quán triệt, vận dụng đúng đắn linh hồn của chủ nghĩa Mác-Lênin - phương pháp luận duy vật biện chứng, vào hoàn cảnh cụ thể của một nước thuộc địa phong kiến như Việt Nam; là sự vận dụng quy luật chung vào hoàn cảnh cụ thể, đặc thù, hết sức sinh động, muôn màu, muôn vẻ của những hiện tượng, quá trình lịch sử riêng biệt. Sự vận dụng và phát triển sáng tạo đó là cần thiết, đã thể hiện theo đúng lời dặn của V.I.Lênin: “Chúng ta không hề coi lý luận Mác như là một cái gì đã xong xuôi hẳn và bất khả xâm phạm; trái lại, chúng ta tin rằng lý luận đó chỉ đặt nền móng cho môn khoa học mà những người xã hội chủ nghĩa cần phải phát triển hơn nữa về mọi mặt, nếu họ không muốn trở thành lạc hậu với cuộc sống”(6). Vì vậy, không thể đánh đồng sự vận dụng và phát triển sáng tạo với sự mâu thuẫn, đối lập. Thứ hai, Hồ Chí Minh luôn đánh giá rất cao vai trò, tầm vóc của chủ nghĩa Mác-Lênin Khi ra đi tìm đường cứu nước, Hồ Chí Minh không chỉ trăn trở tìm kiếm lời giải bài toán làm thế nào, bằng cách nào để giành lại nền độc lập của nước nhà, giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách thống trị ngoại bang, mà còn mong muốn tìm ra một hệ tư tưởng làm nền tảng soi sáng cho con đường đi của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng và xây dựng xã hội mới, một triết lý phát triển của dân tộc. Qua những trải nghiệm phong phú trong thực tiễn, khảo sát, phân tích sâu sắc về những trào lưu tư tưởng, những con đường cứu nước của các dân tộc trên thế giới, Hồ Chí Minh nhận thức rõ rằng đường lối cứu nước, giải phóng và phát triển dân tộc phải được xây dựng trên một nền tảng tư tưởng nhất định thì mới đảm bảo tính nhất quán và sự thông suốt trong cả tư tưởng và hành động của lực lượng cách mạng, trước hết là lực lượng lãnh đạo, từ đó đảm bảo cho sự thành công của sự nghiệp cách mạng. Lực lượng lãnh đạo phải có chủ nghĩa làm cốt và ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy, tức là phải thống nhất quán triệt, vận dụng chủ nghĩa ấy trong quá trình vận động và tổ chức sự nghiệp cách mạng thì sự nghiệp đó mới thành công được. Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, lực lượng lãnh đạo mà không có chủ nghĩa làm nòng cốt thì cũng giống như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam (la bàn)(7). Người không có trí khôn thì đương nhiên sẽ không thể có chủ trương, đường lối đúng đắn được; và tàu không có la bàn dẫn đường thì cũng sẽ không thể xác định được hướng đi đúng giữa đại dương mênh mông, bao la. Nhưng vấn đề còn quan trọng hơn nữa trong thời đại của Hồ Chí Minh là Người xác định, phải lựa chọn đi theo chủ nghĩa nào, học thuyết nào. Bởi lẽ, như Người từng thấy rõ: “bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều”. Đó là hệ tư tưởng tư sản, hay hệ tư tưởng vô sản, hoặc nhân danh là hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, nhưng thực chất đã bị tha hóa, biến tướng, như chủ nghĩa công liên, nghiệp đoàn vàng, chủ nghĩa xét lại ....? Đi theo chủ nghĩa nào, tư tưởng nào là vấn đề hết sức quan trọng đặt ra, buộc phải có sự lựa chọn, cân nhắc cẩn thận, chính xác. Trong bối cảnh đầy những phức tạp, tiềm ẩn nhiều “ngõ cụt” đó, Hồ Chí Minh đã biết phát hiện ra và tìm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng tiên tiến nhất, cách mạng nhất và nhân văn nhất của thời đại, trong khi những người Việt Nam khác, dù cũng giàu lòng yêu nước và từng sống nhiều năm ở nước ngoài như nhà chí sĩ Phan Châu Trinh, luật sư Phan Văn Trường, ... nhưng vẫn không nhìn ra được. Người chỉ rõ: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”(8). Đó là sự tổng kết, đúc rút của Hồ Chí Minh từ thực tiễn nghiên cứu, khảo sát phong phú các trào lưu tư tưởng, các phong trào đấu tranh yêu nước, các cuộc cách mạng của các dân tộc khác nhau trên thế giới. Có thể nói chặng đường mà Hồ Chí Minh đã đi để đến với chủ nghĩa Mác-Lênin là “chặng đường chiến thắng biết bao khó khăn với sự lựa chọn vững chắc, tránh được những sai lầm dẫn tới ngõ cụt”(9). Sau này, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, nhiều lần Hồ Chí Minh khẳng định vai trò hết sức quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam. Với nhiều cách thức diễn đạt khác nhau, Người đã chỉ ra vai trò nền tảng tư tưởng, dẫn đường của chủ nghĩa Mác-Lênin: “chủ nghĩa Mác-Lênin làm gốc”(10); “Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho hành động”(11); “Chủ nghĩa Mác-Lênin là chủ nghĩa cách mạng và khoa học nhất”(12); chủ nghĩa Mác-Lênin “không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(13)... Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, việc hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là yêu cầu, điều kiện không thể thiếu để Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thành vai trò, nhiệm vụ được giao. Với tổ chức Đảng, Người chỉ ra rằng: “Đảng ta là Đảng lãnh đạo. Muốn lãnh đạo được phải hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin”(14). Với mỗi cán bộ, đảng viên, Người nêu rõ: “Có học tập lý luận Mác-Lênin mới củng cố được đạo đức cách mạng, giữ vững lập trường, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị, mới làm được tốt công tác Đảng giao phó cho mình”(15). Người nhắc nhở: “hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin tức là cách mạng phân công cho việc gì, làm Chủ tịch nước hay nấu ăn, đều phải làm tròn nhiệm vụ”(16). Đặc biệt, với trái tim nhân văn sâu sắc, Hồ Chí Minh đã nêu lên quan niệm hết sức độc đáo về vai trò quan trọng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đó là giúp nhân lên những giá trị tích cực trong mỗi người, cộng đồng và xã hội: “Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được”(17). Đánh giá rất cao vai trò của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng rất chú trọng nhắc nhở các cán bộ, đảng viên phải biết vận dụng đúng đắn và phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, tránh căn bệnh máy móc, giáo điều. Người chỉ rõ: “Học tập chủ nghĩa Mác-Lênin là học tập cái tinh thần xử trí mọi việc, đối với mọi người và đối với bản thân mình; là học tập những chân lý phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin để áp dụng một cách sáng tạo vào hoàn cảnh thực tế của nước ta. Học để mà làm. Lý luận đi đôi với thực tiễn”(18). Thứ ba, Hồ Chí Minh luôn nhất quán khẳng định bản thân là một người mácxít-lêninnít Tháng 7-1920, khi đọc Luận cương của V.I.Lênin, Hồ Chí Minh đã hết sức xúc động. Sau này, Người có tâm sự về thời điểm đặc biệt đó: “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!". Từ đó tôi hoàn toàn tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”(19). Trên nền tảng lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh đã từ một người yêu nước nhiệt thành trở thành người cộng sản chân chính, đã tìm ra con đường đi đúng đắn cho bản thân và con đường giải phóng, phát triển chính xác, phù hợp với lịch sử và thời đại của dân tộc. Đó là con đường dựa chủ yếu vào sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước và sức mạnh đại đoàn kết của toàn thể quốc dân đồng bào, đồng thời tích cực tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh đuổi giặc ngoại xâm, đi tới xây dựng một xã hội mới mang lại độc lập, tự do, hạnh phúc, ấm no thực sự cho tất cả mọi người dân, một xã hội không còn áp bức, bất công, thực hiện giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Đó chính là con đường phát triển khoa học, cách mạng triệt để và nhân văn sâu sắc. Thực tế lịch sử dân tộc cho thấy con đường này đã được dân tộc lựa chọn, ủng hộ và tin theo. Đúng như Đảng đã khẳng định: “Với tấm lòng yêu nước nồng nàn, Hồ Chủ tịch đã sớm đến với chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy ở chủ nghĩa Mác-Lênin ánh sáng soi đường cứu dân, cứu nước”(20). Cũng chính là trên nền tảng lý luận khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là phương pháp luận duy vật biện chứng, với trí tuệ lỗi lạc và tư duy lý luận sắc sảo, thấm đẫm thực tiễn phong phú, Hồ Chí Minh đã xây dựng nên hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, trong đó hạt nhân cốt lõi, sợi chỉ đỏ xuyên suốt là tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Hồ Chí Minh đã hoàn thành xuất sắc không chỉ vai trò là người tìm đường, mà còn cả vai trò người mở đường và dẫn đường, trở thành vị lãnh tụ vĩ đại và kính yêu của dân tộc Việt Nam, vị Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất. Đồng thời, với những hoạt động, cống hiến hết sức phong phú trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh cũng trở thành người chiến sĩ quốc tế lỗi lạc trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân tiến bộ trên thế giới, đã “góp phần vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. .... những tư tưởng của Người là hiện thân của những khát vọng của các dân tộc mong muốn được khẳng định bản sắc văn hóa của mình và mong muốn tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc”(21). Tháng 7-1946, ngay tại thủ đô Pari (Pháp), trên cương vị nguyên thủ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang thăm nước Cộng hòa Pháp, Hồ Chí Minh đã thẳng thắn trả lời các nhà báo quốc tế: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa. Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác”(22). Chỉ một thời gian ngắn trước khi qua đời, trong bài trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp Sáclơ Phuốcniô (ngày 15-7-1969), Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định: “Lúc đầu, chính là do chủ nghĩa yêu nước mà tôi tin theo Lênin. Rồi, từng bước một, tôi đi đến kết luận là chỉ có chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và giai cấp công nhân toàn thế giới”(23). Nêu lên những thắng lợi của nhân dân Việt Nam từ khi Đảng ra đời và lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chúng tôi giành được thắng lợi đó là do nhiều nhân tố, nhưng cần phải nhấn mạnh rằng - mà không phải chỉ nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 Ngày sinh Lênin - chúng tôi giành được những thắng lợi đó trước hết là nhờ cái vũ khí không gì thay thế được là chủ nghĩa Mác-Lênin”(24). Trọn cuộc đời, Hồ Chí Minh đã phấn đấu theo lý tưởng cách mạng, khoa học, nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và là tấm gương mẫu mực về sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin trong điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam, đã mang lại những thành công cho cách mạng Việt Nam và đưa dân tộc Việt Nam đến những thành tựu như hiện nay. Chính trên tinh thần đó, từ những bài học của cách mạng Việt Nam, đặc biệt là qua 35 năm đổi mới và 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng (năm 2021) đã nhấn mạnh một trong những tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là “phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh”(25). Đây là một vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động.

Thường xuyên rà soát cán bộ liêm khiết, trong sạch

 Từ một sự việc

Trong Thông cáo báo chí sau Phiên họp lần thứ 13 (từ 28 đến 31-3-2022) của Uỷ ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương, có ghi: "Xem xét kết quả giải quyết tố cáo đồng chí Trần Hồng Quảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Bí thư Đảng đoàn, Chủ tịch HĐND tỉnh Ninh Bình, UBKT Trung ương nhận thấy đồng chí Trần Hồng Quảng đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc, quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương; vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật Nhà nước trong quản lý đầu tư, xây dựng và công tác cán bộ". "Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo đồng chí Trần Hồng Quảng...". Điều ngạc nhiên là ngày 16-7-2022, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình Nguyễn Thu Hà đã ký quyết định về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (Ban Chỉ đạo PCTNTC) của tỉnh. Theo quyết định này, Ban Chỉ đạo của tỉnh Ninh Bình gồm 15 thành viên, trong đó có đồng chí Trần Hồng Quảng, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh Ninh Bình làm Phó Ban Chỉ đạo PCTNTC của tỉnh. Chiều 17-8-2022, trong cuộc họp báo của Ban Nội chính Trung ương công bố kết quả phiên họp thứ 22 của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, một số ý kiến đã đặt câu hỏi tại sao ông Trần Hồng Quảng đã bị kỷ luật mà vẫn có tên trong danh sách Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh Ninh Bình? Tại cuộc họp này, Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương Nguyễn Thái Học cho biết: "Cần phải xem lại quyết định thành viên Ban Chỉ đạo của Ninh Bình và rà soát lại việc vi phạm của ông Quảng. Đồng thời, đề nghị Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh Ninh Bình giải trình về vấn đề này trong thời gian tới". Không thể vi phạm tới mức cảnh cáo lại là Phó Trưởng Ban Chỉ đạo. Ngay sau đó, ngày 18-8-2022, theo thông tin từ Cổng thông tin điện tử Đảng bộ tỉnh Ninh Bình, đồng chí Nguyễn Thị Thu Hà - Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình đã ký Quyết định về việc kiện toàn Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh. Theo Quyết định này, Ban Chỉ đạo của tỉnh Ninh Bình còn 14 thành viên, ông Trần Hồng Quảng không còn trong danh sách Ban Chỉ đạo PCTNTC của tỉnh Ninh Bình nữa. Sự việc nêu trên là một điều đáng tiếc, nhưng dư luận rất hoan nghênh Tỉnh uỷ Ninh Bình, người đứng đầu cấp uỷ tỉnh đã cầu thị và sửa chữa kịp thời! Từ một vụ việc ở Tỉnh uỷ Ninh Bình đặt ra một số vấn đề về nhân sự ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh hiện nay.

Thường xuyên rà soát

Một trong những khó khăn rất lớn của các tỉnh, thành uỷ, người đứng đầu cấp uỷ tỉnh trực thuộc Trung ương là rà soát, lựa chọn được các thành viên Ban Chỉ đạo PCTNTC theo cơ cấu, nhưng tuyệt đối bảo đảm tiêu chuẩn, phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống và uy tín. Chính vì vậy, đến nay phải gần 3 tháng sau khi Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng ký Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2-6-2022 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của Ban Chỉ đạo PCTNTC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thì cả 63 tỉnh, thành phố mới thành lập đủ ban chỉ đạo. Bởi ban chỉ đạo và các thành viên về PCTNTC phải là những người tiêu biểu cho phẩm chất, đạo đức, uy tín ở cấp uỷ đảng địa phương. Theo quan điểm của Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC chúng ta dễ dàng thấy rõ những cán bộ nào, nhất là những người đã bị kỷ luật, không thể tham gia ban chỉ đạo cấp tỉnh. Trong phiên họp đầu tiên, ngày 4-2-2013, của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, trực thuộc Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh: "Thành viên ban chỉ đạo phải là tấm gương về giữ gìn đạo đức, lối sống, không bị cám dỗ bởi bất cứ lợi ích nào, không ngại bất cứ lực cản không trong sáng nào". Tại Hội nghị của Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 16-1-2015, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tiếp tục khẳng định: “Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà "tay đã nhúng chàm" thì không thể chống được tham nhũng”. Sáng 11-10-2017 trong phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá XII), Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu: “Đề nghị từng Ủy viên BCH Trung ương và mọi cán bộ, đảng viên, công chức cần thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, thường xuyên tự soi, tự sửa, tự răn mình, tránh xa những cám dỗ vật chất, tham vọng, tránh đi vào vết xe đổ, để tay nhúng chàm và nếu đã trót ít nhiều nhúng chàm rồi thì sớm tự giác tự gột rửa!”. Gần đây, tại Hội nghị tổng kết 10 năm PCTNTC, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã lấy kinh nghiệm dân gian để nhắc nhở những cán bộ lãnh đạo, quản lý cần "Tránh tình trạng "Chân mình còn lấm bê bê/Lại cầm bó đuốc đi rê chân người"; "Thượng bất chính thì hạ tắc loạn!"; "Cấp trên ở chẳng chính ngôi, cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!". Tổng Bí thư đã nhiều lần nói phải lựa chọn những đồng chí thực sự tiêu biểu, gương mẫu, có tinh thần đấu tranh PCTNTC để tham gia ban chỉ đạo. Đây là tiêu chuẩn phải là số một, không vì cơ cấu mà xem nhẹ tiêu chuẩn về sự gương mẫu, trong sạch, liêm khiết. Ngoài ra, trong thời gian qua Đảng ta đã có nhiều quy chế, quy định về trách nhiệm nêu gương, những điều đảng viên không được làm... Chính vì vậy, lẽ nào cấp uỷ cấp tỉnh trực thuộc Trung ương lại không hiểu thế nào là "cán bộ nhúng chàm" cũng như 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tự chuyển hoá, tự diễn biến và thế nào là những hiện tượng tiêu cực mà để cán bộ bị kỷ luật tham gia ban chỉ đạo cấp tỉnh về TNTC?

Một trong những mối quan tâm của Đảng trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian gần đây là chống TNTC ngay trong các cơ quan PCTNTC. Do đó, đối tượng cần thường xuyên rà soát là những cán bộ lãnh đạo chủ chốt thuộc cơ cấu, kể cả người đứng đầu cấp uỷ, đã tham gia trong ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Dân gian thường có câu "Sông có khúc, người có lúc", "Cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra". Mặc dù các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của cấp tỉnh, đã hội đủ các tiêu chuẩn theo quy định và được tín nhiệm của đại hội đảng bộ hơn một năm trước đây, được bầu vào cấp uỷ, sắp xếp vào vị trí lãnh đạo, quản lý. Nhưng cũng không loại trừ những đồng chí có sai phạm nhưng chưa bị phát hiện. Chỉ vì một phút lơi là không giữ được mình, để cho chủ nghĩa cá nhân, sự ham muốn trong mình trỗi dậy hay "cái kim trong bọc" lâu ngày bây giờ mới "lòi ra" thì cũng phải thường xuyên xem xét, xử lý nghiêm mình. Những cán bộ lãnh  đạo, quản lý thuộc cơ cấu và đã tham gia vào ban chỉ đạo mà sau đó mới phát hiện vi phạm kỷ luật thì dứt khoát phải xử lý, phải đưa ra khỏi ban chỉ đạo vì không còn đủ uy tín để lãnh đạo, chỉ đạo công tác quan trọng này. Những trường hợp như vậy, dù ở cương vị nào cũng không có lý do chần chừ, không đưa ra khỏi hàng ngũ những người PCTNTC.

Một trong những khó khăn bấy lâu nay cản trở công tác phát hiện dấu hiệu vi phạm, rà soát những hiện tượng tham nhũng, tiêu cực trong cán bộ lãnh đạo, quản lý và trong thành viên ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh là tình trạng "trên nóng dưới lạnh", "trên quyết liệt dưới tê liệt", "dĩ hoà vi quý" "bệnh thành tích", tư tưởng cục bộ địa phương, bao che, giấu giếm vi phạm khuyết điểm, vi phạm kỷ luật trong đấu tranh PCTNTC còn khá phổ biến ở nhiều nơi. Trong thời gian qua, ở địa phương còn thiếu quy định về cơ chế, về trách nhiệm, ràng buộc người đứng đầu cấp ủy đảng các tỉnh, thành phố trong lãnh đạo, chỉ đạo PCTNTC. Ở không ít địa phương còn phổ biến tình trạng thiếu kiên quyết, chậm tự phát hiện, chậm xử lý dứt điểm các dấu hiệu TNTC. Tình trạng chưa có sự tham gia của đông đảo quần chúng, nhân dân, các cơ quan dân cử, các cơ quan thông tin đại chúng ở địa phương trong việc tự phát hiện, tố giác những biểu hiện TNTC... Hội nghị Trung ương 5 (khóa XIII) đã thống nhất chủ trương thành lập ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC. Ban Bí thư Trung ương Đảng ban hành Quy định số 67-QĐ/TW ngày 2-6-2022 "Về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, chế độ làm việc, quan hệ công tác của ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, nhằm khắc phục kịp thời những hạn chế, bất cập trong công tác PCTNTC, tạo ra sự lãnh đạo, chỉ đạo thống nhất, đồng bộ về sự lãnh đạo của Đảng, về tổ chức, bộ máy, trách nhiệm, quyền hạn, cơ chế hoạt động, sự thông suốt từ Trung ương tới địa phương. Một trong những bài học quý mà đồng chí Phan Đình Trạc, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, nhấn mạnh trong Hội nghị 10 năm thực hiện PCTNTC vừa qua là: "Sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của đồng chí Tổng Bí thư - Trưởng Ban Chỉ đạo và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, người đứng đầu và lãnh đạo chủ chốt của cấp uỷ, chính quyền, cơ quan, tổ chức đơn vị là chỗ dựa vững chắc, là sự bảo đảm về mặt chính trị, tạo nên động lực to lớn và do đó là nhân tố hàng đầu quyết định thành công trong cuộc đấu tranh PCTNTC". Đây cũng chính là một yêu cầu rất cao, đồng thời là một thách thức rất lớn đối với các đồng chí bí thư tỉnh, thành uỷ, trưởng ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC, nhất là phải trở thành tấm gương sáng để cấp dưới noi theo.

Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong tổ chức bộ máy, hoạt động và từng thành viên ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC, nhất là tư tưởng cục bộ địa phương, "bệnh thành tích" có rất nhiều việc phải làm. Một trong những yếu tố để cán bộ, đảng viên và nhân dân giám sát cán bộ lãnh đạo, quản lý, trong đó có các thành viên ban chỉ đạo, cần có cơ chế công khai, minh bạch, dân chủ trong công tác cán bộ, tiếp thu ý kiến đóng góp, xây dựng của các đoàn thể, tổ chức đại diện cho dân và ý kiến trực tiếp của người dân. Học tập kinh nghiệm của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC, của UBKT Trung ương, của Ban Nội chính Trung ương, sau mỗi kỳ họp ban chỉ đạo PCTNTC của tỉnh, của UBKT tỉnh uỷ, cần họp báo thông tin thường xuyên để báo chí địa phương, các trang thông tin điện tử, công khai, cung cấp những thông tin, kết luận, điều tra, xử lý những vụ, việc, vụ án tiêu tham nhũng, tiêu cực ở địa phương, những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật; tránh tình trạng che giấu, bưng bít thông tin. Báo chí địa phương chính là "hàn thử biểu" cần trở thành cầu nối giữa cấp uỷ đảng, chính quyền, ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh với quần chúng, nhân dân trong việc phát hiện, tố cáo những hiện tượng TNTC; thực hiện dân chủ, công khai, quyền được thông tin của người dân. Tạo nên phong trào toàn dân, cả hệ thống chính trị tham gia PCTNTC. 

Hiện nay, Đảng đã có quy định, tạo cơ hội, khuyến khích, bảo vệ cho những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Học tập kinh nghiệm của Trung ương, UBKT cấp uỷ địa phương có vị trí cực kỳ quan trọng trong rà soát, phát hiện, kiểm tra, giám sát những dấu hiệu vi phạm của cấp uỷ, tổ chức đảng, cán bộ lãnh đạo, quản lý ở địa phương. Trong "Trường hợp UBKT có ý kiến khác với ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ thì UBKT phải chấp hành kết luận, quyết định của ban thường vụ cấp uỷ, cấp uỷ, đồng thời báo cáo UBKT cấp trên. Trường hợp UBKT cấp trên có ý kiến khác với ban thường vụ, cấp uỷ cấp dưới thì báo cáo cấp uỷ cùng cấp xem xét, quyết định. Trường hợp UBKT Trung ương có ý kiến khác với tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương thì báo cáo Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định (Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của BCH Trung ương về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng). Đồng thời, ban chỉ đạo cấp tỉnh chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC. Trường hợp ý kiến chỉ đạo của ban chỉ đạo cấp tỉnh khác với ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương trong việc phát hiện, xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực thì các cơ quan chức năng của địa phương thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của các cơ quan có thẩm quyền ở Trung ương; ban chỉ đạo cấp tỉnh có trách nhiệm tổng hợp, báo cáo đầy đủ việc phát hiện, xử lý vụ án, vụ việc với Ban Chỉ đạo Trung ương" (Quy định số 67 của Ban Bí thư về ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC). Đây là những ràng buộc trách nhiệm của ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC đối với Trung ương, không thể che đậy, giấu giếm, trốn tránh trách nhiệm.

VTT (St)

kịp thời bổ sung cán bộ liêm khiết, trong sạch

 Việc thường xuyên rà soát, củng cố ban chỉ đạo, đưa ra khỏi ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC những cán bộ lãnh đạo, quản lý trong cơ cấu ban chỉ đạo liên quan chặt chẽ với công tác kiện toàn, bổ sung thành viên ban chỉ đạo cấp tỉnh. Cần thực hiện cơ chế "động", không "đóng đinh một chỗ" trong công tác cán bộ, là biện chứng của sự phát triển: "Có lên có xuống", "có vào, có ra". Vấn đề quan trọng này nằm trong các phương án nhân sự của các tỉnh, thành uỷ. Cần chủ động, không để đứt quãng và những khoảng trống nhân sự trong cơ quan PCTNTC ở địa phương.

Việc bổ sung thành viên ban chỉ đạo PCTNTC cấp tỉnh cần dứt khoát tuân thủ, quán triệt sâu sắc các quy định, quan điểm của Đảng về công tác cán bộ cũng như của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTNTC và những quan điểm của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về công tác này: "Cán bộ làm công tác chống tham nhũng mà "tay đã nhúng chàm" thì không thể chống được tham nhũng";  "Không vì cơ cấu mà coi nhẹ sự gương mẫu, trong sạch, liêm khiết"... Hiện nay, trong Đảng có rất nhiều cán bộ, đảng viên đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, năng lực, tài ba và uy tín trước dân. Chính vì vậy, cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cần chủ động, thường xuyên rà soát, kiểm tra, giám sát cán bộ, có những phương án thay thế những cán bộ không còn đủ tiêu chuẩn, vi phạm kỷ luật, bổ sung nhân sự ban chỉ đạo khi cần thiết, không bị động, bất ngờ.

Muốn có các phương án bổ sung chủ động, kịp thời, một trong những giải pháp cực kỳ quan trọng là thường xuyên thực hiện tự phê bình và phê bình trong cấp uỷ, trong ban chỉ đạo. Thực hiện "tự soi, tự sửa", trên cơ sở đó, phát huy tinh thần tự nguyện, tự giác, tự chịu trách nhiệm của các thành viên ban chỉ đạo. Cán bộ nào cảm thấy áp lực, cảm thấy thấy khó khăn, sức ép hay gò bó thì tự nguyện cho rút khỏi danh sách ban chỉ đạo. Đồng thời, cấp uỷ mạnh dạn đề bạt, bổ sung những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung bổ sung ban chỉ đạo.

Đối với Trung ương, trên cơ sở theo dõi, rà soát, kiểm tra của các cơ quan chức năng, dư luận của quần chúng, nhân dân ở địa phương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư có thể điều động, luân chuyển những cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý đủ tiêu chuẩn, uy tín tham gia cấp uỷ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ cấu, bổ sung vào ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTNTC.

VTT (St)

Luật pháp phải đúng, trúng... và có “hồn”!

 Thời gian này trên truyền thông và mạng xã hội bàn nhiều về doanh nghiệp tư nhân, các tập đoàn lớn do tư nhân làm chủ sở hữu đang vướng vào việc thanh, kiểm tra của cơ quan chức năng và nhiều doanh nghiệp “đình đám” đã bị phong toả, lãnh đạo vướng vào vòng lao lý… từ đó đã gây hệ luỵ xấu cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực. Đặc biệt là thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản và dòng tiền lưu thông trong xã hội… từ những hệ luỵ này đã và đang gây bất ổn cho xã hội.


Một góc nhìn của cá nhân tôi… Về vấn đề này cần được làm rõ, minh bạch và sòng phẳng bởi thực tế trong thời gian dài qua việc ban hành các đạo luật, các nghị định, quy định… về kinh doanh thương mại, đầu tư phát triển cần phải được nghiêm túc rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện. Từ những cái chưa hoàn thiện, chưa tốt, chưa chỉn chu dẫn đến việc thực thi chính sách, quy định của pháp luật còn nhiều khiếm khuyết, dẫn đến sai phạm ngày càng lớn và nguy hiểm hơn. Cũng từ đó tạo điều kiện cho các cơ quan bảo vệ pháp luật nếu không giữ được liêm khiết, thanh bạch sẽ lợi dụng vi phạm của doanh nghiệp, doanh nhân để áp đặt cách nghĩ và cách nhìn chủ quan của mình dưới sự bảo hộ vô hình của pháp luật và được nhân danh Nhà nước để xử lý các vấn đề thiếu chuẩn mực, duy ý chí, đôi khi dùng quyền lực của mình để đổi trắng thay đen, làm sai lệch bản chất sự việc. 

Doanh nghiệp và doanh nhân đầu tư kinh doanh để thành công là điều không dễ, phải nói là cực kỳ khó khăn khi luật pháp chồng chéo, khi bị “nhóm lợi ích” cụ thể hoá ra văn bản có lợi cho sân sau, cánh hẩu của mình để ăn chia, để lợi dụng và cuối cùng là doanh nghiệp, doanh nhân lãnh đủ những hậu quả cực kỳ tệ hại đã và đang xảy ra.

Nhiều doanh nghiệp lớn trong thời gian chưa bị thanh, kiểm tra, luôn là doanh nghiệp được truyền thông đưa tin, người lao động ngợi ca hết lời, dùng những câu chữ, câu từ có cánh để “lăng xê”, để tạo thương hiệu, tên tuổi với mục đích dẫn dắt dư luận, nhà đầu tư tham gia. Đến khi có chuyện hoặc có thể có chuyện thì tất cả những lời ngợi ca lúc trước sẽ “quay xe” 180 độ, thi nhau “ném đá”, “đổ bùn đen”. Nghiêm trọng hơn là sự suy luận của một số người có tên tuổi, có ảnh hưởng tới cộng đồng nhằm “dìm hàng” và “bôi cho nhọ”, đôi khi chỉ muốn cho thiên hạ biết mình là ai, mình là người hiểu chuyện, là người có nhãn quan, có quan hệ và có thông tin “mật”.

Nhận xét và đánh giá mọi việc xung quanh, trong cộng đồng và xã hội là quyền của mọi người, trong đó có tôi và các bạn, 
nhưng thiết nghĩ cần phải tiết chế, cần phải có kiểm chứng để tránh làm tổn thương tới người khác khi câu chuyện chưa được sáng tỏ. Chúng ta luôn hiểu rằng “mua danh ba vạn, bán danh ba đồng” không chỉ trong chính trường mà trong thương trường còn khắc nghiệt hơn. Khi người ta dấn thân vào thương trường “bỏ tiền tấn thu bạc cắc” kinh doanh, sản xuất ở mức độ “bé và nhỏ” thì mọi việc thành bại đơn giản. Khi doanh nghiệp lớn dần, có vốn đầu tư, kinh doanh hàng ngàn tỷ đồng và tạo ra hàng ngàn người lao động thì mọi việc sẽ không còn đơn giản nữa.

Có không ít người rất vui khi bất cứ doanh nghiệp lớn nào bị phá sản, bị vướng vào vi phạm pháp luật. Và cũng có nhiều người buồn, trong đó có cá nhân tôi, khi phải nhìn thấy cảnh đó xảy ra với bất cứ doanh nghiệp hay doanh nhân khi gặp biến cố không lợi cho dù là bất cứ lý do nào. Bởi khi đã xảy ra sẽ thiệt hại khôn lường với cá nhân, tập thể không chỉ về tài chính, về uy tín và nguy hại hơn đó là “niềm tin” với thị trường, với luật pháp.

Con người sống ở bất cứ nơi đâu cũng phải thượng tôn pháp luật, muốn cộng đồng xã hội thượng tôn pháp luật thì điều tiên quyết đầu tiên là luật pháp phải minh bạch, rõ ràng, đúng, trúng, chuẩn, phải mang hơi thở của cuộc sống nên cần luật có “hồn”.

VTT (St)