Thời
gian gần đây hoạt động của tội phạm lừa đảo, chiếm đoạt tài sản thông qua mạng
viễn thông, mạng intenet, mạng xã hội diễn biến phức tạp, với nhiều thủ đoạn,
hoạt động mới, tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của người dân.
Ngoài các thủ đoạn phổ biến trong thời gian qua như ; kết bạn, làm quen qua
mạng xã hội. Thời gian gần đây nổi lên một số thủ đoạn đó là; Giả
danh Công an, toà án gọi điện thông báo người dân có liên quan đến vụ án ma
tuý, rửa tiền hoặc phạt nguội, yêu cầu bị hại chuyển tiền vào tài khoản để
chiếm đoạt..
Lợi dụng
sự nhẹ dạ cả tinvà nhu cầu tìm kiếm tiền nhanh của nhiều người, giả danh nhà mạng gọi điện
thông báo số thuê bao trúng thưởng, giả danh cán bộ ngân hàng gọi điện thông
báo bị hại có người chuyển tiền vào tài khoản, lừa đảo thông qua giao dịch trên
mạng, sử dụng hình ảnh, thông tin cá nhân của của các đồng chí lãnh đạo các cơ
quan chính quyền, đoàn thể để lập tài khoản mạng xã hội, thủ đoạn
cho vay tiền qua app, lợi dụng việc mở rộng tìm kiếm nguồn hàng, đơn hàng, dự
án làm ăn qua các mạng xã hội…
Để
chủ động phòng ngừa đấu tranh với các loại tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa
đảo chiếm đoạt tài sản. Cán bộ, chiến sỹ cần nắm được
các phương thức, thủ đoạn của tội phạm, kịp thời tố giác tội phạm đến chỉ huy
các đơn vị.
Hiện nay, chúng ta đang sống trong thời đại 4.0 với nhiều sự mới mẻ
tột bậc, nhất là hệ thống công nghệ thông tin nên tội phạm sử dụng công
nghệ cao ngày càng đa dạng và tinh vi hơn. Trong thời gian vừa qua, tình
hình tội phạm sử dụng công nghệ cao có chiều hướng gia tăng, diễn biến phức
tạp và gây tâm lý bất an cho người dân. Tội phạm sử dụng công nghệ cao thực
hiện các hành vi phạm tội với mục đích trục lợi cá nhân, xâm phạm, đe dọa đến
sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị của quốc gia.
Có thể nói rằng, tội phạm công nghệ cao là tội phạm cố ý sử dụng tri thức,
kiến thức, kỹ năng, công cụ và phương tiện công nghệ thông tin tác động trái
pháp luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải
trong hệ thống mạng máy tính. Trực tiếp hoặc dán tiếp thực hiện
những hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức
và Nhà nước.Từ tình hình thực tiễn, các đối tượng thực hiện hành vi phạm
tội tập trung chủ yếu 06 phương thức sau:
Thứ nhất,các đối tượng sẽ giả danh cán bộ
Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án gọi điện cho người dân để thực hiện hành vi
lừa đảo, gây sức ép, yêu cầu khác nhau như: Phục vụ điều tra, làm người dân
hoang mang… Từ đó, phải chuyển một số tiền lớn vào một tài khoản do các đối
tượng này cung cấp.
Thứ hai, lừa đảo qua mạng xã hội, cụ thể như sau:Chiếm quyền điều khiển
tài khoản mạng xã hội của người bị hại, tiếp tục tạo ra các kịch bản nhắn tin
lừa đảo đến danh sách bạn bè của người bị hại; kết bạn qua mạng xã hội và hứa
hẹn gửi quà có giá trị... Sau đó, yêu cầu nạn nhân chuyển tiền nộp thuế hoặc lệ
phí hải quan nhằm chiếm đoạt tiền; hoặc gửi tin nhắn qua Facebook, Zalo...
thông báo trúng thưởng và đề nghị nộp phí để nhận thưởng;
Đối tượng giới thiệu là người nước ngoài kết bạn, làm quen với các phụ nữ
Việt Nam nhằm tán tỉnh, yêu đương, đề nghị chuyển quà như: Trang sức, mỹ phẩm
và số lượng lớn tiền USD qua đường hàng không về Việt Nam để làm quà tặng. Tiếp
theo, giả danh nhân viên sân bay yêu cầu nạn nhân chuyển tiền vào tài khoản
ngân hàng cho chúng để làm thủ tục nhận hàng nhằm thực hiện hành vi lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
Thứ
ba,tấn công mạng để chiếm đoạt thông tin, tài khoản, cụ thể như: Tấn công hộp
thư điện tử, thay đổi nội dung các thư điện tử, nội dung các giao dịch, hợp
đồng thương mại để chiếm đoạt tài sản; hoặc giả mạo các trang thông tin điện
tử, các dịch vụ trực tuyến để lấy cắp thông tin tài khoản của khách hàng và rút
tiền.
Thứ tư, tội phạm lừa đảo chiếm
đoạt tài sản thông qua hoạt động thương mại điện tử như: Các đối tượng mở các
trang cá nhân bán hàng online, đặt hàng, sau đó quảng cáo, rao bán các mặt
hàng, yêu cầu bị hại chuyển khoản đặt cọc. Sau khi nhận cọc hay được chuyển
khoản trước để đặt mua hàng, đối tượng không giao hàng hoặc giao hàng giả, hàng
kém chất lượng, chúng thường khóa trang mạng của mình hoặc xóa hẳn để xóa dấu
vết, bỏ số điện thoại và chiếm đoạt tài sản của bị hại.
Thứ năm, thông qua hình
thức kinh doanh đa cấp hoặc qua các sàn giao dịch ảo (sàn vàng, ngoại tệ, bất
động sản), tự lập hoặc đứng ra làm đầu mối cho sàn giao dịch nước ngoài để lôi
kéo khách hàng mở tài khoản giao dịch để chiếm đoạt tiền đầu tư.
Thứ sáu, giả mạo cán bộ ngân
hàng yêu cầu cung cấp mật khẩu, mã PIN hoặc thông tin thẻ để xử lý sự cố liên
quan đến các giao dịch ngân hàng của người dân để chiếm đoạt tài sản.
Từ đó, hoạt động
lừa đảo chiếm đoạt tài sản hiện nay có rất nhiều thủ đoạn vô cùng
tinh vi và phức tạp. Gây rất nhiều khó khăn đối với các cơ quan chức
năng trong công tác phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Nhằm phòng
tránh các phương thức lừa đảo qua không gian mạng, người dân cần phải
nâng cao ý thức cảnh giác, không tin tưởng các chiêu trò nhận thưởng
qua mạng, không nên đưa các thông tin cá nhân lên mạng xã hội… để tránh
bị các đối tượng khai thác trục lợi.
Cuộc
cách mạng Công nghệ 4.0 phát triển, Việt Nam chúng ta trong những năm gần đây
hoạt động kinh doanh online cũng phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là các giao
dịch chủ yếu được thực hiện trên mạng. Thời gian qua tình hình tội phạm công
nghệ cao để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người dân trên địa bàn có diễn biến
phức tạp nhiều người bán hàng online đến trình báo việc mình bị mất trộm số
tiền lớn trong tài khoản ngân hàng, vì vậy việc nhận diện các hoạt động sử dụng
công nghệ cao để lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đều cấp thiết.
Như
chúng ta đã biết “Tội phạm sử dụng cộng nghệ cao”: là tội phạm sử dụng tri
thức, kỹ năng, công cụ, phương tiện công nghệ ở trình độ cao tác động trái pháp
luật đến thông tin, dữ liệu, tín hiệu được lưu trữ, xử lý, truyền tải trong hệ
thống mạng máy tính, mạng viễn thông, thiết bị số, xâm phạm đến trật tự an toàn
thông tin, gây tổn hại lợi ích của Nhà nước, quyền và các lợi ích hợp pháp của
các tổ chức, cá nhân.
Hiện
nay, việc mua sắm online đã trở thành thói quen chi tiêu mà không cần dùng đến
tiền mặt khi sở hữu trong tay một đến vài loại thẻ như thẻ tín dụng, ATM, thẻ
ghi nợ…giúp người tiêu dùng mua sắm, sử dụng các dịch vụ một cách nhanh chóng,
tiện lợi và dễ dàng. Nếu trước đây chúng ta thường mất thời gian đi mua hàng
hóa, thực phẩm, áo quần, đi trả tiền các dịch vụ khác như điện, nước, mạng…thì
hiện nay hoạt động mua bán, giao dịch chỉ qua những “cú lướt máy và nhấp
chuột”. Sự bùng nổ của công nghệ giúp chúng ta tiết kiệm thời gian, nhưng cũng
là điều kiện, cơ hội để tội phạm sử dụng công nghệ cao lợi dụng sơ hở nhằm lừa
đảo, chiếm đoạt tài sản. Dưới đây là một số chiêu trò mà tội phạm công nghệ cao
thường sử dụng như:
Giả
danh người mua hàng online đang ở nước ngoài, chủ động đề nghị thanh toán để
chiếm lòng tin, lấy lý do chuyển tiền qua các dịch vụ trung gian như Moneygram
hay Western Union để yêu cầu người bán truy cập vào đường link điền đầy đủ mọi
thông tin rồi chuyển tiền, sau khi truy cập có người giả danh làm nhân viên
ngân hàng gọi yêu cầu cung cấp mã OTP, mật khẩu để xác nhận thông tin. Chúng
lập ra nhiều facebook ảo có độ tin cậy cao, sử dụng sim rác và thiết kế, tạo ra
các trang website giả mạo ngân hàng, dịch vụ chuyển tiền trung gian từ nước
ngoài về Việt Nam, tạo ra nhiều tài khoản ở nhiều ngân hàng khác nhau để rút
tiền.
Qua
facebook các đối tượng dùng chiêu trò “bẫy tình” giả danh mình là Việt kiều
đang ở nước ngoài chủ động vào kết bạn làm quen, tán tỉnh người bị hại, một
thời gian rồi thông báo gửi quà, tiền có giá trị về Việt Nam. Sau đó giả danh
cán bộ hải quan, thuế gọi yêu cầu gửi tiền qua tài khoản để đóng các loại phí,
thuế để được nhận quà, tiền, từ đó chiếm đoạt tài sản.
Giả
danh cán bộ Công an, cán bộ điều tra, Tòa án, Viện kiểm sát...đang điều tra một
vụ án nghi liên quan đến người bị hại, có giấy triệu tập của tòa án, dọa sẽ bắt
tạm giam để điều tra. Yêu cầu người bị hại chuyển một số tiền vào tài khoản cá
nhân để “lo lót” khỏi bị khởi tố.
Thông
qua chiêu trò hack, chiếm đoạt facebook, zalo, mesenger…của người khác để giả
mạo chủ nhân tài khoản này vào nhắn tin trò chuyện với người thân, bàn bè sau
đó nhờ mua thẻ điện thoại, mượn tiền, kêu gọi ủng hộ từ thiện với yêu cầu
chuyển khoản; xin số tài khoản, số điện thoại để nhờ nhận hộ kinh phí được
chuyển từ nước ngoài về với yêu cầu nhập các thông tin cá nhân như họ tên, số
tài khoản, ID,…khi có đủ các thông tin chúng tiến hành đột nhập vào tài khoản
của người bị hại để rút hết tiền.
Thủ
đoạn giả danh ngân hàng, cơ quan thuế, facebook để nhắn tin thông báo trúng
thưởng với số tiền lớn, xe máy giá trị cao yêu cầu người trúng thưởng nộp các
khoản tiền thuế, phí để làm thủ tục nhận giải và yêu cầu chuyển khoản. Ngoài
ra, một số đối tượng lợi dụng việc buôn bán qua mạng để lừa đảo chiếm đoạt tài
sản như bán hàng nhái, hàng giả, hàng kém chất lượng, không rõ nguồn gốc với
giá cao…
Tuy
các thủ đoạn này là không mới nhưng với những câu chuyện mà chúng dựng lên khác
nhau, tình huống đưa ra, tinh vi, khéo léo, đúng hoàn cảnh tâm lý người bị hại,
khiến họ tin và bị sập bẫy một cách nhanh chóng.
Để
phòng ngừa và không bị sập bẫy của các đối tượng tội phạm công nghệ cao thiết
nghĩ:
Mỗi
cá nhân phải tự trang bị cho mình những kiến thức cần thiết để nhận diện các
thủ đoạn của số tội phạm công nghệ cao. Nắm rõ việc Cơ quan Công an, cơ quan
Nhà nước chỉ mời và triệu tập những người liên quan tới vụ án lên làm việc bằng
giấy mời, giấy triệu tập gửi trực tiếp hoặc qua công an địa phương, không làm
việc qua điện thoại nếu không có sự thống nhất từ trước với người dân. Không có
cơ quan Nhà nước nào của Việt Nam yêu cầu người dân chuyển tiền của mình vào
tài khoản của người khác để điều tra, xác minh hay đóng phí dịch vụ bưu điện,
phí hải quan…Tuyệt đối không chuyển tiền, nộp tiền vào tài khoản người khác khi
chưa rõ họ là ai, nội dung,…giữ bí mật thông tin cá nhân các dịch vụ ngân hàng
của mình. Khi phát hiện hoặc nghi có dấu hiệu lừa đảo thì báo cáo ngay cho cơ
quan chức năng để có biện pháp xử lý.
Các
cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, phổ biến cho người dân, ngân
hàng biết các âm mưu, phương thức thủ đoạn mới của số tội phạm sử sụng công
nghệ cao. Tập huấn cho cán bộ nhân viên ngân hàng các dấu hiện nhận diện đối
với loại tội phạm sử dụng công nghệ cao để lừa đảo. Khi phát hiện hoặc nghi
người có sử dụng các loại giấy tờ giả, thẻ giả phải báo cho cơ quan chức năng
để phối hợp xử lý.
Các
ngân hàng chú ý hướng dẫn cho khách hàng cách sử dụng khi đăng ký mở tài khoản
Internet banking, Mobile banking…các quyền lợi và nghĩa vụ của khách hàng trong
đăng ký sử dụng, hình thức bảo mật các thông tin cá nhân của mình, tránh bị kẻ
gian lợi dụng lấy cắp. Tăng cường quản lý tại các điểm giao dịch để khi phát
hiện nghi vấn có hướng xử lý kịp thời, chú ý các điểm có lắp camera an ninh.
TCCS - Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn vừa là yêu cầu, vừa là nhiệm vụ, phương thức quan trọng để nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, tạo nguồn để Đảng xem xét kết nạp, bổ sung cho đội ngũ của mình. Đây là một trong những công việc có vai trò, ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong công tác cán bộ của Đảng.
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt gương mặt trẻ Việt Nam tiêu biểu năm 2021 nhân kỷ niệm 91 năm Ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, ngày 26-3-2022_Ảnh: TTXVN
Vị trí, tầm quan trọng của đào tạo, bồi dưỡng về chính trị gắn với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú
Bản lĩnh chính trị là sự tổng hợp biện chứng của lập trường chính trị, phẩm chất chính trị và năng lực chính trị; là điều kiện tiên quyết để bảo đảm cho mỗi cán bộ, đảng viên có định hướng chính trị đúng đắn, luôn làm chủ bản thân, làm chủ hoàn cảnh thực tiễn và kiểm soát được hành vi, thái độ của mình trong mọi tình huống, không hoang mang, dao động trước mọi diễn biến phức tạp của tình hình. Đó chính là sự vững vàng, kiên định, chủ động trong cả suy nghĩ và hành động trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống; đúng như V.I. Lê-nin từng nhấn mạnh: Chỉ giai cấp nào đi theo con đường của mình mà không do dự, không chán nản và không sa vào tuyệt vọng trong những bước ngoặt khó khăn nhất, gay go nhất và nguy hiểm nhất, thì mới có thể lãnh đạo được những quần chúng lao động và bị bóc lột. Ở đây, bản lĩnh chính trị đòi hỏi và gắn liền với sự kiên định; do đó, Đại hội XIII của Đảng khi đưa ra 5 quan điểm chỉ đạo đã nhấn mạnh quan điểm thứ nhất là: “Kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng để xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”(1).
Để đối tượng kết nạp vào Đảng có bản lĩnh chính trị vững vàng thì phải kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn. Đây là mối quan hệ biện chứng giữa sự tác động khách quan của tổ chức đảng tiến hành “đào tạo, bồi dưỡng chính trị” với sự nỗ lực chủ quan của quần chúng “rèn luyện, thử thách trong thực tiễn”. Nhưng trong mối quan hệ này, điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan không tách bạch một cách tuyệt đối, mà có tác động biện chứng qua lại, tương hỗ với nhau: Trong “đào tạo, bồi dưỡng chính trị” cần có sự chủ động, tích cực tiếp thu, nỗ lực chủ quan của bản thân quần chúng và trong “rèn luyện, thử thách trong thực tiễn” cũng cần có sự định hướng, dìu dắt, kèm cặp, kiểm tra, giám sát, đánh giá, xác nhận, động viên của tổ chức đảng.
Để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú trước khi kết nạp vào Đảng và sau khi trở thành đảng viên dự bị thì việc đào tạo, bồi dưỡng về chính trị và rèn luyện, thử thách trong thực tiễn có vai trò quan trọng ngang nhau và cả hai mặt này phải được kết hợp chặt chẽ, hiệu quả trong mối quan hệ biện chứng thống nhất, không thể tách rời nhau. Một mặt, đào tạo, bồi dưỡng về chính trị là quá trình tổ chức, giáo dục, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong Đảng và trong quần chúng nhân dân, nhất là quần chúng ưu tú, là đối tượng kết nạp vào Đảng, nhằm từng bước xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cộng sản, tạo nên ý thức, bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta...; mặt khác, việc rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, như “lửa thử vàng, gian nan thử sức”, nhằm tôi luyện quần chúng ưu tú, giúp họ trưởng thành về mọi mặt, kiểm nghiệm và có điều kiện ngày càng nâng cao bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách trong cuộc sống đầy biến động, nhiều cám dỗ. Hai mặt trong một thể thống nhất biện chứng này tác động qua lại, hỗ trợ, bổ sung cho nhau. Tiêu chí cuối cùng để đánh giá sự kết hợp hai mặt của thể thống nhất biện chứng này có chặt chẽ, hiệu quả hay không chính là việc bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú có được nâng cao lên không, có vững vàng không? Quần chúng có xứng đáng được kết nạp vào Đảng không?
“Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam...”(2). Đảng không ngừng lớn mạnh nhờ thường xuyên làm tốt công tác phát triển Đảng, chăm lo bồi dưỡng những quần chúng ưu tú trong giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, tầng lớp trí thức và trong các tầng lớp nhân dân khác để bổ sung vào đội ngũ của mình. Thời gian qua, nhằm nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, các tổ chức đảng, các cấp ủy thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, giáo dục quần chúng về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nâng cao nhận thức, hiểu biết về Đảng; đồng thời, tạo điều kiện, tạo cơ hội, giúp đỡ cho quần chúng được rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, tham gia, hoạt động trong các phong trào và trong thực tế cuộc sống. Sự kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách trong thực tiễn có ý nghĩa quyết định đối với việc nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú, làm chuyển biến nhận thức, giúp họ đủ điều kiện để kết nạp vào Đảng.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị có vai trò rất quan trọng trong công tác tư tưởng của Đảng, đặc biệt là việc truyền bá chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm xây dựng, củng cố cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về thế giới quan, phương pháp luận khoa học; có nhận thức tư tưởng đúng đắn, bản lĩnh chính trị vững vàng, tin tưởng vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, vào đường lối đổi mới; có năng lực hoạt động thực tiễn đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ phát triển đất nước.
Trong công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay, bên cạnh những thời cơ, thuận lợi, công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cũng đang đứng trước những khó khăn, thử thách mới. Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là quần chúng, hằng ngày, hằng giờ chịu sự tác động của nhiều nhân tố rất phức tạp. Không ít cán bộ, đảng viên đã phai nhạt lý tưởng cách mạng, suy thoái về tư tưởng chính trị, tha hóa về phẩm chất, đạo đức, lối sống. Chính vì vậy, việc nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ưu tú kết nạp vào Đảng và đảng viên mới nói riêng, càng trở nên cấp bách hơn bao giờ hết và được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ hàng đầu trong công tác tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay.
Học viên các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng là những quần chúng ưu tú, có quá trình phấn đấu, rèn luyện và có động cơ vào Đảng đúng đắn, tự nguyện xin vào Đảng, được chi bộ giới thiệu tham gia học tập chính trị tại lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng. Theo quy định của Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, điều kiện để được xét kết nạp vào Đảng là: “Công dân Việt Nam từ mười tám tuổi trở lên; thừa nhận và tự nguyện: thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tiêu chuẩn và nhiệm vụ đảng viên, hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng; qua thực tiễn chứng tỏ là người ưu tú, được nhân dân tín nhiệm, đều có thể được xét để kết nạp vào Đảng”(3).
Đối tượng kết nạp vào Đảng là những người hoạt động trong phong trào quần chúng, qua đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cùng với quá trình rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, ngày càng thể hiện rõ tính tích cực, hăng hái, đi đầu cả về nhận thức và hành động; là những người lao động, học tập, công tác có năng suất, chất lượng, hiệu quả cao, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sạch, có khả năng cảm hóa, giáo dục, tập hợp quần chúng, được quần chúng tin cậy và noi theo. Khi hội tụ đủ những điều kiện đó, quần chúng ưu tú sẽ được xét kết nạp vào Đảng. Bởi vì, đảng viên là “chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam”, là người lãnh đạo quần chúng; vì thế, người không được quần chúng tín nhiệm thì không thể trở thành đảng viên. Đảng chỉ kết nạp những người thực sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng cách mạng, quyết không thu nhận vào hàng ngũ của mình những người mang động cơ thiếu trong sáng, lệch lạc; càng không để cho các phần tử cơ hội lọt vào hàng ngũ của Đảng. Do đó, những người là đối tượng kết nạp vào Đảng cần được tổ chức cơ sở đảng chăm lo đào tạo, bồi dưỡng cho họ những kiến thức cơ bản và có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, về Đảng Cộng sản Việt Nam... Trên cơ sở đó, mỗi người xác định cho mình động cơ vào Đảng thật sự đúng đắn, tích cực học tập, nỗ lực phấn đấu, rèn luyện, thử thách trong thực tiễn để trở thành đảng viên.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho quần chúng ưu tú chuẩn bị kết nạp vào Đảng được hiểu là tổng thể các khâu, bao gồm: Tạo nguồn để tổ chức lớp học, tiến hành mở lớp, thực hiện các nội dung giảng dạy, học tập và các nội dung giáo dục khác, đánh giá kết quả học tập của học viên, theo dõi hiệu quả công tác bồi dưỡng... Chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị là chất lượng hoạt động của tổng thể các khâu trong suốt quá trình tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho học viên. Do vậy, nâng cao chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho học viên lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng là thực hiện nâng cao chất lượng từng khâu và các yếu tố tác động trong quá trình bồi dưỡng nhằm đạt hiệu quả là, qua học tập, học viên nắm vững những yêu cầu cơ bản của từng chuyên đề, được bồi dưỡng về lý luận chính trị, hiểu biết mục tiêu, lý tưởng, đường lối của Đảng, phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị cho học viên lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng và đảng viên mới là một nội dung quan trọng thuộc lĩnh vực công tác tư tưởng chính trị của Đảng, có vị trí, tầm quan trọng trong việc xây dựng, phát triển đội ngũ đảng viên của Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Vị trí, tầm quan trọng của rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú bắt nguồn từ vai trò to lớn của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. V.I. Lê-nin nhấn mạnh: “Không có lý luận cách mạng thì cũng không thể có phong trào cách mạng”(4) và “chỉ đảng nào được một lý luận tiền phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vai trò chiến sĩ tiền phong”(5). Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(6).
Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta thông qua đường lối, chủ trương đúng đắn, được cụ thể hóa thành chính sách, pháp luật; thông qua sự gương mẫu thực hiện của các tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Toàn bộ sức mạnh, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được tạo thành từ tố chất và năng lực của từng đảng viên. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Để lãnh đạo cách mạng, Đảng phải mạnh. Đảng mạnh là do chi bộ tốt. Chi bộ tốt là do các đảng viên đều tốt”(7).
Đối với những quần chúng ưu tú chuẩn bị kết nạp vào Đảng, việc học tập, bồi dưỡng về chính trị là để có điều kiện hiểu biết, nắm vững những kiến thức cơ bản và có hệ thống về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có cơ sở lý luận để tiếp tục phấn đấu được đứng vào hàng ngũ của Đảng và trở thành đảng viên chính thức của Đảng. Đồng thời, quần chúng ưu tú qua rèn luyện, thử thách trong thực tiễn, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao, có khả năng vận động, lãnh đạo, giáo dục, giác ngộ quần chúng nhân dân tích cực thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Đảng viên mới tuyên thệ dưới cờ Tổ quốc, cờ Đảng và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh_Ảnh: Tư liệu
Nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII
Những năm tới, tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến mới, phức tạp, khó lường, nhiều nhân tố tích cực và tiêu cực đan xen, đặt ra nhiệm vụ mới đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng về chính trị. Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII, “Về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới”, đánh giá: “Công tác phát triển đảng viên được chú trọng; số lượng đảng viên nữ, trẻ, người dân tộc thiểu số, người theo tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng. Chất lượng đội ngũ đảng viên chuyển biến tích cực, trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị được nâng cao hơn”(8). Tuy nhiên, “một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng của không ít đảng viên chưa đúng, không trong sáng. Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý; tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng”(9). Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém nêu trên chủ yếu là do: “Một số tổ chức cơ sở đảng buông lỏng công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, chưa nắm chắc diễn biến tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của đảng viên... Công tác phát triển đảng viên ở một số nơi còn hạn chế, nặng về số lượng, chưa quan tâm giáo dục lý tưởng cách mạng và rèn luyện, thử thách đối với quần chúng phấn đấu vào Đảng; chất lượng một số đảng viên mới còn hạn chế”(10).
Trong thời gian tới, trước những yêu cầu mới của tình hình,Nghị quyết số 21-NQ/TW đề ra 3 quan điểm, trong đó nhấn mạnh: “Đội ngũ đảng viên là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng... Coi trọng chất lượng phát triển đảng viên, quan tâm phát triển đảng viên trong đoàn viên thanh niên và công đoàn, hội viên ưu tú, quần chúng tiêu biểu, nhất là ở địa bàn khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo, khu vực kinh tế ngoài nhà nước, vùng đồng bào dân tộc thiểu số”(11). Nghị quyết xác định mục tiêu: Nâng cao chất lượng phát triển đảng viên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Tỷ lệ kết nạp đảng viên mới hằng năm trong giai đoạn 2020 - 2030 đạt từ 3% - 4% tổng số đảng viên. Đồng thời, Nghị quyết đề ra nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu để đẩy mạnh và nâng cao chất lượng công tác kết nạp đảng viên, trong đó nhấn mạnh: Nâng cao trách nhiệm của các cấp ủy trong công tác phát triển Đảng; xây dựng và thực hiện có hiệu quả kế hoạch phát triển đảng viên của cả nhiệm kỳ và hằng năm; tạo môi trường thuận lợi để quần chúng giác ngộ lý tưởng, có động cơ trong sáng, rèn luyện, phấn đấu vào Đảng; tập trung củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tổ chức công đoàn và các tổ chức chính trị - xã hội khác ở địa bàn, tổ chức, đơn vị chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên để tập hợp quần chúng, tạo nguồn, giới thiệu đoàn viên, hội viên ưu tú, xây dựng lực lượng cho Đảng; đổi mới nội dung, chương trình bồi dưỡng đối tượng kết nạp vào Đảng và đảng viên mới bảo đảm thiết thực, chất lượng, hiệu quả theo hướng tập trung vào những vấn đề cơ bản về Đảng, tiêu chuẩn, điều kiện, nhiệm vụ, quyền của đảng viên, tính tiên phong, gương mẫu, nhất là xác định đúng đắn động cơ vào Đảng(12).
Trên cơ sở Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5, Ban Tuyên giáo Trung ương đã ban hành Hướng dẫn số 61-HD/BTGTW, ngày 16-6-2022, “Về thực hiện chương trình bồi dưỡng nhận thức về Đảng”,với mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả của công tác bồi dưỡng lý luận chính trị, góp phần nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực, phong cách làm việc khoa học đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.
Để nâng cao bản lĩnh chính trị cho quần chúng ưu tú, theo tinh thần Nghị quyết số 21-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII và Hướng dẫn số 61-HD/BTGTW của Ban Tuyên giáo Trung ương, cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:
Một là, cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên giáo dục nâng cao nhận thức cho quần chúng về vai trò, ý nghĩa của việc học tập, rèn luyện bản lĩnh chính trị. Mỗi quần chúng ưu tú được kết nạp vào Đảng sẽ trở thành “hạt giống quý” của Đảng; do đó, phải đề cao hơn nữa vai trò, ý thức, trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc định hướng chính trị cho quần chúng, bởi đây là cơ sở hàng đầu có ý nghĩa quyết định đến chất lượng bồi dưỡng, học tập lý luận chính trị, khắc phục tình trạng lười học, ngại học tập lý luận chính trị của quần chúng hiện nay. Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy, quản lý của các cấp chính quyền, thực hiện tốt sự phân công, phân cấp đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị.
Hai là, phát huy tinh thần tích cực, tự giác học tập lý luận chính trị của quần chúng ưu tú. Bản thân mỗi quần chúng ưu tú phải tự ý thức được tinh thần, trách nhiệm, thấy được tầm quan trọng của việc học tập suốt đời, trong đó có học tập lý luận chính trị. Xây dựng, thiết kế nội dung học tập cho quần chúng phải toàn diện, từ lý luận chính trị, bổ sung kiến thức chuyên môn cần thiết đến rèn luyện phương pháp, kỹ năng, hoạt động trong phong trào thực tiễn; học tập trong trường, lớp và học tập từ thực tế công việc, trong cuộc sống và học hỏi nhân dân...
Ba là, kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa đào tạo, bồi dưỡng về chính trị với rèn luyện, thử thách quần chúng trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn.Cấp ủy, lãnh đạo các cấp cần thường xuyên chăm lo thực hiện công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho quần chúng ưu tú, nhất là đối tượng đoàn viên thanh niên, công đoàn, hội viên hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh... thông qua các hình thức, như học tập các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; mở các lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, khuyến khích tổ chức các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị dành cho đối tượng kết nạp vào Đảng ngay tại cơ sở để học viên tiết kiệm được thời gian đi lại; tạo điều kiện thuận lợi cho quần chúng ưu tú được đi học thêm văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao trình độ chính trị; tổ chức các buổi tọa đàm, báo cáo chuyên đề, gặp gỡ đối thoại với những gương điển hình tiên tiến... Sau đó, cho quần chúng ưu tú viết bài thu hoạch nhận thức về Đảng với các nội dung đã được học tập, bồi dưỡng.
Bên cạnh đào tạo, bồi dưỡng về chính trị thì khâu rèn luyện, thử thách quần chúng ưu tú trong các hoạt động, các phong trào thực tiễn rất cần được quan tâm sâu sát, tạo sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa “học đi đôi với hành”, giữa lý luận với thực tiễn. Cấp ủy cơ sở cần tổ chức các phong trào thi đua yêu nước để phát triển, bồi dưỡng, tạo nguồn quần chúng ưu tú cho Đảng; chủ động, tích cực lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền, các tổ chức đoàn thể, thông qua các phong trào thi đua yêu nước, nhất là việc thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh có hiệu quả, để tạo môi trường thuận lợi cho quần chúng ưu tú tham gia các hoạt động, các phong trào thực tiễn. Giao cho họ thực hiện những công việc khó, đòi hỏi sự nhiệt tình, xung kích, giúp quần chúng có điều kiện phát huy khả năng, bộc lộ suy nghĩ, nhận thức, nguyện vọng qua việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị và hoạt động công tác xã hội; phân công đảng viên kèm cặp, giáo dục, giúp đỡ để phát hiện những nhân tố tích cực, tiên tiến, thực sự là đoàn viên, hội viên ưu tú, từ đó giới thiệu với Đảng xem xét kết nạp.
Chiến sĩ trẻ tham quan triển lãm về thân thế, sự nghiệp và cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tô Hiệu tại Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt Nhà tù Sơn La_Ảnh: TTXVN
Bốn là, tăng cường hiệu quả việc sử dụng các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để củng cố, nâng cao bản lĩnh chính trị của quần chúng ưu tú. Quần chúng thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, sự khác biệt về giới tính, tâm lý, lứa tuổi dẫn đến nhận thức về chính trị của mỗi người cũng khác nhau. Chủ động sử dụng có hiệu quả các phương tiện truyền thông, mạng xã hội để tuyên truyền, giáo dục chính trị cho quần chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ, giúp cho mỗi cá nhân thận trọng hơn khi tham gia mạng xã hội, tích cực tìm hiểu, kiểm chứng thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, nhất là nguồn chính thống, cẩn trọng khi đăng tải bài viết, “thích” hoặc chia sẻ các liên kết và tham gia bình luận các chủ đề trên mạng xã hội. Khuyến khích quần chúng ưu tú mạnh dạn bảo vệ những điều đúng, lẽ phải, tạo sự lan tỏa tích cực tại địa phương, cơ quan, đơn vị và dám đấu tranh chống lại những điều sai trái, tiêu cực, những thông tin phiến diện, xuyên tạc, xấu, độc. Quần chúng ưu tú cần phát huy thế mạnh về công nghệ thông tin, công nghệ số, là cầu nối tin cậy, kịp thời triển khai tuyên truyền các nội dung về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, cung cấp thông tin chính thống, thông tin tích cực, định hướng đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong các lĩnh vực, nhất là trên không gian mạng.
Năm là, chú trọng, tăng cường các phong trào hành động cách mạng trong thực tiễn để rèn luyện, thử thách quần chúng ưu tú.Các tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, phụ nữ, cựu chiến binh, hệ thống chính trị ở cơ sở thường xuyên phát động các phong trào, như “Tuổi trẻ xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”, “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”... Qua các phong trào, các hoạt động thực tiễn nhằm phát huy vai trò xung kích, tình nguyện, năng động, sáng tạo của tuổi trẻ trong việc đề ra các hoạt động, mô hình, giải pháp để giải quyết các vấn đề mà người dân quan tâm; đồng thời, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của đông đảo đoàn viên, thanh niên, hội viên hội phụ nữ...; qua đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền về các công trình, hoạt động của các tổ chức đoàn, hội. Thông qua hoạt động thực tiễn, quần chúng ưu tú mới bộc lộ, chứng minh khả năng trong công tác vận động nhân dân, đồng thời nâng cao uy tín của từng quần chúng ưu tú trong việc tham gia thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội tại địa phương, cơ quan, đơn vị.
Sáu là, cấp ủy, tổ chức đảng làm tốt công tác phối hợp với các cơ quan, đơn vị, địa phương trong việc giới thiệu quần chúng ưu tú tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng về chính trị; quản lý chặt chẽ học viên từ khi bắt đầu tham gia đến khi kết thúc khóa học. Đổi mới nội dung, phương pháp truyền đạt, học tập, kiểm tra, quản lý và đánh giá kết quả học tập; có giải pháp nhằm đánh giá học viên sau đào tạo, bồi dưỡng... Thực tế cho thấy rằng, để làm tốt công tác phát triển đảng viên từ quần chúng ưu tú cần phải có sự tích cực, chủ động từ phía tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, hội nông dân... và các cấp ủy. Việc kết nạp đảng viên mới phải lấy chất lượng là chính, kết nạp đúng tiêu chuẩn những quần chúng ưu tú vào Đảng, không chạy theo số lượng; đồng thời, khắc phục tình trạng thực hiện chậm, hoặc chưa quan tâm đúng mức tới công tác phát triển đảng viên mới từ quần chúng ưu tú ở một số tổ chức cơ sở đảng hiện nay./.
Cải cách thể chế cần lấy người dân làm trung tâm, chủ thể
- Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, cải cách thể chế là một trong ba đột phá chiến lược và phải phục vụ lợi ích của người dân, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể.
0:00/0:00
0:00
Thủ tướng Phạm Minh Chính giải trình, làm rõ một số nội dung chất vấn của đại biểu Quốc hội trong phiên họp chiều 5/11. Ảnh: THỦY NGUYÊN
Chiều 5/11, trả lời chất vấn của đại biểu Ma Thị Thúy (Tuyên Quang) về những quan điểm chính và trụ cột trong cải cách thể chế, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho rằng cải cách thể chế cần bám sát thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn và tôn trọng thực tiễn khách quan.
Bên cạnh đó, cải cách thể chế phải phục vụ lợi ích của người dân, lấy người dân làm trung tâm, chủ thể.
Thủ tướng cho biết, các trụ cột trong cải cách thể chế là xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; và xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
“Xuyên suốt của 3 nội dung này là lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể, là mục tiêu, động lực, nguồn lực cho sự phát triển” - Thủ tướng nhấn mạnh.
Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, mỗi tháng, Chính phủ đều tổ chức phiên họp chuyên đề bàn về cải cách thể chế và xây dựng pháp luật. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Chính phủ đã xem xét gần 70 luật và đang trình Quốc hội hơn 10 dự án luật.
Tầm quan trọng của thể chế cũng được người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh khi trả lời câu hỏi của đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Cần Thơ) về giải pháp để đạt được mục tiêu tỷ trọng đóng góp của kinh tế số trong GDP khoảng 30% vào năm 2030.
Theo Thủ tướng, chuyển đổi số hiện nay là một xu thế, trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII cũng đề cập đến việc xây dựng nền kinh tế số, Chính phủ số, xã hội số. Ba trụ cột này hiện đóng góp khoảng 10% trong GDP của Việt Nam.
Đại biểu Nguyễn Mạnh Hùng (Cần Thơ) đặt câu hỏi cho Thủ tướng trong phiên chất vấn và trả lời chất vấn chiều 5/11. Ảnh: THỦY NGUYÊN
Liên quan đến vấn đề thể chế cho phát triển kinh tế số, Thủ tướng cho rằng cần tăng cường quản lý nhà nước, xây dựng thể chế sao cho phù hợp, sát thực tiễn, khả thi, hiệu quả, vừa bảo đảm phát triển lành mạnh, đúng hướng, nhanh, bền vững, vừa phải kiểm soát được những phát triển không đúng hướng, không lành mạnh.
Tái khẳng định con người vẫn là trung tâm, chủ thể, động lực, nguồn lực và mục tiêu cho sự phát triển, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, để phát triển kinh tế số, phải có giải pháp liên quan đến tăng cường nguồn nhân lực, bảo đảm không để ai bị bỏ lại phía sau vì thiếu hạ tầng cho phát triển chuyển đổi số.
Ngoài ra, Thủ tướng cũng lưu ý vấn đề nguồn lực đầu tư cho hạ tầng số, bên cạnh nguồn lực chính từ Nhà nước cũng cần huy động nguồn lực ngoài Nhà nước thông qua hợp tác công tư, xã hội hóa, vay vốn của nước ngoài, làm sao cho phù hợp để phát triển với tốc độ nhanh.
Cùng với đó, cần đẩy mạnh tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ liên quan đến chuyển đổi số, đồng thời cắt giảm thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp. Theo Thủ tướng, tất cả các cấp, các ngành, các địa phương đều phải vào cuộc, tạo thành sức mạnh tổng hợp để thúc đẩy phát triển nền kinh tế số của đất nước.