Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

Chủ tịch Hồ Chí Minh với mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào

 Trong quan hệ quốc tế, hiếm có mối quan hệ nào đặc biệt, bền vững, thủy chung như quan hệ Việt Nam - Lào. Cùng tựa lưng vào dãy Trường Sơn hùng vĩ, cùng tắm chung dòng nước Mekong, hai dân tộc đã chia ngọt sẻ bùi trong suốt quá trình lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước.

Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Chủ tịch Lào Xu-va-nu-vông tại chiến khu Việt Bắc, năm 1958. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông. Ảnh TTXVN.

Khi nói về mối quan hệ nghĩa tình giữa hai Đảng, hai nước, hai dân tộc Việt Nam và Lào, Bác Hồ kính yêu của chúng ta - Người đã dày công vun đắp cho mối quan hệ Việt - Lào từng nhấn mạnh, đó là mối “quan hệ đặc biệt”. Để nói cho hết về mối “quan hệ đặc biệt” ấy, cần phải ngược dòng lịch sử, để lịch sử chứng minh cái nghĩa, cái tình và tấm lòng thủy chung, son sắt, sát cánh bên nhau của hai Đảng, hai dân tộc Việt - Lào trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, giành độc lập cho dân tộc và cùng nhau xây dựng hòa bình, hướng tới tương lai hạnh phúc.

Tình hữu nghị trong sáng đó được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Hoàng thân Xu-pha-nu-vông, Chủ tịch Kay-xỏn Phôm-vị-hản cùng các thế hệ lãnh đạo của hai Đảng, hai Nhà nước, nhân dân hai nước dày công vun đắp, được tôi luyện qua nhiều thử thách và được hun đúc bằng công sức và xương máu của bao thế hệ các anh hùng liệt sỹ, để trở thành tài sản vô giá của hai dân tộc.

Ngay từ rất sớm, hai dân tộc Việt Nam - Lào đã gắn bó bền chặt bên nhau chống giặc ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại và Chủ tịch Kay-xỏn Phôm-vị-hản chính là những người đặt nền móng cho mối quan hệ hữu nghị truyền thống, đoàn kết đặc biệt và sự hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Lào.

Trong thời kỳ hai nước chịu sự xâm lăng của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ trong thế kỷ XIX cũng như trong thế kỷ XX, hai nước đã luôn đồng cam cộng khổ, hỗ trợ lẫn nhau, nhờ sự đoàn kết này, hai nước đã liên tiếp giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Trong quá trình tìm đường cứu nước của mình, Nguyễn Ái Quốc rất quan tâm đến tình hình Lào. Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên - một trong những tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam do Nguyễn Ái Quốc trực tiếp sáng lập vào tháng 6-1925 tại Quảng Châu (Trung Quốc), đến tháng 2-1927, Hội đã gây dựng được cơ sở tại Lào. 

Năm 1928, đích thân Người bí mật tổ chức khảo sát thực địa tại Lào càng cho thấy mối quan hệ gắn bó mật thiết giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng Lào. Cũng trong năm này, chi bộ Thanh niên cộng sản đầu tiên được thành lập tại Viêng-chăn, đồng thời đường dây liên lạc giữa nhiều thị trấn ở Lào với Việt Nam được tổ  chức. Quá trình Nguyễn Ái Quốc đặt nền móng cho quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam báo hiệu bước ngoặt lịch sử trọng đại sắp tới của cách mạng Việt Nam cũng như cách mạng Lào.

Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam thành lập. Tháng 10-1930, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam quyết nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương, xác lập rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa phong trào ba nước Đông Dương là Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia.

Giai đoạn 1930-1945 là thời kỳ nhân dân hai nước Việt Nam và Lào nương tựa lẫn nhau trong quá trình đấu tranh giành độc lập, tự do dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong tiến trình lịch sử đó, bộ phận nhân sỹ, trí thức tiến bộ và các tầng lớp nhân dân Lào có vai trò quyết định quá trình phát triển của phong trào cách mạng Lào cũng như trong việc duy trì và phát triển mối quan hệ giữa hai dân tộc Việt Nam - Lào. Người Việt ở Lào là một lực lượng tích cực trong phong trào cách mạng Lào và là nhân tố quan trọng xây đắp mối quan hệ đặc biệt giữa hai dân tộc. Khi đã xác định đường đi cho dân tộc mình thì đồng thời Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhận ra rằng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc mình cần phải có những người bạn đồng minh. Trước hết đó là hai dân tộc láng giềng Miên và Lào.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngay những ngày đầu tháng 9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời Hoàng thân Xu-pha-nu-vông đến Hà Nội để gặp gỡ, trao đổi những vấn đề liên quan đến hai nước và khu vực. Sự ra đời của Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ngày 2-9-1945) và Chính phủ Lào Ít-xạ-lạ (ngày 12-10-1945) cùng những mong muốn của hai bên về xây dựng mối quan hệ hoàn hảo và vững chãi hơn trước là một trong những cơ sở đưa tình đoàn kết, giúp đỡ nhau lên tầm liên minh chiến đấu.

Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc, nhân dân hai nước phải tiếp tục đối mặt với quân xâm lược đế quốc Mỹ. Sự nghiệp cách mạng của hai nước Lào - Việt Nam có mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau một cách đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhìn nhận thấy từ lâu, Người thường căn dặn “Cách mạng Lào không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Việt Nam và cách mạng Việt Nam cũng không thể thiếu sự giúp đỡ của cách mạng Lào”.  Chính vì vậy, trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đã cử hàng chục vạn người con yêu quý của mình sang công tác và phối hợp với quân và dân Lào chiến đấu tại các chiến trường của Lào, máu của biết bao anh hùng, liệt sĩ Việt Nam hòa quyện với máu của quân và dân Lào để đem lại thắng lợi vẻ vang cho hai dân tộc. Quan tâm, chia sẻ cùng đồng cam cộng khổ trong hai cuộc kháng chiến, Đảng, Chính phủ và nhân dân Lào đã dành phần đất của mình để giúp Việt Nam xây dựng “Đường Hồ Chí Minh”, “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”… 

Chính phủ hai nước đã ký Hiệp ước tương trợ Lào - Việt và Hiệp định về tổ chức Liên quân Lào - Việt, đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự hợp tác giúp đỡ và liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của hai dân tộc Việt - Lào. Bản chất của quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào, Lào - Việt Nam, được nuôi dưỡng, phát triển bằng sức cảm hóa sâu sắc của quan điểm “giúp bạn là mình tự giúp mình” do Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn. Đây là câu nói cô đọng, giàu ý nghĩa chính trị, nhân văn, mở ra phương hướng xử lý hài hòa lợi ích của hai dân tộc; là vũ khí sắc bén chống tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ban ơn.

Mối quan hệ đặc biệt Việt Nam - Lào đã trở thành di sản văn hóa thiêng liêng của hai dân tộc, nơi hội tụ biết bao giá trị cao đẹp và sâu sắc mà trí tuệ và tình cảm của nhân loại hằng ngưỡng mộ, tôn vinh, rất phù hợp với cách diễn đạt của Chủ tịch Xu-pha-nu-vông “Tình hữu nghị anh em giữa nhân dân Lào và nhân dân Việt Nam thật là vĩ đại mà bất cứ bài ca, bản nhạc nào, bất cứ bài thơ nào hay nhất cũng không sao diễn tả trọn vẹn được. Tình hữu nghị đó cao hơn núi, dài hơn sông, rộng hơn biển cả, đẹp hơn trăng rằm, ngát hương thơm hơn bất cứ đóa hoa nào thơm nhất. Tình hữu nghị cao đẹp đó đã được vun trồng, xây đắp với tất cả tấm lòng thành thật của chúng ta. Do đó, không thể có hung thần nào, không thể có kẻ thù nào phá vỡ nổi”.

Ngày 5-9-1962, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ về Lào được ký kết, Việt Nam và Lào đã nhất trí thiết lập quan hệ ngoại giao, mở ra một chương mới trong sự nghiệp củng cố và phát triển hơn nữa mối quan hệ giữa hai nước. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, Mỹ vẫn không từ bỏ âm mưu xâm lược Việt Nam và Lào. Hai nước đã xác định rõ phải đoàn kiết đứng lên kiên quyết đánh đuổi xâm lược. Từ cuối năm 1965, Việt Nam cử một số đơn vị quân tình nguyện và các đoàn chuyên gia quân sự, chính trị, kinh tế và văn hóa sang làm nhiệm vụ quốc tế theo yêu cầu của cách mạng Lào. Trong khi đó, đáp ứng nhu câu chi viện cho các chiến trường miền Nam Việt Nam, Lào và Căm-pu-chia, Lào đã ủng hộ Việt Nam mở đường Tây Trường Sơn - công trình vĩ đại, biểu tượng cao đẹp của quan hệ đặc biệt Việt - Lào.

Ngày 30-4-1975, miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng là điều kiện thuận lợi cho cách mạng Lào giành thắng lợi hoàn toàn, thiết lập nên nước Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào ngày 2-12-1975. Thắng lợi to lớn và có ý nghĩa lịch sử trọng đại đó, là minh chứng hùng hồn cho tình hữu nghị đoàn kết đặc biệt, thủy chung, trong sáng và khẳng định lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Việt Nam kháng chiến có thành công, thì kháng chiến Miên, Lào mới thắng lợi; và kháng chiến Miên, Lào có thắng lợi, thì kháng chiến Việt Nam mới hoàn toàn thắng lợi”.

Kế thừa di sản quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phát huy tinh thần truyền thống quý báu được xây dựng từ nhiều thế hệ, từ sau ngày hai nước được hoàn toàn giải phóng, quan hệ hai nước bước vào giai đoạn mới chặt chẽ hơn, toàn diện hơn, giúp nhau khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh; xây dựng đất nước hòa bình, độc lập, dân chủ với nền kinh tế, văn hóa, khoa học phát triển; giữ vững quốc phòng - an ninh; làm thất bại âm mưu bao vây cấm vận, phá hoại của các thế lực thù địch. Ngày 18-7-1977, Hiệp ước hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Lào được ký kết, là cơ sở pháp lý quan trọng, đánh dấu mốc phát triển mới của mối quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước, nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh bảo đảm cho sự nghiệp xây dựng phát triển và bảo vệ đất nước của mỗi nước.

Ngày nay, hai Đảng và nhân dân hai nước không ngừng phấn đấu đưa quan hệ đặc biệt Việt - Lào phát triển lên tầm cao mới, vì sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước thân yêu của mình, vì hòa bình, ổn định, hữu nghị và hợp tác trong khu vực và trên thế giới. Theo thời gian, mối “quan hệ đặc biệt” Việt - Lào được Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và dày công vun đắp ngày càng được tăng cường và phát triển, trở thành động lực thúc đẩy quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Đặc biệt từ khi hai nước thực hiện công cuộc đổi mới với nhiều khó khăn và thách thức, nhưng với truyền thống tốt đẹp của mối “quan hệ đặc biệt” và dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Nhân dân cách mạng Lào, quan hệ giữa hai nước ngày càng được tăng cường, mở rộng và giành được những thắng lợi to lớn. Đó cũng là thành quả được kết tinh từ lịch sử, từ sứ mệnh mà hai Đảng, hai dân tộc đã chung sức, chung lòng, chung vai gánh vác qua những chặng đường đầy khó khăn, gian khổ của cuộc đấu tranh giành độc lập và giải phóng đất nước.

VTT (St)

Nhận diện hoạt động lợi dụng tôn giáo để tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước

 


Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và chế độ ta.

Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn chiến lược về an ninh, quốc phòng. 

Thực tế cho thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam.

Nổi lên thời gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ, Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập “Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…

Những vấn đề nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.

Hay như ở vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm” với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.

Bên cạnh đó, thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19 để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng, hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!

Mới đây, sau khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực, được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh.

Rõ ràng, qua phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.

Do đó, mọi chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch. Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ pháp luật của Nhà nước.

Những kinh nghiệm đẩy lùi tà đạo “Bà Cô Dợ”

 


Lợi dụng đời sống của bà con người Mông ở các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân trí thấp… Vừ Thị Dợ, đối tượng cầm đầu đẩy mạnh tuyên truyền về tà đạo “Bà Cô Dợ”, dưới hình thức biến tướng của tôn giáo. Mục đích của đối tượng là lợi dụng niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng để tuyên truyền, phát triển lực lượng; lợi dụng mạng Internet để tuyên truyền các nội dung chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi thành lập “Nhà nước riêng”…

Nhận diện về tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ trong dân tộc Mông

Các luận điệu hoang đường của tà đạo “Bà Cô Dợ”

Tà đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016.

Từ năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm lập “Nhà nước riêng” của người Mông.

Đối tượng Vừ Thị Dợ.

Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được “Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai) có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000 năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai, lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ được chia tiền…

Vào sáng chủ nhật hàng tuần, các đối tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm, nhóm. Trong quá trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về Chúa đã được cải biên trên nền nhạc trẻ, nội dung chủ yếu là tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc kinh thánh; đả kích các tôn giáo chính thống; chê bai, phỉ báng phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo tổ chức “Bà Cô Dợ” tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.

Đáng chú ý, vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trong lúc Đảng, Nhà nước Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá vùng dân tộc và miền núi, phòng, chống dịch bệnh COVID[1]19 thì Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu lại tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Chính phủ Việt Nam như: “Chính quyền không quan tâm đến chế độ, chính sách đối với nhân dân nên đời sống đồng bào rất khó khăn”; “Không được đi tiêm phòng dịch bệnh vaccine COVID – 19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại cho sức khoẻ con người”, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn cách đối phó với công tác tuyên truyền, phòng, chống dịch của cơ quan y tế.

Để thực hiện âm mưu và hoạt động của mình, bên cạnh việc kích động các hoạt động chống đối chính quyền, đối tượng cầm đầu Vừ Thị Dợ đã gửi tiền cho số đối tượng trong nước để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia phát triển tổ chức.

Thời điểm cao nhất (năm 2017 - 2019), tà đạo “Bà Cô Dợ” có hàng ngàn người tin theo tại nhiều tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là khu vực tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung nơi có đông đồng bào dân tộc Mông sinh sống.

Qua các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập “Nhà nước Mông”.

Đồng thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, công tác phòng, chống COVID[1]19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán, truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống.

Để thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức.

Cùng với đó, các đối tượng cầm đầu cũng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của công nghệ thông tin, thông qua mạng xã hội để tổ chức hội luận, đào tạo trực tuyến, tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng.

Công an tỉnh Sơn La thực hiện phong trào “3 bám, 4 cùng, 5 có” với nhân dân.

Với những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập “Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai hại về đời sống và đức tin.

Sự chuyển hoá ở một địa bàn khi người dân từ bỏ “Bà Cô Dợ”

“Nhờ được tuyên truyền, giải thích, vợ chồng tôi đã hiểu được cái sai… Bây giờ, tôi yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình, không nghe theo lời của những kẻ xấu”, gặp các cán bộ Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La, ông Giàng Khúa Dua (SN 1953), một người dân sinh sống tại huyện Sốp Cộp cho biết. Ông Giàng A Khua chỉ là một trong nhiều người ở bản Huổi Luông đã từ bỏ tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trong bản còn có nhiều người khác như anh Vừ A Cho (SN 1982) và Giàng A So (SN 1987, cùng trú tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo, huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La)… hiện giờ cũng đã từ bỏ đạo lạ, quay trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần tuý.

Sơn La từng là một trong những địa bàn phức tạp về hoạt động của tổ chức “Bà Cô Dợ”... Qua vận động, tuyên truyền, đến nay có 21 trường hợp từng theo “Bà Cô Dợ” đã từ bỏ, trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Một trong những bí quyết thành công của Công an tỉnh Sơn La là việc vận dụng linh hoạt các biện pháp công tác; việc vận động, tuyên truyền để người dân hiểu được âm mưu, phương thức hoạt động của các đối tượng. Từ đó, nhiều người đã chủ động từ bỏ, không tham gia… Những chia sẻ của những người trong cuộc, phần nào đã cho thấy một cách làm đúng hướng, sẽ giúp người dân đã và đang lạc lối đi theo luận điệu tuyên truyền của các đối tượng cầm đầu tổ chức thực sự tỉnh táo, nhận diện đúng bản chất của tà đạo “Bà Cô Dợ”.

Từ những khó khăn, vất vả được tận mắt nhìn thấy trong những ngày 4 cùng ở địa bàn, cán bộ đơn vị thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những vướng mắc trong cuộc sống của người dân để chia sẻ.

Từ đó, mỗi trinh sát Phòng An ninh nội địa lại tìm tòi, học hỏi những cách làm hay, sáng tạo trong nông nghiệp. Sau đó, bằng những hiểu biết, kinh nghiệm học hỏi của mình để hướng dẫn bà con thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt năng suất cao, ít sâu bệnh và chăm bón đúng kỹ thuật, sử dụng đúng các quy định của nhà sản xuất về thuốc bảo vệ thực vật; kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm như tiêm, uống thuốc phòng, chống dịch bệnh trong thời gian chuyển mùa và cách làm chuồng trại hợp vệ sinh; tận dụng phân động vật để làm phân bón, cách thu hoạch và bảo quản nông sản chất lượng, hiệu quả…

“Lời nói đi đôi với hành động”, bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy thiết thực như vậy, trinh sát Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La đã xây dựng hình ảnh đẹp, ấn tượng sâu sắc trong lòng dân trên địa bàn. Từ sự gắn bó, tình cảm của người già đến các em nhỏ, phụ nữ và thanh niên trên địa bàn nên công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước của trinh sát, đơn vị đã đạt được hiệu quả và mang tính lan tỏa sâu rộng.

Cùng với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư, phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn; vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới; đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền.

Ở mỗi địa bàn lại có những cách làm hay, hiệu quả…

Cùng với việc vận động, truyên truyền đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin.

Dù đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức.

Cùng với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới, giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này.

Chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh - hệ tư tưởng mang tính thời đại.

 Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã vun bồi tình cảm, tư tưởng yêu nước, ý chí kiên cường, bất khuất trong đấu tranh bảo vệ độc lập dân tộc và cuộc sống của nhân dân. Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam mang đậm những nét đặc sắc riêng của mình. Đó là tình yêu quê hương, yêu đất nước; yêu nước gắn với thương dân, dựa vào dân, lấy dân làm gốc; yêu nước gắn với khát vọng về tự do, khát vọng hoà bình. Tất cả những giá trị đó luôn thống nhất, không tách rời nhau.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là truyền thống quý báu của ta. Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và lũ cướp nước” [5, tr.38]. Chủ nghĩa yêu nước chính là cội nguồn sức mạnh đưa dân tộc Việt Nam vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách để đi đến những thắng lợi lừng lẫy năm châu, là giá trị thiêng liêng của toàn dân tộc Việt Nam, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho tính cách của con người Việt Nam hùng cường, bất khuất. Thấm nhuần chủ nghĩa yêu nước truyền thống của dân tộc, chứng kiến cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự áp bức, bóc lột dã man của bọn thực dân, phong kiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm có ý thức tìm con đường cứu nước giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân.

Trên tinh thần yêu nước của các sĩ phu, văn thân yêu nước, tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh đã có sự kế thừa và phát triển mang tính thời đại, gắn liền với mục tiêu triệt để giải phóng dân tộc. Nhận định về những thất bại của các phong trào đấu tranh từ phong trào Cần Vương đến các phong trào yêu nước theo xu hướng tư sản mà tiêu biểu là phong trào Đông Du, Đông Kinh Nghĩa Thục, cải cách Dân Chủ… Người hiểu rõ không thể đi theo con đường cách mạng như các vị tiền bối. Theo Người, nước độc lập phải đi đôi với dân được hưởng quyền tự do, ấm no, hạnh phúc.

Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, chủ nghĩa yêu nước đã chi phối mọi suy nghĩ, hành động của Người. Người đau đáu trong mình “chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Mọi kế sách đều là vô nghĩa nếu không đem lại tự do cho đồng bào, độc lập cho Tổ quốc. Vì mục đích lý tưởng này đã thôi thúc người thanh niên Nguyễn Tất Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, chịu bao gian khổ, đồng thời là cơ sở tư tưởng dẫn Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, và sau này được Người khẳng định: “Lúc đầu, chính chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải là chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lênin, tin theo Quốc tế thứ ba”.

Hồ Chí Minh có ý thức rất rõ ràng về vị trí, vai trò, sức mạnh của tinh thần yêu nước. Khẳng định về sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước.Theo Người, “Yêu Tổ quốc, yêu nhân dân phải gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, vì chỉ có tiến lên chủ nghĩa xã hội thì dân mình mới được ấm no, Tổ quốc mới được giàu mạnh”. Yêu nước gắn liền với thương dân, nghĩa nước gắn chặt với tình thân, tình thân là cái gốc của chủ nghĩa yêu nước. Vì vậy, khi đọc được bản Sơ thảo Luận cương của Lê-nin về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa, Người đã đọc đi, đọc lại nhiều lần và qua lăng kính chủ nghĩa yêu nước chân chính, Người đã sung sướng, reo lên vui mừng khi tìm ra được con đường giải phóng dân tộc đúng đắn. Hồ Chí Minh đã từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác Lênin, tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc duy nhất đúng đắn, đó là “con đường cách mạng vô sản”. Đây chính là con đường mà Hồ Chí Minh và dân tộc Việt Nam đang tìm kiếm. Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ. Từ đó, Người đã tin theo Lê-nin, tin theo Quốc tế cộng sản, trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên khi bỏ phiếu tán thành Quốc tế thứ III của Lênin tại Đại hội Tour tháng 12-1920. Đây là mốc lịch sử quan trọng trong hành trình tìm đường cứu nước của Người, đánh dấu bước chuyển biến quyết định, nhảy vọt, thay đổi về chất trong nhận thức, tư tưởng và lập trường chính trị của Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa yêu nước là động lực lớn của đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh thấu hiểu hơn ai hết truyền thống quý báo đó của dân tộc. Người khẳng định: “Đối với các dân tộc thuộc địa ở phương Đông, “Chủ nghĩa dân tộc là động lực to lớn của đất nước”, “người ta sẽ không thể làm gì được cho người An Nam nếu không dựa trên cái động lực vĩ đại và duy nhất trong đời sống của họ”. “Chủ nghĩa dân tộc ở đây là tinh thần yêu nước và tinh thần dân tộc. Từ niềm tin “người Việt Nam ai cũng có lòng yêu nước, ghét giặc”, Người đã khơi dậy truyền thống yêu nước đó, phát huy được sức mạnh của nhân dân cùng với Đảng đứng lên làm cách mạng giành lại độc lập tự do cho dân tộc và hạnh phúc của nhân dân. Sức mạnh nội sinh to lớn từ chủ nghĩa yêu nước chính là cơ sở để xây dựng, củng cố khối đoàn kết dân tộc. Bởi trừ những thành phần phản động, tay sai cho đế quốc, thì dù là địa chủ hay nông dân, thương gia… đều là người nô lệ. Xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất để đại đoàn kết dân tộc là sự sáng tạo của Hồ Chí Minh. Phương châm đoàn kết các giai cấp, tầng lớp khác nhau của Hồ Chí Minh là “cầu đồng tồn dị”. Minh chứng lịch sử đã cho thấy, đại đoàn kết dân tộc đã tạo sức mạnh vô địch giúp cho cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Không chỉ vậy, chủ nghĩa yêu nước của Hồ Chí Minh còn mang tinh thần quốc tế khi Người gắn kết hợp hài hòa chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế, đoàn kết với nhân dân các nước vì mục tiêu giải phóng nhân dân khỏi áp bức, bóc lột, đoàn kết với nhân loại tiến bộ, vì hòa bình, công lý và tiến bộ xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế liên hệ khăng khít với nhau”Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ, mỗi dân tộc đều phải tự lực cánh sinh, dựa vào sức mình là chính, đồng thời tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa, sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ và đồng thời tham gia vào nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình. Hai cuộc cách mạng này phải tiến hành đồng thời, tác động hỗ trợ lẫn nhau. Người kêu gọi tất cả những người yêu nước phải đoàn kết lại, “vì có đoàn kết mới có lực lượng, có lực lượng mới giành được Độc lập, Tự do”. Sự kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để tạo thành sức mạnh tổng hợp to lớn đưa cách mạng Việt Nam đi đến cứu nước hoàn toàn.

Như vậy, Hồ Chí Minh đã kế thừa có chọn lọc những giá trị tốt đẹp trong truyền thống dân tộc Việt Nam, tinh hoa văn hoá nhân loại và đặc biệt là dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa yêu nước đã được đưa lên một tầm cao mới. Từ một người yêu nước tiến bộ trở thành người cộng sản, một lãnh tụ của phong trào giải phóng dân tộc. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam do Người sáng lập và rèn luyện đã phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy và phát huy tinh thần yêu nước của mỗi người dân Việt Nam. Người đã lãnh đạo thành công cuộc cách mạng dân tộc dân chủ - nhân dân ở Việt Nam, đưa dân tộc Việt Nam tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cùng với đó, chủ nghĩa yêu nước trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn thống nhất với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững lợi ích của dân tộc mình và luôn tôn trọng lợi ích của các dân tộc khác.

Sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới, với sự nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố, tăng cường, tạo thành sức mạnh tổng hợp để đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách. Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đánh giá về những thành tựu đạt được, Đại hội XIII xác định: “Đây là niềm tự hào, là động lực; nguồn lực quan trọng, là niềm tin để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vượt qua mọi khó khăn, thách thức; tiếp tục vững bước trên con đường đổi mới toàn diện, đồng bộ, phát triển nhanh và bền vững đất nước” 

VTT (St)

Việt Nam vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

 

Từ khi thông tin Việt Nam là quốc gia duy nhất của ASEAN ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025, các thế lực thù địch, phản động, số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí trong và ngoài nước đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo về việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam và phủ nhận những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền con người đối với cộng đồng quốc tế. Họ còn đưa ra các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi đến các thành viên của Đại Hội đồng Liên Hợp quốc đề nghị không bầu chọn Việt Nam vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Họ đưa ra những luận điệu vu cáo “Việt Nam vi phạm nhân quyền nghiêm trọng”, “Việt Nam không đủ tiêu chuẩn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc”, “Việt Nam xem giá trị dân chủ, nhân quyền như kẻ thù”; cổ xúy quan điểm “đa đảng là dân chủ, độc đảng là độc tài”, “Việt Nam phải đa đảng đối lập để có dân chủ thật sự”, “muốn thực sự có dân chủ cho người dân và phát triển xã hội phải thực hiện đa nguyên, đa đảng”... Một số tổ chức ở ngoài nước sử dụng chiêu bài bôi lem vấn đề nhân quyền ở Việt Nam bằng cách bình chọn, trao “giải thưởng nhân quyền” cho các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, lợi dụng tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức, lợi ích Nhà nước để tạo dựng ngọn cờ chống phá và hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thực tế, luận điệu mà các thế lực thù địch, phản động, những cá nhân, tổ chức chống phá đưa ra đều phản ánh sai lệch, xuyên tạc vấn đề nhân quyền ở Việt Nam, những đóng góp của Việt Nam đối với việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong thời gian qua. Kết quả lần thứ 2 được bầu chọn vào thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc với số phiếu cao đã bác bỏ những quan điểm, luận điệu sai trái, thù địch phủ nhận, vu cáo về thực tiễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống Liên Hợp quốc, là một trong ba trụ cột chính của Liên Hợp quốc (hòa bình - an ninh; phát triển và quyền con người). Theo quy định của Hội đồng Nhân quyền, Hội đồng gồm 47 thành viên, phân bổ theo nguyên tắc cân bằng về khu vực địa lý; các thành viên có nhiệm kỳ 3 năm và không được tham gia ứng viên hai nhiệm kỳ liên tiếp. Do đó, với việc lần thứ 2 được bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc là sự khẳng định và góp phần nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế.

Để làm rõ những minh chứng sống động phản bác các luận điệu cho rằng Việt Nam vi phạm quyền con người, chúng ta thấy rõ thành tựu nhân quyền trên các phương diện sau:

Thực chất vấn đề nhân quyền mà các thế lực thù địch, phản động đang không ngừng rêu rao, chống phá, đó chính là phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Từ đó, đi đến phủ nhận nền tảng tư tưởng và vai trò độc tôn lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Minh chứng sống động mà bạn bè quốc tế ghi nhận chính là thành quả mà chúng ta đã đạt được sau hơn 35 năm đổi mới đất nước. Diện mạo đất nước trên tất cả các lĩnh vực đã phát triển vượt bậc, đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện. Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, cuộc sống hòa bình, an ninh, an toàn. Quyền con người được Hiến pháp, pháp luật thừa nhận, điều này đã phản ánh rõ tính chất ưu việt của chế độ XHCN mà nhân dân ta đã lựa chọn.

Hiến pháp năm 2013 bao gồm 11 chương, 120 điều, trong đó riêng Chương II có 36 điều quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân. Đồng thời, các nội dung liên quan đến quyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà còn được đưa vào các chương khác của Hiến pháp, tạo cơ sở pháp lý cao nhất để mọi người được thụ hưởng, thực hiện và bảo vệ quyền con người của mình. Các điều của Hiến pháp xác định rõ “mọi người có quyền”, “công dân có quyền”… để khẳng định tính pháp lý của các quyền được Hiến pháp thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ. Đồng thời, để bảo đảm quyền con người trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, hệ thống pháp luật về quyền của con người cũng đã được bổ sung, hoàn thiện như việc ban hành các đạo luật  như Luật Báo chí; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo; Luật Tiếp cận thông tin; Luật An ninh mạng…

Bên cạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật để đảm bảo quyền con người, trong quan hệ hợp tác quốc tế về bảo vệ, thúc đẩy nhân quyền và là thành viên có trách nhiệm của Liên Hợp quốc, Việt Nam cũng đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế cơ bản, quan trọng nhất về quyền con người và được luật hóa trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Đó là tham gia 4 Công ước Geneva của Luật Nhân đạo quốc tế năm 1957; Công ước về quyền dân sự, chính trị; Công ước về quyền kinh tế - xã hội và văn hóa, ký ngày 24/9/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, ký ngày 18/12/1982; Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, ký ngày 19/3/1982; Công ước về quyền trẻ em, ký ngày 20/2/1990; Công ước về quyền của người khuyết tật, ký ngày 22/10/2007. Đồng thời, Việt Nam tham gia trong việc thành lập Ủy ban liên Chính phủ ASEAN về nhân quyền, ký ngày 23/10/2009, Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN (ACWC), ngày 7/4/2010...

Ngày 12/7/1992, Ban Bí thư Trung ương Đảng Khóa VII đã ban hành Chỉ thị 12-CT/TW về vấn đề quyền con người và quan điểm, chủ trương của Đảng ta đã khẳng định “Quyền con người là giá trị chung của nhân loại. Đó là thành quả đấu tranh lâu dài của nhân dân lao động và các dân tộc trên thế giới chống lại mọi áp bức, bóc lột” và “giải phóng con người (trong đó có việc đảm bảo các quyền con người) gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội; chỉ có dưới tiền đề độc lập dân tộc và CNXH thì quyền con người mới có điều kiện được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất”. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và các văn kiện Đại hội Đảng luôn nhấn mạnh phải quan tâm hơn nữa đến việc chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do, toàn diện của con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam ký kết.

Liên Hợp quốc cũng đã xác nhận: Việt Nam đứng thứ hai trong khối châu Á - Thái Bình Dương và thứ 9 trên 135 nước về tỷ lệ phụ nữ làm việc trong Chính phủ. Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và thứ hai trên thế giới phê chuẩn Công ước Liên Hợp quốc về quyền trẻ em. Đến nay, Việt Nam đã ký kết, gia nhập hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người. Mới đây, Việt Nam đã bảo vệ thành công Báo cáo quốc gia theo Cơ chế Kiểm định phổ quát (UPR) chu kỳ III của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc ngày 04/7/2019 tại Geneva (Thụy Sỹ) khẳng định nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về những thành tựu của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người là những minh chứng sinh động bác bỏ những luận điệu sai trái, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 90 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường XHCN; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ của đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; tình hình chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được giữ vững và tăng cường; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới… Những thành tựu đó là kết tinh của trí tuệ, sức lực và bản lĩnh con  người Việt Nam.

Với tư cách là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016), Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng, là thành viên tích cực, được Liên Hợp quốc và các nước ghi nhận, đánh giá cao. Tại khóa họp lần thứ 73 ở trụ sở Liên Hợp quốc ngày 7/6/2019, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bầu Việt Nam làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với số phiếu gần tuyệt đối (192/193 phiếu). Việt Nam đã hoàn thành tốt vai trò Chủ tịch Hội đồng Bảo an Liên Hợp quốc trong tháng 1 và tháng 4 năm 2021 với nhiều dấu ấn, đóng góp, nhất là vấn đề bảo đảm quyền con người trong đại dịch COVID-19 được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và thể hiện uy tín, vị thế quốc tế ngày càng tăng của Việt Nam.

Thành tựu đảm bảo nhân quyền tại Việt Nam trên các lĩnh vực đời sống xã hội, đặc biệt là những thành tựu của Việt Nam trong việc phòng, chống dịch COVID-19, bảo đảm quyền sống là quyền cao nhất trong đại dịch COVID-19 là những minh chứng rõ nét nhất trong bảo đảm quyền của con người trước những biến cố, đại dịch mà người dân trên toàn thế giới phải đương đầu. Đó là những con số sống động, khách quan, được khẳng định từ thực tiễn và chính người dân Việt Nam hiểu hơn ai hết giá trị bảo đảm quyền con người trong gian lao, thử thách của đại dịch.

Tin tưởng rằng, với kinh nghiệm từ nhiệm kỳ đầu (2014-2016), trong nhiệm kỳ 2023-2025 sắp tới, với vai trò là thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc, với thông điệp “Tôn trọng và hiểu biết; đối thoại và hợp tác; tất cả các quyền con người - cho tất cả mọi người”, Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được về bảo đảm quyền con người, có nhiều đóng góp tích cực để bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trên thế giới, đặc biệt là các vấn đề về ứng phó với biến đổi khí hậu, di cư, bảo vệ, thúc đẩy quyền của các nhóm dễ bị tổn thương như phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người thiểu số, người di cư

Cảnh giác trước thủ đoạn nhân danh phản biện xã hội để kích động chống phá

 


Phản biện xã hội (PBXH) là sự tham gia của cá nhân, các tổ chứcvề một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của Đảng, Nhà nước nhằm làm cho chủ trương, chính sách đó đầy đủ, đúng đắn, hoàn thiện hơn trong thực tiễn, đáp ứng nhu cầu xã hội, tạo nên sự đồng thuận, phục vụ tốt hơn những vấn đề quốc kế, dân sinh.

Không đánh đồng vai trò phản biện xã hội của báo chí với chỉ trích cực đoan

PBXH thể hiện rõ trong việc nêu ý kiến góp ý, bổ sung, những vấn đề chưa tán thành của người dân đối với những chủ trương, chính sách, quyết định, phán quyết... của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cơ quan, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương. Mục đích của PBXH là làm sáng tỏ bản chất của vấn đề, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, những điểm chưa hợp lý, bất cập của những chủ trương, chính sách, phán quyết, quyết định đó. Như vậy, bản chất của PBXH là thực hành dân chủ, góp phần bổ sung, sửa chữa những khiếm khuyết, tồn tại, những sai sót, đem lại những lợi ích chính đáng, hợp pháp, thúc đẩy sự phát triển của xã hội. PBXH có ý nghĩa chính trị sâu sắc, phản ánh mối quan hệ giữa Nhà nước với nhân dân và hơn thế, nó thể hiện sâu sắc dân chủ XHCN, bản chất Nhà nước pháp quyền XHCN - quyền lực thuộc về nhân dân. PBXH tập hợp sức sáng tạo và trí tuệ của các giai tầng, tạo nên sức mạnh nội lực để giải quyết các vấn đề xã hội, là sự thể hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, một mặt còn là thước đo trình độ phát triển, trình độ văn minh Nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của PBXH, Đảng và Nhà nước ta luôn trân trọng lắng nghe và tiếp thu những ý kiến phản biện của các tầng lớp nhân dân. Điều đó được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng Hiến pháp, hệ thống luật, các cơ chế, chính sách về các vấn đề trong đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cùng với sự đóng góp thiết thực, có ý thức xây dựng của các tầng lớp nhân dân thì một số thành phần đã lợi dụng PBXH để thực hiện âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta.

Trong âm mưu thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các đối tượng lợi dụng quyền tự do ngôn luận, lợi dụng PBXH để tập hợp lực lượng chống đối chính trị, thúc đẩy sự đối kháng trong xã hội, tạo các lực lượng đối lập, nhân danh phản biện để phản đối, chống đối các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Âm mưu của các thế lực thù địch là bác bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ XHCN ở Việt Nam. Đặc biệt là trước và trong quá trình tổ chức đại hội nhiệm kỳ của Đảng, các kỳ bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp, các thế lực thù địch, phản động càng chống phá quyết liệt.

Trong thời gian qua, trên mạng xã hội có không ít người tự cho mình là người “phản biện”, có tư tưởng “tiến bộ”, lấy danh nghĩa PBXH để nêu những ý kiến về các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, từ những vấn đề lớn của đất nước đến các chính sách, quyết sách cụ thể ở các bộ, ngành, địa phương. Họ đưa ra ý kiến với những cách thức như viết các “thư ngỏ”, “kiến nghị” gửi các cấp, các ngành, gửi các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và đăng tải trên mạng xã hội, blog, web[1]site cá nhân… Họ trả lời phỏng vấn của các đài, báo nước ngoài với nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thổi phồng, bôi lem những tồn tại, hạn chế của đời sống xã hội. Trên cơ sở nêu vài nội dung mang tính phản biện nhưng lại thể hiện bằng ngôn ngữ miệt thị, chửi bới, công kích, bóp méo sự thật nên về thực chất là lợi dụng để xuyên tạc, chống phá chứ không còn ý nghĩa phản biện. Một số người tự xưng là “nhà lý luận” còn lợi dụng PHXH để kích động, tuyệt đối hóa tự do, dân chủ, rằng chúng ta đang xây dựng một xã hội “thiếu không gian tự do”, “tự do là không chính trị”, “dân chủ hóa, giải phóng con người là chiếc chìa khóa vạn năng”...

Ở đây, khái niệm tự do đã bị hiểu theo nghĩa không còn tổ chức, không còn quy tắc, văn hóa, pháp luật, nghĩa là không còn gì ràng buộc. Và họ vội vã kết luận mang tính quy chụp, rằng nguyên nhân trì trệ về kinh tế là do trì trệ về chính trị, nguyên nhân các tồn tại, yếu kém là “do độc Đảng”! Như vậy, bằng con đường tiếp cận sai trái, họ đã đổ lỗi cho chế độ chính trị của Việt Nam, đổ lỗi cho Đảng, hướng lái quan điểm, tâm lý người dân để gây mâu thuẫn, kích động chống phá. Thử hỏi, ở mọi quốc gia, dân chủ đều phải gắn với kỷ cương, xã hội sẽ như thế nào nếu tự do, dân chủ một cách vô nguyên tắc, phi pháp luật? Thực tế đã cho thấy, không thể áp dụng một cách máy móc kiểu “tự do”, “dân chủ” ở nước này sang nước khác do những đặc điểm riêng về lịch sử xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa, trình độ nhận thức của người dân.

Nguy hiểm hơn, một số trường hợp sau khi rời các vị trí, chức vụ trong Đảng, Nhà nước thì vì tư lợi hẹp hòi, vì động cơ xấu, họ lại lợi dụng danh nghĩa phản biện để đưa ra những quan điểm trái khoáy, lấy cớ góp ý với Đảng, Nhà nước mà mục đích chính là nhằm làm mất niềm tin trong nhân dân, chia rẽ mối đoàn kết trong nội bộ. Đã có không ít vụ việc lấy danh nghĩa PBXH, họ đã đưa lên báo chí nước ngoài hoặc mạng xã hội nội dung không đúng sự thật, thiếu công tâm, phản biện sai lệch, kéo theo nhiều hậu quả khôn lường, ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự, gây hoang mang dư luận. Mục đích của những trường hợp trên nhằm thu hút sự chú ý của người đọc đối với những bài viết của họ và tấn công trực diện vào các chủ trương, đường lối, chính sách, uy tín của Đảng và Nhà nước, phủ nhận tất cả những thành quả mà đất nước đạt được dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thậm chí tung ra các bài viết, bình luận bằng các ngôn từ cay độc, vô văn hóa, vô đạo đức…

Rõ ràng, PBXH nếu được thực hiện một cách có hiệu quả có thể giúp điều chỉnh xã hội từ vi mô tới vĩ mô, làm cho các chủ trương, chính sách ngày càng hoàn thiện, đem lại hiệu quả tốt hơn. PBXH là biểu thị cho tính dân chủ của xã hội. Nhưng nếu lợi dụng PBXH để kích động, thổi phồng, xuyên tạc nhằm gây nhiễu loạn thông tin, gây ra sự ngộ nhận, nhầm lẫn trong dư luận khiến nhiều người hiểusai về hiện tình đất nước, hiểu sai về Đảng, Nhà nước thì hành vi đó là phá hoại, cần phải đấu tranh, loại trừ.

PBXH không chỉ là sự phân tích, chỉ ra những khiếm khuyết của các chủ trương, chính sách về các vấn đề xã hội mà thông qua PBXH, khi tạo được sự góp ý, hoàn thiện, nó còn là sự thể hiện đồng thuận xã hội, sự khuyến khích, cổ vũ của xã hội với những chủ trương, chính sách đúng đắn, hợp lòng dân. Chính vì vậy, làm tốt công tác PBXH sẽtạo được sức mạnh to lớn cho các phong trào hành động cách mạng.

Để PBXH đem lại hiệu quả, ý nghĩa tích cực phải dựa trên nền tảng tri thức, thái độ khách quan, lấy lợi ích của cộng đồng làm mục đích hướng đến. Nếu không, PBXH sẽ dễ chỉ là ý kiến chủ quan, cảm tính và phiến diện, thậm chí cực đoan, không đóng góp với tiến trình phát triển của xã hội, của đất nước.

Mỗi người dân khi tiếp cận các thông tin được cho là PBXH đăng tải trên không gian mạng cần trang bị cho mình “bộ lọc” và có chủ kiến khi tiếp cận các vấn đề phản biện. Đặc biệt, với người được các thế lực xấu tung hô, ca ngợi là “nhà dân chủ”, “nhà bất đồng chính kiến”… thì phải cẩn trọng thanh lọc. Không nên vội vàng đọc mà tin ngay vào các ý kiến dạng phản biện của ai đó khi mình chưa xác định được đầy đủ về tính chính xác của thông tin, động cơ của việc nêu ý kiến đó. Do vậy, để nhận diện âm mưu, thủ đoạn lợi dụng PBXH để gây nhiễu thông tin, chống phá đất nước của các thế lực thù địch, phản động, trước mỗi thông tin được cho là PBXH, cần chú ý nguồn gốc thông tin đó ở đâu? Thực tế có những thông tin sai lệch không rõ nguồn, chỉ được viện dẫn rất vu vơ hoặc xuất phát từ “nghe nói”, đồn thổi! Đặc biệt, cần cảnh giác với thông tin được đưa ra từ những người vốn có thành kiến, có âm mưu, hành động chống phá Đảng, Nhà nước.

PBXH cần phải thực hiện một cách công khai, nghiêm túc đối với các dự án luật, văn bản quy phạm pháp luật, các chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng.

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích các diễn đàn PBXH với ý thức trách nhiệm và tinh thần xây dựng, các ý kiến đóng góp có tính khoa học, thực tiễn, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân, giải pháp để ngày càng đóng góp nhiều hơn, tốt hơn cho sự phát triển chung của đất nước. Ngược lại, mang danh PBXH để hành động chống phá, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của nhân dân là không thể chấp nhận. Những người lợi dụng danh nghĩa PBXH để xâm phạm lợi ích của Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì tuỳ tính chất, mức độ sẽ bị xử lý trước pháp luật.