Thứ Sáu, 4 tháng 11, 2022

 TIẾP TỤC ĐẤU TRANH CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN TÁCH RỜI, ĐỐI LẬP TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỚI CHỦ NGHĨA MÁC - LÊ-NIN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH, PHẢN ĐỘNG VÀ PHẦN TỬ CƠ HỘI CHÍNH TRỊ

Lâu nay, để tiến hành chiến lược “diễn biến hòa bình” - “cuộc chiến tranh không khói súng”, “khâu đột phá” mà các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị thường sử dụng là tấn công trên mặt trận tư tưởng. Việc đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin là một thủ đoạn nhằm phủ định đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động bạo loạn lật đổ để thay đổi thể chế chính trị hiện hành ở nước ta. Chừng nào chưa đạt được mục đích của mình, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị sẽ còn chống phá bằng các hình thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi, phức tạp hơn. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, chúng ta phải mài sắc vũ khí lý luận để đấu tranh chống lại các quan điểm sai trái, thù địch, cơ hội chính trị nói chung và âm mưu, thủ đoạn đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin nói riêng. Theo đó, cần tập trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức cho toàn Đảng, toàn dân về mối quan hệ biện chứng giữa tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác - Lê-nin, về động cơ đen tối của các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị khi phủ nhận mối quan hệ này. Cần làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ rằng, mối quan hệ giữa chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là mối quan hệ giữa cội nguồn và phát triển, giữa cái chung và cái đặc thù nên “tuy hai mà là một, tuy một mà là hai”. Vì thế, không thể tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cũng không thể lấy tư tưởng Hồ Chí Minh để thay thế cho chủ nghĩa Mác - Lê-nin và ngược lại. Cho dù tư tưởng Hồ Chí Minh có nhiều điểm sáng tạo, nhưng lại thống nhất với chủ nghĩa Mác - Lê-nin ở chiều sâu bản chất, ở lý tưởng giải phóng con người... Việc các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị mưu toan tách rời tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, cố tình lờ đi mối quan hệ biện chứng giữa hai hệ thống tư tưởng, lý luận này không phải là do chưa có đủ thông tin hay chưa có phương pháp nghiên cứu phù hợp, mà là sự chủ ý xuyên tạc, bịa đặt và lừa bịp nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” và thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị để cán bộ, đảng viên hiểu rõ nội dung, bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong những năm tháng đất nước bị chia cắt, kẻ thù đế quốc từng dùng “trăm phương ngàn kế” để ly gián nhân dân miền Nam với Bác Hồ, với Đảng, với miền Bắc xã hội chủ nghĩa nhưng đều bị thất bại trước ý chí sắt đá của nhân dân ta: “Dù ai nói ngả, nói nghiêng/ Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân/ Dù ai rào giậu, ngăn sân/ Lòng ta vẫn vững là dân Bác Hồ”. Lúc này cũng vậy, nếu cán bộ và nhân dân đều thấu hiểu, thấu cảm giá trị đích thực, sức sống thời đại của chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh thì mọi sự xuyên tạc sẽ trở nên vô nghĩa. Do đó, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 23-CT/TW, ngày 9-2-2018, của Ban Bí thư, “Về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, nghiên cứu, vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong tình hình mới”. Làm tốt công tác giáo dục lý luận chính trị, đẩy lùi căn bệnh lười học lý luận chính trị ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, tích cực bồi đắp tri thức khoa học cho cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là tạo “vắc-xin” phòng, chống sự xâm nhập của các luồng thông tin xấu, độc, các quan điểm sai trái, thù địch.

Ba là, xây dựng đội quân tinh nhuệ tác chiến mặt trận tư tưởng lý luận là các chuyên gia giỏi, am hiểu về lý luận chính trị để đấu tranh trực diện với những âm mưu, thủ đoạn, những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các chuyên gia khi tham gia vào trận chiến trên mặt trận đấu tranh tư tưởng phải có thái độ vừa mạnh mẽ, điềm tĩnh, vừa kiên quyết, kiên trì; mọi lập luận đưa ra phải đạt tới mức tinh thông, sắc bén về lý luận, phong phú, sinh động về thực tiễn. Theo đó, cần thường xuyên và kịp thời cung cấp thông tin cho lực lượng này và tổ chức các buổi tọa đàm, trao đổi kinh nghiệm với các cơ quan chức năng, lực lượng nòng cốt về đấu tranh trên không gian mạng để họ trở thành những chiến sĩ thực thụ trên mặt trận đấu tranh tư tưởng.   

 

 NĂM ĐẶC TRƯNG CỦA PHẨM CHẤT “BỘ ĐỘI CỤ HỒ” VÀ MƯỜI BIỂU HIỆN CỦA CHỦ NGHĨA CÁ NHÂN

Một nội dung quan trọng trong Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới, là chỉ ra 5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ và 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân. Đây là nội dung hết sức thiết thực, đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân phải có trách nhiệm học tập, quán triệt, vận dụng hiệu quả.

5 đặc trưng cơ bản của phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ

Một là, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Kiên định lập trường Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, chấp nhận hy sinh, vượt qua khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, có đạo đức cách mạng trong sáng, lối sống trung thực, khiêm tốn, giản dị, chân thành, lạc quan; nói đi đôi với làm, luôn đặt lợi ích của tập thể lên trên lợi ích của cá nhân; không thỏa mãn với thành tích, không chùn bước trước khó khăn, hiểm nguy.

Ba là, tích cực huấn luyện, học tập, nghiên cứu nâng cao trình độ mọi mặt và kiến thức chuyên môn; có phương pháp, tác phong công tác khoa học, nghiêm túc, trách nhiệm cao; gương mẫu trong công tác, sinh hoạt; kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện suy thoái, tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

Bốn là, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; giữ vững nguyên tắc, phát huy dân chủ, tôn trọng và lắng nghe ý kiến góp ý với tinh thần cầu thị. Kỷ luật tự giác, nghiêm minh; gương mẫu chấp hành pháp luật Nhà nước, điều lệnh, điều lệ, chế độ, quy định của quân đội.

Năm là, chăm lo xây dựng, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ, hết lòng thương yêu đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt; lắng nghe, tôn trọng, học hỏi, giúp đỡ, gắn bó máu thịt với nhân dân, sẵn sàng hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Có tinh thần đoàn kết quốc tế, mở rộng và tăng cường đối ngoại quốc phòng góp phần tích cực bảo vệ môi trường hòa bình khu vực và thế giới.

10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

1. Không quan tâm đến lợi ích chung, làm việc gì cũng chỉ mưu cầu cho lợi ích cá nhân; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; ganh ghét, đố kị, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2. Háo danh, tự cao, tự đại, thích được ca ngợi, sùng bái bản thân, tham vọng quyền lực, địa vị; chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, mua và sử dụng bằng cấp giả, giấy tờ giả; tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho mình.

3. Thiếu ý thức và trách nhiệm với tập thể, không chấp hành sự phân công, điều động của tổ chức, kén chọn chức danh, vị trí công tác; đùn đẩy trách nhiệm, thoái thác nhiệm vụ, không tận tâm, tận lực với công việc, không sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng.

4. Thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; sợ trách nhiệm, tranh công, đổ lỗi; giấu giếm, bao che và không trung thực về những khuyết điểm, sai phạm.

5. Ngại va chạm, dĩ hòa vi quý, “thấy đúng không bảo vệ”, “thấy sai không đấu tranh”; tinh thần tự phê bình và phê bình thấp, lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ và mục đích không trong sáng; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức.

6. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác để tham ô, nhận hối lộ hoặc để người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn, vị trí công tác của mình trục lợi; cố ý làm trái các quy chế, quy định, dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

7. Cục bộ, bè phái, lợi ích nhóm để chiếm đoạt tài sản của tập thể; tham gia, xúi giục, cưỡng ép, mua chuộc người khác làm những việc trái chính sách, pháp luật của Nhà nước, quy định của Đảng, của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và đơn vị.

8. Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát; xử lý các sai phạm của cấp dưới không cương quyết, thiếu khách quan; thờ ơ, vô cảm, bàng quan trước những khó khăn, nguyện vọng chính đáng của đồng chí, đồng đội và nhân dân.

9. Coi thường lý luận, xa rời thực tiễn, lười học tập, rèn luyện, thích tự do, vô kỷ luật; hoang mang, dao động, hoài nghi về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

10. Phai nhạt, phản bội mục tiêu, lý tưởng cách mạng; nói, viết và làm không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định, nguyên tắc của Đảng, điều lệnh, điều lệ, kỷ luật của quân đội, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

BQĐND

 QUYỀN LÀM CHỦ CỦA NHÂN DÂN TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

Theo cách hiểu thông thường, dân chủ là hình thức thiết chế của một chế độ chính trị - xã hội lấy dân làm gốc về mặt quyền lực và lợi ích, dựa trên nguyên tắc bình đẳng - bác ái. Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và quyền làm chủ của nhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa tư tưởng thân dân truyền thống ở phương Đông và quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng trong học thuyết Mác - Lênin. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý luận và thực tiễn - Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc.

Theo Hồ Chí Minh, quyền làm chủ của nhân dân thể hiện trên ba phương diện: 

Thứ nhất: Nhân dân làm chủ những gì?

Thứ hai: Tại sao nhân dân có quyền làm chủ?

Thứ ba: Làm thế nào để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân?

Ở phương diện thứ nhất - quyền làm chủ của nhân dân lao động - Người khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”.

Hồ Chí Minh cho rằng, nhân dân là người giữ vai trò quyết định trên tất cả các lĩnh vực: Từ kinh tế, chính trị đến văn hóa, xã hội, từ những chuyện nhỏ có liên quan đến lợi ích của mỗi cá nhân đến những chuyện lớn như lựa chọn thể chế, lựa chọn người đứng đầu Nhà nước. Người dân có quyền làm chủ bản thân, nghĩa là có quyền được bảo vệ thân thể, được tự do đi lại, tự do hành nghề, tự do ngôn luận, tự do học tập trong khuôn khổ luật pháp. Người dân có quyền làm chủ các đoàn thể, các tổ chức chính trị xã hội thông qua bầu cử và bãi miễn cũng như làm chủ tập thể, làm chủ nơi mình sống và làm việc. Đúng như Hồ Chí Minh nói: “Mọi quyền hạn đều của dân”. Cán bộ từ Trung ương đến cán bộ ở các cấp, các ngành đều là “đầy tớ” của dân, do dân cử ra và do dân bãi miễn.

          Về phương diện thứ hai, Người giải thích: dân là gốc của nước. Dân là người đã không tiếc máu xương để xây dựng và bảo vệ nước. Nước do dân xây dựng nên, do dân đem xương máu ra bảo vệ, do vậy dân là chủ của nước, một quyền hạn thật to lớn.

 

Nhân dân đã cung cấp cho Đảng những người con ưu tú nhất. Lực lượng của Đảng có lớn mạnh được hay không là do nhân dân. Nhân dân là người xây dựng Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ của Đảng. Nguyễn Trãi đã có lời khuyên: Đến khi lật thuyền mới biết sức dân mạnh như nước. Đúng là dân như nước, cán bộ như cá. Cá không thể sinh tồn và phát triển được nếu như không có nước. Nhân dân là lực lượng biến chủ trương, đường lối của Đảng thành hiện thực. Vì thế, nếu không có dân sự tồn tại của Đảng cũng chẳng có ý nghĩa gì. Đối với Chính phủ và các tổ chức quần chúng cũng vậy.

Nói gọn lại, nhân dân là lực lượng xây dựng đất nước, là lực lượng hợp thành, nuôi dưỡng, bảo vệ các tổ chức chính trị, do vậy nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làm chủ chế độ, làm chủ tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Làm thế nào để nhân dân thực hiện được quyền làm chủ của mình? Phương diện thứ ba này được Hồ Chí Minh hết sức quan tâm. Theo Người, từ xưa đến nay, nhân dân bao giờ cũng là lực lượng chính trong tất cả các xã hội trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Nhưng trước Cách mạng Tháng Mười Nga, trước học thuyết Mác - Lênin chưa có cuộc cách mạng nào giải phóng triệt để cho nhân dân, chưa có học thuyết nào đánh giá đúng đắn về nhân dân.

          Theo Hồ Chí Minh, người dân chỉ thực sự trở thành người làm chủ khi họ được giáo dục, khi họ nhận thức được rõ ràng đâu là quyền lợi họ được hưởng, đâu là nghĩa vụ họ phải thực hiện. Để thực hiện được điều này, một mặt, bản thân người dân phải có ý chí vươn lên, mặt khác, các tổ chức đoàn thể phải giúp đỡ họ, động viên khuyến khích họ. Hồ Chí Minh từng nói “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” và nếu nhân dân không được giáo dục để thoát khỏi nạn dốt thì mãi mãi họ không thể thực hiện được vai trò làm chủ. 

Thật vậy, người dân chỉ có thể thực hiện quyền làm chủ khi có một cơ chế bảo đảm quyền làm chủ của họ. Đảng phải lãnh đạo xây dựng được một nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; với hệ thống luật pháp, lấy việc bảo vệ quyền lợi của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu, xây dựng được đội ngũ cán bộ, đảng viên xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

 

 

 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, BẢO VỆ ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN TRONG BỐI CẢNH

 HỘI NHẬP QUỐC TẾ

Bước sang thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, hợp tác và hội nhập quốc tế vẫn luôn là xu thế lớn, lâu dài của các quốc gia, khu vực trên thế giới. Bên cạnh những mặt tích cực, tình hình thế giới tiếp tục có những biến động phức tạp và đa chiều, tác động sâu sắc đến môi trường hòa bình, an ninh và phát triển của đất nước ta. Một mặt, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá cách mạng với mức độ ngày càng tinh vi hơn, nguy hiểm hơn; trong đó, đội ngũ cán bộ, đảng viên là mục tiêu quan trọng đầu tiên mà chúng nhắm tới; mặt khác, hiện nay vẫn còn tồn tại những vấn đề trực tiếp hoặc gián tiếp tạo ra nguy cơ đe dọa vai trò lãnh đạo của Đảng, sự tồn vong của chế độ. Để nâng cao hiệu quả công tác quản lý, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, công tác bảo vệ chính trị nội bộ cần tập trung thực hiện một số nội dung trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể các cấp, nhất là người đứng đầu cần nhận thức sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của công tác bảo vệ chính trị nội bộ gắn với công tác quản lý cán bộ trong tình hình mới. Xác định rõ trách nhiệm, nâng cao ý thức cảnh giác, đấu tranh làm thất bại những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Thứ hai, tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, quy định về công tác bảo vệ chính trị nội bộ, quản lý cán bộ để kịp thời phát hiện, khắc phục những vướng mắc, hạn chế nảy sinh trong thực tiễn; trong đó, cần tập trung vào việc nắm vững và giải quyết những vấn đề chính trị hiện nay của cán bộ, đảng viên, nhất là đối với những trường hợp làm nhiệm vụ dịch thuật, cử đi học ở nước ngoài, đi công tác nước ngoài đột xuất hoặc thường xuyên, theo nhiệm kỳ hoặc có mối quan hệ tiếp xúc, làm việc lâu dài với các tổ chức, cá nhân nước ngoài, cho phù hợp với những yêu cầu, diễn biến của tình hình mới.

Thứ ba, tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh trên cơ sở quán triệt sâu sắc, nghiêm túc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021 của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị; tăng cường giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, trong đó cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm bảo vệ chính trị nội bộ và ý thức cảnh giác, tinh thần kiên quyết đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn phá hoại tinh vi của các thế lực thù địch. Tăng cường kiểm tra, giám sát, chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.


Thứ tư, chủ động ngăn chặn, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Tăng cường đấu tranh, sớm phát hiện, đập tan các hoạt động phá hoại tư tưởng chính trị; phản bác, bóc gỡ, vạch trần các thông tin xấu, độc, luận điệu xuyên tạc, thù địch, kích động; đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý, khắc phục những hạn chế trong quản lý báo chí, mạng xã hội và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Tăng cường các thông tin chính thống chính xác, kịp thời, có trọng tâm, trọng điểm, coi trọng nắm bắt và định hướng dư luận trong thời gian diễn ra các sự kiện lớn, trọng đại của đất nước.

Thứ năm, rà soát, thẩm tra, thẩm định chặt chẽ, kỹ lưỡng và kết luận rõ tiêu chuẩn chính trị của cán bộ, đảng viên, không để lọt những người không đủ tiêu chuẩn chính trị vào cấp ủy các cấp. Chuyển trọng tâm từ nắm vững và giải quyết vấn đề lịch sử chính trị sang vấn đề chính trị hiện nay. Các mặt công tác quản lý cán bộ cần bám sát tình hình thực tế của đội ngũ cán bộ để có biện pháp phòng ngừa, răn đe kịp thời, hữu hiệu.

Thứ sáu, hoàn thiện cơ chế phối hợp và đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác phối hợp giữa cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ với các cơ quan chức năng liên quan trong việc nắm vững tình hình và giải quyết các vấn đề chính trị nội bộ. Tùy tình hình cụ thể, chủ động tham mưu, đề xuất các chủ trương, biện pháp hiệu quả trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ. Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội trong việc tập hợp, vận động nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, đặc biệt là trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên; cảnh giác và tham gia đấu tranh với các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, tổ chức phản động.

Thứ bảy, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng về công tác bảo vệ chính trị nội bộ tại các địa phương, cơ quan, đơn vị. Qua đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm, chấn chỉnh những thiếu sót, hướng dẫn đồng bộ và nhất quán việc thực hiện các nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ cho các cơ quan, đơn vị, đội ngũ chuyên trách bảo vệ chính trị nội bộ đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới./.

 

 

 KHẮC PHỤC "BỆNH GIẤU KHUYẾT ĐIỂM" THEO QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH

 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc (năm 1947): “Một Đảng mà giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng”... Bài học về sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô và Nhà nước Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô viết do nguyên nhân sâu xa là mất dân chủ, “bệnh thành tích”, lãnh đạo chỉ thích khen nịnh dẫn đến xa rời thực tiễn, những yếu kém không được khắc phục, gây khủng hoảng, mất đoàn kết và cán bộ, đảng viên, quần chúng bức xúc; cùng bài học thành công của sự nghiệp đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội VI của Đảng với phương châm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, từ đó mới sáng rõ những việc cần làm ngay, được nhân dân đồng lòng ủng hộ... vẫn còn nguyên giá trị.

Vậy phải làm gì để chữa trị “bệnh giấu khuyết điểm”?

Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Bác Hồ đã chỉ rõ: Phải thật thà phê bình và tự phê bình, kiên quyết thực hành kỷ luật; “Nơi nào sai lầm, ai sai lầm thì lập tức sửa chữa. Kiên quyết chống thói nể nang và che giấu”; “Kiểm soát khéo bao nhiêu, khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa, kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”...

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) và nhiều nghị quyết, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng cũng đã yêu cầu toàn Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện nghiêm túc, đồng bộ các nhóm giải pháp. Tuy nhiên, có thể khẳng định, chính vì nhiều cơ quan, đơn vị, địa phương chưa thực sự làm nghiêm, chưa vào cuộc một cách quyết liệt, chưa có biện pháp hữu hiệu nên “bệnh giấu khuyết điểm” vẫn kéo dài dai dẳng.

Cần nhìn thẳng vào sự thật: “Bệnh giấu khuyết điểm” và thích khen nịnh là bản tính của con người, là yếu tố tâm lý khách quan từ ngàn xưa, ở khắp nơi (thậm chí cổ nhân còn khuyên dạy: “Đẹp đẽ phô ra, xấu xa đậy lại”). Do đó, muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm” thì phải điều trị từ nguyên nhân gốc, trước hết, người mắc bệnh này phải muốn chữa và quyết tâm chữa (ở đây là người đứng đầu tổ chức Đảng và cơ quan, đơn vị các cấp trong hệ thống chính trị, từng cán bộ, đảng viên).

Nhưng thực tiễn đang tồn tại nghịch lý là rất nhiều cán bộ, đảng viên không muốn chữa “bệnh giấu khuyết điểm”. Lý do thật đơn giản: Tự nhận vi phạm, khuyết điểm thì sẽ thiệt nhiều thứ, như mất thành tích, bị trừ điểm thi đua, ảnh hưởng tới các quyền lợi của tập thể, cá nhân.

Thậm chí, việc tự nhận khuyết điểm còn bị nhiều người chê là dại dột, “chưa khảo đã xưng”, “tự bôi mỡ vào người cho kiến đốt”! Không ít trường hợp còn bị cán bộ cấp trên lấy làm ví dụ đi “bêu dương” khắp nơi, nhắc đi nhắc lại mãi. Vì thế, nhiều người, nhiều tập thể đã rút ra “bài học”: Chẳng dại gì “lạy ông tôi ở bụi này”!

Bởi vậy, thay đổi cách nhìn nhận, đánh giá của cấp ủy, người đứng đầu: Thực sự quý trọng đức tính thẳng thắn, trung thực, tự giác nhận khuyết điểm là yếu tố tiên quyết để tuyên chiến với “bệnh giấu khuyết điểm”.

Cùng với đó, phải có điểm thưởng cho những tập thể, cá nhân trung thực, tự giác nhận khuyết điểm nhằm khắc phục nghịch lý “không muốn chữa bệnh giấu khuyết điểm” nêu trên, mà việc nên làm ngay là chỉnh sửa quy chế thi đua - khen thưởng theo hướng quy định rõ điểm thưởng, điểm phạt, bảo đảm không ai chịu thiệt khi thành thật, tự giác nhận khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Đây chính là liều thuốc đặc hiệu để chữa từ nguyên nhân gốc, trị dứt điểm “bệnh giấu khuyết điểm” nguy hại.

Đảng ta đang khuyến khích và đã có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đặc biệt, Quy định số 22-QĐ/TW ngày 28-7-2021 của Ban chấp hành Trung ương khóa XIII về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng đã xác định rõ nguyên tắc: Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới, tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức Đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng...

Thực hiện chủ trương trên, những bất cập, nghịch lý là căn nguyên dẫn đến “bệnh giấu khuyết điểm” cần sớm được các cơ quan có thẩm quyền xem xét, kiên quyết chỉ đạo khắc phục triệt để.

 

 VIỆT NAM LUÔN ĐẢM BẢO QUYỀN TỰ DO TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO CỦA NHÂN DÂN

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo với hơn 26,5 triệu tín đồ các tôn giáo (chiếm 27% dân số), hơn 58.000 chức sắc, 148.000 chức việc, 29.000 cơ sở thờ tự, 53 cơ sở đào tạo tôn giáo và 16 tôn giáo.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Các quyền này được ghi nhận trong Hiến pháp 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 162/2017/NĐ-CP của Chính phủ đã tạo khuôn khổ pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Cụ thể:

Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Như vậy, việc theo hay không theo tín ngưỡng hoặc tôn giáo nào là quyền tự do của mỗi cá nhân, mỗi công dân Việt Nam được Hiến pháp 2013 thừa nhận.

Thể chế hóa Hiến pháp năm 2013 và cần thiết phải điều chỉnh pháp luật về tôn giáo trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tình hình tôn giáo tiếp tục có những biến động, mở rộng không chỉ hoạt động tôn giáo mà cả các hoạt động xã hội, ngày 18/11/2016, Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIV đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo thay thế Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Theo đó, ngày 30/12/2017, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 162/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục tạo hành lang pháp lý quan trọng cho các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Việc ban hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo đã đánh dấu son cho quá trình hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam. Cụ thể hóa chủ trương nhất quán của Việt Nam về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có ý nghĩa quan trọng cả về đối nội và đối ngoại, phù hợp với chủ trương cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính hiện nay ở Việt Nam, đảm bảo lợi ích của quốc gia, dân tộc và các tổ chức tôn giáo. Đồng thời, thông qua đó cũng khẳng định với quốc tế, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đây cũng chính là minh chứng rõ nét nhất để chống lại luận điệu xuyên tạc của các thế lực xấu, vu cáo Việt Nam vi phạm quyền dân chủ nhân quyền tôn giáo.

 

 NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO ĐỂ CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

Thời gian qua, các thế lực thù địch lợi dụng tôn giáo để công kích, xuyên tạc, chống phá Đảng và Nhà nước. Chúng đưa ra luận điệu “Việt Nam đàn áp tôn giáo”, “vi phạm quyền tự do tôn giáo” của người dân; yêu cầu các tôn giáo phải được hoạt động tự do, không cần đặt dưới sự quản lý của Nhà nước… Chúng vu cáo rằng: “CNXH không chấp nhận tôn giáo, xóa bỏ tôn giáo”; “Pháp luật Việt Nam về tôn giáo, tín ngưỡng chỉ là hình thức, thực chất là cơ sở để đàn áp, bóp nghẹt tôn giáo”; “Chính phủ Việt Nam vẫn tiếp tục hạn chế các hoạt động có tổ chức của nhiều tôn giáo, thậm chí có hành động đàn áp các tín đồ tôn giáo”… Chúng còn lập nhiều tài khoản trên các trang mạng xã hội như: Youtube, Facebook, Blog… để phát tán, đăng tải các bài viết, video, hình ảnh đả kích, nói xấu chế độ, bôi nhọ lãnh tụ, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Chúng “vạch lá tìm sâu”, cố tình xoáy vào những mặt trái của xã hội để quy kết, hạ thấp thanh danh của Đảng, Nhà nước; thậm chí lợi dụng đức tin và sự gắn kết cộng đồng của tôn giáo để lôi kéo, tập hợp lực lượng, truyền đạo trái phép, tổ chức biểu tình, thách thức, chống phá chính quyền, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội… Tất cả nhằm mục đích thêu dệt nên một bức tranh màu xám, méo mó về vấn đề tôn giáo tại Việt Nam, từ đó kêu gọi quốc tế “gây sức ép”, “can thiệp” vào nước ta.

Lợi dụng tính nhạy cảm của vấn đề tôn giáo, một số phần tử cực đoan trong tôn giáo cấu kết với các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Đảng và Nhà nước Việt Nam tổ chức các cuộc “hội luận”, “họp báo”, soạn thảo và tán phát các tài liệu có nội dung xuyên tạc, bịa đặt để tuyên truyền chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhất là trên các lĩnh vực dân chủ và nhân quyền. Họ đẩy mạnh xuyên tạc Đảng và Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo”, Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Họ cho rằng Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo (trước đây) và Luật Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay là sự “đàn áp tôn giáo” bằng pháp luật của Nhà nước Việt Nam, không tạo điều kiện cho các tôn giáo phát triển; từ đó, khoét sâu mâu thuẫn giữa các tôn giáo với chính quyền các cấp. Đồng thời, móc nối, câu kết với một số tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài thành lập hoặc tích cực tham gia các hội, nhóm trái pháp luật, mang danh nghĩa tôn giáo để tập hợp, phát triển lực lượng chống đốiMột số chức sắc cực đoan lợi dụng các vấn đề chính trị – xã hội phức tạp để kích động tín đồ xuống đường biểu tình, gây mất ổn định chính trị – xã hội. Đáng chú ý, với lý do “bảo vệ tự do tôn giáo”, một số thế lực nước ngoài đã ban hành báo cáo, phúc trình, thậm chí là đạo luật, nghị quyết “lên án” tình hình bảo đảm quyền con người của Việt Nam, nhất là trên lĩnh vực tôn giáo, từ đó gây sức ép về ngoại giao, đồng thời gắn các vấn đề dân chủ và nhân quyền trên lĩnh vực tôn giáo với các vấn đề về viện trợ kinh tế, đầu tư phát triển, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Lợi dụng đường lối, chính sách đổi mới, mở cửa và tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, các tôn giáo đều gia tăng các hoạt động mở rộng cơ sở vật chất, dẫn đến phát sinh nhiều vụ tranh chấp, khiếu kiện đất đai liên quan đến tôn giáo. Đáng chú ý, số đối tượng cực đoan trong các tôn giáo cũng như các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Nhà nước Việt Nam ở trong nước và nước ngoài đã triệt để lợi dụng các vụ tranh chấp, khiếu kiện về đất đai liên quan đến tôn giáo để kích động các hoạt động chống đối, gây tâm lý bức xúc và phản ứng của tín đồ đối với chính quyền; gây chia rẽ giữa chính quyền với tôn giáo. Nghiêm trọng hơn, họ còn cố tình chính trị hóa sự việc, xuyên tạc, vu cáo chính quyền “lấy đất đai của tôn giáo, bỏ quên quyền lợi nhân dân, bao che cho doanh nghiệp, tàn phá môi trường”, kích động tâm lý so bì, cho rằng Nhà nước đối xử không bình đẳng giữa các tôn giáo. Một số tổ chức, cá nhân tôn giáo không hợp tác với chính quyền trong việc kê khai, làm các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhằm lấn chiếm đất để mở rộng cơ sở thờ tự.

Bên cạnh hoạt động vi phạm pháp luật về đất đai, trong hoạt động tôn giáo cũng xảy ra các vụ, việc chưa tuân thủ các quy định của pháp luật, như thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, chức việc, nhà tu hành trong các tôn giáo; việc thành lập các cơ sở tôn giáo trực thuộc chưa được sự chấp thuận của chính quyền. Một số cơ sở đào tạo của tôn giáo chưa nghiêm túc triển khai môn học về lịch sử Việt Nam và pháp luật Việt Nam, là môn chính thức trong chương trình giảng dạy. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc “đào tạo kép”, cụ thể là đào tạo chức sắc ở trong nước kết hợp với cử chức sắc ra nước ngoài đào tạo trái phép vẫn diễn ra ở một số tôn giáo.Các hoạt động vi phạm nói trên luôn tiềm ẩn nguy cơ bị các thế lực xấu khai thác, lợi dụng để gây chia rẽ giữa tôn giáo với chính quyền, giữa người theo đạo và người không theo đạo, cũng như tiến hành các hoạt động chống phá, gây bất ổn chính trị – xã hội.

Đáng chú ý, tại địa bàn các tỉnh Tây Nguyên nói riêng, vùng DTTS trong cả nước nói chung, lợi dụng vấn đề tôn giáo trong vùng đồng bào một số dân tộc thiểu số; sự sa sút tính chân truyền trong các tôn giáo đã được Nhà nước công nhận; điều kiện khó khăn về kinh tế, xã hội…, một số đối tượng đã thành lập các hội, nhóm mang danh nghĩa tôn giáo, hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất đoàn kết dân tộc. Bên cạnh đó, còn có nhiều loại hình mang danh tín ngưỡng, tôn giáo, hiện tượng tôn giáo mới xuất hiện ở nhiều địa phương, xa rời văn hóa truyền thống tốt đẹp của dân tộc, như không thờ cúng tổ tiên, gọi bố mẹ là anh, chị, em; khám, chữa bệnh bằng cầu cúng; tuyên truyền, hứa hẹn về tương lai tốt đẹp để mê muội quần chúng. Điển hình là các tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, “Nhất quán đạo”, “Thanh Hải Vô Thượng Sư”… Hoạt động của các tổ chức này không chỉ gây mâu thuẫn trong quần chúng, ảnh hưởng tới khối đoàn kết toàn dân tộc, mà còn tạo ra những tác động tiêu cực tới sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước, tạo cớ cho các thế lực thù địch xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Việt Nam “không có tự do tôn giáo”. Tại một số cơ sở tôn giáo xuất hiện hiện tượng thương mại hóa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, cụ thể là lợi dụng lòng tin của người dân để trục lợi, phát triển các hoạt động tâm linh mang màu sắc mê tín, như hoạt động dâng sao giải hạn, bói toán, xem quẻ, cúng oan gia trái chủ, chữa bệnh bằng tâm linh… Các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đã triệt để lợi dụng các vấn đề đó để công kích, bịa đặt, xuyên tạc, gây mất đoàn kết trong nội bộ một số tôn giáo, kích động tín đồ tạo phe phái để chống đối lẫn nhau, ly khai, thành lập tổ chức khác. Đây đều là các yếu tố tiềm ẩn nguy cơ đe dọa sự đoàn kết nội bộ các tôn giáo cũng như khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

 

TẢN MẠN: HALLOWEEN - MỘT KIỂU HỌC ĐÒI KỆCH CỠM!

     Gần đây, lễ hội Halloween đã tràn vào Việt Nam như một thứ bệnh dịch, nhiễm vào lớp trẻ, nhất là một bộ phận lớp trẻ thành thị và đặc biệt là sinh viên. Họ học đòi kệch cỡm, sính ngoại một cách nông cạn, a dua, thiếu hiểu biết.
     Qua thảm họa Halloween ở Hàn Quốc đêm qua, dẫm đạp lên nhau làm 151 người chết, bị thương hơn 150 người...mới thấy đáng lo ngại cho bọn trẻ rửng mỡ, hợm đời của nước mình. 
     Từ suy nghĩ mọi người sẽ cho rằng mình có hiểu biết hơn người, có cách sống khác người, nên bớt tiền cha mẹ ở quê bán lúa, lang, lạc, lợn ...bòn từng đồng tiền gửi cho con. Để họ vung tay mua những mặt nạ ma quỷ, mắt đen, mồm đỏ lòm máu, lưỡi thè ra, bàn tay móng vuốt dài thòng, đi nghiêng ngả như bóng ma, dáng quỷ.
     Thực ra, khi tôi hỏi một số bạn trẻ SV thì chả ai biết gì về lễ hội quái gở này.
     Xin viết ra đây để lớp trẻ học đòi, a dua...hiểu rõ nha:
     Halloween (viết rút gọn từ "All Hallows' Evening") là một lễ hội lâu năm được tổ chức vào ngày 31 tháng 10 hàng năm, vào buổi tối trước Lễ Các Thánh trong Kitô giáo Tây phương - khoảng thời gian trong năm phụng vụ dành để tưởng nhớ những người đã chết, gồm các vị thánh, các vị tử vì đạo và tất cả các tín hữu trung kiên đã qua đời vì đạo Kitô giáo.
     Trọng tâm theo truyền thống của Halloween xoay quanh chủ đề "sự hài hước và chế giễu để đối đầu với quyền lực của cái chết".
     Halloween phát triển độc lập với Samhain và chỉ có nguồn gốc Kitô giáo (các dòng công giáo khác thì ko có)
     Các hoạt động phổ biến trong lễ hội Halloween là trick-or-treat (trẻ con hoá trang đến gõ cửa nhà hàng xóm để xin bánh kẹo), dự tiệc hóa trang, đốt lửa, khắc bí ngô thành jack-o'-lantern, đớp táo, các trò đùa cợt, xem phim hoặc kể chuyện kinh dị. Ở nhiều nơi trên thế giới, những cử hành Kitô giáo trong ngày lễ Halloween như tham dự lễ nhà thờ và thắp nến trên các ngôi mộ, ở các nơi khác, Halloween là một ngày hội mang tính thế tục và thương mại nhiều hơn là truyền thống.
     Thế vậy ở Việt Nam ta động mồ động mả gì mà hớn lên học đòi cái Hội ma quỷ, tốn tiền đó. Giả tỷ, nói dại có chết bầy (như HQ mới rồi) chỉ khổ xã hội, với người thân, chả ai tiếc lũ a dua, học đòi kệch cỡm ấy.
     Đành rằng mở cửa tất có cả cái tốt, cái xấu theo vào. Việc hoạt động, vui chơi là quyền của mọi người.
     Tuy nhiên phải có định hướng xã hội, thế mới là xã hội XHCN, loại trừ những văn hóa xấu độc, có hại cho tương lai dân tộc hay những việc tuyên truyền, định hướng, giáo dục để tránh cái xấu độc... là nghiệm vụ của Bộ VHTT&DL và Đoàn Thanh niên CS HCM đấy. Đừng để xảy ra rồi mới tấu sớ cả cân báo cáo: chúng tôi đã, ...chúng tôi sẽ ,... chúng tôi đang có kế hoạch ...chúng tôi sẽ rút kinh nghiệm...!
Đừng cứ ngồi đấy ngoáy mũi và ngửi, chờ hết nghiệm kỳ để được bổ nhiệm lên nữa là ko ổn đâu, thưa mấy ông bà!
Nghĩ mà buồn!
Yêu nước ST.

ĐỪNG RU NGỦ DÂN TỘC BẰNG TƯ DUY NÔ LỆ!

         Về nghệ thuật ngoại giao, Việt Nam luôn là một cô gái đẹp, ai cũng thèm muốn nhưng cô gái đó lại không bao giờ thuộc về ai.
     Về chủ trương ngoại giao, Việt Nam là bạn với tất cả các nước, Việt Nam độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế vì hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.
     Về đối ngoại quốc phòng, Việt Nam có chính sách 4 không:
- Không tham gia liên minh quân sự.  
- Không liên kết với nước này để chống nước kia 
- Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ để chống lại nước khác 
- Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế.  
     Việt Nam luôn thấu suốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Người Việt Nam tự biết quyết định vận mệnh dân tộc của mình, không theo Tây, theo Tàu, không có tư duy nô lệ, theo bên này, bên kia đâu nhé anh giảng viên Đại học FULBRIGHT! Đừng ru ngủ dân tộc bằng tư duy nô lệ như thế!
Môi trường (Yêu nước) ST.

CỘI NGUỒN SỨC MẠNH VÔ ĐỊCH CỦA ĐẢNG

 Thực tiễn lịch sử dân tộc ta, thực tiễn cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới đã chứng minh một chân lý: Có dân là có tất cả; mất dân cũng có nghĩa là mất tất cả.


Sức mạnh của Đảng nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhân dân: “Dân là gốc của nước, gốc có vững thì nước mới yên”. Ông cha ta đã để lại những tư tưởng bất hủ, như: “Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ, bền gốc, đó là thượng sách giữ nước”; “Lật thuyền mới biết dân như nước”; “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân”; Cái gốc của nhạc là ở nơi “thôn cùng xóm vắng không có một tiếng hờn giận oán sầu”... An Dương Vương chủ quan, mất cảnh giác, chỉ dựa vào vũ khí, không biết dựa vào sức mạnh nhân dân để chống giặc ngoại xâm nên kết cục là mất nước.


Chủ nghĩa Mác-Lênin đặt vị trí của nhân dân lên một tầm cao mới, khẳng định nhân dân là người sáng tạo ra lịch sử, tạo ra mọi của cải, vật chất và những giá trị văn hóa, tinh thần. Nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hội. [Chủ tịch Hồ Chí Minh](https://www.qdnd.vn/tag/chu-tich-ho-chi-minh-534.html) đã đưa ra những quan niệm rất độc đáo, sáng tạo về nhân dân; không những khẳng định dân là gốc của nước, của cách mạng mà còn đặt nhân dân ở vị trí tối thượng. Người viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân”; “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ, mà Chính phủ là người đày tớ trung thành của nhân dân”; “... Quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. Người nhấn mạnh: Sự nghiệp cách mạng là của nhân dân; nhân dân cần Đảng dẫn đường.


Từ khi thành lập đến nay, [Đảng](https://www.qdnd.vn/tag/chinh-don-dang-503.html) ta luôn tỏ rõ là một Đảng cách mạng chân chính, hết lòng phấn đấu vì nhân dân, mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân luôn được củng cố, tăng cường. Sự gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân, đó chính là nền tảng, nguồn gốc tạo nên sức mạnh vô địch của Đảng. Lênin từng căn dặn rằng: Nguy cơ lớn nhất của một đảng cầm quyền là sai lầm về đường lối và quan liêu, xa rời quần chúng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh: Đảng phải gần dân, trọng dân, tin dân, học dân để lãnh đạo dân. Củng cố, tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân là vấn đề có tính quy luật trong sự hình thành, tồn tại và phát triển của Đảng ta...


Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, thực hiện đường lối đổi mới, mở cửa, hội nhập của Đảng, đòi hỏi mỗi người cán bộ, đảng viên của đảng cầm quyền phải luôn nêu cao đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; phải đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết, thật sự xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân; phải đi sâu, đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Có như vậy, mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân mới được củng cố, tăng cường. Khi Đảng đã gắn bó máu thịt với dân, dân tin yêu Đảng thì Đảng sẽ có sức mạnh vô địch để vượt qua mọi thác ghềnh, vững tay chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam thẳng hướng đi lên, cập bến quang vinh.

PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đi đôi với khẳng định và thúc đẩy sự vận động, phát triển giá trị Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Các thế lực thù địch luôn dùng mọi thủ đoạn nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng ta. Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề này, Đảng và Nhà nước ta luôn đặt nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung, bảo vệ tư tưởng Hồ Chí Minh nói riêng lên hàng đầu.

Trước hết chúng ta cần nhận thức rõ mục đích, âm mưu của các thế lực thù địch tuyên truyền xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phủ định vai trò to lớn của Người đối với cách mạng Việt Nam và phủ định hệ tư tưởng của Đảng ta. Qua đó làm cho nhân dân Việt Nam bị lầm tưởng và mơ hồ về chính trị và con đường phát triển của dân tộc; phá hoại thế giới quan của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời từng bước hình thành các khuynh hướng, trào lưu quan điểm đối lập, thù địch với Đảng, Nhà nước ta. Chúng muốn lợi dụng sự chuyển hóa nhận thức tư tưởng của các tầng lớp nhân dân trong xã hội, tiến tới hình thành các lực lượng đối lập ở Việt Nam để gây mất ổn định chính trị, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của ta; gây dựng cơ sở tư tưởng và cơ sở giai cấp, tiến tới các mục tiêu chính trị sâu xa là xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, hướng Việt Nam đi theo con đường chủ nghĩa tư bản...

Để đấu tranh phản bác có hiệu quả  những luận điệu xuyên tạc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Trước hết cần xác định đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đấu tranh phức tạp, khó khăn, quyết liệt, lâu dài; là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân và của mỗi cán bộ, đảng viên. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Bác phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng.

Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải đi đôi với khẳng định và thúc đẩy sự vận động, phát triển giá trị Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đẩy mạnh, nâng cao chất lượng nghiên cứu, tuyên truyền, giáo dục về Chủ tịch Hồ Chí Minh.  Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc về Bác, trước hết cần vạch rõ và làm phá sản âm mưu, hành động, bôi nhọ, nói xấu, bịa đặt về Người của các thế lực phản động. Quan trọng hơn là thông qua đấu tranh để bảo vệ, khẳng định và phát triển giá trị tư tưởng bền vững của Người, đáp ứng yêu cầu thực tiễn cách mạng.

Nhận thức đầy đủ, đúng đắn về Chủ tịch Hồ Chí Minh là một phần quan trọng trong phòng chống các luận điệu xuyên tạc về Người. Đấu tranh chống các luận điệu xuyên tạc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải kết hợp đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Bên cạnh đó, cần kiên quyết, quyết liệt và kịp thời vạch trần sự lợi dụng của các thế lực thù địch dựa vào việc một bộ phận cán bộ thoái hóa biến chất bị kỷ luật để bôi nhọ, xuyên tạc, phủ định giá trị hiện thực của tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, bóp méo chủ trương học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh của Đảng và nhân dân ta.

Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Trong đó cần quan tâm việc đăng ký và thực hiện công việc đột phá của tập thể và cá nhân. Đẩy mạnh việc nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là nêu gương ở mọi lúc, mọi nơi của người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị. Đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả của công tác tư tưởng, nhất là lĩnh vực tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Bên cạnh đó, cần kịp thời biểu dương nhân rộng những tập thể, cá nhân tiêu biểu trong học tập và làm theo Bác; đồng thời thực hiện nghiêm việc kiểm tra, giám sát để kịp thời uốn nắn, xem xét những cán bộ, đảng viên, tổ chức đảng vi phạm kỷ luật. Đẩy mạnh việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh. Quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh ngay từ chi bộ. Đẩy mạnh hơn nữa việc đấu tranh với các thế lực thù địch trên mọi phương diện để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Chú trọng đấu tranh trên không gian mạng để loại bỏ những thông tin xấu độc, thông tin thất thiệt, bịa đặt, xúi giục của các thế lực thù địch...


Ý NGHĨA CỦA TÊN GỌI "ĐIỆN BIÊN PHỦ TRÊN KHÔNG "

 Tháng 10/1972, theo thỏa thuận, lẽ ra giữa Việt Nam và Mỹ ra thỏa thuận chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam. Tuy nhiên, phía Mỹ đã bội ước, đưa máy bay chiến lược B52 đến ném bom Thủ đô Hà Nội và Hải Phòng. Tổng thống Nickson có kế hoạch dùng sức mạnh máy bay B52, con át chủ bài của không lực Hoa Kỳ “đưa miền Bắc Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá”, hòng buộc phía Việt Nam phải chấp nhận những điều kiện áp đặt của họ. Tuy nhiên, cuộc tập kích chiến lược ồ ạt bằng B52 này của Mỹ đã thất bại hoàn toàn khi có 81 máy bay hiện đại của Mỹ bị bắn rơi, trong đó có 34 chiếc B52, 5 chiếc F.111, nhiều giặc lái Mỹ bị diệt và bắt sống.

Bằng sức mạnh của chiến tranh nhân dân và lực lượng phòng không ba thứ quân đã tạo thành sức mạnh tổng hợp của cả miền Bắc Xã hội chủ nghĩa, trong đó Bộ đội Phòng không - Không quân là lực lượng nòng cốt đã cùng với quân dân Hà Nội - Hải Phòng và một số địa phương trực tiếp đánh trả cuộc tập kích đường không chưa từng có trong lịch sử. Trải qua 12 ngày đêm chiến đấu anh dũng (từ ngày 18/12 đến 29/12/1972), quân dân Hà Nội, Hải Phòng đã làm nên một "Điện Biên Phủ trên không" lừng lẫy, buộc phía Mỹ phải “chịu thua trên bầu trời Hà Nội". Viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Mạnh Hà cho biết: Thắng lợi ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã đưa đến việc thực dân Pháp bị thất bại, suy sụp hoàn toàn ý chí tiếp tục chiến tranh, phải ngồi vào đàm phán với Việt Nam ở Hội nghị Geneva và ký kết hiệp định Geneva với Việt Nam vào tháng 7/1954. Chiến thắng của Việt Nam trong 12 ngày đêm vào cuối năm 1972 cũng có ý nghĩa tương tự như vậy, nhưng khác ở chỗ đây là Điện Biên Phủ trên không. Hai sự kiện này giống nhau về mặt ý nghĩa thắng lợi, do đó người ta ghép lại, gọi là trận Điện Biên Phủ trên không. Sự kiện 12 ngày đêm có ý nghĩa như một trận Điện Biên Phủ là ở chỗ nó chứng tỏ tinh thần quyết chiến, quyết thắng của dân tộc Việt Nam, đó là không khuất phục trước bất cứ thế lực quân sự nào, kể cả máy bay ném bom chiến lược B52.

Thắng lợi của quân và dân Việt Nam trong chiến dịch "Điện Biên Phủ trên không", đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc về mọi mặt trong suốt 8 năm chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Điều này khẳng định sự lãnh đạo tài tình của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng trong nghệ thuật tác chiến phòng không hiệp đồng chiến đấu của quân đội nhân dân Việt Nam.


BẢN CHẤT CỦA “THƯ KHUYẾN NGHỊ”

 Có thể điểm tên các tổ chức tung ra “thư ngỏ”, “thư khuyến nghị” như Lập quyền dân; Diễn đàn xã hội dân sự; Ban vận động văn đoàn độc lập; Bauxite Việt Nam; Câu lạc bộ Nguyễn Trọng Vĩnh; Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng; Câu lạc bộ Hoàng Quý… Theo nội dung “thư khuyến nghị”, các hội, nhóm trên đưa ra yêu cầu rằng: Việt Nam đang phải dựa vào Mỹ, Nhật, phương Tây để vừa phát triển kinh tế vừa ngăn ngừa xảy ra chiến tranh; Việt Nam nên mạnh dạn mở cửa cảng Cam Ranh cho tất cả các nước, tạo điều kiện cho Nhật, Mỹ và các nước phương Tây cùng phát triển đầu tư các cơ sở hạ tầng để “tạo nên một cái thế để đối trọng” với nước khác… Để cổ súy, tung hô, tán dương cho chiêu trò trên, RFA có bài viết lên giọng “khuyến nghị Việt Nam hợp tác với Mỹ và phương Tây” để chống lại các nguy cơ đe dọa chủ quyền biển đảo. Họ đưa tin theo kiểu lập lờ đánh lận con đen, đánh đồng việc liên minh quân sự là một phần của mở rộng, hợp tác quan hệ quốc tế; phủ nhận đường lối đối ngoại và chính sách quốc phòng “bốn không” của Việt Nam bằng việc đưa ra luận điệu Việt Nam phải tham gia liên minh quân sự, phải theo bên này để chống bên kia…

Phương thức chống phá với chiêu bài “khuyến nghị” là không mới, thực ra đó là trò giả tạo, ra vẻ vì đất nước, vì nhân dân nhưng đó là cái vỏ bọc bên ngoài để che đậy những nội dung sai trái, xuyên tạc bên trong với luận điệu kệch cỡm. Cách lập luận, diễn giải mang nặng tính áp đặt chủ quan, phiến diện, thể hiện rõ tư tưởng, ý đồ phá hoại đất nước.

Mục đính của số hội, nhóm trên nhằm đưa Việt Nam vào việc chọn bên, chia phe, thế đối đầu trong các quan hệ quốc tế, cố tình hướng lái dư luận đến với những nhận thức sai lầm, gieo rắc tâm lý ỷ lại, dựa dẫm vào quốc gia khác trong củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; kích động tâm lý “bài nước này, thân nước kia” trong một bộ phận người dân; gây ra sự hoài nghi, phân tâm về đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng, Nhà nước ta, làm giảm ý thức cũng như sự chung tay, cống hiến của cả hệ thống chính trị và nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cố tình làm cho thế giới hiểu sai về một đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, thân thiện.

Vì vậy, mỗi chúng ta cần hết sức tỉnh táo phân biệt rõ phải -trái, trắng - đen để không mắc mưu kẻ xấu.

TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG KẾT THÚC TỐT ĐẸP CHUYẾN THĂM CHÍNH THỨC TRUNG QUỐC

 19 giờ (giờ địa phương), ngày 1/11, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam rời sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh lên đường về nước, kết thúc tốt đẹp chuyến thăm chính thức Trung Quốc theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình.

Tiễn Tổng Bí thư và Đoàn tại sân bay, về phía Trung Quốc có đồng chí Lưu Kiến Siêu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Trưởng Ban Liên lạc đối ngoại Trung ương Đảng và cán bộ của Ban; về phía Việt Nam có Đại sứ Phạm Sao Mai và cán bộ Đại sứ quán Việt Nam tại Trung Quốc.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Đoàn về đến sân bay quốc tế Nội Bài tối cùng ngày.

Đón Đoàn tại sân bay, về phía Việt Nam có các đồng chí: Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước; Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ và nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước.

Phía Trung Quốc, có Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam Hùng Ba và cán bộ Đại sứ quán.


MỌI NỖ LỰC HẠ THẤP VIỆT NAM ĐỀU LÀ VÔ LÝ


Có một điều buồn cười là các bác lãnh đạo Việt Nam đi ngoại giao khắp thế giới thì chẳng bị nói gì. Nhưng cứ hễ liên quan đi ngoại giao liên quan Trung Quốc thì lại bị vu cho cái tâm thế là "đi chầu" hay "bái kiến thiên triều" rồi nào là bán đảo, nịnh bợ. Vậy ít ngày nữa Thủ tướng Đức sang thăm Trung Quốc có phải là đi “chầu chực” không? Hay Cựu thủ tướng Nhật Suga chọn Việt Nam trong chuyến công du đầu tiên khi nhậm chức có phải là đi “trình diện” trước Việt Nam không?
Trong khi báo chí thế giới trước đó còn đang tiên đoán về nước nào có vinh dự được ông Tập Cận Bình mời thăm đầu tiên sau khi tái đắc cử. Đó có thể là Tổng thống Nga Vladimir Putin - quốc gia đứng hàng cao nhất trong hệ ngoại giao của Trung Quốc, Thủ tướng Pakistan Shehbaz Sharif - quốc gia đồng minh quan trọng nhất của Trung Quốc. Nhưng vị trí này lại thuộc về Việt Nam. Điều này cho thấy vị trí ngoại giao quan trọng của Việt Nam với Trung Quốc.
Hãy thử nghĩ thế này, bạn là người đầu tiên được nhà hàng xóm giàu nhất vùng mời đến tham gia tiệc tân gia, được mời đủ thứ của ngon vật lạ, được tặng quà mang về, được bắn pháo hoa chào mừng khi đến, được đón tiễn trọng thị, được mở ra bao nhiêu cơ hội hợp tác làm ăn, bạn có thấy ngầu không? Lại dám bảo không đi.
Có biết bao nhiêu quốc gia muốn có được vị trí như Việt Nam nhưng mà không được. Cách đây ít hôm, Tổng thống Pháp còn bày tỏ mong muốn đi cùng Thủ tướng Đức đến thăm Trung Quốc vào ngày 04/11 tới nhưng chưa nhận được thu xếp từ nước chủ nhà. Còn lãnh đạo Úc, Canada, Anh… cùng bày tỏ thiện chí tương tự nhưng chưa được bố trí thời gian. Trong khi Việt Nam, cụ thể là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lại được đích thân ông Tập Cận Bình mời, điều này ngay cả các cường quốc cũng khó có được.
Hôm bác Trọng đáp xuống sân bay Bắc Kinh không đeo khẩu trang thì có đám người nói là không tôn trọng luật pháp Trung Quốc khi nước này vẫn đang chống dịch quyết liệt rồi phao tin là sẽ bị Trung Quốc “ngó lơ”. Nhưng hôm sau, bác Trọng với ông Tập đều không mang khẩu trang tham gia các đại lễ, tay bắt mặt mừng, cùng tiệc trà, cùng ăn uống thăm quan, được trao tặng huân chương cao quý nhất Trung Quốc… thì đám này lại im lặng á khẩu.
Điều buồn cười hơn nữa là lại có đám nào đấy phao tin rằng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Trung Quốc để thực hiện “Hội nghị Thành Đô” - cái hội nghị được đồn thổi là có quy định Việt Nam sẽ trở thành một tỉnh tự trị của Trung Quốc vào năm 2020, nhưng bị trễ 2 năm do đại dịch, năm nay sang để thực hiện. Đùa chứ đến những con người ngây thơ, có tư duy bình thường nhất cũng biết rằng cái tin kia chỉ là nhảm ruồi, vậy mà vẫn cố phao tin bằng được thì cũng lạ thật.
Nếu ai tinh ý một chút, có làm việc xuất nhập hàng nhiều, sẽ biết là ngay từ chuyến đi của bác Trọng cũng là lúc Trung Quốc nới lỏng việc xuất nhập hàng, nông sản cửa khẩu giữa bối cảnh phương Tây đang gặp khó khăn kinh tế. Nếu đi ngoại giao mà lại đem lại lợi ích cho nhân dân, cho kinh tế đất nước thì luôn là một điều đáng mừng.
Không phải ngẫu nhiên mà trong những ngày gần đây, ngành ngoại giao Việt Nam đang làm việc hết công suất để nâng cao vị thế nước nhà. Ví dụ như chỉ trong 14 ngày, Việt Nam lần lượt chào đón Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, Thái tử Đan Mạch, Thủ tướng Đức Olaf Scholz và có thể là Tổng thống Joe Biden sang thăm vào cuối tháng 11…
Quốc gia nào cũng muốn kéo Việt Nam về phía họ, cũng muốn tạo ra sức ảnh hưởng đến Việt Nam. Điều đó cho thấy vị thế đất nước ngày càng được nâng cao, hình ảnh Việt Nam ngày càng được cải thiện, thế giới ngày càng coi trọng Việt Nam hơn và chúng ta sẵn sàng cho những điều đó… Dĩ nhiên là vẫn luôn có những cá nhân, những nhóm người tự nhục luôn cố gắng phủ nhận và hạ thấp những điều như thế này.
Nhưng dù thế nào, những nỗ lực này đều là vô lý. Việt Nam vẫn sẽ tiến lên mạnh mẽ!
ST
Có thể là hình ảnh về 7 người và mọi người đang đứng

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 03/11


“… Hễ còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì ta còn phải tiếp tục chiến đấu, quét sạch nó đi…”.
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Lời kêu gọi cả nước tiến lên đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”, đăng Báo Nhân dân, số 5317, ngày 03 tháng 11 năm 1968.
Lời kêu gọi thể hiện sâu sắc ý chí mạnh mẽ và quyết tâm sắt đá của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta kiên quyết bảo vệ nền độc lập, tự do của dân tộc, phản ánh niềm tin vững chắc vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, dù phải chịu nhiều hy sinh gian khổ nhưng không thể lay chuyển ý chí, quyết tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam về một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Lời kêu gọi của Người tựa như lời “hịch” đanh thép thúc giục cả dân tộc đồng tâm, nhất trí, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, quyết tâm chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn. Lời kêu gọi còn là một cuộc vận động lớn để toàn Đảng, toàn quân và toàn dân tộc đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động, củng cố niềm tin, xiết chặt đội ngũ để đi vào giai đoạn quyết liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại không chỉ của dân tộc Việt Nam mà của cả nhân loại tiến bộ trong thế kỷ XX. Đó là tinh thần kiên quyết tiến công của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta, của toàn quân và toàn dân ta trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng và chiến tranh cách mạng. Tinh thần tiến công đó tiếp tục soi sáng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong những năm tới, tình hình thế giới, khu vực sẽ còn nhiều diễn biến phức tạp, tiềm ẩn nhiều nhân tố gây mất ổn định, bất trắc, khó lường; tranh chấp lãnh thổ, chủ quyền biên giới, biển, đảo, đặc biệt là trên Biển Đông tiếp tục diễn ra gay gắt, phức tạp. Trong nước, bên cạnh những thuận lợi cơ bản, bốn nguy cơ mà Đảng ta đã chỉ ra vẫn còn tồn tại. Các thế lực thù địch đẩy mạnh “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và âm mưu “phi chính trị hóa” Quân đội. Để thực hiện trọn vẹn lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta phải thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở. Nâng cao bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc, đảm bảo lực lượng vũ trang nhân dân luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, ưu tiên hiện đại hóa một số quân chủng, binh chủng, lực lượng; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, thực sự là lực lượng nòng cốt cho toàn dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt chức năng đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất và các nhiệm vụ khác được giao./.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH Há CHÍ MINH'