Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, làm căn cứ để đánh giá và rà soát, sàng lọc cán bộ

 TCCS - Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn hiện nay, nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của người đứng đầu cấp ủy, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; qua đó, có cơ sở để đánh giá và rà soát, sàng lọc cán bộ một cách hiệu quả.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm và làm việc với Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh_Nguồn: sggp.org.vn

Tính cấp thiết của việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy

Người đứng đầu cấp ủy có vai trò đặc biệt quan trọng trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, là người thường xuyên đưa ra những quyết định liên quan trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị. Chính vì có vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, nên người đứng đầu cấp ủy cần phải được đào tạo, rèn luyện, tu dưỡng và thử thách để có đủ năng lực, phẩm chất, bản lĩnh, uy tín, thực sự trở thành “đầu tàu” trong công cuộc đổi mới và phát triển đất nước. Đại hội XIII của Đảng xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết. Xây dựng quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; thực hiện tốt quy định về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, chống chạy chức, chạy quyền”(1).

Việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy là yêu cầu tất yếu trong thời kỳ mới, nhằm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, kiểm soát quyền lực, nhất là quyền lực của người đứng đầu cấp ủy. Đồng thời, đây là hoạt động có ý nghĩa quan trọng, bảo đảm kỷ cương, kỷ luật trong Đảng; kịp thời phát hiện những nhân tố mới, tích cực để phát huy, bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; kịp thời phát hiện để phòng ngừa, ngăn chặn, khắc phục khuyết điểm, xử lý vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng; tạo điều kiện để người đứng đầu cấp ủy phát huy vai trò tích cực, chủ động, sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của cơ quan, đơn vị, địa phương, hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao; khắc phục tình trạng thụ động hoặc đùn đẩy trách nhiệm, làm căn cứ để đánh giá, rà soát và sàng lọc cán bộ. Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều bức xúc nổi cộm, dư luận quan tâm; xử lý kịp thời, kiên quyết, triệt để, đồng bộ, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng”(2).

Thực tiễn những năm qua cho thấy, công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy được tăng cường, có nhiều đổi mới, đạt kết quả quan trọng; chất lượng, hiệu lực, hiệu quả ngày càng được nâng lên. Hoạt động kiểm tra, giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp được đẩy mạnh, đạt kết quả khá toàn diện. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, có không ít cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy, cán bộ chủ chốt của các bộ, ban, ngành, đơn vị, địa phương vi phạm kỷ luật của Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật. Qua kiểm tra, cấp ủy các cấp đã thi hành kỷ luật 1.329 tổ chức đảng và 69.600 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp thi hành kỷ luật 17.610 đảng viên; Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng và 60 đảng viên; Ủy ban Kiểm tra Trung ương thi hành kỷ luật 169 đảng viên (trong đó có 53 đồng chí là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý). Các cấp ủy đã giám sát 193.993 tổ chức đảng và 528.652 đảng viên; ủy ban kiểm tra các cấp giám sát 124.469 tổ chức đảng và 185.731 đảng viên(3). Qua công tác kiểm tra, giám sát, kỷ cương, kỷ luật trong Đảng được siết chặt hơn, có tác dụng cảnh báo, cảnh tỉnh, răn đe, phòng ngừa sai phạm đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên(4), nhất là người đứng đầu cấp ủy. Điều này cho thấy vai trò quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát đối với người đứng đầu cấp ủy trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị, địa phương với tư cách là đội ngũ nắm giữ quyền lực chính trị hàng đầu của hệ thống chính trị, góp phần củng cố sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Đồng chí Trần Cẩm Tú, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Cần Thơ_Ảnh: TTXVN

Những nguyên tắc cơ bản của việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy

Thứ nhất, trong công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy các cấp, phải tuân thủ Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng về công tác cán bộ và công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cấp ủy, thực hiện nghiêm tinh thần thượng tôn pháp luật. Kịp thời phát hiện và nhân rộng các nhân tố mới, tích cực, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung; đồng thời, chủ động và kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm những biểu hiện vi phạm, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài.

Thứ hai, thực hiện đầy đủ các quy định kiểm tra, giám sát trong Đảng nói riêng và trong hệ thống chính trị nói chung; tập trung kiểm tra, giám sát người đứng đầu và cấp ủy về: 1- Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; 2- Việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hành dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; 3- Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; quản lý, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống của đảng viên; 4- Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp; 5- Việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; 6- Việc tuyển dụng, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, điều động, bổ nhiệm, nâng ngạch, bố trí, sử dụng, giới thiệu ứng cử, bầu cử, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, thực hiện chính sách cán bộ; 7- Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đặc biệt, chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy trong thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; kiểm tra, giám sát tinh thần trách nhiệm, nêu gương, tự phê bình và phê bình, đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư... của người đứng đầu cấp ủy. Người đứng đầu cấp ủy phải luôn có ý thức đặt mình dưới sự kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng, chịu sự giám sát của đảng viên và quần chúng. Đồng thời, tăng cường trách nhiệm kiểm tra, giám sát của các tập thể cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp theo quy định của Đảng.

Thứ ba, làm rõ trọng tâm nội dung kiểm tra, giám sát, trách nhiệm và các hình thức kiểm tra, giám sát. Cấp ủy các cấp phải nhận thức rõ, đầy đủ tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc tăng cường kiểm tra, giám sát người đứng đầu cũng như tập thể cấp ủy; thực hiện có hiệu quả việc kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với tổ chức đảng cấp dưới; nâng cao nhận thức, bản lĩnh chính trị, ý thức rèn luyện, sự kiên định về lập trường tư tưởng và tinh thần trách nhiệm, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy trong mọi hoạt động của tổ chức đảng và cơ quan, đơn vị, địa phương.

Một số yêu cầu cụ thể đối với việc tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy

Trước hết, bản thân người đứng đầu cấp ủy cần tự giác nêu gương và tuân thủ sự kiểm tra, giám sát một cách có ý thức; đồng thời, cần có tư tưởng, lập trường chính trị vững vàng, đi đầu trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và gương mẫu thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước, tiên phong trong thực hiện các quy định kiểm tra, giám sát trong Đảng, làm gương trong thực hiện trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành và trong thực thi kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu cấp ủy, nhất là cán bộ cao cấp của Đảng, người đứng đầu tổ chức đảng ở các bộ, ban, ngành, địa phương cần gương mẫu đi đầu trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, thực hiện nghiêm túc quy định của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, ủy ban kiểm tra các cấp về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh và nêu gương về đấu tranh chống tư tưởng đặc quyền, đặc lợi, “lợi ích nhóm”, luôn luôn giữ vững sự liêm, chính, trong sạch của người đảng viên.

Thứ hai, lấy việc kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy làm trọng tâm và là ưu tiên hàng đầu. Bởi lẽ, người đứng đầu cấp ủy được tổ chức đảng trao cho những quyền lực quan trọng và chịu trách nhiệm chính trị trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Ở một số nơi, thực hiện chủ trương “nhất thể hóa”, người đứng đầu cấp ủy cũng thường là người đứng đầu chính quyền của các cơ quan, ban, ngành; do vậy, quyền lực chính trị mà họ được giao phó lại càng lớn và tập trung. Điều này đặt ra yêu cầu đối với các cấp ủy, cơ quan kiểm tra, giám sát trong các tổ chức đảng và trong hệ thống chính trị là phải đề cao công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, lấy người đứng đầu cấp ủy làm trọng tâm kiểm tra, giám sát thường xuyên, chặt chẽ..., để người đứng đầu cấp ủy nhận thức rõ trách nhiệm trong quá trình sử dụng quyền lực, sát sao chỉ đạo, điều hành hoạt động của cơ quan, đơn vị, không dám và không có điều kiện quan liêu hoặc có hành vi tham nhũng, tiêu cực, lạm quyền, lộng quyền... Thông qua công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy, cần phát hiện những hạn chế, bất cập, kịp thời yêu cầu sửa chữa những lệch lạc, vi phạm; khuyến khích đổi mới, phát triển. Cần tập trung đi sâu tìm hiểu tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ và tính kỷ luật trong cơ quan, đơn vị của người đứng đầu cấp ủy được kiểm tra, giám sát; tìm hiểu sâu những vấn đề quan trọng được phản ánh về hoạt động của cơ quan, đơn vị đó. Báo cáo kiểm tra, giám sát cần thể hiện rõ kết quả hoạt động của người đứng đầu cấp ủy với tư cách là người chịu trách nhiệm cao nhất và tính chính trực, tự giác của họ; đồng thời, đưa ra các ý kiến rõ ràng và các yêu cầu cụ thể để chấn chỉnh những hạn chế, bất cập trong hoạt động của họ.

Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng từ trên xuống; cấp ủy cấp trên phải làm tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát người đứng đầu và cấp ủy cấp dưới. Các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, bí thư cấp ủy các bộ, ban, ngành trung ương và tỉnh, thành phố cần quán triệt việc xây dựng nền nếp, tác phong, lề lối làm việc trong tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước; kiểm tra, giám sát, đôn đốc đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp dưới; thực hiện trách nhiệm lãnh đạo toàn diện, nghiêm minh, trung thực, tự giác đối với người đứng đầu và cấp ủy cấp dưới; kịp thời giáo dục, nhắc nhở cán bộ lãnh đạo cấp dưới khi phát hiện có vấn đề cần phải chấn chỉnh. 

Ủy ban Kiểm tra Trung ương tăng cường giám sát các tỉnh ủy, thành ủy, tập thể cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy ở các cơ quan, đơn vị trực thuộc do Trung ương quản lý; đôn đốc các tỉnh ủy, thành ủy tăng cường quản lý đối với người đứng đầu cấp ủy cấp dưới. Người “tổng tư lệnh” ở cấp trên cần kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của “chỉ huy” ở cấp dưới (trước hết là cấp dưới trực tiếp) như là nội dung trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát hằng năm, hằng quý, hằng tháng, thậm chí hằng ngày; lấy kết quả kiểm tra, giám sát này làm căn cứ để tiến hành rà soát, sàng lọc cán bộ. Khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm, chệch hướng, cần kịp thời tiến hành phê bình, giáo dục, nhắc nhở đối với những người có khuyết điểm hoặc vi phạm mức độ nhẹ và xử lý kỷ luật nghiêm minh đối với những người có vi phạm nghiêm trọng.

Thứ tư, thực hiện nghiêm túc chế độ lãnh đạo toàn diện và chặt chẽ của tổ chức đảng gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy. Cấp ủy các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát toàn diện và nghiêm minh việc thực hiện chế độ trách nhiệm của đảng viên; trao đổi, nhắc nhở kịp thời các trường hợp người đứng đầu cấp ủy chưa thực hiện đúng trách nhiệm hoặc có những vấn đề nổi cộm. Ủy ban kiểm tra các cấp cần giám sát trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị; thường xuyên tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát, góp ý, chấn chỉnh những lệch lạc, vi phạm. Cải thiện và thực hiện việc quản trị tổng thể và chặt chẽ hệ thống đánh giá trách nhiệm đảng viên, cấp ủy viên; kết quả đánh giá là cơ sở quan trọng cho việc lựa chọn, bổ nhiệm cấp ủy, người đứng đầu và thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật, cũng như rà soát, sàng lọc đảng viên. Những trường hợp không hoàn thành trách nhiệm hoặc cố tình làm trái, có biểu hiện vi phạm thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của Đảng; cấp ủy và người đứng đầu tổ chức đảng có đảng viên vi phạm cũng có trách nhiệm liên đới, cần xem xét mức độ xử lý phù hợp, nhằm giữ vững kỷ luật, kỷ cương và sự nghiêm minh trong Đảng.

Thứ năm, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ và hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát. Cấp ủy (trước hết là ban thường vụ cấp ủy), ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy cấp dưới trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, không để xảy ra hiện tượng độc đoán, chuyên quyền. Ủy ban Kiểm tra Trung ương tập trung kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của các tỉnh ủy, thành ủy, cấp ủy trực thuộc Trung ương. Ủy ban kiểm tra các cấp yêu cầu kiểm điểm kịp thời, nghiêm túc khắc phục các hậu quả khi phát hiện người đứng đầu cấp ủy cấp dưới có hành vi vi phạm quy định của Đảng; báo cáo thường trực cấp ủy cấp mình và ủy ban kiểm tra cấp trên nếu việc kiểm điểm, khắc phục đó không hiệu quả.

Thứ sáu, kịp thời nắm bắt thông tin phản hồi về người đứng đầu cấp ủy cấp dưới; xây dựng và thực hiện trách nhiệm giải trình đối với họ. Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên đối với người đứng đầu cấp ủy cấp dưới (trước hết là cấp ủy cấp dưới trực tiếp); đồng thời, phổ biến, quán triệt sâu sắc về chức năng, nhiệm vụ, phong cách công tác cho người đứng đầu cấp ủy cấp dưới. Triển khai có hiệu quả hệ thống thông tin giữa người đứng đầu ủy ban kiểm tra, ban tổ chức cấp trên với người đứng đầu cấp ủy cấp dưới để thông báo những vấn đề chung, những hành vi vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng và vi phạm pháp luật trong phạm vi trách nhiệm. Thực hiện kiểm điểm tại cuộc họp mở rộng của ban thường vụ đảng ủy (hoặc ban cán sự đảng, đảng đoàn) và báo cáo giải trình về công việc này cần được thông báo công khai trong một phạm vi nhất định.

Các giải pháp chủ yếu tăng cường công tác kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy

Thứ nhất, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong cấp ủy

Một là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và nghiêm túc thực hiện tự phê bình và phê bình trong cấp ủy. Cấp ủy viên, người đứng đầu cấp ủy phải chấp hành nghiêm túc Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng; nếu phát hiện có cán bộ, đảng viên vi phạm thì phải xem xét, xử lý kịp thời. Người đứng đầu cấp ủy thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý, giáo dục cấp ủy viên; gương mẫu trong tự phê bình và phê bình. Các cấp ủy viên cần thường xuyên trao đổi ý kiến; nếu phát hiện ra những vấn đề bất cập trong tổ chức đảng, cần trao đổi thẳng thắn, tham mưu, đề xuất hướng giải quyết theo tinh thần xây dựng. Tập thể cấp ủy cần giải trình trung thực về những vấn đề cá nhân, cũng như những vấn đề mà quần chúng nêu ra, thực hiện phản hồi thông tin, kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất.

Hai là, phát huy vai trò kiểm tra, giám sát của đội ngũ cấp ủy viên, đồng thời nâng cao khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề của cấp ủy. Cấp ủy cần thực hiện đầy đủ trách nhiệm lãnh đạo xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng và hoàn thiện các quy định liên quan. Các thành viên trong cấp ủy, tập thể cấp ủy cần có tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy với công việc; nhắc nhở, giám sát lẫn nhau, thực hiện nhiệm vụ củng cố, nâng cao vai trò lãnh đạo, sức chiến đấu của cấp ủy; nếu có thành viên trong tập thể cấp ủy vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật thì phải báo cáo kịp thời, trung thực với tổ chức đảng có thẩm quyền.

Ba là, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong hoạt động của cấp ủy, phân bổ quyền lực hợp lý, khoa học. Kiên quyết ngăn chặn những vi phạm trong nguyên tắc hoạt động của cấp ủy, không để cấp ủy viên biến công việc, lĩnh vực mà mình được phân công phụ trách thành “lãnh địa riêng”, không chịu sự lãnh đạo và kiểm tra, giám sát của tập thể cấp ủy. Xây dựng và hoàn thiện quy chế làm việc của tập thể cấp ủy theo quy định. Theo đó, những vấn đề quan trọng phải được đưa ra cấp ủy thảo luận, cấp ủy viên cần phát biểu đầy đủ ý kiến của mình; những vấn đề cần biểu quyết, nhưng còn có ý kiến khác nhau, thì phải trao đổi, thảo luận kỹ trước khi tiến hành biểu quyết.

Bốn là, cấp ủy xây dựng và thực hiện kế hoạch hoạt động hằng năm, hằng quý và hằng tháng; quản lý, chỉ đạo sát sao các tổ chức đảng. Người đứng đầu cấp ủy thường xuyên lắng nghe báo cáo về việc thực hiện trách nhiệm của các cấp ủy viên và cần trao đổi, có ý kiến kịp thời nếu thấy cấp ủy viên thực hiện trách nhiệm chưa đầy đủ; đồng thời, phải lắng nghe ý kiến của quần chúng, nghiêm túc tiếp thu ý kiến tự phê bình và phê bình của cấp ủy viên và đảng viên trong tổ chức đảng; đôn đốc các đảng viên trong tổ chức đảng thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh.

Cán bộ, đảng viên là đồng bào dân tộc thiểu số Pa Dí ở huyện biên giới Mường Khương, tỉnh Lào Cai xuống tận thôn, bản tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về phát triển kinh tế cho đồng bào dân tộc thiểu số_Ảnh: TTXVN

Năm là, cấp ủy thực hiện nghiêm túc chế độ ghi chép, lưu trữ tài liệu để bảo đảm tính hệ thống, chính xác của hồ sơ lưu trữ, không được can thiệp bất hợp pháp vào công tác cán bộ. Nếu cấp ủy viên can thiệp vào công tác cán bộ hoặc có quyết định vi phạm quy chế, vi phạm pháp luật, thiếu công tâm,... trong xây dựng đề án, thì cấp ủy phải báo cáo kịp thời với tổ chức đảng. Đồng thời, cấp ủy, tập thể lãnh đạo, cán bộ lãnh đạo cần kiên quyết chống lại mọi sự thao túng (nhất là thao túng trong công tác cán bộ) từ người thân, bạn bè... của cán bộ lãnh đạo và báo cáo kịp thời với tổ chức đảng.

Thứ hai, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên đối với người đứng đầu và cấp ủy cấp dưới

Một là, thực hiện trách nhiệm kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng cấp trên đối với tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp dưới trực tiếp. Cấp ủy cấp trên phải tổ chức lãnh đạo có hiệu quả các nhiệm vụ trong lĩnh vực được giao, đồng thời sử dụng toàn diện các phương pháp, biện pháp, như kiểm tra, giám sát, thảo luận, tiếp thu kiến nghị, báo cáo, đôn đốc, chấn chỉnh các vấn đề để tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy cấp dưới, đặc biệt là người đứng đầu cấp ủy cấp dưới.

Hai là, cấp ủy cấp trên tăng cường kiểm soát quyền lực đối với cấp ủy cấp dưới, nhất là đối với người đứng đầu cấp ủy; thúc đẩy quy chuẩn hóa công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng. Cấp ủy phải sử dụng có hiệu quả hệ thống kiểm soát quyền lực, hệ thống quản trị công việc và hệ thống quản lý con người; chú trọng xây dựng và cải tiến hệ thống quản lý, kiểm tra, giám sát người đứng đầu cấp ủy sao cho thật chặt chẽ, hiệu quả. 

 Ba là, cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy cần gương mẫu trong việc thực hiện các quy định của Đảng và Nhà nước khi vợ, chồng, con cái, người thân làm kinh tế, điều hành doanh nghiệp; không được lợi dụng quyền lực để trục lợi hoặc xây dựng “nhóm lợi ích”, vun vén cá nhân; quản lý chặt chẽ và thường xuyên nhắc nhở người thân, không để họ lợi dụng quyền lực của mình để trục lợi. Cấp ủy và cơ quan kiểm tra các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát các mối quan hệ của cán bộ lãnh đạo, nhất là người đứng đầu cấp ủy, với các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và xử lý kịp thời các đơn, thư tố cáo về những sai phạm trong các mối quan hệ này theo quy định pháp luật và kỷ luật đảng.

Bốn là, cấp ủy cấp trên tăng cường hướng dẫn cấp ủy cấp dưới tổ chức sinh hoạt đảng theo nguyên tắc tập trung dân chủ; nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng, thống nhất xác định hoặc thông qua chủ đề cuộc họp sinh hoạt đảng của tập thể cấp ủy cấp dưới; cấp ủy viên cấp trên được phân công định kỳ tham gia sinh hoạt đảng với tập thể cấp ủy cấp dưới theo quy định. Ủy ban kiểm tra và ban tổ chức cấp ủy cấp trên tiến hành kiểm tra, giám sát, hướng dẫn cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy cấp dưới thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình và các quy định về hoạt động của tổ chức đảng; chỉ rõ và đôn đốc cấp ủy cấp dưới kịp thời khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm; đồng thời, sớm giải quyết các vướng mắc, kiến nghị của cấp ủy cấp dưới.

Năm là, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác cán bộ và thực hiện rà soát, đánh giá, sàng lọc cán bộ. Cấp ủy cấp trên cần tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình tuyển dụng, lựa chọn, đào tạo, đánh giá, luân chuyển, bổ nhiệm cán bộ, tăng cường kiểm soát cấp ủy viên cấp dưới, nhất là đối với các ứng viên do người đứng đầu cấp dưới bổ nhiệm; phân tích, đánh giá, tham mưu và đề xuất ý kiến liên quan tới công tác kiểm tra, giám sát công tác cán bộ. Cần thực hiện tốt tiêu chuẩn, vị trí việc làm, các quy trình kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên. Các cơ quan kiểm tra, giám sát cần chủ động cập nhật hồ sơ cán bộ cấp ủy, chính quyền; đồng thời, có ý kiến, kết luận kịp thời về tư cách đảng viên và tiêu chuẩn cấp ủy viên các cấp theo quy định; tham gia đánh giá, xếp loại tập thể cấp ủy và cấp ủy viên một cách toàn diện, công tâm, khách quan, kết hợp với những kết luận trong các cuộc kiểm tra, giám sát để làm căn cứ rà soát, đánh giá và sàng lọc cán bộ.

Sáu là, thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình đơn, thư khiếu nại, tố cáo, nhắc nhở kịp thời đối với cán bộ, đảng viên, cấp ủy viên, người đứng đầu cấp ủy cấp dưới có nhiều đơn, thư khiếu nại, tố cáo. Cấp ủy cấp trên phải lắng nghe ý kiến của cấp ủy cấp dưới và cán bộ, đảng viên, quần chúng, nghiêm túc tiếp thu ý kiến tự phê bình và phê bình. Cơ quan kiểm tra, bộ phận tổ chức - cán bộ cần thường xuyên phân tích, đánh giá tình hình, đề xuất các ý kiến xử lý đối với những vấn đề phát sinh, nổi cộm liên quan đến người đứng đầu và cấp ủy cấp dưới.

Bảy là, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc khắc phục những hạn chế, bất cập; đôn đốc thực hiện các kết luận kiểm tra; xử lý nghiêm các vi phạm kỷ luật đảng và vi phạm pháp luật nghiêm trọng. Hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. 

Thứ ba, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác kiểm tra, giám sát

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đối với công tác kiểm tra, giám sát, hoàn thiện các quy định về công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng. Cấp ủy các cấp phải thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về kiểm tra, giám sát; tập trung kiểm tra, giám sát tổ chức đảng, người đứng đầu, cán bộ chủ chốt ở những nơi, lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm, nơi có nhiều vấn đề bức xúc, nổi cộm, dư luận xã hội quan tâm; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo chức năng, phạm vi nhiệm vụ của mình; chú trọng giám sát thường xuyên đối với tổ chức đảng cấp dưới và sự giám sát của đảng viên.

Hai là, cấp ủy các cấp phát huy cao độ vai trò của công tác kiểm tra, giám sát trong nội bộ Đảng, phối hợp chặt chẽ hoạt động của các cơ quan kiểm tra, thanh tra, tư pháp; giữa hoạt động giám sát của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp; giữa các hoạt động giám sát, như giám sát dân chủ, giám sát hành chính, giám sát tư pháp, giám sát kiểm toán, giám sát tài chính - kế toán, giám sát thống kê, giám sát quần chúng và giám sát dư luận... Tăng cường tích hợp các nguồn thông tin, sử dụng có hiệu quả dữ liệu lớn của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phục vụ công tác kiểm tra, giám sát; thiết lập và hoàn thiện cơ chế tham vấn, nghiên cứu, nhận định, đánh giá các vấn đề kiểm tra, giám sát, vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật và thường xuyên nghe các báo cáo công tác liên quan để thực hiện phối hợp có hiệu quả các loại hình kiểm tra, giám sát.

Ba là, phát huy hơn nữa vai trò của ủy ban kiểm tra các cấp để nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. Ủy ban kiểm tra các cấp phải tăng cường kiểm tra, giám sát, đôn đốc người đứng đầu cấp ủy, tập thể cấp ủy, lãnh đạo các cấp trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, quy chế, kết luận, hướng dẫn của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Sử dụng có hiệu quả các phương thức kiểm tra, giám sát nhằm tăng cường tính kỷ cương, kỷ luật và pháp luật nghiêm minh, kiên quyết xử lý những hành vi lạm quyền, lộng quyền, sử dụng quyền lực để trục lợi, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; nghiêm khắc xử lý hành vi lơ là, thiếu trách nhiệm... Tăng cường sự chỉ đạo đối với ủy ban kiểm tra cấp dưới, tổ chức tập huấn nghiệp vụ và hỗ trợ tích cực ủy ban kiểm tra cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát. Tăng cường xây dựng kỷ luật của chính các cơ quan kiểm tra, hoàn thiện cơ chế kiểm soát nội bộ; đồng thời, thực hiện có hiệu quả việc kiểm soát quyền lực./.

Học tập phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 TCCS - Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng ngời về tư chất, năng lực và phong cách lãnh đạo. Học tập phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của Người, đặc biệt là trong việc xây dựng, rèn luyện phong cách lãnh đạo của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu có ý nghĩa rất quan trọng trong tình hình hiện nay.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tát nước chống hạn với bà con nông dân ở cánh đồng Quai Chảo, xã Đại Thanh, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông, tháng 1-1958_Nguồn: hochiminh.vn

Sự cần thiết của lãnh đạo bằng nêu gương theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Nêu gương là việc thực hành để những giá trị của đạo đức và tài năng của người lãnh đạo được lan tỏa, truyền cảm hứng; qua đó, dẫn dắt, thúc đẩy mọi hành động của cấp dưới và người dân. Sự nêu gương của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị là mệnh lệnh không lời để thuyết phục cấp dưới noi theo. Sự yếu kém về nhân cách và phong cách lãnh đạo của người đứng đầu sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy xấu cho hoạt động của cơ quan, đơn vị. Vì vậy, phát huy trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo trong các tổ chức của hệ thống chính trị có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam.

Lãnh đạo bằng nêu gương là phương thức lãnh đạo khoa học, trí tuệ và nhân văn để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh mong mỏi. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu”(1).

Phong cách Hồ Chí Minh dù là phong cách của vị lãnh tụ tối cao, nhưng cực kỳ gần gũi - “cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không gây choáng ngợp, gặp lần đầu mà như thân thuộc từ lâu”(2) - mang đậm dấu ấn riêng. Cả cuộc đời Người là sự mẫu mực về phong cách làm việc, phong cách lãnh đạo dân chủ, khoa học, có kiểm tra, kiểm soát cụ thể, thường xuyên; về tác phong luôn gần dân, tin dân, trọng dân; ứng xử tinh tế trong thực hành đoàn kết, dựa vào nhân dân để thực hiện thành công mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng; về tu dưỡng, rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, trung thành với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.

Sau khi giành được chính quyền, với tư cách “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(3), Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: “các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng”(4); theo đó, “Một đảng viên ở địa vị càng cao, thì càng phải giữ đúng kỷ luật của Đảng, càng phải làm gương dân chủ”(5), “Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”(6).

Hiện nay, sự gương mẫu của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu giữ vai trò cực kỳ quan trọng, góp phần vào cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân - kẻ thù của đạo đức cách mạng, chống những nguy cơ suy thoái của cán bộ, đảng viên, nguy cơ đánh mất vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Trong công cuộc đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về nêu gương trong tình hình mới, thì vấn đề thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo luôn được Đảng ta chú trọng, ban hành các quy định cụ thể(7). Các quy định, kết luận này đã kịp thời đáp ứng yêu cầu bức thiết của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và tạo hiệu ứng tích cực. Bước đầu, việc thực hiện các quy định đã tạo chuyển biến tích cực, góp phần siết chặt kỷ luật, kỷ cương; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức rõ hơn về trách nhiệm nêu gương; góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, tiêu cực. “Việc thực hiện trách nhiệm nêu gương và chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên có chuyển biến tích cực, nhất là vai trò tiền phong, gương mẫu của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương(8).

Tuy nhiên, Đảng ta cũng chỉ rõ, “Việc tu dưỡng, rèn luyện, làm theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhất là trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu chưa thường xuyên; một số cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm các quy định của Đảng, vi phạm pháp luật”(9). “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”(10). Trong bài phát biểu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 18-5-2021, của Bộ Chính trị, “Về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng chỉ rõ: “Việc cam kết tu dưỡng, rèn luyện, gắn với thực hiện trách nhiệm nêu gương của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiệu quả chưa cao”(11). Tổng kết công tác xây dựng Đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, cho thấy: Cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 2.209 cán bộ, đảng viên có liên quan đến tham nhũng; trong đó có 113 cán bộ diện Trung ương quản lý cả đương chức và đã nghỉ hưu(12). Các cán bộ bị kỷ luật đều có hành vi vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, các quy định của Đảng, Nhà nước và công tác cán bộ; vi phạm trong ban hành chủ trương, nghị quyết về đầu tư, góp vốn, chỉ định thầu, cổ phần hóa; thiếu trách nhiệm trong kiểm tra, giám sát; tham nhũng, “lợi ích nhóm”; vụ lợi, ưu ái vun vén cho gia đình, người thân; không trung thực trong kê khai tài sản, thu nhập, sử dụng bằng cấp không đúng quy định.

Điều đáng lưu ý là, ở một số địa phương, người đứng đầu chưa nghiêm túc thực hiện công tác tiếp công dân, giải quyết đơn, thư khiếu nại, tố cáo; không có chính kiến, quan điểm rõ ràng trước những vấn đề mới, khó, phức tạp, nhạy cảm; chưa tận tâm, tận lực, nhiệt huyết trong công việc; còn tình trạng mất đoàn kết nội bộ, nảy sinh mâu thuẫn cá nhân, ganh ghét, đố kỵ, so bì thiệt hơn,... Đặc biệt là, trong công cuộc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, khi cả nước chung tay, gồng mình “chống dịch như chống giặc” thì vẫn còn một số cán bộ đứng đầu sở, ngành ở một số địa phương, bộ, ngành trung ương có hành vi xấu (không thực hiện nghiêm việc giãn cách xã hội, vi phạm trong đấu thầu mua trang, thiết bị y tế, kit xét nghiệm,...), bị kỷ luật, tạo dư luận tiêu cực trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, làm giảm uy tín tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị nơi sinh hoạt, công tác; gây hậu quả nghiêm trọng, thiệt hại lớn về tài sản của Nhà nước, gây bức xúc trong xã hội, làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.

Rõ ràng, sự lãnh đạo bằng nêu gương đang bị thách thức và cuộc đấu tranh chống sự “thiếu gương mẫu”, “nêu gương xấu” của một bộ phận cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, thử thách, đòi hỏi cần phải được giải quyết một cách quyết liệt, triệt để, rõ ràng, minh bạch. Vì vậy, cần phải tăng cường phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo, nhất là người đứng đầu trong các tổ chức của hệ thống chính trị; qua đó, góp phần củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm hỏi công nhân làng nghề sản xuất gỗ truyền thống Gò Công, xã Tân Trung, thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang_Ảnh: TTXVN

Xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, người lãnh đạo theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh

Hiện nay, trước yêu cầu mới, việc noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng, cho cách mạng. Đó là điều chủ chốt nhất. Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ luật của Đảng, thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng. Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích riêng của cá nhân mình. Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân. Vì Đảng, vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc”(13). Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh chính là sự kế thừa truyền thống quý báu của Đảng ta về nêu gương để lãnh đạo cách mạng, lãnh đạo nhân dân, nhất là trong công cuộc đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh hiện nay. Việc xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương theo tư tưởng của Người có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, góp phần truyền cảm hứng, tạo dựng niềm tin và động lực để đội ngũ cán bộ, đảng viên nêu gương sáng trong phong cách, lề lối làm việc, trong ứng xử và phong cách sinh hoạt; từ đó, tạo ra sự lan tỏa và xây dựng, củng cố sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội để thực hiện thành công mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Đại hội XIII của Đảng xác định, để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh thì phải tăng cường “Xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức trong sáng, năng lực nổi bật, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung, có uy tín cao và thực sự tiên phong, gương mẫu, là hạt nhân đoàn kết”(14). Đặc biệt, để xây dựng phong cách lãnh đạo bằng nêu gương theo chỉ dẫn của Chủ tịch
Hồ Chí Minh, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhấtnâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về vai trò tiên phong, gương mẫu của người lãnh đạo.

Trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Vì Đảng ta không phải trên trời sa xuống, mà từ trong xã hội sinh ra”, nên “chẳng những phải ra sức rèn luyện và tu dưỡng, trong lúc gian khổ khó khăn, trong lúc thất bại, mà còn và càng phải rèn luyện và tu dưỡng trong lúc thuận lợi, trong lúc thành công”(15). Một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu đó là phải nâng cao nhận thức trên cơ sở khoa học về tính tiên phong, gương mẫu của đảng viên, về tầm quan trọng, vị trí, vai trò và nội dung nêu gương của đảng viên trước nhân dân với tư cách là những thành viên của Đảng tiên phong - Đảng cầm quyền.

Thứ haiphát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo.

Tiếp tục nghiên cứu, chỉ đạo nghiêm túc việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của các tổ chức đảng, gắn với thực hiện Nghị quyết, Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII; các chỉ thị, quy định về nêu gương của Đảng, các quan điểm chỉ đạo và nội dung về xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được đề ra tại Đại hội XIII của Đảng. Các cấp ủy phối hợp với lãnh đạo cùng cấp tiếp tục chỉ đạo, lựa chọn các nhiệm vụ trọng tâm phù hợp với tình hình cụ thể, tập trung giải quyết và kiên quyết xử lý thỏa đáng những vấn đề nổi cộm, tồn đọng kéo dài gây bức xúc trong dư luận xã hội; đồng thời, xây dựng kế hoạch cụ thể để khắc phục những vấn đề đó; phải có thái độ kiên quyết theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng cần phải hết sức ngăn ngừa hiện tượng ấy, phải kịch liệt chống lại nó; phải tẩy những phần tử đã hủ hoá ra khỏi Đảng và cơ quan chính quyền, để giữ gìn tính trong sạch của Đảng và của chính quyền”(16). Xử lý nghiêm minh, kịp thời, không nể nang những kẻ vi phạm theo phương châm “quan phạm tội, xử nặng hơn thứ dân”, “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Pháp luật phải thẳng tay trừng trị những kẻ bất liêm, bất kỳ kẻ ấy ở địa vị nào, làm nghề nghiệp gì”(17).

Mặt khác, cần đặt vấn đề thực hiện trách nhiệm nêu gương của đảng viên là một nội dung xem xét trong công tác tổ chức và bố trí cán bộ; hoàn thiện thể chế, quy định chuẩn mực về phong cách nêu gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý từng cấp, từng ngành, từng đơn vị,... làm cơ sở cho đánh giá, giám sát, quản lý cán bộ. Tiếp tục cụ thể hóa để có thể đo lường lề lối, phong cách của từng cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành, từng đơn vị một cách phù hợp, làm cơ sở cho việc đánh giá, phân loại và giám sát cán bộ hằng năm theo Quy định số 89-QĐ/TW, ngày 4-8-2017, của Bộ Chính trị, “Về khung tiêu chuẩn chức danh, định hướng khung tiêu chí đánh giá cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp”.

Thứ bahoàn thiện mô hình đào tạo, áp dụng tiến bộ khoa học - công nghệ hướng tới xây dựng phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, chuyên nghiệp, hiện đại đối với người đứng đầu.

Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu qua hoạt động thực tiễn; đặc biệt là đào tạo thông qua luân chuyển, xử lý tình huống, qua thực hiện hành vi chuẩn mực trước nhân dân và trong công việc; qua tự rèn luyện phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, giải quyết các vấn đề lãnh đạo một cách chuyên nghiệp, hiện đại. Theo đó, rèn luyện đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý theo hướng có tinh thần tận tụy, gương mẫu, sẵn sàng chịu đựng gian khổ, hy sinh và có năng lực tìm tòi, sáng tạo trong thực thi nhiệm vụ được giao. Muốn vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người đứng đầu phải gương mẫu, không ngừng tu dưỡng, rèn luyện, học tập suốt đời, học hỏi đồng nghiệp, học từ thực tiễn công việc theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Cán bộ Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh giúp đồng bào phát rẫy ở xã Húc Động, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh_Nguồn: baovephapluat.vn

Thứ tư, tăng cường công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của người lãnh đạo.

Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chủ động tham gia giám sát việc thực hiện trách nhiệm nêu gương đối với đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu, nhất là về lập trường tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tham mưu, góp ý với Đảng về những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, đảng viên nâng cao và ngày càng hoàn thiện phẩm chất, năng lực, góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức; bảo đảm cho Đảng thật sự trong sạch, vững mạnh, xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”.

Phát huy vai trò của nhân dân đối với công tác cán bộ, tham gia giám sát phong cách lãnh đạo, quản lý của đội ngũ cán bộ, đảng viên các cấp; tăng cường vai trò của báo chí trong tổng kết, cổ vũ, nhân rộng các gương điển hình tiên tiến, phê phán phong cách quan liêu, hách dịch của một bộ phận cán bộ, đảng viên có hành vi ứng xử đi ngược lại lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, những khuyết điểm, sai lầm của cán bộ, đảng viên có thể không bị lãnh đạo, hoặc cơ quan kiểm tra phát hiện kịp thời, nhưng không thể che giấu được trước trăm nghìn “tai mắt” của nhân dân.

Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh bài học: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; thường xuyên củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị; thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng, thường xuyên đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng”(18). Từ đó, Đảng ta xác định, việc học tập phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh và vận dụng sáng tạo, phù hợp với cương vị, nhiệm vụ, phẩm chất, trí tuệ, điều kiện của người lãnh đạo sẽ góp phần làm phong phú và đem lại hiệu quả thiết thực trong việc đổi mới phương thức, phong cách lãnh đạo bằng nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên, người đứng đầu trong điều kiện hiện nay./.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân - Giá trị và định hướng vận dụng trong thực tiễn

 TCCS - Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam; trong đó, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Do đó, yêu cầu đặt ra hiện nay là cần tiếp tục vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm bà con nông dân tỉnh Bắc Kạn đang thu hoạch lúa mùa, năm 1950_Nguồn: hochiminh.vn

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân

Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng

Muốn xây dựng Đảng vững mạnh, đủ năng lực lãnh đạo cách mạng Việt Nam thì phải đặc biệt chú trọng đến việc xác định và rèn luyện đội ngũ đảng viên theo các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Chính vì vậy, trong tác phẩm “Đường Cách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tư cách của một người cách mệnh lên hàng đầu, theo đó người cách mệnh “phải giữ chủ nghĩa cho vững” và “ít lòng tham muốn về vật chất”. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhanh chóng chỉ đạo chấn chỉnh những khuyết điểm của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ giữ cương vị cao trong bộ máy chính quyền non trẻ. Trong “Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, ngày 17-10-1945, Người đã phê phán, răn đe, cảnh tỉnh một số căn bệnh của cán bộ nắm chức vụ, quyền hạn trong bộ máy chính quyền các cấp, như trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo...

Đặc biệt, tháng 10-1947, trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc”, lần đầu tiên Người dùng cụm từ “việc chỉnh đốn Đảng”, xác định 12 chuẩn mực về tư cách của đảng chân chính cách mạng, định danh, đúc kết, nhắc nhở: “Muốn cho Đảng được vững bền/ Mười hai điều đó chớ quên điều nào”(1)nêu rõ phận sự của người đảng viên và cán bộ là: “Trọng lợi ích của Đảng hơn hết... lợi ích của cá nhân nhất định phải phục tùng lợi ích của Đảng. Lợi ích của mỗi bộ phận nhất định phải phục tùng lợi ích của toàn thể. Lợi ích tạm thời nhất định phải phục tùng lợi ích lâu dài”(2); phải rèn luyện đạo đức cách mạng - nhân, nghĩa, trí, dũng, liêm. Về tự phê bình và phê bình, Người chỉ rõ: “Mục đích phê bình cốt để giúp nhau sửa chữa, giúp nhau tiến bộ. Cốt để sửa đổi cách làm việc cho tốt hơn, đúng hơn. Cốt đoàn kết và thống nhất nội bộ. Vì vậy, phê bình mình cũng như phê bình người phải ráo riết, triệt để, thật thà, không nể nang, không thêm bớt”(3). Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều thứ bệnh, như chủ nghĩa địa phương, chủ nghĩa bản vị, chủ nghĩa cá nhân, khuynh hướng tham danh vọng, tham địa vị, dìm người giỏi, bệnh hủ hóa,... Người khẳng định: “Chủ nghĩa cá nhân là như một thứ vi trùng rất độc, do nó mà sinh ra các thứ bệnh rất nguy hiểm”(4); vì vậy, Người yêu cầu trong chỉnh đốn Đảng phải kiên quyết chống lại “bệnh cá nhân”.

Tháng 5-1952, tại Lớp chỉnh huấn đầu tiên của Trung ương, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định: “Mục đích chỉnh Đảng là nâng cao tư tưởng và trình độ chính trị của đảng viên và cán bộ, làm cho đảng viên và cán bộ theo đúng quan điểm và lập trường vô sản”(5). Người nhấn mạnh: “Nhưng vì điều kiện khó khăn, mà số đông cán bộ và đảng viên chưa được huấn luyện hẳn hoi cho nên tư tưởng và trình độ chính trị còn thấp kém và lệch lạc. Điều đó tỏ rõ ra ở mỗi khuyết điểm như: không nắm vững chính sách trường kỳ kháng chiến, tự lực cánh sinh; không phân biệt rõ ràng bạn và địch, bệnh quan liêu, công thần và nạn tham ô hủ hóa khá nặng,...”(6).

Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội trên miền Bắc sau năm 1954 - một sự nghiệp cách mạng chưa có tiền lệ - Người yêu cầu phải thường xuyên xây dựng, chỉnh đốn Đảng vững mạnh toàn diện. Trước lúc đi xa, trong Di chúc thiêng liêng, Người căn dặn: “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”(7). Năm 1961, Đảng ta mở cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân(8), mục đích là xây dựng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân lao động tinh thần làm chủ, tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, hiểu rõ nhiệm vụ sản xuất và tiết kiệm trong giai đoạn mới; phê phán chủ nghĩa cá nhân, tham ô, lãng phí, tác phong quan liêu, mệnh lệnh, bảo thủ, rụt rè. Sau đó, Bộ Chính trị tiếp tục có Chỉ thị “Về cuộc vận động chỉnh huấn mùa Xuân năm 1965”(9), nhằm làm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và đoàn viên, thanh niên lao động, trên cơ sở nhận thức rõ tình hình, nhiệm vụ và yêu cầu của cách mạng, để nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, phê phán những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân.

Trong Di chúc, Người cũng đề ra những yêu cầu cơ bản về đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, xuất phát từ bản chất cách mạng của Đảng, từ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(10).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin hình thành nên tư tưởng độc đáo về dân vận, chú trọng phát huy vai trò của quần chúng nhân dân trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng. Dân là gốc của nước, là cơ sở của mọi thắng lợi, là lực lượng tạo ra mọi của cải vật chất, tinh thần. Người cho rằng: “Nước lấy dân làm gốc”; “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”(11). Theo Người, biểu hiện của dân là gốc là phải tin ở nhân dân, gần gũi với nhân dân, kính trọng nhân dân và biết dựa vào nhân dân, phải nhận thức rõ, dân chúng rất khôn khéo, rất hăng hái, rất anh hùng. Vì vậy, chúng ta phải học dân chúng, phải hỏi dân chúng, phải hiểu dân chúng; “có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra”(12). Người tâm đắc với câu nói dân gian: “Dễ mười lần không dân cũng chịu/ Khó trăm lần dân liệu cũng xong”(13). Không chỉ nhận thức rõ vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân, mà Chủ tịch Hồ Chí Minh còn chỉ rõ, sức mạnh của nhân dân chỉ được phát huy đầy đủ khi có một đảng cách mạng lãnh đạo; Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân. Trong xã hội không có gì tốt đẹp, vẻ vang bằng phục vụ cho lợi ích của nhân dân”(14). Khi sức dân được huy động, được tổ chức, được tập hợp dưới sự lãnh đạo của Đảng thì trở thành sức mạnh vô địch.

Trong tác phẩm “Dân vận” đăng trên báo Sự thật, số 120, ngày 15-10-1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh một lần nữa nhấn mạnh về bản chất dân chủ của chế độ, về nguyên tắc hoạt động của chính quyền cách mạng - tiền thân của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Người khẳng định: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra. Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(15). Người đặc biệt nhấn mạnh đế#n trọ#ng trá#ch lịch sử của Đả#ng, tí#nh tiề#n phong gương mẫ#u và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đả#ng viên trước Đảng, trước nhân dân. Bởi như Người từng chứng kiến, dự báo, nhắc nhở: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16).

Chê độ dân chủ của nước ta được xác lập ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công. Các quy định của Hiến pháp Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên năm 1946 do Người chỉ đạo về bầu cử tự do, phổ thông đầu phiếu(17), về quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân đã thể hiện rất rõ nét tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, coi nhân dân là người chủ thực sự của đất nước; đặc biệt là, rất chú trọng đến quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân. Kế thừa và phát huy tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ, phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân, qua mỗi kỳ đại hội của Đảng, vấn đề dân chủ ngày càng được nhận thức, phát triển và hoàn thiện hơn, phù hợp với điều kiện thực tiễn của đất nước trong tình hình mới.

Thực tiễn xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời gian qua

Hơn 92 năm qua, Đảng ta đã xác lập, củng cố và ngày càng nâng cao vai trò lãnh đạo, sức mạnh và uy tín của mình bằng đường lối đúng đắn mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho nhân dân, cho đất nước; bằng mối liên hệ mật thiết với nhân dân, được nhân dân hết lòng tin yêu, ủng hộ và bảo vệ. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng có vai trò đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ, luôn được Đảng ta xác định là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên, liên tục, xuyên suốt các thời kỳ cách mạng.

Từ khi bước vào công cuộc đổi mới, Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, như Hội nghị Trung ương 3 khóa VII năm 1992, về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng; Hội nghị Trung ương 6 lần 2 khóa VIII năm 1999, về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay,... Chỉ tính riêng trong 10 năm gần đây, ngay từ đầu mỗi nhiệm kỳ, qua các Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII, Đảng đều ban hành các nghị quyết, kết luận, quy định hết sức quan trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; lần sau sâu sắc, toàn diện và cụ thể, rõ ràng hơn so với lần trước(18); đặc biệt là, việc thành lập, bổ sung, hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, đã tạo sự chuyển biến tích cực, rõ nét trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, được nhân dân đồng tình, ủng hộ, góp phần rất quan trọng vào việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh và hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả của đất nước.

Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”(19). Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là tiền đề quan trọng chi phối tính chất, mục tiêu, nhiệm vụ, hiệu quả xây dựng hệ thống chính trị; đồng thời, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động các cơ quan, tổ chức của hệ thống chính trị là minh chứng khẳng định năng lực, uy tín, vai trò lãnh đạo, vị thế của Đảng ta với tư cách là đảng cầm quyền. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng thể hiện qua việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trước yêu cầu mới, Đại hội XIII của Đảng đã phát triển thành tố “Tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh” của Đại hội XII thành “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với cử tri các thôn: Lô Lô Chải, Séo Lủng, xã Lũng Cú, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang_Ảnh: TTXVN

Chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là chủ trương xuyên suốt, nhất quán của Đảng ta ngay từ khi mới thành lập, được nhấn mạnh và cụ thể hóa hơn nữa trong bối cảnh hiện nay. Trong các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của Kết luận Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã nhấn mạnh: “Phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội; thực sự dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”(20)theo đó, việc phát huy thực chất quyền làm chủ của nhân dân, nhằm tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tích cực, chủ động tham gia công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị là yêu cầu khách quan; thể hiện và bảo đảm rõ nét bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Nhận thức rõ điều đó, Đảng ta luôn quán triệt, nhấn mạnh chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng; coi đó là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Hiện nay, quan điểm của Đảng ta là gắn xây dựng, chỉnh đốn Đảng với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị; dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng cũng là dựa vào nhân dân để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; qua đó, góp phần thực hiện tốt và có hiệu quả cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ”.

Như vậy, nội dung của Văn kiện Đại hội XIII và Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII của Đảng, với chủ trương dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng được thể hiện cụ thể, rõ ràng hơn ở hai khía cạnh cơ bản sau:         

Thứ nhất, Đảng dựa vào nhân dân, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, nhân dân trực tiếp phản ánh, góp ý với cấp ủy về công tác cán bộ, chủ trương, đường lối của Đảng. Nhân dân có quyền đóng góp ý kiến, kiến nghị đối với tổ chức đảng và chính quyền, khi phát hiện những yếu kém, khuyết điểm của tổ chức và cá nhân cán bộ, đảng viên, nhất là phát hiện những hành vi tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”; đồng thời, nhân dân tích cực tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động đối thoại, cán bộ lãnh đạo tiếp công dân, tiếp nhận và kịp thời xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo, nhất là những vấn đề liên quan đến đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đặc biệt, các tổ tự quản của nhân dân ở cơ sở, hoạt động của ban thanh tra nhân dân, các tổ giám sát đầu tư cộng đồng cũng là những hình thức quan trọng để nhân dân có thể tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

Thứ hai, ngoài việc tham gia trực tiếp, nhân dân cũng gián tiếp tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các đại biểu do nhân dân bầu, thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, thông qua hoạt động của Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp để phản ánh những tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, nhằm tháo gỡ về mặt cơ chế, chính sách, pháp luật; bàn bạc, thảo luận công khai và có biện pháp xử lý phù hợp; qua đó, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội và các cơ quan dân cử được nâng lên. Thông qua hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân có thể tham gia giám sát hoạt động của cơ quan, tổ chức đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ theo đúng chức năng, quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; tham gia giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức, có quyền, những người công tác ở các lĩnh vực “nhạy cảm” dễ nảy sinh vi phạm, tiêu cực,...

Qua hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần khẳng định: “Với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”(21). Có được kết quả đó, chính là do Đảng ta đã biết kế thừa, phát huy sức mạnh của quần chúng nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cũng như trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò, sức mạnh của quần chúng nhân dân được Đảng và Nhà nước tiếp tục hoàn thiện, cụ thể hóa thông qua các cương lĩnh chính trị, nghị quyết đại hội, chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” tiếp tục được hoàn thiện, cụ thể hóa.

Các cấp ủy, chính quyền đã đẩy mạnh việc thực hiện công tác dân vận, gắn với tăng cường và mở rộng thực hành dân chủ, góp phần phát huy vai trò, tiềm năng, sức sáng tạo của nhân dân trong tham gia bàn bạc những công việc của Đảng, Nhà nước. Các hình thức góp ý với Đảng và giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng được chú trọng; công tác đối thoại, tiếp công dân, xử lý đơn, thư khiếu nại, tố cáo và những kiến nghị, nguyện vọng chính đáng, hợp pháp của nhân dân, doanh nghiệp được quan tâm, chỉ đạo thực hiện. Nhiều vụ, việc tiêu cực, các biểu hiện vi phạm đạo đức công vụ, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực do các cơ quan báo chí, mạng xã hội phát hiện, phản ánh, lên án, được các cơ quan chức năng nhanh chóng vào cuộc kiểm tra, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật. Các cuộc vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được thực hiện có hiệu quả, đặc biệt là việc lấy ý kiến của nhân dân về xây dựng Hiến pháp năm 2013, dự thảo các văn kiện đại hội đảng các cấp, dự thảo Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, đã trở thành các đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp trên cả nước.

Tuy nhiên, việc phát huy vai trò, trách nhiệm, sức mạnh của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh vẫn còn những khó khăn, hạn chế. Trong nội bộ một số cấp ủy, tổ chức đảng có những vụ, việc được nhân dân nêu lên, nhưng chưa được ngăn chặn, xử lý kịp thời hoặc giải quyết không hợp lý, thậm chí còn có hiện tượng bao che. Việc giám sát, đóng góp ý kiến của nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả chưa cao, như có đặt hòm thư góp ý ở cơ quan, đơn vị, nhưng nhận được rất ít hoặc không nhận được ý kiến đóng góp, kiến nghị của nhân dân; việc tổ chức để đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tham gia đóng góp ý kiến cho cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên có lúc còn mang tính hình thức, nhận xét góp ý chung chung hoặc chỉ ca ngợi một chiều, vì ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý”.

Việc tiếp nhận, xử lý ý kiến, kiến nghị của nhân dân ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan chính quyền còn chưa nghiêm túc, dẫn đến việc xảy ra khiếu kiện đông người, vượt cấp và kéo dài, nhất là trong lĩnh vực quản lý đất đai, đền bù giải phóng mặt bằng, thu hồi, sử dụng đất. Bên cạnh đó, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở một số nơi chưa làm tốt vai trò là chỗ dựa để nhân dân thực hiện phê bình, góp ý và giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy, tổ chức đảng chưa hình thành được nhiều diễn đàn để nhân dân góp ý thường xuyên; thiếu các quy trình, cách thức tiếp thu, xử lý thông tin, nhằm phục vụ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là một số người có chức, có quyền, làm việc ở những ngành, lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực, do thiếu tu dưỡng và rèn luyện, nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, dẫn đến bị xử lý kỷ luật của Đảng và truy tố trước pháp luật. Cơ chế kiểm soát quyền lực và chế tài xử lý vi phạm ở nhiều lĩnh vực còn hạn chế, thực hiện chưa nghiêm. Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng với nhân dân thực hiện giám sát việc tu dưỡng, rèn luyện của đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa đạt hiệu quả cao; chưa phát huy đầy đủ sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch,...

Một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh gắn với phát huy sức mạnh, quyền làm chủ của nhân dân trong tình hình mới

Một là, các cấp ủy, chính quyền và cả hệ thống chính trị tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác dân vận; về thực hành dân chủ gắn với phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng về công tác dân vận, phát huy dân chủ thành chính sách, pháp luật phù hợp với thực tiễn và đáp ứng đầy đủ lợi ích, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân. Thực hành dân chủ rộng rãi, từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ từ trong Đảng đến dân chủ ngoài xã hội được thực hiện ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực. Đặc biệt, tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Thực hiện tốt Quy chế Dân chủ ở cơ sở ở các loại hình theo Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998, của Bộ Chính trị, “Về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở” và Kết luận số 120-KL/TW, ngày 7-1-2016, của Bộ Chính trị, về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở”; nghiên cứu khả năng xây dựng, ban hành Luật về thực hành dân chủ ở cơ sở.

Củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân; tạo sự đồng thuận xã hội rộng lớn dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước. Tăng cường tiếp xúc, đối thoại, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân; chăm lo đầy đủ đời sống, lợi ích chính đáng của nhân dân; lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của người dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng hoạt động của đội ngũ cán bộ, đảng viên.

Hai là, thực hiện nghiêm túc nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách toàn diện, để Đảng ta luôn là lực lượng tiên phong trong bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân và của cả dân tộc. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường phê phán, bảo đảm kỷ luật trong Đảng và kỷ cương trong xã hội; tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết, kiên trì và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch; đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân gắn với tăng cường cải cách hành chính, giảm phiền hà cho nhân dân; quan tâm, lắng nghe, giải quyết kịp thời, có hiệu quả những bức xúc, kiến nghị, phản ánh chính đáng của nhân dân. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí, tiêu cực; làm trong sạch bộ máy của Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Kiên quyết đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời, nghiêm minh, dứt điểm các vụ, việc tham nhũng, tiêu cực, nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Quảng Đức (huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh) tuyên truyền phổ biến chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước tới nhân dân_Nguồn: baoquangninh.com.vn

Ba là, thực hành dân chủ rộng rãi, trước hết là dân chủ trong Đảng. Phát huy dân chủ được coi là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để nhân dân có thể tham gia hiệu quả trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; đồng thời, tập trung xây dựng cơ chế phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi để nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Đảng, Nhà nước ta luôn xác định “dân là gốc”, luôn tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, luôn kiên trì thực hiện đúng phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Triển khai các diễn đàn, tạo các kênh thông tin, như báo chí, hội nghị, hội thảo, tọa đàm, các trang mạng xã hội,... để thu thập ý kiến đóng góp trực tiếp của nhân dân về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là công tác cán bộ, gắn với quy chế làm việc, quy trình công tác.

Bốn là, đẩy mạnh tuyên truyền, vận động để mỗi người dân nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình trong việc tham gia góp ý xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; coi đây là nghĩa vụ, thể hiện lòng yêu nước, gắn với bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của bản thân, gia đình và xã hội. Thực hiện quy trình công khai kết quả tiếp thu, xử lý thông tin do nhân dân góp ý, cung cấp trực tiếp; coi đó là sợi dây liên kết, duy trì mối quan hệ mật thiết, không ngừng củng cố lòng tin của nhân dân với Đảng, đồng thời cũng phải thẳng thắn sàng lọc, từ chối những ý kiến góp ý thiếu tinh thần xây dựng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phản bác những luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Thực hiện triệt để và có hiệu quả chủ trương, đường lối trong Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng với phương châm thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và vai trò chủ thể của nhân dân; phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Hoàn thiện cơ chế tiếp thu góp ý trực tiếp của nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng, làm sâu đậm thêm mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, thể hiện rõ quan điểm “dân là gốc” của Đảng ta.

Năm là, tăng cường công khai, minh bạch việc dựa vào nhân dân để kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện công tác cán bộ; trong đó, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị vừa có đức, vừa có tài; bảo đảm phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và phương pháp, tác phong công tác; xứng đáng là người lãnh đạo, là đầy tớ trung thành của nhân dân, nói đi đôi với làm, “tin dân, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, dựa vào dân, có trách nhiệm với dân”. Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu. Nâng cao cảnh giác, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân trước những hiện tượng tiêu cực. Kiên quyết phê phán, đấu tranh với biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, nhũng nhiễu người dân và doanh nghiệp.

Sáu là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phải thực sự “gần dân”, “sát dân”, là cầu nối giữa nhân dân với Đảng, đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo điều kiện để nhân dân thực hiện các quyền dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Tăng cường tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng, chỉnh đốn Đảng phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong giai đoạn hiện nay./.