Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022
Quyết chống "giặc nội xâm"
Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ
Phê phán luận điệu xuyên tạc: “Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực”
NHỮNG BIẾN TƯỚNG LÀM MÉO MÓ CHỦ NGHĨA MÁC
Có mấy biến thể Chủ
nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ
này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận
thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.
Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin
được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều.
Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải
là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình,
qua sự giới thiệu của những người cùng thời.
Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt
lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin.Với
Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng
vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan
và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin,
người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức,
rồi coi như hoàn tất mọi việc.
Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin
được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực
dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật
khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta
tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.
Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là
người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý
do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân
lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được
nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa
Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học
của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.
Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa
Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ
hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố
hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương
pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước
bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của
Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.
Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen
(Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức
trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều
hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như
Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con
rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan
điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành
những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và
vô hại...
Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay
“nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là
“xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết
chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như
lịch sử đã từng cảnh cáo.
Nhận diện những biến thể chủ yếu của
Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh
táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó
những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì
cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào
khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp
xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.
LỜI NÓI CẦN ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM
Thực
tế cho thấy, có rất nhiều người đã hứa là làm, nếu không có khả năng làm được
thì không hứa.Thế nhưng cũng có không ít người lại cứ hứa để lấy lòng người
khác, để được tăng số phiếu bầu, tăng tỷ lệ tín nhiệm. Cũng có người hứa ban
phát cho cấp dưới chức này, việc nọ để hưởng lợi trước mắt, một thời gian sau
có hỏi thì nhận được câu trả lời: "Tôi đã cố gắng hết sức rồi,
nhưng...".Họ thản nhiên xem lời hứa như một câu cửa miệng, hứa rồi chưa
thực hiện, rồi lại hứa bởi lẽ “Lời hứa chẳng mất tiền mua/ Hứa trên, hứa dưới
cho vừa lòng nhau”.
Cũng có những người hứa rồi quên ngay,
“đánh trống bỏ dùi”. Khi được hỏi đến lời đã hứa thì họ đưa ra những lý do lý
trấu, đùn đẩy lý do khách quan, thực tế là che đậy sự vô cảm, vô trách nhiệm,
thiếu tự trọng, thậm chí là sự dối trá. Đã có khá nhiều câu chuyện "cười
ra nước mắt" về hứa suông, hứa hão. Tại một cơ quan nọ, trước khi lấy
phiếu tín nhiệm bổ nhiệm cán bộ, người được dự kiến được đề nghị đã
"chạy" hết các đảng ủy viên, ai cũng hứa "sẽ ủng hộ chú".
Thế nhưng khi bỏ phiếu kín, người đó lại chẳng được phiếu nào.Ở một cơ quan
khác, một ông cấp trưởng trước khi nghỉ hưu hứa sẽ bàn giao "ghế" cho
hai ông cấp phó.Thế là hai ông đó đua nhau nịnh cấp trưởng và cạnh tranh lẫn
nhau, gây mất đoàn kết trong cơ quan và thế là cả cấp trưởng và cấp phó đều bị
xử lý kỷ luật và cùng nghỉ.
Ai cũng biết rằng, để lời hứa thành
hiện thực, có khi lại phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần có sự giúp đỡ, tạo
điều kiện, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan.Thế nhưng trách nhiệm
thực hiện lời hứa, trước hết vẫn thuộc về người hứa. Chúng ta đã có không ít
những quy định về giám sát lời hứa, về trách nhiệm cá nhân của người hứa nhưng
lại thiếu các chế tài xử lý những người hứa suông, hứa hão thành thử vẫn còn
những “miền đất hứa” cho những người này. Chính vì lẽ đó, theo ý kiến của nhiều
đại biểu Quốc hội và đông đảo cử tri, để phòng, chống bệnh hứa hão cần có những
loại vaccine và thuốc điều trị mới hữu hiệu hơn.
Trên bình diện xã hội, cần phát động phong
trào nói không với hứa suông, hứa hão, tố cáo những người hứa suông, hứa hão để
mọi người đều phải có trách nhiệm với lời hứa của mình. Các cơ quan thông tin đại
chúng nên đăng tải công khai những chuyện hứa suông hứa hão “điển hình” để những
người khác lấy đó làm gương. Các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước cần
tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, trong đó có việc giám sát thực hiện lời
hứa của cán bộ, đảng viên để từ đó loại bỏ ngay khỏi hàng ngũ cán bộ, công chức,
viên chức những phần tử đã thoái hóa, đã xuống cấp về đạo đức và nhân phẩm,
trong đó có những người đã hứa suông, hứa hão. Nhớ và thực hiện tốt lời
mình đã hứa cũng là phẩm chất cao đẹp của người cán bộ, đảng viên.
ĐỀ CAO PHÊ BÌNH VÀ TỰ PHÊ BÌNH
Thời gian qua,
khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc.
Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí
suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng
công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!
Chính
vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng
“tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả
nghiêm trọng.
Ngoài
những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí,
đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập,
quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý
“an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng
viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào
công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai
trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội
mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên
tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy
tín của Đảng.
“Trong
phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai
không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết
xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn
biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã
chỉ rõ.
Hội
nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo,
sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều
tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh
với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn
cục bộ, lợi ích nhóm...
Để
thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy
lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội
nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là:
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình
và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức
đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và
thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục
tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời
phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn
biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự
kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống
chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi
mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.
Có một Hà Nội kiên cường, đoàn kết, nghĩa tình như thế
QUÂN ĐỘI HÙNG MẠNH - ĐẤT NƯỚC MỚI HÙNG CƯỜNG
Lịch sử cách mạng
Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế
trận chiến tranh nhân dân.Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực
hiện phép dụng binh “ngụ binh ư nông”- quân gửi trong dân.
Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân
đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén,
hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc
gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.
Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm
vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu vực diễn
biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ.Các vấn
đề xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.
Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống
phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố tình hạ bệ vai
trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một
đội quân thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu
nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa
bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước?
Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất
nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa có bất kỳ phút
giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm
no, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ
phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng góp to
lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 35 năm thực hiện
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.
Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được
giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng để
có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà
nước, nhân dân giao phó.
Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ
trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội trong
mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và
dân quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước
được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu
tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác
của LLVT.
Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà
nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng,
nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung
ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X,
XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại,
ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên hiện đại.
Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu
phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề
vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ,
hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do
đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ
chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.
Khẩn trương xét xử 4 vụ án trọng điểm
Khắc phục “trên nóng, dưới lạnh”
BÓC TRẦN ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA QUÂN ĐỘI”
Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.
Thực
chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch,
hòng phá vỡ tính tổ chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho
Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm hiện thực âm
mưu “phi chính trị hóa quân đội”
Mưu đồ phía sau “những lời có
cánh”
Trên
một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân
tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch
Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân
là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.
Họ
thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là
lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết
cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở
nên hiệu quả.
Trên
luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí
của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ
quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một
cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân
sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực
“đông nhưng không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là
đủ (?)
Với
cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua,
cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc
về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động
quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...
Từ
những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên
thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc
gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong
xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của
mỗi quốc gia.
Thực
chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ
BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy
xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán”
quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn
nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan
hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.
Đừng để bị cuốn theo chiêu trò “lắc thuyền tạo sóng”
Mấy suy nghĩ về vấn đề xây dựng Đảng hiện nay
Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.
![]() |
Ảnh minh họa. |
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đối diện với thách thức, diễn biến hết sức phức tạp, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ, các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh mạng,… Đặc biệt, đại dịch COVID-19 từ đầu năm 2020, xảy ra đã tác động mạnh đến nước ta, gây thiệt hại về kinh tế - xã hội và sự phát triển của đất nước. Nếu không giữ vững bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí và hành động, không trong sạch về đạo đức lối sống, không chặt chẽ về tổ chức, không được nhân dân ủng hộ thì Đảng không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên.
Thực tế cho thấy bên cạnh đa số những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu được nhân dân tin tưởng, đã xuất hiện “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Điều đó đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng. Bởi vậy liên tiếp trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XI và XII, BCH Trung ương đã ban hành và tập trung nguồn lực để thực hiện hai nghị quyết chuyên đề quan trọng: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết tập trung vào 3 vấn đề trong đó có ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên đến cuối nhiệm kỳ tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa kịp giảm vẫn là vấn đề nhức nhối, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả điều hành của nhà nước. Từ thực trạng đó BCH Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 04 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái bao gồm 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cùng 4 nhóm nhiệm vụ giải pháp công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình, về cơ chế, chính sách, về kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng, về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII rất đồng bộ, rất toàn diện, rất quyết liệt và có tính đột phá, đem lại kết quả rất cụ thể, đã giải quyết được hàng loạt các vụ việc trong đó có những vấn đề khó, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tạo ra niềm tin to lớn trong nhân dân đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn của Đảng. Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, kết hợp giữa xây và chống. Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta khẳng định tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và nhấn mạnh một số nội dung mới, chủ yếu là: Mở rộng phạm vi không chỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát hợp tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh sự nguy hiểm của biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.
Năm 2016, Đảng đã khởi xướng chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô lớn mà người dân vẫn thường gọi là chiến dịch “đốt lò”, có người là Ủy viên Bộ Chính trị đã bị bắt, có người từng là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân phải đứng trước vành móng ngựa và Bộ trưởng về hưu cũng không thể “hạ cánh an toàn”... Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cùng với chiến dịch “đốt lò” chính là cuộc chiến trực diện nhất, quyết liệt nhất nhằm vào thế lực ghê gớm nhất đang thao túng mọi mặt và đẩy Đảng đứng trước nguy cơ của sự tồn vong, từ đây thắp lên trong nhân dân, cùng những đảng viên yêu Đảng niềm tin và khả năng tự soi, tự sửa, tự chỉnh đốn để trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên thời gian qua chúng ta vẫn phải chứng kiến những vụ việc tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên bị phanh phui. Không ít những cán bộ, đảng viên Trung ương đến địa phương bị xử lý kỷ luật. Lò lửa chống tham nhũng cháy mỗi ngày một to, củi mỗi ngày một nhiều.
Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc xử lý kỷ luật đưa những đảng viên suy thoái ra khỏi Đảng là giải pháp quan trọng cấp bách, thường xuyên. Nhưng giải pháp cơ bản mang tính chiến lược lâu dài thì phải chú trọng xây dựng tổ chức, xây dựng con người, mà công việc đó bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”. Chất lượng đảng viên quy định chất lượng các tổ chức Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng, vai trò lãnh đạo uy tín của Đảng đối với xã hội do phẩm chất năng lực và trình độ của mỗi đảng viên tạo thành. Đảng viên tốt là do rèn luyện mà nên, mà việc rèn luyện đó không phải ngày một, ngày hai, đó là cả quá trình kiên trì bền bỉ, tự mình trau dồi chuyên môn và phẩm chất đạo đức mỗi ngày. Trong cuộc sống ngày hôm nay với những cám dỗ lớn lao tiền tài, địa vị, nếu không tự mình trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng thì rất khó giữ được tấm lòng trong sáng, kiên định được mục tiêu lý tưởng của người đảng viên. Thực tế đã có những bài học cay đắng do thiếu tu dưỡng đạo đức mà thành, có những đảng viên trong gian khổ thì hăng hái trung thành, nhưng khi có trong tay quyền lực thì kiêu ngạo, xa xỉ, tham ô, lãng phí, có người đã kiên trì phấn đấu gần hết cuộc đời nhưng cuối cùng sự nghiệp lại đổ vỡ, thậm chí vướng vào vòng lao lý, đó là do họ đã không thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức, sớm bằng lòng tự mãn với bản thân để rồi dần suy thoái.
Việc xây dựng đảng viên tốt là công việc xây dựng con người để Đảng vững mạnh từ gốc. Xây dựng con người phải đi liền với xây dựng tổ chức, tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ, chi bộ chính là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh, các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh. Từ những sai phạm của đảng viên dẫn đến trách nhiệm của các chi bộ, sai phạm bắt đầu từ những khuyết điểm nhỏ nếu như không có sự phê bình nhắc nhở quản lý giáo dục của tổ chức lâu dần trở thành vết trượt dài không cứu vãn nổi. Công cuộc cách mạng do nhiều việc nhỏ, nhiều bộ phận xây dựng nên, không có những việc nhỏ, những bộ phận nhỏ cộng lại thì không thành việc lớn. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở phải chăm lo củng cố chi bộ giống như việc muốn làm nhà tốt phải xây nền cho vững, có chi bộ tốt, đảng viên tốt, nền móng vững chắc tất yếu Đảng sẽ mạnh. Trong đó quan trọng nhất vẫn ở người đảng viên, nếu mỗi đảng viên trong chi bộ thực sự suy ngẫm lại bản thân đã nỗ lực, đã cống hiến cho cơ quan, đơn vị, làm gì xứng đáng với lời thề trước Đảng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, có những sửa đổi dù nhỏ nhưng bền bỉ lâu dài thì Đảng ta ngày càng vững mạnh, vững vàng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân, gặt hái những vụ mùa hạnh phúc.
VTT (St)
Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá.
Lợi dụng những vấn
đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và
đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của
họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của
nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà
nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao
cảnh giác.
Người có biểu hiện
“tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ,
tăng dần về tính chất.
Ở mức độ biểu hiện
đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực
quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc
phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ
nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói
lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi
những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế
hệ cha anh.
Nhìn lại sự kiện
giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn
biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một
số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan
điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận”
theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong
nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức
mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.
Ở mức độ tiếp theo,
từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa
vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn
để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo
vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại
về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước
lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là
“miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn
tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến
tranh.
Ở mức độ cuối cùng,
họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh
của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất
trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh
vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh
vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác
nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận
nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ
trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua
bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến
thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và
nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện,
mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương;
xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...
Mục đích của những
thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an
trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo
ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân
vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng,
an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối
sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng
nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục
tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân,
tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.
Với vai trò là lực
lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân
dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về
trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm
vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu
hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu
quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối
của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch.
Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4
khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự
suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn
biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...
Bên cạnh những kết
quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực
lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo
vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến
sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín,
danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán
bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn
đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất
đạo đức, lối sống.
Để đẩy mạnh cuộc
đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển
biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng,
toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những
biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động
ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm
mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong,
gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng
phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình
trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi
dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.
