Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022
ĐẠI HỘI ĐỒNG LIÊN HỢP QUỐC THÔNG QUA NGHỊ QUYẾT LÊN ÁN LỆNH CẤM VẬN CUBA CỦA MỸ
LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 04/11
NGẮM MÁY BAY TIÊM KÍCH HIỆN ĐẠI NHẤT TRÌNH DIỄN TRÊN BẦU TRỜI HÀ NỘI
Thứ Năm, 3 tháng 11, 2022
CHỐNG MẶC PHẢN VĂN HOÁ
Mặc là nhu cầu giống cơm ăn, nước uống hằng
ngày của mỗi cá nhân. Mặc là văn hóa đặc trưng, được ví như “đặc điểm nhận
diện” để phân biệt dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia
khác. Thời hiện đại, bên cạnh xu hướng mặc đẹp, sang trọng, lịch sự, phù hợp
với thuần phong mỹ tục, hợp chuẩn mực đạo đức mà số đông trong xã hội thực
hiện, còn là hiện tượng mặc thể hiện sở thích, cá tính, thậm chí mặc phản cảm,
phản văn hóa. Câu hỏi, mặc thế nào cho chuẩn mực trở thành vấn đề thời sự chưa
bao giờ cũ.
Trong kho tàng ca dao, tục ngữ của người Việt
có câu: “Đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy”. Có thể hiểu câu này
theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng hiểu theo nghĩa đen là nên mặc phù hợp với
hoàn cảnh, phù hợp với đối tượng tiếp xúc. Người Việt cũng có câu đáng ngẫm khi
nói về vai trò của mặc: “Hơn nhau tấm áo manh quần/ Thả ra mình trần ai cũng
như ai”.
Trên thế giới, mặc là một nét văn hóa, văn
minh được coi trọng. Louisa May Alcott (1832-1888), một tiểu thuyết gia người
Mỹ từng viết: “Quần áo đẹp mở ra mọi cánh cửa”. Nhà bác học Albert Einstein
từng nói một câu chí lý: “Hãy ăn để thỏa mãn mình, nhưng mặc để thỏa mãn người
khác”. Còn Lee Mildon thì nhấn mạnh sự mặc: “Đầu tiên hãy biết mình là ai, và
sau đó ăn mặc cho phù hợp”. Nói về ý nghĩa của mặc, James Laver, nhà sử học
nghệ thuật người Anh cho rằng: “Ăn mặc không phải làm tốt cho mình mà để tôn
trọng kẻ khác”. Còn theo Charles Dickens: “Quần áo làm nên con người. Những kẻ
trần truồng không có hay có rất ít ảnh hưởng lên xã hội”. Đối với cán bộ, chiến
sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam, cái mặc là một phần của “khuôn dung”, sự uy
nghiêm, khỏe mạnh, là một khía cạnh bản sắc văn hóa Bộ đội Cụ Hồ. Các quân nhân
trong Quân đội thường ghi nhớ câu “nhìn quân phục biết tư cách” để nhắc nhở
nhau mặc sạch sẽ, phẳng phiu, gọn gàng, cho dù nắng cháy, bụi đỏ quân trường và
sương gió làm làn da sạm nắng, dễ cẩu thả trong mang quân phục.
Dẫn ra như vậy để thấy rằng, sự mặc là một
phần văn hóa không thể thiếu của mỗi con người, mỗi dân tộc, cộng đồng xã hội.
Thực tế cho thấy, càng những người học cao biết nhiều và phông văn hóa rộng thì
họ càng chú ý đến việc mặc. Mặc phù hợp với thuần phong mỹ tục, truyền thống
văn hóa dân tộc, phù hợp với sự kiện, công việc, hoàn cảnh, phù hợp với đối
tượng tiếp xúc cũng là một nét đẹp văn hóa đặc trưng, độc đáo nhiều người theo
đuổi. Có nhà văn hóa từng nói, dân tộc nào trang phục ấy, sự kiện nào trang
phục đó... và suy rộng, việc mặc cũng là một phần nào thể hiện đạo đức, nhân
cách của con người, cộng đồng.
Tại Việt Nam hiện nay, văn hóa mặc được đề
cao, chú trọng bởi điều kiện kinh tế-xã hội, bởi sự tăng tốc của khoa học công
nghệ, sự bùng nổ công nghệ thông tin, nhất là sự lan tỏa mạnh mẽ của internet
và mạng xã hội. Bằng chứng là, bất cứ một sự kiện biểu diễn thời trang nào diễn
ra ở nước ngoài, hay bất cứ một mốt thời trang nào diễn ra trên thế giới cũng
sẽ được người Việt, nhất là giới trẻ và những người quan tâm cập nhật nhanh
chóng. Thế nên, cái sự mặc đó tác động đến người Việt theo hướng phù hợp hoặc
không phù hợp, văn hóa hoặc phản văn hóa. Ở đây chỉ xin bàn đến hiện tượng
chống mặc phản cảm ở một bộ phận xã hội.
Hiện nay có một thực tế diễn ra trong xã hội,
đó là hiện tượng mặc phản cảm, phản văn hóa ở một số bạn trẻ, trong đó nổi bật
là các "hotgirl". Với phương châm “đẹp khoe ra”, họ mặc các loại quần
áo thiếu vải hoặc trong suốt để khoe những “đường cong mỹ miều”. Đáng buồn hơn
là họ lại sử dụng những bộ trang phục theo mốt kiểu “con nhà nghèo”, “thiếu
vải” ấy để đi muôn nơi, đến mọi chỗ, thậm chí đi lễ hội, lễ chùa, đến đền, đến
đình cúng lễ. Dường như họ mặc nhiên cho rằng, đó là cá tính, là “mốt của thời
đại”. Với họ, mặc như thế là “đẹp và sành điệu”... Một số học giả, nhà văn hóa
từng cảm thán rằng, đường phố đã trở thành "bãi tắm" hoặc “bể bơi”.
Song hành với hiện tượng trên, tháng 10-2022,
trong xã hội chúng ta xuất hiện những ông, những bà độ tuổi trung niên có hành
vi mặc thiếu văn hóa. Ví dụ, gần đây trên diễn đàn mạng xã hội Facebook xuất
hiện trang cá nhân có tên “Ngọc Tiên đồ lính US". Trang này cho đăng clip
cảnh họp mặt của câu lạc bộ (CLB) đam mê đồ lính Bắc Quang (Hà Giang) tại một
nhà hàng kiểu nhà sàn ở vùng sơn cước. Số người tham gia đến vài chục nam, nữ ở
nhiều lứa tuổi, trong đó có những người đã gần tới ngũ tuần hoặc lục tuần. Họ
mang mặc những bộ quân phục của lính Mỹ, lính ngụy Sài Gòn trước năm 1975 rộng
thùng thình, có logo, tên gắn trên áo để họp mặt và chụp ảnh, quay clip và nhận
được hàng nghìn lượt bình luận. Tìm kiếm tiếp trên Google thì nhận được thông
tin, CLB này thành lập ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang cách đây một năm. Hiện
ở miền Bắc cũng xuất hiện những CLB đam mê đồ lính US tại các tỉnh: Hà Nam,
Hưng Yên, Hải Phòng... Họ cũng thường mặc những bộ quân phục của lính Mỹ, ngụy
trước năm 1975 khi tổ chức họp mặt, diễu phố để chụp ảnh, khuếch trương.
Nhiều nhà văn hóa cho rằng, đây là một hiện
tượng khoe khoang ăn mặc lệch chuẩn, phản cảm và phản văn hóa trầm trọng. Bởi
theo phân tích của họ, quân phục, trang phục của quân đội bất cứ nước nào cũng
nhằm dùng riêng cho hoạt động quân sự, trong đó nổi bật là để người lính giữ
sức khỏe, bảo vệ cơ thể trước khí hậu, thời tiết, môi trường và thậm chí là bảo
vệ người lính trước bom, đạn. Nó có thể là quân phục dùng trong huấn luyện,
chiến đấu, nhưng cũng có loại dùng trong các nghi thức riêng. Việc các nam, nữ
trung niên hoặc đã già ở những CLB nêu trên mặc quân phục quân đội nước ngoài
mà không dùng vào việc nhà binh, chỉ để thể hiện cá tính, sở thích, sự sành
điệu, chịu chơi là phản cảm và thiếu văn hóa. Nó càng phản cảm hơn khi số đo
của các bộ quân phục ấy không vừa với chiều cao, cân nặng của người mặc, nó xa
lạ với trang phục truyền thống của người Việt Nam. Nó càng phản cảm hơn khi
những quân đội ấy từng có thời kỳ gây tội ác, đau thương, giết hại hàng vạn
đồng bào trong kháng chiến. Nhiều cựu chiến binh Quân đội nhân dân Việt Nam rất
bất bình với hành vi nêu trên. Có người thẳng thắn bình luận dưới các clip khoe
khoang kia là phản văn hóa và gợi lại ký ức đau thương.
Khảo sát trên các trang mạng xã hội, số cá
nhân rao bán quân phục nước ngoài không phải là hiếm. Họ nhập những bộ quân
phục quân đội Mỹ, ngụy đã hoặc chưa qua sử dụng về Việt Nam từ nhiều đường khác
nhau cho dù chưa được bất cứ cơ quan nào cấp phép, kiểm duyệt về thuế và các
vấn đề khác theo quy định pháp luật Việt Nam hiện hành. Có lẽ, đây cũng là một
trong những nguyên nhân tạo ra “lỗ hổng” để số người thể hiện cá tính, sở thích
trái với chuẩn mực, văn hóa mặc của người Việt.
Từ khi Việt Nam thực hiện chủ trương đổi mới
vào năm 1986, văn hóa mặc của người Việt cũng có sự thay đổi tích cực, bắt nhịp
xu hướng hội nhập. Mặc đẹp, sang trọng, lịch sự được nhiều người hưởng ứng và
hướng tới. Ngày nay, điều kiện kinh tế, mặt bằng thu nhập tăng lên thì người
Việt có nhiều lựa chọn trong việc mặc. Phong cách ăn mặc của người Việt cũng
ngày càng hiện đại, bắt kịp với xu thế thời trang thế giới, nhưng lại biết điều
tiết để phù hợp với thuần phong mỹ tục dân tộc. Chính những điều này càng làm
cho thời trang Việt Nam có nét riêng biệt và có nhiều cơ hội phát triển, hội
nhập với thế giới, được công nhận là đất nước có trang phục và vẻ đẹp riêng,
gắn liền với nền văn hóa dân tộc.
Xã hội chúng ta vẫn lưu truyền câu quen thuộc
“y phục xứng kỳ đức”, hàm ý nhắc nhở mỗi con người phải biết cách ăn mặc, ứng
xử phù hợp với địa vị xã hội, với nơi chốn, công việc và môi trường xung quanh.
Là người hiện đại ở thế hệ mới, chúng ta cần
coi trọng sự mặc sao cho giữ được văn hóa dân tộc, tránh mặc phản cảm, phản văn
hóa. Tuổi càng cao thì mỗi cá nhân càng phải coi trọng cái sự mặc sao cho thể
hiện sự mẫu mực trước thế hệ trẻ. Các cơ quan quản lý thị trường và bảo vệ pháp
luật cần thanh tra, kiểm tra để duy trì các hoạt động buôn bán quân phục nước
ngoài thực hiện đúng quy định của pháp luật hiện hành. Bên cạnh đó, các cơ quan
chức năng cũng cần nghiên cứu, đưa ra những quy định cụ thể về mặc quân phục
của nước ngoài trong các sự kiện, trong các loại hình nghệ thuật, nhằm hạn chế
tối đa việc kích động hận thù, gây bất ổn xã hội. Cộng đồng xã hội cần tẩy chay
và lên án các hiện tượng mặc lố lăng, phản cảm, phản văn hóa, xa lạ với văn hóa
và thuần phong mỹ tục người Việt.
KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC MỘT CHUYẾN THĂM HỮU NGHỊ ĐẶC BIỆT
Những ngày vừa qua, khi các cơ quan báo chí
truyền thông Việt Nam và Trung Quốc đưa tin về chuyến thăm hữu nghị nước Cộng
hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (từ ngày 30/10 đến
2/11) theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung
Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, thì mạng xã hội
“dậy sóng” những loạt tin xấu độc theo hướng “bài Hoa, thân Mỹ”. Trong các luận
điệu xuyên tạc phản động ấy, nổi lên một số quy chụp, suy diễn hồ đồ khi cho
rằng đó là “một chuyến đi vội vã”, là “đi sang cống thiên triều”, là thể hiện
sự “thần phục của Việt Nam trước Trung Quốc”… Và vì thế, Việt Nam sẽ gặp bất
lợi trong mối quan hệ với Mỹ; Việt Nam sẽ tiếp tục mất biển, đảo với Trung
Quốc; Việt Nam “hãy học Đài Loan” trước tham vong của Trung Quốc và Tập Cận
Bình
Song, sự thật vẫn ngời sáng, nên bất chấp
những thông tin xấu độc đó, chuyến thăm hữu nghị của Tổng Bí thư Nguyễn Phú
Trọng đến đất nước Trung Hoa ngay sau khi Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung
Quốc kết thúc thắng lợi đã khẳng định tầm quan trong và ý nghĩa đặc biệt của
chuyến thăm hữu nghị này.
Một là, lịch sử quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam
và Trung Quốc đã có từ lâu đời, đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh Hồ Chí Minh và Chủ
tịch Mao Trạch Đông cùng các thế hệ tiền bối dày công vun đắp. Suốt chiều dài
lịch sử hai nước nói chung và 7 thập niên kể từ khi 2 nước thiết lập quan hệ
ngoại giao (18/1/1950) nói riêng, trên tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt,
đồng chí tốt, đối tác tốt”, quan hệ Việt – Trung đã đi qua những thăng trầm,
nhưng hợp tác hữu nghị vẫn là dòng chảy chính, là lựa chọn đúng đắn và mối quan
hệ hữu nghị giữa 2 nước cũng không ngừng được xây đắp.
Cụ thể, kể từ năm 2008 khi 2 bên nhất trí
thiết lập khuôn khổ quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam –
Trung Quốc, đến nay Việt Nam và Trung quốc đã thiết lập khoảng 60 cơ chế giao lưu
hợp tác từ Trung ương đến địa phương, phủ sóng gần như tất cả các lĩnh vực.
Trong thực tế, Trung Quốc tiếp tục là đối tác thương mại lớn nhất và thị trường
xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam; trong khi đó, Việt Nam cũng tiếp tục là đối
tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong ASEAN và đối tác lớn thứ 6 của
Trung Quốc trên thế giới. Gần nhất, trong cuộc chiến phòng và chống đại dịch
Covid-19, Trung Quốc cũng là một trong những nước cung cấp vaccine nhiều nhất,
đóng góp hiệu quả cho công tác phòng, chống và kiểm soát dịch bệnh tại Việt
Nam. Còn trong các lĩnh vực khác, Việt Nam và Trung Quốc đã phối hợp chặt chẽ
triển khai thực hiện các văn kiện pháp lý về biên giới trên đất liền giữa 2
quốc gia; đồng thời, tăng cường quản lý an ninh, an toàn khu vực biên giới để
kiểm soát bất đồng, duy trì hòa bình, ổn định trên biển phù hợp với luật pháp
quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 và tích cực thúc đẩy các cơ chế đàm phán về
các vấn đề trên biển, thực hiện hiệu quả DOC, thúc đẩy tiến trình tham vấn COC…
72 năm qua, quan hệ đối tác hợp tác chiến lược
Việt Nam – Trung Quốc duy trì xu thế ổn định, tích cực và phát triển. Lãnh đạo
2 bên đạt được nhiều nhận thức chung quan trọng, góp phần đưa quan hệ song
phương lên tầm cao mới. Đặc biệt, sau Đại hội lần thứ XIII của Đảng Cộng sản
Việt Nam (tháng 1-2/2021), Lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quốc hội 2
nước đã có các cuộc điện đàm, hội đàm trực tuyến, đưa ra những định hướng lớn
quan trọng, tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác cùng có
lợi giữa 2 nước. Gần nhất, 2 bên tổ chức thành công Phiên họp lần thứ 14 Ủy ban
chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam – Trung Quốc (tháng 7/2022)…
Việt Nam luôn coi trọng và củng cố, phát triển
mối quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và Trung Quốc, nên chuyến đi thăm hữu nghị
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lần này không
phải là “sự thần phục’, càng không phải là Việt Nam “sợ Trung Quốc”, “sợ thiên
triều” và cũng không phải là “ẩn trong lời mời của ông Tập Cận Bình có sự hối
thúc nào mà ông Trọng không thể trì hoãn được” hay “sau khi quét sạch trong
nhà, phải chăng đến lúc Tập Cận Bình muốn quét ngoài ngõ, mà Đảng CSVN được
chọn để chiếu cố đầu tiên” như các thế lực thù địch xuyên tac, mà chính là nhằm
tạo động lực và làm sâu sắc hơn mối quan hệ giữa 2 Đảng, 2 Nhà nước vốn đã có
bề dày lịch sử.
Hai là, việc Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là
nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc ngay sau khi kết
thúc Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp
hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung
Hoa Tập Cận Bình không chỉ thể hiện sự coi trọng của Trung ương Đảng Cộng sản
Trung Quốc và cá nhân Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với vị thế,
vai trò quốc tế của Việt Nam và cá nhân Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, mà còn
khẳng định mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc đã vượt lên trên quan hệ song
phương theo nghĩa thông thường và có ý nghĩa chiến lược quan trọng.
Thực tế, 5 năm trước, sau khi Đại hội XIX của
Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đã chọn Việt Nam để
thực hiện chuyến thăm nước ngoài đầu tiên của mình. Đó cũng chính là sự thể
hiện nhất quán truyền thống tăng cường giao lưu cấp cao giữa 2 Đảng, 2 nước sau
Đại hội Đảng. Hơn nữa, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã từng thăm hữu nghị nước
Cộng hòa nhân dân Trung Hoa các năm 1992, 1997, 2001, 2003, 2007; đặc biệt là 3
lần thăm Trung Quốc sau khi đảm nhận cương vị Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung
ương Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 10/2011, tháng 4/2015, tháng 1/2017). Vì
thế, chuyến thăm hữu nghị nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lần này của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng không phải là “vội vã” cũng không phải vì “Việt Nam lép
vế, thần phục Trung Quốc”, “đi chầu mẫu quốc” như các luận điệu xuyên tạc, mà
nằm trong chương trình, kế hoạch chung giữa 2 Đảng và 2 Nhà nước; là mong muốn
quan hệ Việt Nam – Trung Quốc phát triển lâu dài, ổn định, ngày càng hiệu quả,
thực chất theo tinh thần nhận thức chung của Lãnh đạo cấp cao 2 Đảng, 2 nước;
đồng thời làm rõ những quan tâm, lập trường đúng đắn, các lợi ích chính đáng
của Việt Nam.
Với chuyến thăm lần này, Đảng Cộng sản Việt
Nam và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định sự ủng hộ của Việt Nam đối với
vị trí, vai trò là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản
Trung Quốc cũng như những tư tưởng, đường lối phát triển tại Đại hội XX của
Đảng Cộng sản Trung Quốc có lợi cho hòa bình, hợp tác và phát triển; nhất là vị
trí hạt nhân lãnh đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình được Đảng Cộng
sản Trung Quốc xác lập; đồng thời thể hiện mong muốn củng cố, mở rộng và nâng
cao hiệu quả quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc,
tiếp tục làm định hướng cho quan hệ 2 nước trong tương lai, chứ không phải “chỉ
mang tính biểu tượng hay còn gì khác” và “chuyến đi lần này của ông Trọng có
nhiều điểm bất thường khiến ngoại giới quan tâm” như suy diễn, đơm đặt của các
thế lực thù địch.
Thông qua chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn
Phú Trọng lần này, góp phần tăng cường quan hệ trên các kênh Chính phủ, Quốc
hội, Mặt trận Tổ quốc; đồng thời, tạo chuyển biến mới trong hợp tác bình đẳng,
cùng có lợi về kinh tế, thương mại, đầu tư và các lĩnh vực khác và nâng cao hợp
tác quốc phòng, an ninh, tăng cường hợp tác giữa 2 nước tại các diễn đàn quốc
tế… góp phần thúc đẩy chính sách của Trung Quốc về quan hệ hữu nghị, hợp tác
với Việt Nam; ủng hộ Việt Nam phát triển, có vị thế quốc tế ngày càng cao.
Cuối cùng, phải khẳng định rằng: Không thể
xuyên tạc hay bẻ cong được lịch sử. Chuyến thăm hữu nghị Trung Quốc của Tổng Bí
thư Nguyễn Phú Trọng lần này là thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; là
hiện thực hóa đường lối đối ngoại của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó khẳng
định chủ trương nhất quán của Việt Nam coi trọng quan hệ với Trung Quốc và coi
đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại, chứ không
phải là “quan hệ Việt – Trung càng bền chặt thì thì mức độ Việt Nam lệ thuộc
vào Trung Quốc càng tăng lên” như trang Việt Tân, Quyenduocbiet, Thông luận, Chantroimoimedia.com… lảm nhảm. Cho nên, chuyến thăm hữu nghị
lần này không chỉ khẳng định và làm sâu sắc hơn quan hệ đối tác hợp tác chiến
lược toàn diện Việt Nam – Trung Quốc, góp phần củng cố và tăng cường sự hợp tác
hữu nghị Việt – Trung phù hợp lợi ích căn bản, lâu dài của 2 Đảng, 2 Nhà nước
và người dân 2 nước, mà còn có lợi cho hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển ở
khu vực và trên thế giới, nên đặc biệt được dư luận 2 nước và quốc tế quan
tâm./.
GIỮ CHÂN GIÁO VIÊN: KHÔNG CHỈ RIÊNG TIỀN LƯƠNG
Chưa đầy hai năm qua (từ đầu năm 2021 đến hết
tháng 8-2022), đã có hơn 16.000 giáo viên xin nghỉ việc. Nếu tính tỷ lệ giáo
viên nghỉ việc so với 1,6 triệu giáo viên đang đứng trên bục giảng thì con số
không lớn. Nhưng ẩn chứa đằng sau thì có rất nhiều vấn đề, thậm chí chất chứa
những mối nguy hại khôn lường. Để giữ chân, giữ lửa nghề cho đội ngũ giáo viên,
phải chăng chỉ đơn thuần là nâng lương, hay còn những vấn đề khác?
Khi tâm huyết, trách nhiệm của giáo viên bị
thử thách
Lâu mới có dịp về họp lớp, thấy cậu bạn làm
giáo viên có vẻ trầm tư, tôi hỏi đùa: “Ngày nào cũng hai buổi tới lớp, được
ngày nghỉ lại phải đi họp lớp nên ngán ngẩm à?”. Cậu bạn tôi lắc đầu: “Nhìn tụi
mình ríu rít, nhớ tuổi học trò ngày xưa tuy nghịch ngợm nhưng đứa nào cũng kính
trọng thầy cô. Học trò của mình bây giờ nhiều em ứng xử chán lắm, buồn... bạn
ạ!”.
Bạn tôi vốn là người có tinh thần trách nhiệm
cao, hết lòng vì học trò. Bởi thế, cậu ấy thường “ốp” học sinh học hành đến nơi
đến chốn. Bên cạnh các học sinh ham học, yêu quý thầy, thì cũng có những học
sinh ngỗ nghịch không ưa bạn tôi. Có em còn tỏ thái độ thách thức: “Tôi đố thầy
đánh tôi đấy! Thầy đánh tôi, tôi sẽ cho thầy mất... dạy luôn!". Khi bạn
tôi gọi điện mời phụ huynh tới trường gặp gỡ, trao đổi về phương hướng uốn nắn
con, phụ huynh cũng "xổ toẹt", còn nói những câu rất sỗ sàng...
"Mình cố công để dạy con người ta nên người mà bị ứng xử như thế thì cảm
thấy tổn thương vô cùng", bạn tôi buồn bã nói.
Bạn tôi kể, hầu như giáo viên nào cũng gặp
phải những trường hợp cá biệt như thế. Thật buồn là những trường hợp cá biệt ấy
có vẻ ngày càng nhiều hơn. Những hành vi, lời nói như vậy khiến một số giáo
viên phản ứng tiêu cực, mặc kệ học sinh thuộc diện “coi trời bằng vung” muốn
làm gì thì làm. Nhưng bạn tôi cho rằng, việc thầy cô bỏ mặc như thế sẽ ảnh
hưởng rất tiêu cực tới những học sinh chăm ngoan. "Càng không thể mặc kệ
thì học sinh lại càng có hành vi chống đối mạnh hơn. Nhiều lúc, tôi cảm thấy
phát điên, cảm thấy bất lực. Tôi cũng đã tính đến chuyện bỏ nghề, mở một hàng
quán nho nhỏ cho thảnh thơi đầu óc”, bạn tôi tâm sự.
Gần đây, khi xem clip một học sinh nói năng
thiếu chuẩn mực, xưng hô “mày-tao” với thầy giáo trên mạng, tôi bất chợt nhớ
tới lời tâm sự của bạn tôi-một người học giỏi, yêu thầy cô, trường lớp nên
quyết tâm theo ngành sư phạm để được trở về dạy ở đúng ngôi trường mà mình đã
từng học, nơi mình rất yêu quý, để góp sức rèn giũa học trò nên người. Ước mơ,
hoài bão lớn lao một thuở của bạn tôi đang bị thử thách nghiêm trọng. Không
biết bạn có đủ kiên nhẫn để đi tới cùng với ước vọng ấy hay không?
Chấn hưng truyền thống “Tôn sư trọng đạo”
Trong các phiên thảo luận về tình hình kinh
tế-xã hội vừa qua, nhiều đại biểu Quốc hội bày tỏ lo lắng khi chưa đầy hai năm
qua có tới 16.265 giáo viên xin nghỉ việc, trong đó có 10.407 giáo viên khối
công lập và 5.858 giáo viên thuộc khối ngoài công lập. Nhiều đại biểu Quốc hội
cho rằng đó là hiện tượng không thể coi là bình thường, phải được nghiên cứu,
đánh giá kỹ lưỡng để có giải pháp tổng thể.
Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của
Quốc hội Nguyễn Thị Mai Hoa tổng hợp ý kiến của các đại biểu Quốc hội cho rằng
có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng giáo viên nghỉ việc nhiều trong hai
năm qua. Trong số các nguyên nhân được liệt kê có vấn đề về lương, có vấn đề về
áp lực công việc, môi trường làm việc, có cả vấn đề liên quan tới một bộ phận
giáo viên không đủ điều kiện để đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ
thông mới, trong đó có một số giáo viên phản ánh họ được đào tạo đơn môn nhưng
phải dạy tích hợp, nên không đủ tự tin để đứng lớp. “Tôi nghĩ, sắp tới, ngành
giáo dục chắc chắn sẽ phải đối mặt với chuyện này, cần phải phân tích thật kỹ
những vấn đề về lương, điều kiện, môi trường làm việc...”, bà Nguyễn Thị Mai
Hoa nói.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Kim
Sơn cho hay, số giáo viên bỏ việc nhiều nhất là ở bậc mầm non, chiếm hơn 40%
tổng số giáo viên nghỉ việc. Để giải quyết tình trạng này, Bộ trưởng Bộ Giáo
dục và Đào tạo đề nghị Quốc hội xem xét điều chỉnh phụ cấp ưu đãi cho giáo viên
mầm non từ 35% lên 70%, ngang với mức phụ cấp cũ của cán bộ y tế cấp cơ sở.
Rõ ràng, câu chuyện tiền lương và thu nhập của
giáo viên cần phải được quan tâm hơn, bởi “có thực mới vực được đạo”. Nếu tiền
lương còn chưa đủ để giáo viên trang trải cuộc sống hằng ngày, “thấp hơn cả
lương công nhân”, thì giáo viên chưa thể toàn tâm toàn ý lo cho việc giũa rèn
thế hệ tương lai của đất nước. Nhưng, bên cạnh câu chuyện “cơm áo gạo tiền”,
giáo viên còn phải đối mặt với áp lực tâm lý không nhỏ. Ấy là sự xuống cấp đạo
đức của một bộ phận học sinh và cả một bộ phận phụ huynh. Có những người không
chỉ dễ dàng buông lời lẽ xúc phạm giáo viên, mà còn sẵn sàng dùng cả vũ lực với
thầy giáo, cô giáo đang dạy con họ-những người đáng ra phải được tôn kính.
Về lâu dài, để “giữ chân” những giáo viên
giỏi, tâm huyết với nghề và thực lòng lo cho thế hệ tương lai của đất nước, bên
cạnh tiền lương thì còn vấn đề rất quan trọng là phải chấn hưng truyền thống
“Tôn sư trọng đạo” của dân tộc. Muốn vậy thì cần có giải pháp uốn nắn những
lệch lạc trong suy nghĩ của một bộ phận học sinh và người nhà học sinh về nghề
giáo. Nếu không thể làm tốt việc này thì không những khó “giữ chân” giáo viên
giỏi, tâm huyết, mà còn tạo ra những hệ lụy khôn lường. Khi giáo viên đã phải
bất lực, làm ngơ trước những hành vi và lời nói thiếu chuẩn mực của học sinh,
người nhà học sinh, hoặc phải từ bỏ nghề giáo để không phải đối mặt với những
tình huống trớ trêu trong nghề, thì cái xấu sẽ trỗi dậy. Những đứa trẻ ở nhà
thì xấc xược với ông bà, cha mẹ, tới lớp thì xúc phạm giáo viên, nếu không được
uốn nắn kịp thời, lớn lên sẽ thành người như thế nào?
Giáo viên bỏ việc, nhìn bề ngoài thì tưởng
“thường thôi”, nhưng ẩn chứa đằng sau thì còn nhiều vấn đề, chất chứa những mối
nguy hại khôn lường, không thể xem thường!
Ý CHÍ QUẬT CƯỜNG CỦA THĂNG LONG - ĐÔNG ĐÔ - HÀ NỘI
Trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm
diễn ra trên đất kinh thành, Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, thì có 3 trận quyết
chiến chiến lược giữ vai trò định đoạt trên chiến trường. Đó là, trận Đông Bộ
Đầu, đầu năm 1258; trận Ngọc Hồi - Đống Đa, đầu năm 1789 và Chiến dịch Phòng
không bảo vệ Hà Nội tháng 12-1972. Đây là sự tiếp nối truyền thống và là một sự
kiện biểu trưng cho ý chí quật cường của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Các cuộc chiến tranh giải phóng và chiến tranh
bảo vệ Tổ quốc xuyên suốt lịch sử dựng nước đi đôi với giữ nước của dân tộc,
trong đó có sự nghiệp bảo vệ và giải phóng Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, đều
là các cuộc chiến tranh chính nghĩa, “đem đại nghĩa để thắng hung tàn”, “lấy
chí nhân để thay cường bạo”, nên dân tộc Việt Nam dù nhỏ bé đã phát huy được sức
mạnh tổng hợp, đã xây dựng được quyết tâm và dũng khí để chiến đấu với kẻ thù,
tìm ra cách đánh độc đáo “mưu phạt tâm công”; đồng thời, cũng thể hiện một tinh
thần yêu chuộng hòa bình”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, tính chất chính nghĩa,
nhân đạo đó trở thành điểm tựa tinh thần cho mỗi cán bộ, chiến sĩ, người dân.
Lịch sử Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội cũng in
dấu hình tượng bao anh hùng dân tộc tiêu biểu cho ý chí và trí tuệ của dân tộc,
có công trạng bảo vệ Thủ đô như Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn
Trãi, Nguyễn Huệ, Hồ Chí Minh. Và cũng chính trên mảnh đất ngàn năm văn hiến
đó, biết bao thế thệ người dân Thủ đô cùng nhân dân cả nước bước vào những cuộc
chiến vô cùng ác liệt, sẵn sàng hy sinh tính mạng, của cải để bảo vệ Thủ đô,
giải phóng Thủ đô, góp phần xứng đáng vào công cuộc giữ nước. Trong mỗi người
dân Việt nói chung và mỗi người dân Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội nói riêng,
lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc đã trở thành ý thức thường trực khiến
họ gác lại những lợi ích riêng tư trước hiểm họa ngoại xâm để cùng nhau đánh
bại kẻ thù. Nhân dân Thủ đô - từ trong lịch sử - đã không chỉ là lực lượng ủng
hộ, mà thực sự trở thành một chủ thể đông đảo nhất và mấu chốt của chiến tranh
nhân bảo vệ Tổ quốc. Trong Chiến dịch Phòng không bảo vệ Hà Nội tháng 12-1972,
các tầng lớp nhân dân Thủ đô đã thể hiện cao ý chí và tinh thần kiên cường,
khắc phục mọi khó khăn gian khổ; phát huy những kinh nghiệm của chiến tranh
nhân dân ở đô thị, phối hợp chặt chẽ với lực lượng bộ đội để thực hiện các
phương án tác chiến. Cùng với bộ đội phòng không kiên cường và các tay súng tự
vệ vững chắc, nhân dân Thủ đô Hà Nội đã góp sức to lớn làm nên chiến công hiển
hách. Cuộc sống đô thị được tổ chức theo kiểu thời chiến. Các cụ già, em nhỏ,
học sinh, sinh viên sơ tán về nơi an toàn. Công tác phòng không tại chỗ được
trển khai tích cực. Mọi người, mọi nhà, mọi cơ quan, trường học, xí nghiệp đều
kiến tạo hầm trú ẩn. Trong thành phố có 230.000 hầm cá nhân, 1.130km hào giao
thông, hàng nghìn hầm tập thể.
Sự bạo tàn của kẻ thù càng tăng thêm quyết tâm
đánh Mỹ của quân và dân Hà Nội. Trong tổn thất, đau thương càng sâu nặng nghĩa
đồng bào. Hà Nội chiến đấu vì cả nước; cả nước hướng về Hà Nội sẻ chia, cổ vũ.
Hàng trăm tấm gương sáng ngời của Thủ đô xuất hiện trên tất cả các lĩnh vực:
Trong bảo vệ sản xuất, bảo vệ trật tự, tính mạng, tài sản của nhân dân, trong
cứu thương, cứu hỏa, trong đùm bọc cưu mang, giúp đỡ lẫn nhau. Đó là hình ảnh
của các chiến sĩ công nhân lặn lội bám trụ ngày đêm để bảo đảm giao thông thông
suốt, bất chấp bom đạn của kẻ thù. Đó là hình ảnh về tấm gương hi sinh của hai
đồng chí Đặng Đức Thọ và Vũ Xuân Hòa của Nhà máy điện Yên Phụ đã bám máy đến
cùng để bảo đảm dòng điện cho Thủ đô. Đó là hình ảnh các chiến sĩ công an ngày
đêm bảo vệ tính mạng nhân dân. Đó là lực lượng cứu sập, cứu hỏa quên mình dưới
bom đạn địch làm nhiệm vụ. Đó là hàng trăm nghìn chiến sĩ tự vệ, các hội viên
chữ thập đỏ và cả những người dân bình thường đã không quản ngại khó khăn, nguy
hiểm tận tình cưu mang bà con, ngõ xóm của mình trong cơn hoạn nạn. Đội ngũ các
thầy thuốc, từ giáo sư bác sĩ đến y tá, hộ lý đã bất chấp moi nguy hiểm để làm
nhiệm vụ cao cả của người lương y vì sự sống còn của hàng nghìn nạn
nhân...Nhiều đảng bộ, chi bộ và đảng viên đã phát huy vai trò tiên phong đứng mũi
chịu sào trong cuộc chiến. Hàng trăm tổ chức đảng và cấp ủy các chi bộ, đảng bộ
và hàng nghìn đảng viên được biểu dương gương mẫu trong đợt chiến đấu chống máy
bay B-52. Mọi tầng lớp nhân dân Thủ đô, đã góp phần tạo nên chiến công vĩ đại
này.
Thắng lợi của quân và dân ta trong 12 ngày đêm
cuối tháng 12 năm 1972 đã để lại cho các thế hệ người Việt Nam niềm tự hào, tự
tin và làm giàu thêm ý chí và tri thức về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đó là
thắng lợi của truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân và
dân Thủ đô Hà Nội; góp phần làm rạng rỡ truyền thống Thăng Long - Đông Đô - Hà
Nội.
VẬN DỤNG SÁNG TẠO CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Trong bài “Cách mạng Tháng Mười vĩ đại mở ra
con đường giải phóng cho các dân tộc”, gửi cho Báo Pravda (Liên Xô), được Báo
Nhân Dân đăng số 4952, ngày 1-11-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “… Chỉ
có sự lãnh đạo của một đảng biết vận dụng một cách sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin
vào điều kiện cụ thể của nước mình thì mới có thể đưa cách mạng giải phóng dân
tộc đến thắng lợi và cách mạng XHCN đến thành công”.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của
mình, Hồ Chí Minh xem Chủ nghĩa Mác-Lênin là kim chỉ nam cho sự nghiệp cứu
nước, giải phóng dân tộc và luôn nhấn mạnh sự cần thiết phải vận dụng sáng tạo
“cẩm nang thần kỳ” đó vào thực tiễn cách mạng. Sự khẳng định trên của Người có
ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng
định và đánh giá cao bài học kinh nghiệm về lý luận và thực tiễn trong lãnh
đạo, chỉ đạo cách mạng của Đảng. Đó là một trong những bài học có tính nguyên
tắc và phổ biến, bảo đảm cho sự nghiệp giải phóng triệt để của giai cấp công
nhân và các dân tộc bị áp bức. Thực tiễn chứng minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng
Cộng sản Việt Nam, dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin vận dụng vào hoàn cảnh
cụ thể ở nước ta đã đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi
khác, giành lại độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiếp tục giành những
thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn vẹn
nguyên giá trị, nhất là trong công tác xây dựng Đảng. Theo đó, Đảng ta lấy Chủ
nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho
hành động; Đảng nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, vận dụng sáng tạo, góp
phần phát triển Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm
giàu trí tuệ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức và năng lực tổ
chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Đối với
Quân đội ta, đó cũng là nguyên tắc, nền tảng tư tưởng để xây dựng quân đội cách
mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có chất lượng tổng hợp, sức
chiến đấu cao; xây dựng Đảng bộ Quân đội TSVM. Mỗi cán bộ, chiến sĩ trong Quân
đội nhân dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần tự giác, tích cực nghiên cứu, học
tập lý luận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy
đảng; đồng thời biết vận dụng sáng tạo vào hoạt động thực tiễn của đơn vị nhằm
thực hiện hiệu quả chức trách, nhiệm vụ được giao.
PHÁT HUY TINH THẦN CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG” TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước, các địa phương trên cả nước đã chủ động phát huy nội lực để
phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường
quốc phòng - an ninh, thực hiện tốt các chính sách xã hội, tạo sự phát triển
nhanh, bền vững và giành được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả
các lĩnh vực. Đến nay, Hà Nội, Quảng Ninh, Hải Phòng,Vĩnh Phúc, Bắc Ninh
luôn nằm trong danh sách những địa phương dẫn đầu cả nước về chỉ số
cạnh tranh cấp tỉnh (PCI),dẫn đầu về đóng góp cho ngân sách Nhà nước
và có thu nhập đầu người cao nhất cả nước.
Tiếp nối truyền thống anh hùng, trong những
năm qua, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh quân chủng Phòng không - Không quân đã lãnh đạo,
chỉ đạo xây dựng Quân chủng “cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”;xây
dựng các lực lượng Phòng không - Không quân, phòng không nhân dân, tạo thành
thế trận phòng không nhân dân vững mạnh và rộng khắp, có khả năng sẵn sàng
chiến đấu cao; luôn chủ động nghiên cứu, nắm chắc tình hình, âm mưu, thủ đoạn
của địch, nhất là đối tượng tác chiến phòng không để có phương án tác chiến
chính xác, kịp thời, phù hợp. Trong xây dựng hiện đại hóa, Quân chủng đã tiếp
nhận, đưa vào sử dụng nhiều loại vũ khí, trang bị mới của các lực lượng như
Không quân, Rađa, Tên lửa, Cao xạ, Phòng không lục quân... Thực hiện tốt việc
phát huy nội lực, ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ vào sản xuất; cải
tiến, sửa chữa, nâng cao tính năng kỹ thuật, chiến thuật của một số loại vũ
khí, trang bị hiện có,luôn bảo đảm sẵn sàng chiến đấu và huấn luyện; coi trọng
công tác đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao;xây dựng Quân chủng ngày càng
“tinh, gọn, mạnh”, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong quản lý, bảo vệ
vững chắc vùng trời của Tổ quốc.
Trong bối cảnh tình hình thế giới đang có
những diễn biến phức tạp, khó lường; hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu
thế lớn nhưng xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can
thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn ra ở nhiều nơi. Khu vực Châu Á - Thái Bình
Dương, trong đó Đông Nam Á phát triển năng động nhưng vẫn tồn tại nhiều nhân tố
gây mất ổn định; tranh chấp chủ quyền lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt.Bên
cạnh những thuận lợi cơ bản, nước ta đang đứng trước nhiều thách thức lớn đan
xen, tác động tổng hợp và diễn biến phức tạp; bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra
còn tồn tại, có mặt còn gay gắt hơn. Nguy cơ tụt hậu, rơi vào bẫy thu nhập
trung bình còn lớn. Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng
chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ còn
diễn biến phức tạp; các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng và
Nhà nước ta.Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững
môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu luôn là yêu cầu
cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời
gian tới.
Để góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng:“Nâng cao năng lực lãnh đạo, năng
lực cầm quyền và sức chiến đấu của Ðảng; xây dựng Ðảng và hệ thống chính trị
trong sạch, vững mạnh toàn diện; củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối
với Ðảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; khơi dậy khát vọng phát triển đất
nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
kết hợp với sức mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới,
công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững
môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành
nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; việc phát huy tinh thần
chiến đấu và chiến thắng kẻ thù của quân và dân ta, trong đó có chiến thắng“Hà
Nội - Điện Biên Phủ trên không”là rất cần thiết.
Toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta cần tiếp
tục quán triệt sâu sắc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta, kế thừa và
phát huy truyền thống hòa hiếu của dân tộc, coi trọng, giữ vững môi trường hòa
bình, ổn định để phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước; đẩy mạnh quan hệ hữu nghị, hợp tác, cùng phát triển với các nước trên thế
giới theo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không
can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng có lợi, giải quyết các
tranh chấp, bất đồng bằng phương pháp hòa bình; không sử dụng vũ lực hoặc đe
dọa dùng vũ lực với nước khác; thường xuyên nêu cao cảnh giác, sẵn sàng tự vệ,
đập tan mọi hành động xâm lược, kiên quyết bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống
nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ thành quả cách mạng.
Lực lượng vũ trang nhân dân mà nòng cốt là
Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cần tiếp tục phát huy vai trò chủ đạo
trong xây dựng nền quốc phòng, an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng và củng cố
vững chắc nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân; không ngừng
nâng cao tiềm lực mọi mặt của đất nước, ngăn ngừa và sẵn sàng đánh thắng các
loại hình chiến tranh xâm lược của kẻ thù trong mọi hoàn cảnh; kiên quyết không
để bị động, bất ngờ, nhất là trước khả năng địch tấn công từ trên không, trên
biển; bảo vệ vững chắc Tổ quốc từ sớm, từ xa. Xây dựng Quân đội nhân dân,Công
an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại,một số quân
chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại. Nâng cao chất
lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội nhân
dân và Công an nhân dân; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức,
trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi
cán bộ, đảng viên và người dân đối với nhiệm vụ tăng cường quốc phòng, an ninh,
bảo vệ Tổ quốc.
50 năm đã trôi qua, nhưng ý nghĩa lịch sử của
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không” vẫn còn nguyên giá trị. Chúng
ta thêm tin tưởng, tự hào về Đảng ta, một Đảng mácxít kiên cường, luôn kiên
định với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, có đường lối đúng đắn,
sáng tạo, đã lãnh đạo toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; tự
hào về truyền thống bất khuất, kiên cường của dân tộc ta; về lòng yêu nước, ý
chí quyết chiến, quyết thắng của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trước mọi kẻ
thù xâm lược. Đó là cội nguồn của sức mạnh nội lực trong sự nghiệp xây dựng và
bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA CHIẾN THẮNG “HÀ NỘI - ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG”
Chiến thắng “Hà Nội - Điện Biên Phủ trên
không” đã góp phần tạo ra bước ngoặt lịch sử, làm thay đổi căn bản cục diện
của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, buộc Chính phủ Mỹ phải ký Hiệp định
Pari, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam, tiến tới giải phóng
hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chiến thắng cũng để lại nhiều bài
học kinh nghiệm quý báu cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đó
là:
Giữ vững sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về
mọi mặt của Đảng, của cấp ủy các cấp; làm tốt công tác chính trị, tư tưởng;
tăng cường sức mạnh, ý chí chiến đấu, xây dựng tinh thần chủ động, dám đánh,
quyết đánh và quyết thắng.
Kế thừa và phát huy nghệ thuật quân sự lấy
ít địch nhiều, lấy nhỏ đánh lớn trên cơ sở phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn
dân tộc, vừa đánh, vừa tìm cách đánh sáng tạo.
Chủ động nắm, nghiên cứu, phân tích, dự báo,
đánh giá đúng tình hình; thường xuyên theo dõi, nắm chắc âm mưu, thủ đoạn của
địch, nắm vững lực lượng, phương tiện, ý đồ và hướng tiến công chủ yếu của địch
để có phương án tác chiến phù hợp, kịp thời, hiệu quả.
Xây dựng lực lượng vũ trang ba thứ quân,
xây dựng khu vực phòng thủ, thế trận quốc phòng toàn dân, phòng không nhân dân
vững chắc; phát huy tốt vai trò nòng cốt của các lực lượng thường trực Phòng
không - Không quân.
Nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực,
tự cường; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế, của nhân dân tiến
bộ, yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới.





