Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

Quyết chống "giặc nội xâm"

Theo quan điểm ấy, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng luôn tiền phong, gương mẫu, nói đi đôi với làm; luôn phấn đấu vì nhân dân, đất nước nên quy tụ được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc-nhân tố quyết định để đánh thắng những kẻ thù xâm lược. Tuy nhiên, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và nói rõ sự thật, chúng ta nhận thấy hiện nay, việc huy động sức mạnh lòng dân để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước đang gặp phải những rào cản từ một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái, biến chất với các biểu hiện: Nói, viết và làm không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; kén chọn chức danh, vị trí công tác, chọn nơi có nhiều lợi ích, việc dễ làm; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi khó khăn; chỉ tập trung giải quyết những vấn đề có lợi cho mình... Nhân dân không khỏi tâm tư trước tình trạng một số cán bộ, công chức "giàu thần tốc" không phải từ thu nhập chính đáng. Rồi trong thời kháng chiến, rất nhiều con cháu cán bộ cấp cao của Đảng, Nhà nước xung phong vào quân ngũ, xông pha nơi gian khổ, hiểm nguy nhưng bây giờ ngày càng ít con cháu cán bộ cấp cao tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự hoặc xông pha nơi khó khăn, gian khổ. Một số cán bộ không những nuông chiều con cháu thái quá mà còn tìm cách ưu ái để con cháu được thăng tiến “thần tốc”, được công tác ở những vị trí nhàn nhã... Ở góc độ khác, có những cán bộ, đảng viên không chỉ vô trách nhiệm mà còn vô liêm sỉ, trục lợi trên nỗi đau khổ của người dân (mà vụ án liên quan đến Công ty Việt Á và vụ lợi dụng những chuyến bay giải cứu đồng bào ở nước ngoài trong lúc cao điểm dịch Covid-19, với hàng chục, hàng trăm cán bộ, đảng viên vi phạm đã và đang bị nghiêm trị-là điển hình của loại cán bộ thoái hóa, biến chất). Quần chúng cũng không khỏi bất bình trước hiện tượng một số cán bộ ưu ái và bảo kê cho "doanh nghiệp sân sau"; doanh nghiệp ngang nhiên sai phạm mà cán bộ sở tại, lực lượng chức năng vẫn phớt lờ "cho qua" dù người dân nhiều lần phản ánh, kiến nghị cần kiểm tra, xử lý. Tư tưởng tính toán thực dụng, háo danh, hám lợi, làm gì cũng chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình lên trên hết, trước hết là biểu hiện rõ nhất của chủ nghĩa cá nhân-kẻ thù nguy hại số một đối với mỗi cán bộ, đảng viên và toàn Đảng. Đây chính là cái cớ để các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, thổi phồng nhằm chống phá cách mạng, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng và chế độ ta. Chính vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải ra sức đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân bởi đó chính là "giặc nội xâm", là kẻ thù của những người cách mạng, là nguy cơ làm suy yếu Đảng, giảm lòng tin của quần chúng đối với Đảng. Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, nhất là chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đang được Đảng ta tiến hành mạnh mẽ với quyết tâm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai", được nhân dân rất đồng tình, ủng hộ. Đó là phương thức vô cùng quan trọng để giữ vững và củng cố niềm tin của quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ-giữ vững "thế trận lòng dân". Tuy nhiên, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên vẫn hiện hữu là thực tế cần được nghiêm túc xem xét, đề ra giải pháp phòng ngừa, ngăn chặn và quyết liệt đấu tranh, khắc phục hiệu quả, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh: Tăng cường mối quan hệ gắn bó máu thịt giữa nhân dân với Đảng và chính quyền, tạo thành sức mạnh to lớn, vô địch để xây dựng Tổ quốc ta ngày càng cường thịnh, nhân dân ta ngày càng hạnh phúc, đất nước ta ngày càng phát triển, phồn vinh. Kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử hư hỏng, suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống. Ngày 1-8-2022, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đã ban hành Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW về một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực, trong đó xác định rõ 19 nhóm hành vi tiêu cực của cơ quan, tổ chức, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức (trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị) phải tập trung đấu tranh, xử lý. Việc quy định rõ những hành vi vi phạm này là hết sức cần thiết, có tác dụng cảnh báo, răn đe để cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức soi xét lại hành vi của mình nhằm tránh vi phạm; đồng thời làm cơ sở cho nhân dân giám sát, phòng, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức từ cấp trung ương tới cơ sở. Mong rằng, tổ chức đảng các cấp quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm hướng dẫn này để phòng, chống hiệu quả tham nhũng, tiêu cực và những hành vi là biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân trong một bộ phận cán bộ, đảng viên, qua đó giữ vững và củng cố niềm tin của nhân dân với Đảng và chính quyền để thế trận lòng dân thêm vững chắc.

Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ

Vì sao từ chức khó khăn? Trong hệ thống công quyền ở nước ta, cán bộ từ chức hiện nay được nhìn nhận dưới hai góc độ. Thứ nhất là cán bộ có sai phạm khi thực thi công vụ. Trong đó, một số từ chức vì tự trọng, danh dự khi sai phạm của họ chưa đến mức phải cách chức. Số còn lại từ chức, nghỉ việc vì sai phạm của họ đến mức phải xử lý, nếu họ không từ chức thì tổ chức cũng sẽ cách chức. Thứ hai là cán bộ từ chức vì sức khỏe; vì tạo cơ hội cho người khác; vì công việc không phù hợp với chuyên môn; vì có định hướng khác... Thẳng thắn nhìn nhận, từ chức vốn là vấn đề không dễ dàng với mỗi cá nhân do nó liên quan đến lợi ích, quyền lực, danh dự... thậm chí là "cơm áo" hằng ngày của chính người đó. Để từ chức trở thành nét văn hóa ứng xử của cán bộ Những năm tháng kháng chiến, giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ phần lớn xả thân đi làm cách mạng, chịu mọi tù đày cũng chỉ mong cách mạng thành công, đến ngày được giải phóng. Khi đó, bổng lộc, quyền lợi với họ chỉ là thứ yếu, họ sẵn sàng hy sinh cả tính mạng vì tổ chức. Bởi thế, chuyện họ từ chức khi thấy mình không hoàn thành tốt công việc, hay nhường cơ hội cho người khác... diễn ra nhẹ nhàng. Ngày nay, nhiều cán bộ trưởng thành trong hòa bình (một số được thừa hưởng cuộc sống đầy đủ từ gia đình), gắn liền với quyền lợi, bổng lộc, bởi thế không dễ để họ từ bỏ những điều đang có. Bên cạnh đó, gánh nặng khiến nhiều cán bộ không dám từ chức đó là sức ép từ gia đình, dòng họ, đồng nghiệp. Sức ép từ quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ” là áp lực lớn với nhiều cán bộ. Chức tước ở nước ta vẫn bị mặc định là “tiêu chuẩn” đánh giá sự thành đạt, địa vị xã hội không chỉ với cá nhân mà còn với gia đình, dòng họ, thậm chí mang tính địa phương. Dân tộc ta trọng tri thức, trọng danh nên luôn quan niệm “một người làm quan cả họ được nhờ”, “làm quan phát tài”. Về bản chất, đây là những quan niệm tốt đẹp, cái “cả họ được nhờ” ở đây là tiếng tốt, tiếng thơm, nhưng dần dần nó mặc nhiên được hiểu là sự nâng đỡ, mang lại lợi ích vật chất, quyền lực cho dòng họ. Mặt khác, dù là một góc khuất nhưng rất cần “điểm mặt, chỉ tên” đó là tình trạng cán bộ chạy chức, chạy quyền không phải là chuyện hiếm. Ai đó, bỏ tiền bạc để chạy chức thì khó để họ từ chức. Mặc dù Đảng, Nhà nước đã có những quy định rõ ràng cũng như khuyến khích cán bộ có sai phạm, không đủ uy tín từ chức, tuy vậy, chúng ta chưa xây dựng được thiết chế thuận tiện để cán bộ đã từ chức, nghỉ việc quay trở lại làm việc. Thực tế, những cán bộ đã từ chức, nghỉ việc thì rất khó có cơ hội trở lại hệ thống công quyền. Ở một chừng mực nhất định, trong lịch sử dân tộc, văn hóa công vụ về từ chức đã hình thành dù chưa phổ biến. Nó thể hiện lòng tự trọng, giữ phẩm giá của mỗi người. Khi thấy mình không đủ năng lực, không đủ uy tín để lãnh đạo, dẫn dắt, mở đường thì từ chức là cần thiết. Từ chức đúng cũng là tiếng nói phản biện, chống lại cái sai, cái không phù hợp. Lịch sử dân tộc ta đã có những người như thế. Nhà giáo-đại quan Chu Văn An, đại thi hào Nguyễn Trãi, Trình Quốc công Nguyễn Bỉnh Khiêm... là những người đã khẳng khái từ quan khi khuyên can triều đình những việc làm sai trái mà không được chấp thuận. Lịch sử dân tộc còn ghi việc nhiều vị quan tướng đã từ quan để phản đối sau khi Vua Tự Đức và triều đình nhà Nguyễn ký các hiệp ước đầu hàng thực dân Pháp. Cũng trong lịch sử các triều đại phong kiến, nhiều bậc danh tướng cầm quân đánh giặc, khi thất bại đã từ chức, tự trói mình chịu tội với triều đình. Thời đại Hồ Chí Minh, vì sự nghiệp lớn lao của cách mạng, nhiều đồng chí giữ các cương vị quan trọng đã sẵn sàng rút lui khỏi chức vụ để thuận lợi cho cách mạng, sẵn sàng từ chức khi thấy mình chưa hoàn thành tốt trọng trách. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thành lập, khi tổ chức Chính phủ lâm thời, có những đồng chí trong Ủy ban Trung ương Quốc dân Đại hội bầu ra, đáng lẽ cũng tham dự Chính phủ, song các đồng chí ấy đã tự động xin rút, để nhường chỗ cho những nhân sĩ yêu nước nhưng còn ở ngoài Việt Minh. Chính Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần phát biểu trước Đảng, trước dân cũng đã đánh giá rất cao công lao và sự hy sinh quyền lợi của các đồng chí đó. Trong quá trình công tác, cũng có nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng tự nguyện xin rút khỏi các vị trí lãnh đạo. Sau sai lầm của cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức đảng, đồng chí Trường Chinh xin từ chức Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí Hoàng Quốc Việt đã xin rút khỏi Bộ Chính trị. Hay như đồng chí Nguyễn Văn Linh từng xin rút khỏi Bộ Chính trị, nhưng sau đó, với những đóng góp quan trọng cho Đảng, cho đất nước, ông trở lại tham gia Bộ Chính trị rồi trở thành Tổng Bí thư. Ngày nay, có một số cán bộ mạnh dạn từ chức để dành cơ hội cho người khác. Một trong số đó là ông Nguyễn Sự, nguyên Bí thư Thành ủy Hội An (Quảng Nam). Ông Nguyễn Sự từ chức Bí thư Thành ủy trước hai năm của nhiệm kỳ. Việc ông Nguyễn Sự từ chức đã gây sự tiếc nuối với nhiều người vì ông là cán bộ có uy tín, luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao và không có sai phạm. Trên thực tế, thời gian qua, đã có một số cán bộ giữ các chức vụ quan trọng ở cả Trung ương và địa phương xin từ chức. Phần lớn số cán bộ này từ chức là do có vi phạm khuyết điểm. Dù việc họ từ chức là thể hiện sự chủ động, tuy nhiên việc từ chức sau khi đã nhận hình thức kỷ luật thì tính chất, ý nghĩa cũng khác. Chúng ta cần những cán bộ làm gương như ông Nguyễn Sự, với lời chia sẻ của ông: "Mình đã làm được một thời gian rồi, tư duy của mình không thể tạo ra những cái mới, vì thế, để tạo điều kiện cho lớp trẻ kế tục sự nghiệp của mình và sự nghiệp chung thì tốt nhất nên từ chức...". Trên thực tế, Đảng, Nhà nước đã có các quy định pháp lý cho việc từ chức. Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) của Đảng "về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ" xác định phải "xây dựng quy định để việc nhận trách nhiệm, từ chức, từ nhiệm trở thành nếp văn hóa ứng xử của cán bộ". Luật Công chức, viên chức cũng quy định những vấn đề này. Đặc biệt, ngày 3-11-2021, Bộ Chính trị ban hành Quy định 41-QĐ/TW “về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” và ngày 8-9-2022, Bộ Chính trị tiếp tục ban hành Thông báo số 20-TB/TW Kết luận của Bộ Chính trị “về chủ trương bố trí công tác đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý sau khi bị kỷ luật”. Điểm đáng chú ý, Bộ Chính trị khuyến khích cán bộ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc khiển trách mà năng lực hạn chế, uy tín giảm sút tự nguyện xin từ chức. Có thể thấy, những quy định này đã có nội hàm rất rõ khi coi việc từ chức là vấn đề bình thường trong thực thi công vụ. Nó cũng mở đường cho những cán bộ có sai phạm, yếu kém; đồng thời tạo thuận lợi cho những cán bộ muốn từ chức vì những lý do chính đáng khác. Tuy nhiên, trên thực tế, còn một rào cản khác khiến cho cán bộ không dễ dàng từ chức, đó là nếu đã từ chức thì gần như không còn cơ hội để quay lại hệ thống công quyền. Thực tế, các quy định của Đảng không chặn đường tiến của cán bộ đã từ chức. Điểm 2 Điều 10 Quy định số 41-QĐ/TW nêu: “2. Cán bộ đã từ chức và bố trí công tác khác, nếu được cấp có thẩm quyền đánh giá tốt, bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện và khắc phục được những yếu kém, sai phạm, khuyết điểm thì có thể được xem xét để quy hoạch, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử theo quy định”. Dù vậy, trên thực tế vẫn còn quan điểm nặng nề, định kiến khi phục chức, hay thăng chức cho một cán bộ từ chức. Dư luận dường như chưa sẵn sàng chấp nhận điều đó. Có ý kiến cho rằng, cần có một “Khoán 100”, “Khoán 10” trong việc “từ chức-phục chức”. Như đã đề cập, nếu ai đó đã chạy chức thì rất khó để họ từ chức, mà bằng mọi cách để giữ chức. Bởi thế, cần xử lý cương quyết với tình trạng chạy chức. Cùng với thực hiện nghiêm các quy định của Đảng về cán bộ nêu gương, chống chạy chức, chạy quyền thì điều rất quan trọng là thực hiện các giải pháp để ngăn chặn hành vi này. Từ thực tiễn cho thấy, Đảng phải kiên quyết siết chặt quy trình, quy định về công tác bổ nhiệm cán bộ theo hướng gắn trách nhiệm cụ thể của người đề cử cán bộ và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm. Trường hợp cán bộ có sai phạm trong phạm vi thời gian nhất định thì người đề cử và người đứng đầu cấp ủy đề nghị bổ nhiệm cán bộ đó cũng bị xem xét xử lý kỷ luật. Cùng với đó, cần thực hiện công khai danh sách cán bộ từ quy hoạch đến đề bạt, bổ nhiệm, đánh giá, luân chuyển để quần chúng biết và cùng giám sát. Thực hiện cơ chế cạnh tranh bình đẳng để tuyển chọn những người tài giỏi, trong sạch làm lãnh đạo, quản lý. Và điều quan trọng nhất, phải ban hành được tiêu chuẩn đánh giá cán bộ hằng năm một cách công khai, minh bạch, công bố trong tập thể để giám sát. Những người bị đánh giá hạn chế về năng lực, phẩm chất, không có quy hoạch thì cũng không dễ để chạy chức. Trở lại vấn đề gốc của người cán bộ thì từ chức cần được xem là vấn đề bình thường trong bộ máy công quyền, đúng cả về lý luận và thực tiễn. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nhiều lần khẳng định quan điểm xuyên suốt: “Cán bộ là công bộc của dân”; chế độ ta là chế độ dân chủ, nghĩa là nhân dân làm chủ... Chức tước, địa vị của cán bộ thực ra là do nhân dân ủy thác. Khi thấy mình không thể làm tốt vai trò là một công bộc thì từ chức là việc nên làm. Đó không đơn thuần là một hành động mà cần xem nó là văn hóa ứng xử của cán bộ, rất cần thiết dù trong bất cứ môi trường, công việc nào.

Phê phán luận điệu xuyên tạc: “Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực”

Bạo lực cách mạng là quy luật phổ biến của mọi cuộc cách mạng và Cách mạng Tháng Mười cũng không phải là ngoại lệ. Vì vậy, trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1846), C.Mác và Ph.Ăngghen đã xác định lợi ích của giai cấp vô sản gắn liền với việc xóa bỏ chế độ tư hữu và xây dựng, thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Để thực hiện được điều này cần phải tiến hành cách mạng dân chủ bạo lực. Ph.Ăngghen viết: “Như vậy, tôi đã xác định những ý định của những người cộng sản như thế này: 1) bảo vệ lợi ích của những người vô sản chống lại lợi ích của các nhà tư bản. 2) thực hiện việc đó thông qua thủ tiêu sở hữu tư nhân và thay thế nó bằng tài sản chung; 3) không thừa nhận phương sách nào khác, nhằm thực hiện những mục tiêu, ngoài cuộc cách mạng dân chủ bạo lực”. Cách mạng xã hội chủ nghĩa tất yếu đòi hỏi phải giải quyết vấn đề cơ bản nhất của cách mạng là vấn đề chính quyền. C.Mác từng chỉ rõ: “Đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản”. C.Mác, Ph.Ăngghen khẳng định, trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp công nhân phải trở thành giai cấp thống trị, phải thiết lập chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải sử dụng bạo lực cách mạng dưới mọi hình thức để đập tan bộ máy cai trị của giai cấp tư sản, thiết lập nhà nước chuyên chính vô sản, giai cấp công nhân phải giành lấy quyền dân chủ: “Mục đích của Liên đoàn những người cộng sản là dùng mọi biện pháp tuyên truyền và đấu tranh chính trị để thực hiện việc đập tan chế độ xã hội cũ, lật đổ giai cấp tư sản, giải phóng giai cấp vô sản về mặt tinh thần, chính trị và kinh tế, thực hiện cuộc cách mạng cộng sản… và không thể giải tán chừng nào mà cách mạng vô sản chưa đạt được mục đích cuối cùng của nó”(1). Phê phán luận điệu xuyên tạc: “Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực” Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng đánh giá: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Các giai cấp tư sản, địa chủ không tự nguyện rời bỏ địa vị thống trị, đã điên cuồng dùng bạo lực chống lại nhân dân. Trong điều kiện đó, không có bạo lực cách mạng của quần chúng thì cách mạng không thể thành công. Để bảo vệ thành quả cách mạng, quần chúng công - nông Nga đã đáp lại một cách kiên quyết nhất đối với bạo lực phản cách mạng của bọn địa chủ, tư bản và bọn đế quốc can thiệp. Về vấn đề này, trước đó, ngay trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra rằng, trong cuộc cách mạng xã hội tấn công chủ nghĩa tư bản, giai cấp công nhân nhất định phải giành lấy chính quyền. Hai ông viết: “Giai cấp nào muốn nắm quyền thống trị - ngay cả khi quyền thống trị của nó đòi hỏi phải thủ tiêu toàn bộ hình thức xã hội cũ và sự thống trị nói chung, như trong trường hợp của giai cấp vô sản, - thì giai cấp ấy trước hết phải chiếm lấy chính quyền…”(2). Để cách mạng vô sản giành được thắng lợi, phải sử dụng các hình thức đấu tranh, trong đó chủ yếu sử dụng bạo lực, vì vậy, trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Họ công khai tuyên bố rằng mục đích của họ chỉ có thể đạt được bằng cách dùng bạo lực lật đổ toàn bộ xã hội hiện hành. Mặc cho giai cấp thống trị run sợ trước một cuộc cách mạng cộng sản chủ nghĩa, trong cuộc cách mạng ấy những người vô sản chẳng mất gì hết, ngoài những xiềng xích trói buộc họ. Họ sẽ giành được cả thế giới”(3). C.Mác và Ph.Ăngghen phát triển một cách toàn diện tư tưởng về bạo lực cách mạng cả về mục đích, hình thức và phương pháp... trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của Công xã Pari. Xuất phát từ mục đích, tính chất của nhà nước của giai cấp tư sản là nhà nước dùng để duy trì sự bóc lột giai cấp những người lao động, nhà nước dùng bạo lực để trấn áp quần chúng và từ mục đích, tính chất của cuộc cách mạng vô sản mà C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng phải dùng bạo lực cách mạng để đập tan nhà nước của giai cấp bóc lột. Đặc biệt quân đội là công cụ bạo lực chủ yếu của giai cấp tư sản, phục vụ cho những mục đích của giai cấp tư sản, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng phải giải tán quân đội thường trực đó. Vấn đề xây dựng một quân đội của nhà nước mới cũng được đề cập một cách cụ thể. Trong cuộc cách mạng năm 1871 ở Pháp, giai cấp công nhân xây dựng cho mình những tiểu đoàn quân tình nguyện để bảo vệ thành quả cách mạng. Tư tưởng về bạo lực của các ông còn được thể hiện ở vấn đề vũ trang toàn dân chống lại kẻ thù. Lần đầu tiên tư tưởng này được đề cập như là một nguyên tắc xây dựng bạo lực của giai cấp công nhân, của nhà nước Công xã. Từ thực tiễn của Công xã mà C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng cần thiết phải xây dựng một quân đội thường trực mạnh, kiên quyết tấn công kẻ thù, tiêu diệt chúng ở những sào huyệt cuối cùng. Điều đó, có nghĩa là phải sử dụng bạo lực một cách triệt để, không khoan nhượng với kẻ thù. Bảo vệ và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác, trong hoàn cảnh chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh chuyển sang giai đoạn chủ nghĩa đế quốc. Ở giai đoạn này, tính chất thối nát, phản động, bị lịch sử lên án của chủ nghĩa đế quốc thể hiện ở chỗ, để chia lại thế giới đã chia xong, các nước đế quốc, các tập đoàn tư bản lũng đoạn đã đẩy nhân loại vào cuộc chiến tranh tàn khốc chưa từng thấy, cướp đi sinh mệnh hàng chục triệu người, làm cho hàng trăm triệu người khác rơi vào cảnh khốn cùng, điêu đứng. Là nơi tập trung những mâu thuẫn gay gắt của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản kết hợp với cả chế độ chuyên chế phong kiến, nước Nga Sa hoàng trở thành mắt xích yếu nhất trong sợi dây chuyền đế quốc chủ nghĩa. Ách áp bức tàn bạo của địa chủ và tư bản, cuộc chiến tranh thế giới mà Chính phủ Sa hoàng và chính phủ tư sản là đồng lõa đã đưa đất nước đến thảm họa, đẩy trên 100 triệu quần chúng vô sản, nửa vô sản, nông dân Nga vào tình cảnh không có sự lựa chọn nào khác ngoài con đường cách mạng. Nước Nga đế quốc chuyên chế của địa chủ và tư bản, “nhà tù của các dân tộc”, phải được thay thế bằng nước Nga dân chủ và cách mạng, đem lại hòa bình và quyền tự quyết cho các dân tộc, ruộng đất cho dân cày, chính quyền về tay công nhân, nông dân và binh lính cách mạng. V.I.Lênin đã chỉ rõ: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa có thể tiến hành được dưới hình thức một thời đại kết hợp cuộc nội chiến... với... một loạt phong trào dân chủ và cách mạng,.... phong trào giải phóng dân tộc trong các nước chưa phát triển, lạc hậu và bị áp bức”(4). Phê phán luận điệu xuyên tạc: “Cách mạng Tháng Mười là say mê bạo lực” V.I.Lênin khẳng định cần phải sử dụng một cách linh hoạt phương pháp đấu tranh cách mạng bằng bạo lực và phương pháp hòa bình. Đấu tranh giành và giữ chính quyền bằng phương pháp hòa bình là quý và hiếm. Với việc chứng kiến sự hoành hành của bộ máy cảnh sát, của chủ nghĩa quân phiệt, của bọn đế quốc phản động trong thời kỳ đế quốc chủ nghĩa, Người nhấn mạnh rằng, khả năng phát triển cách mạng một cách hòa bình là “cực kỳ quý báu” nhưng cũng “cực kỳ hiếm hoi” và “đặc biệt hiếm hoi”(5). V.I.Lênin đã phân tích đặc điểm của nhà nước tư sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa và rút ra kết luận về tính tất yếu phổ biến của cách mạng bạo lực. Vì vậy, suốt quá trình tham gia, lãnh đạo phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Nga từ những năm 90 của thế kỷ XIX cho đến khi tiến hành thắng lợi cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, giành được chính quyền, sử dụng bộ máy nhà nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội, V.I.Lênin đã không ngừng kế thừa, bảo vệ và đã có những đóng góp to lớn vào việc phát triển những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác nói chung cũng như quan điểm mácxít về bạo lực cách mạng nói riêng. V.I.Lênin chỉ rõ: “Không có cách mạng bạo lực thì không thể thay nhà nước tư sản bằng nhà nước vô sản được. Việc thủ tiêu nhà nước vô sản, nghĩa là việc thủ tiêu mọi nhà nước, chỉ có thể thực hiện được bằng con đường “tiêu vong” thôi”(6). Bạo lực cách mạng là phương thức duy nhất để một giai cấp mới, tiến bộ giành lấy quyền lực chính trị. Điều đó đúng đối với giai cấp vô sản và hơn thế, với giai cấp vô sản, bạo lực cách mạng còn phải thực hiện một nhiệm vụ quan trọng nữa, đó là bảo vệ thành quả cách mạng. Trong tác phẩm Cách mạng vô sản và tên phản bội Cau‐xky, viết xong ngày 10 tháng 11 năm 1918, V.I.Lênin đã đáp trả một cách đanh thép với Cau‐xky khi y nói “chuyên chính vô sản chỉ là câu nói cỏn con của Mác” và xuyên tạc lý luận về bạo lực của Chủ nghĩa Mác, đó là: “Chủ nghĩa xã hội phản đối việc dùng bạo lực đối với các dân tộc. Cái đó thì không ai chối cãi cả. Nhưng chủ nghĩa xã hội nói chung là phản đối việc dùng bạo lực đối với con người. Tuy nhiên, trừ bọn vô chính phủ thiên chúa giáo và những người theo thuyết của Tôn‐xtôi ra, thì cũng chưa có ai lại từ đó mà rút ra kết luận rằng chủ nghĩa xã hội phản đối bạo lực cách mạng cả. Cho nên nếu chỉ nói ʺbạo lựcʺ nói chung mà không phân tích những điều kiện phân biệt bạo lực phản động với bạo lực cách mạng, thì như thế tỏ ra là một kẻ tiểu thị dân từ bỏ cách mạng, hoặc chẳng qua là tự dối mình và đối người khác bằng những lời ngụy biện”. Ngày 7-11-1917, lần đầu tiên, công nhân, nông dân quần chúng lao động bị áp bức bóc lột, dưới sự lãnh đạo của chính đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, đã đứng lên dùng bạo lực cách mạng đập tan ách thống trị của bọn địa chủ và tư bản, tự mình nắm lấy chính quyền, tự mình bắt tay xây dựng xã hội mới, xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu của nó là chủ nghĩa xã hội. Khác với các cuộc cách mạng tư sản thay thế ách thống trị phong kiến bằng ách thống trị của giai cấp tư sản, Cách mạng Tháng Mười thực hiện sứ mệnh giải phóng quần chúng lao động khỏi mọi chế độ áp bức bóc lột, đưa họ từ thân phận người nô lệ làm thuê lên địa vị người chủ của xã hội. Có một sự thật là, V.I.Lênin và những người cộng sản Nga không phải không muốn giành chính quyền về tay cách mạng khi V.I.Lênin và Đảng bônsêvích chủ trương hạn chế ở mức thấp nhất sự đổ máu, mà nếu tránh được thì tốt nhất. Như mọi người đều biết, khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các xô viết!” là khẩu hiệu của sự phát triển cách mạng một cách hòa bình, sự phát triển đó có khả năng thực hiện vào tháng 4, tháng 5, tháng 6. Cho đến đầu tháng 7-1917, khi chính quyền đã chuyển sang tay bọn độc tài quân phiệt thì khẩu hiệu ấy không còn đúng nữa và Lênin thay bằng khẩu hiệu “Chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang!”. Nhưng đến đầu tháng 9-1917, khi có một động thái mới từ phía Đảng Xã hội cách mạng và bọn mensêvích, lại xuất hiện khả năng trở lại với khẩu hiệu “Toàn bộ chính quyền về tay các xô viết”, nghĩa là trở lại khả năng hòa bình phát triển cách mạng, cái khả năng mà Lênin nói là “cực kỳ hiếm hoi trong lịch sử và cực kỳ quý báu”, “cái khả năng đặc biệt hiếm hoi đó” “nếu còn dù chỉ là một phần trăm hy vọng thôi, thì hy vọng đó cũng rất đáng được níu lấy”. Và, V.I.Lênin viết một bài báo ngắn cho tờ “Con đường công nhân” nói rõ: Tôi viết những dòng trên đây hôm thứ Sáu vừa rồi, ngày 1 tháng 9, nhưng do những hoàn cảnh ngẫu nhiên nên đã không gửi đến ban biên tập trong cùng ngày hôm đó được. Sau khi đã đọc báo thứ bảy và báo chủ nhật, hôm nay tôi tự nhủ:... một vài ngày mà trong đó sự phát triển hòa bình của các sự biến vẫn còn có thể có được, có lẽ cũng đã thuộc về quá khứ rồi. Đúng, tất cả mọi cái đều chỉ rõ là những ngày mà ngẫu nhiên người ta có khả năng đi vào con đường phát triển một cách hòa bình, đều đã trôi qua mất rồi. Tôi chỉ còn có cách là gửi những dòng này đến ban biên tập và đề nghị đăng dưới đầu đề là “Những ý nghĩ muộn màng...”. Có thể đôi khi những ý nghĩ muộn màng cũng đem lại một ích lợi nào đấy. Đến khi khởi nghĩa vũ trang đã không thể tránh khỏi, cách mạng còn ra sức bảo vệ các công trình văn hóa của nước Nga và của nhân loại. Một ví dụ rất điển hình là Chiến hạm Rạng Đông khi nã pháo vào Cung điện Mùa Đông đã cố gắng tối đa giữ gìn nguyên vẹn công trình văn hóa - lịch sử nổi tiếng thế giới này. Vậy là, từ mục tiêu cho đến hành động, Cách mạng Tháng Mười thật sự là nhân đạo, văn hóa và văn minh. Không ai có thể bôi nhọ thanh danh của Cách mạng Tháng Mười! Có một sự thật nữa là, đêm ngày 26, rạng sáng 27-10, Đại hội các Xô-viết toàn Nga lần thứ II khai mạc ở Điện Xmô-nưi, tuyên bố thành lập Chính quyền Xô-viết do Lênin đứng đầu với nhiệm vụ hàng đầu là đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản và địa chủ, khẩn trương xây dựng bộ máy nhà nước mới - Nhà nước xã hội chủ nghĩa của những người lao động. Đại hội thông qua hai sắc lệnh do Lênin soạn thảo: “Sắc lệnh hòa bình”, kêu gọi các nước ngừng chiến để đàm phán; “Sắc lệnh ruộng đất”, tuyên bố thủ tiêu quyền tư hữu ruộng đất của địa chủ, chia ruộng đất cho nông dân. Đại hội tuyên bố và thừa nhận quyền phát triển tự do, quyền bình đẳng của các dân tộc Nga; bầu Chính phủ Xô-viết với tên gọi Hội đồng các Ủy viên nhân dân do Lênin đứng đầu. Trong Diễn văn truy điệu I-a. M. Xvéc-đlốp, đăng trên báo Sự thật, số 60, ngày 20 tháng Ba năm 1919, V.I.L.Lênin nói rõ về tính tất yếu và bản chất của bạo lực cách mạng của giai cấp công nhân: “Thưa các đồng chí! Theo quan điểm của những người xét đoán sự việc một cách nông cạn, theo quan điểm của số đông những kẻ thù của cuộc cách mạng của chúng ta hoặc theo quan điểm của những người ngày nay còn do dự giữa cách mạng và kẻ thù của cách mạng, thì nét nổi bật nhất của cách mạng là sự trấn áp thẳng tay và kiên quyết đối với bọn bóc lột và đối với những kẻ thù của nhân dân lao động. Hiển nhiên rằng nếu không làm như vậy, nếu không có bạo lực cách mạng, thì giai cấp vô sản sẽ không thể thắng được, nhưng lại cũng chắc chắn rằng bạo lực cách mạng chỉ là một thủ đoạn cần thiết và chính đáng của cách mạng trong những thời kỳ phát triển nhất định của nó, trong những điều kiện nhất định và đặc biệt, còn việc tổ chức quần chúng vô sản, việc tổ chức những người lao động thì trước kia và hiện nay vẫn là một đặc tính sâu xa hơn nhiều, thường xuyên hơn nhiều của cuộc cách mạng đó và là điều kiện của thắng lợi của nó”. Trong Đại hội VIII Đảng cộng sản (b) Nga, viết xong chậm nhất ngày 20 tháng Ba năm 1919, đăng lần đầu trên báo Sự Thật, số 113, ngày 22 tháng Tư năm 1956, VI.Lênin đã cảnh báo việc sử dụng bạo lực cách mạng khi Đảng nắm chính quyền: “Ở đây, chúng ta sẽ không làm được gì nếu không có sự giáo dục lâu dài và sự cải tạo lâu dài. Đây là một lĩnh vực mà bạo lực cách mạng và chuyên chính đưa đến những sự lạm dụng, và tôi muốn các đồng chí đề phòng những sự lạm dụng đó. Bạo lực cách mạng và chuyên chính là một điều rất tốt, nếu chúng ta sử dụng nó đúng lúc và đúng đối tượng. Nhưng không nên sử dụng nó trong lĩnh vực tổ chức. Chúng ta hoàn toàn chưa tiến hành tốt công cuộc giáo dục, cải tạo và công tác tổ chức lâu dài; chúng ta phải bắt tay vào việc đó một cách có hệ thống”. Dưới ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười, nhất là từ bài học về sử dụng bạo lực cách mạng, đối với sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Đảng ta trong Điện mật của Trung ương Đảng, Số 160, ngày 28 tháng 4 năm 1960 “Gửi xứ ủy Nam Bộ” đã chỉ rõ: Con đường giải phóng miền Nam nhất định phải dùng bạo lực cách mạng chống lại bạo lực phản cách mạng của Mỹ - Diệm”. Và trong bài Tăng cường đoàn kết nhất trí, tiến tới những thắng lợi mới! (Báo cáo của đồng chí Lê Duẩn về Hội nghị đại biểu các Đảng Cộng sản và Đảng Công nhân ở Mạc Tư Khoa, đọc trước Hội nghị Trung ương lần thứ ba) đã khẳng định: “Đấu tranh giai cấp, đấu tranh cách mạng bao giờ cũng phức tạp. Chính vì vậy mà V.I. Lênin đã từng dạy những người cộng sản chúng ta rằng giai cấp công nhân cách mạng và đội tiên phong của nó phải ra sức học tập các hình thức đấu tranh, hòa bình và không hòa bình, trong nghị viện và ngoài nghị viện, phải biết kịp thời sử dụng khả năng hòa bình để giành chính quyền Nhà nước khi có điều kiện, nhưng không được ôm ấp những ảo tưởng về khả năng đó, mà luôn luôn chuẩn bị đầy đủ cho khả năng không hòa bình, sẵn sàng dùng bạo lực cách mạng để đối phó với bạo lực phản cách mạng. Chỉ có nắm vững cả hai khả năng thì chúng ta mới không bỏ lỡ thời cơ thuận lợi, mới tránh được sai lầm trong những giờ phút quyết liệt của cuộc đấu tranh cách mạng”. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam, ngày 20 tháng 12 năm 1976, khi chỉ ra một trong những nguyên nhân thắng lợi của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đó là: “Đó là thắng lợi của phương pháp cách mạng: Sử dụng bạo lực cách mạng tổng hợp bao gồm lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; tiến hành khởi nghĩa từng phần ở nông thôn và từ khởi nghĩa phát triển thành chiến tranh cách mạng; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao; kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, nổi dậy và tiến công, tiến công và nổi dậy; đánh địch trên cả ba vùng chiến lược: Rừng núi, nông thôn đồng bằng và thành thị; đánh địch bằng ba mũi giáp công: Quân sự, chính trị, binh vận; kết hợp ba thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân du kích; kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chính quy; kết hợp đánh lớn, đánh vừa, đánh nhỏ; thực hiện làm chủ để tiêu diệt địch, tiêu diệt địch để làm chủ; nắm vững phương châm chiến lược đánh lâu dài, đồng thời biết tạo thời cơ và nắm vững thời cơ mở những cuộc tiến công chiến lược làm thay đổi cục diện chiến tranh, tiến lên thực hiện tổng tiến công và nổi dậy đè bẹp quân địch giành thắng lợi cuối cùng”. Thêm một sự thật nữa cũng là nguyên lý đó là: Cách mạng phải luôn luôn biết tự bảo vệ. Nguyên lý này càng đặc biệt quan trọng trong những thời điểm bước ngoặt của lịch sử. Rõ ràng là không tự đổi mới thường xuyên và đúng quy luật thì chủ nghĩa xã hội không thể tự bảo vệ có hiệu quả. Ngược lại, nếu cách mạng không biết tự bảo vệ, không kiên định trên những nguyên tắc cách mạng, nhất là từ bỏ bạo lực cách mạng, buông lỏng chuyên chính vô sản, không giữ vững thành quả cách mạng mà nhân dân đã giành được với biết bao mồ hôi và xương máu; nếu từ đội tiên phong đến các cấp chính quyền và tổ chức quần chúng bị rã rời, mất sức chiến đấu, thúc thủ và bất lực trước sức tấn công của kẻ thù thì sẽ chẳng còn gì để đổi mới, cải cách, cải tổ! Như vậy, sự thật trên đã bác bỏ mọi luận điệu khi cho rằng: Cách mạng Tháng Mười là “say mê bạo lực”. Như vậy, giá trị của Cách mạng Tháng Mười vẫn vĩnh hằng và tiếp tục soi sáng con đường chúng ta đi.

NHỮNG BIẾN TƯỚNG LÀM MÉO MÓ CHỦ NGHĨA MÁC

 

Có mấy biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin mà bấy lâu nay một bộ phận người cộng sản đã ngộ nhận, ở mức độ này hay khác, lầm lẫn dù tự giác hay không tự giác, trực tiếp làm lệch lạc nhận thức về Chủ nghĩa Mác-Lênin, vô hình bôi nhọ và phủ định nó.

          Một là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tạo ra tồn tại dưới dạng sản phẩm của sự diễn dịch chủ quan và giáo điều. Đây là dạng mà ngay lúc còn sinh thời, chính Mác phải thốt lên: “Tôi không phải là Mác và người theo Chủ nghĩa Mác”, khi ông đọc lại chính tư tưởng của mình, qua sự giới thiệu của những người cùng thời.

          Giờ đây, người ta lại chia cắt, biệt lập Mác thời trẻ và đem đối lập với Mác sau này; đem đối lập Mác với Lênin.Với Lênin, người ta cũng làm vậy. Nhất là sau khi Lênin mất, những di sản tư tưởng vĩ đại của ông bị người ta giải thích một cách thiên kiến, cứng nhắc, chủ quan và thô lậu. Và để tạo ra một thứ, theo họ được gọi là Chủ nghĩa Mác-Lênin, người ta đánh một dấu cộng đơn thuần, giữa Mác và Lênin, một cách hình thức, rồi coi như hoàn tất mọi việc.

          Hai là, biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được tồn tại một cách phổ biến theo kiểu bị cắt xén, chắp vá một cách thực dụng. Bằng cách phủ nhận sự tồn tại của thế giới khách quan, với các quy luật khách quan cũng như mối liên hệ hữu cơ giữa các sự vật, hiện tượng, người ta tuyệt đối hóa vai trò ngẫu nhiên, vai trò cảm giác và kinh nghiệm chủ quan.

          Và điều tệ hại, nguy hiểm nhất là người ta không thừa nhận tính chất khách quan của chân lý mà cho rằng chân lý do chủ quan cá nhân quyết định, không phải chỉ có một chân lý mà có nhiều chân lý, chỉ có cái gì có lợi cho họ mới là chân lý (!). Chủ nghĩa Mác-Lênin được nhào nặn và tạo ra dưới bàn tay của họ, theo cách đó. Và thế là Chủ nghĩa Mác-Lênin bị biến thành chủ nghĩa công cụ, chủ nghĩa hành vi, là thứ triết học của sức mạnh, dưới sự chi phối của chủ nghĩa thực dụng và chủ nghĩa cơ hội.

          Ba là, dạng biến thể Chủ nghĩa Mác-Lênin được dựng lên một cách giả trá theo chủ nghĩa xét lại và chủ nghĩa cơ hội. Trên bình diện này, chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa xét lại, với bản chất cố hữu của nó, đã sử dụng một cách khôn ngoan chủ nghĩa thực dụng làm cơ sở phương pháp luận cho nó. Họ nhân danh Chủ nghĩa Mác-Lênin để thực hiện mưu toan tước bỏ nội dung giai cấp và tính cách mạng cốt làm méo mó, sai lệch ý tưởng của Mác, kỳ thực nhằm chống phá, phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin.

          Tất cả các luận đề của Mác, Ăngghen (Friedrich Engels), Lênin đều bị diễn đạt lại một cách không rõ ràng, hết sức trừu tượng đến mức phi lô-gích và lịch sử... bằng những mánh khóe bịp bợm, điều hòa đến mức không thể nào hiểu được một cách rõ ràng và dứt khoát. Nói như Lênin, bao giờ nó cũng tìm con đường trung dung, nó quanh co, uốn khúc như con rắn nước giữa hai quan điểm đối chọi nhau, nó tìm cách “thỏa thuận” với cả quan điểm này lẫn quan điểm kia, vì nó quy những bất đồng ý kiến của mình lại thành những điều sửa đổi nhỏ nhặt, những sự hoài nghi, những nguyện vọng thành tâm và vô hại...

          Từ đó Chủ nghĩa Mác-Lênin, qua bàn tay “nhào nặn” của những kẻ cơ hội và xét lại, chỉ còn là nhãn hiệu, chỉ còn là “xác” bằng sự tưởng tượng ngây thơ nhưng có sức nặng đủ để tự phản lại và giết chết chính nó, khi nằm trong tay họ, vô hình bóp nghẹt công tác lý luận, như lịch sử đã từng cảnh cáo.

          Nhận diện những biến thể chủ yếu của Chủ nghĩa Mác-Lênin, dù chưa đầy đủ nhưng cốt để nói rằng, chúng ta cần tỉnh táo và cấp bách trở về với Chủ nghĩa Mác-Lênin, như nó vốn có và trả lại cho nó những giá trị đúng như nó đã có và đang được hiện thực hóa một cách không gì cưỡng nổi. Cố nhiên, đây là một công việc cực kỳ khó khăn nhưng không thể nào khác được, nếu muốn tiếp tục phát triển công tác lý luận ngang tầm sự nghiệp xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

 

LỜI NÓI CẦN ĐI ĐÔI VỚI VIỆC LÀM

 

Thực tế cho thấy, có rất nhiều người đã hứa là làm, nếu không có khả năng làm được thì không hứa.Thế nhưng cũng có không ít người lại cứ hứa để lấy lòng người khác, để được tăng số phiếu bầu, tăng tỷ lệ tín nhiệm. Cũng có người hứa ban phát cho cấp dưới chức này, việc nọ để hưởng lợi trước mắt, một thời gian sau có hỏi thì nhận được câu trả lời: "Tôi đã cố gắng hết sức rồi, nhưng...".Họ thản nhiên xem lời hứa như một câu cửa miệng, hứa rồi chưa thực hiện, rồi lại hứa bởi lẽ “Lời hứa chẳng mất tiền mua/ Hứa trên, hứa dưới cho vừa lòng nhau”.

          Cũng có những người hứa rồi quên ngay, “đánh trống bỏ dùi”. Khi được hỏi đến lời đã hứa thì họ đưa ra những lý do lý trấu, đùn đẩy lý do khách quan, thực tế là che đậy sự vô cảm, vô trách nhiệm, thiếu tự trọng, thậm chí là sự dối trá. Đã có khá nhiều câu chuyện "cười ra nước mắt" về hứa suông, hứa hão. Tại một cơ quan nọ, trước khi lấy phiếu tín nhiệm bổ nhiệm cán bộ, người được dự kiến được đề nghị đã "chạy" hết các đảng ủy viên, ai cũng hứa "sẽ ủng hộ chú". Thế nhưng khi bỏ phiếu kín, người đó lại chẳng được phiếu nào.Ở một cơ quan khác, một ông cấp trưởng trước khi nghỉ hưu hứa sẽ bàn giao "ghế" cho hai ông cấp phó.Thế là hai ông đó đua nhau nịnh cấp trưởng và cạnh tranh lẫn nhau, gây mất đoàn kết trong cơ quan và thế là cả cấp trưởng và cấp phó đều bị xử lý kỷ luật và cùng nghỉ. 

          Ai cũng biết rằng, để lời hứa thành hiện thực, có khi lại phải phụ thuộc vào nhiều yếu tố và cần có sự giúp đỡ, tạo điều kiện, sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức liên quan.Thế nhưng trách nhiệm thực hiện lời hứa, trước hết vẫn thuộc về người hứa. Chúng ta đã có không ít những quy định về giám sát lời hứa, về trách nhiệm cá nhân của người hứa nhưng lại thiếu các chế tài xử lý những người hứa suông, hứa hão thành thử vẫn còn những “miền đất hứa” cho những người này. Chính vì lẽ đó, theo ý kiến của nhiều đại biểu Quốc hội và đông đảo cử tri, để phòng, chống bệnh hứa hão cần có những loại vaccine và thuốc điều trị mới hữu hiệu hơn.

Trên bình diện xã hội, cần phát động phong trào nói không với hứa suông, hứa hão, tố cáo những người hứa suông, hứa hão để mọi người đều phải có trách nhiệm với lời hứa của mình. Các cơ quan thông tin đại chúng nên đăng tải công khai những chuyện hứa suông hứa hão “điển hình” để những người khác lấy đó làm gương. Các cơ quan chức năng của Đảng và Nhà nước cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, trong đó có việc giám sát thực hiện lời hứa của cán bộ, đảng viên để từ đó loại bỏ ngay khỏi hàng ngũ cán bộ, công chức, viên chức những phần tử đã thoái hóa, đã xuống cấp về đạo đức và nhân phẩm, trong đó có những người đã hứa suông, hứa hão. Nhớ và thực hiện tốt lời mình đã hứa cũng là phẩm chất cao đẹp của người cán bộ, đảng viên.

ĐỀ CAO PHÊ BÌNH VÀ TỰ PHÊ BÌNH

 

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.  

“Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau...” và “đoàn kết xuôi chiều” là một trong những biểu hiện của sự suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ rõ.

Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

Có một Hà Nội kiên cường, đoàn kết, nghĩa tình như thế

Có một Hà Nội kiên cường, đoàn kết, nghĩa tình như thế Ánh Dương | 17:52 05/08/2021 TTTĐ - Là một trong những địa phương chịu tác động nặng nề, nhiều nguy cơ rủi ro nhất cả nước trước đại dịch Covid-19 - kẻ thù vô hình dễ lây, khó phòng chống nhưng tất cả Đảng bộ, chính quyền và các tầng lớp Nhân dân TP Hà Nội đã cùng chung tay, chung sức, chung lòng đoàn kết để tham gia phòng, chống dịch. Chính trong hoàn cảnh khó khăn đó, những phẩm chất cao đẹp nhất của con người “không thơm cũng thể hoa nhài, dẫu không thành lịch cũng người Tràng An” có dịp tỏa sáng, từ những chiến sĩ nơi tuyến đầu chống dịch, đến những con người bình thường thầm lặng nơi hậu phương… Tất cả đều toát lên vẻ đẹp tâm hồn của những con người Thủ đô giàu tình nhân ái, đoàn kết, kiên cường, nhân văn và hết lòng vì cộng đồng. Bài 1: Sức mạnh từ sự đồng lòng chống "giặc" Covid-19 Có thể nói, ngay chính thời điểm này, Hà Nội đang bước vào giai đoạn chống dịch quyết liệt và căng thẳng nhất từ trước tới nay. Dù lo lắng về diễn biến của dịch bệnh nhưng ngay giữa lòng Thủ đô vẫn cảm nhận được niềm tin tưởng tuyệt đối của người dân vào những quyết sách kịp thời và giải pháp quyết liệt từ lãnh đạo thành phố, cũng như sự thực hiện chỉ đạo đúng, nghiêm túc của các cấp chính quyền địa phương trên địa bàn Thủ đô. Chính sức mạnh của sự tin tưởng, đồng lòng “quyết chiến, quyết thắng” trong phòng chống dịch Covid-19 giúp Hà Nội vẫn đang trong tầm kiểm soát tốt. Những "lá khiên thép" thầm lặng chốt chặn dịch Thực hiện công điện của Chủ tịch UBND TP Hà Nội về công tác phòng, chống dịch Covid-19, từ 6h ngày 14/7, 22 chốt kiểm dịch người và phương tiện ra vào cửa ngõ Thủ đô, trong đó Công an thành phố chủ trì phối hợp với các lực lượng gồm y tế, thanh tra giao thông, cán bộ tư pháp đã triển khai nhiệm vụ 24/24 giờ tại các chốt kiểm soát. Có mặt tại chốt kiểm soát số 8, nút giao thông quốc lộ 5B - Cổ Linh, quận Long Biên (Hà Nội), một trong những cửa ngõ ra, vào Thủ đô khá đông đúc mới chứng kiến hết sự vất vả của các chiến sĩ công an tại đây. Mặc dù đã gần 5h chiều nhưng cái nắng vẫn còn chói chang, phả hơi nóng hầm hập xuống mặt đường quốc lộ khiến cho các chiến sĩ dù đã ngồi trong bạt dã chiến nhưng ai ai cũng vã mồ hôi. Một trung úy - cán bộ Đội CSGT số 5 được tăng cường ở chốt chống dịch cho biết, do người dân nắm được việc triển khai chốt kiểm soát tại các cửa ngõ lớn, đường ngang, đường nhánh, bến thuỷ nội địa nên lượng xe ô tô qua chốt vào thời điểm này giảm hơn nhưng công việc của các anh vẫn tương đối vất vả. Dừng xe vào làm thủ tục kiểm tra, lái xe T.T.H (người Bắc Giang) cho biết, trước khi di chuyển vào trung tâm thành phố, anh và các lái xe đều biết và nắm rõ quy định về công tác phòng, chống dịch trên địa bàn. Vì thế, họ đã chuẩn bị đủ các loại giấy tờ theo quy định để có thể giúp cho các chiến sĩ công an thực hiện tốt công việc của mình một cách nhanh nhất. Anh quan sát thấy, đối với các trường hợp vi phạm, các chiến sĩ công an đều kiên quyết xử lý theo đúng quy định, yêu cầu quay xe về nơi xuất phát. Với lượng phương tiện vào Thủ đô liên tục, các chiến sĩ cùng với các thành viên khác tại chốt kiểm dịch luôn chân luôn tay, hầu như không có giây phút ngơi nghỉ với mong muốn không để lọt bất kỳ trường hợp nào có nguy cơ lây nhiễm vào thành phố. Được biết, đội CSGT số 5, Công an TP Hà Nội tham gia 2 chốt kiểm soát phòng, chống dịch Covid-19 tại các khu vực tiếp giáp với tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên. Ngoài việc kiểm soát phương tiện vận tải, xe ô tô cá nhân vào thành phố, bảo đảm an toàn trật tự, tổ công tác của Đội CSGT còn hướng dẫn, phân luồng giao thông; phối hợp với lực lượng y tế, quân đội dừng xe, đo thân nhiệt, yêu cầu khai báo y tế, kiểm tra việc chấp hành quy định phòng, chống dịch Covid-19 trên xe; Nhắc nhở, khuyến cáo việc chấp hành các quy định phòng, chống dịch Covid-19, thậm chí có thể test nhanh Covid-19 trong trường hợp khả nghi… Vất vả, gian nan là vậy nhưng thực hiện nghiêm chỉ đạo của UBND thành phố Hà Nội kiểm soát chặt các nguồn lây Covid-19 vào Hà Nội nhưng không “ngăn sông cấm chợ”, Phòng Cảnh sát giao thông đã quán triệt tổ trưởng 22 chốt trực tại các cửa ngõ Thủ đô, khi người dân ở tỉnh ngoài vào khu vực thành phố Hà Nội. Theo đó, để giảm phiền hà, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các phương tiện ngoài khai báo y tế bằng giấy có thể khai báo qua ứng dụng Bluezone, đồng thời để cán bộ y tế đo thân nhiệt và lấy thông tin. Đó chỉ một trong vô vàn những câu chuyện điển hình liên quan đến các lực lượng chức năng làm nhiệm vụ tại 22 chốt kiểm dịch Covid-19 tại các cửa ngõ vào thành phố. Bên cạnh đó, hàng loạt những câu chuyện khác ở các chốt kiểm dịch tại huyện, xã, phường trên địa bàn TP Hà Nội cũng cho thấy sự miệt mài, tận tâm, có tinh thần trách nhiệm, thậm chí, có nhiều người còn tự xung phong ra các chốt trực làm nhiệm vụ. Đồng lòng thực hiện giãn cách xã hội Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh rơi vào vòng xoáy Covid-19 vượt tầm kiểm soát, việc thành phố Hà Nội quyết định giãn cách từ 0h ngày 24/7 được cho là một quyết định khó khăn, dũng cảm nhưng cần thiết và sáng suốt. Quyết định này đã ngay lập tức nhận được sự đồng tình và ủng hộ rộng rãi của người dân. Rất nhiều người đã không giấu được sự xúc động mà bày tỏ lên mạng xã hội. Một cán bộ về hưu, từng công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo sáng 24/7 khi biết thông tin Hà Nội thực hiện giãn cách xã hội toàn thành phố đã viết trên Facebook: “Hôm nay Hà Nội thực hiện giãn cách theo Chỉ thị 16. Sáng ra thấy một số bạn nhà báo lên Facebook thể hiện sự đồng tình. Tôi cũng đồng tình… Quyết định giãn cách hôm nay khó khăn, dũng cảm nhưng mà cần thiết và sáng suốt. Tin rằng hôm nay và những ngày tới, Hà Nội không có cảnh ùn tắc ở các nút giao thông, cảnh chen lấn xét nghiệm. Giá hàng hóa không quá tăng, đặc biệt Hà Nội kiềm chế được tốc độ lây lan của dịch. Quyết định sáng suốt trên cơ sở chủ trương đúng và kinh nghiệm đắt giá vừa qua sẽ giúp Hà Nội cùng cả nước khống chế, đẩy lùi đại dịch”. Điều đặc biệt hơn, sau khi có thông báo giãn cách, tình trạng người dân Thủ đô đổ xô đi mua hàng đã không còn. Từ người bán lẫn người mua đều không còn tâm trạng gom giữ hàng hóa hay tăng giá như đợt trước. “Có được điều này là do người dân chúng tôi hoàn toàn tin tưởng vào quyết sách và những cam kết của lãnh đạo thành phố. Chúng tôi tin rằng, không có một lãnh đạo thành phố nào muốn người dân của mình bị bỏ đói. Bên cạnh đó, chúng tôi cũng nghĩ rằng mình ăn ít đi một chút cũng không sao vì đồng bào của mình ở TP HCM đang vô cùng khó khăn về lương thực. Chỉ mong TP Hà Nội vượt qua và không lặp lại câu chuyện như TP HCM là chúng tôi đã cảm ơn lắm rồi”, chị Phạm Thị Thanh Huyền, cư dân khu đô thị tại huyện Thanh Trì chia sẻ. Nói là vậy nhưng rõ ràng cuộc sống giãn cách sẽ ảnh hưởng tới cuộc sống mưu sinh, công việc thậm chí đến miếng cơm manh áo của nhiều người dân trên cả nước cũng như Thủ đô Hà Nội. Không phải ai cũng có nguồn tài chính dự trữ, không phải ai cũng có cơ hội làm công việc online tại nhà mà không bị cắt giảm lương. Đặc biệt, những người làm nghề buôn bán kinh doanh tự do ở các ngành nghề khác nhau thì đây thực sự là nỗi trăn trở. Vượt lên tất cả, họ vẫn thể hiện sự lạc quan và niềm tin tưởng rằng, đây chỉ là một giai đoạn khó khăn. Chung tay thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch thì Hà Nội sẽ sớm ổn định trở lại. Một chủ chủ cơ sở lẩu Thanh Thủy ở Khu đô thị Pháp Vân, Hoàng Mai, Hà Nội cho biết: “Thời gian qua, cửa hàng phải xoay sở bán online và chỉ bán cho khách mang về. Dù doanh thu sụt giảm nhưng cơ sở vẫn duy trì 3 nhân viên để tạo việc làm cho người lao động. Khách hàng ủng hộ nên chúng tôi vẫn có việc làm. Nay phải tạm đóng cửa kể từ ngày 24/7 nhưng chúng tôi đồng lòng tuân thủ. Mong Hà Nội thành công trong trận chiến này”. Có thể thấy, hiện nay, nhiệm vụ khống chế, đẩy lùi và chiến thắng dịch Covid-19 trên địa bàn Thủ đô đang rất khó khăn và bước vào giai đoạn vô cùng quyết liệt. Tin rằng, với sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân trên địa bàn Hà Nội, chúng ta hoàn toàn có khả năng kiểm soát dịch bệnh, đưa cuộc sống trở lại trạng thái bình thường mới.

QUÂN ĐỘI HÙNG MẠNH - ĐẤT NƯỚC MỚI HÙNG CƯỜNG

 

            Lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, QĐND Việt Nam luôn là lực lượng nòng cốt BVTQ, trong thế trận chiến tranh nhân dân.Nghệ thuật quân sự Việt Nam ngay từ xa xưa đã thực hiện phép dụng binh “ngụ binh ư nông”- quân gửi trong dân.

          Với chức năng, nhiệm vụ của mình, quân đội là lực lượng không thể thay thế, không thể phủ nhận, là công cụ sắc bén, hữu hiệu bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền toàn vẹn lãnh thổ, lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN.

          Trong khi đó, tính chất, yêu cầu nhiệm vụ BVTQ trong điều kiện mới ngày càng cao; tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, mau lẹ, tiềm ẩn nhiều nguy cơ tác động đến nhiệm vụ BVTQ.Các vấn đề xung đột, tranh chấp chủ quyền biển, đảo, biên giới diễn ra phức tạp.

          Các thế lực thù địch đẩy mạnh chống phá cách mạng Việt Nam, kích hoạt sự “chuyển màu” về chế độ, cố tình hạ bệ vai trò của Đảng và QĐND Việt Nam... Trước tình hình đó, nếu Việt Nam không có một đội quân thực sự “Cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại” thì liệu nhiệm vụ BVTQ có thể bảo đảm trong mọi tình huống, nhằm tạo môi trường hòa bình, ổn định, làm nền tảng cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước?

          Thực tế cho thấy, kể từ sau ngày đất nước hoàn toàn giải phóng, Bắc Nam sum họp một nhà, thì vẫn chưa có bất kỳ phút giây những người lính Cụ Hồ được ngơi nghỉ trong cuộc chiến giữ hòa bình, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.

          Trong mọi giai đoạn lịch sử, thời kỳ phát triển, quân đội luôn là lực lượng đi đầu và khẳng định những đóng góp to lớn đối với sự nghiệp cách mạng, nhất là trong suốt hành trình 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

          Vậy nên, với chức năng, nhiệm vụ được giao, QĐND Việt Nam-lực lượng nòng cốt BVTQ rất cần những đầu tư tương xứng để có đủ tiềm lực, thực lực và sức mạnh bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân giao phó.

          Ở đây, cần hiểu đúng và đủ về chủ trương xây dựng nền quốc phòng toàn dân và đặt nhiệm vụ xây dựng quân đội trong mối quan hệ tổng thể xây dựng 3 thứ quân: Bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương và dân quân tự vệ. Trong đó, với tầm nhìn chiến lược, các lực lượng phải từng bước được đầu tư để hiện đại hóa, chính quy hóa, nhưng trên hết và trước hết phải ưu tiên xây dựng QĐND Việt Nam trong mối quan hệ với các bộ phận, lực lượng khác của LLVT.

          Bởi thế, trong nhiều năm qua, Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương luôn nhất quán quyết tâm xây dựng quân đội cách mạng, nhưng đồng thời phải tiến lên chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Nghị quyết Trung ương các khóa XI, XII, XIII, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ IX, X, XI đều xác định phải đẩy nhanh tiến độ, chất lượng từng bước tiến lên hiện đại, ưu tiên xây dựng một số lực lượng trong quân đội tiến thẳng lên hiện đại.

          Đại hội XIII của Đảng nêu rõ mục tiêu phấn đấu: Đến năm 2025, cơ bản xây dựng quân đội, tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại... Đó là mục tiêu khách quan, đòi hỏi tất yếu của sự nghiệp BVTQ. Do đó, việc tập trung quan tâm, đầu tư nguồn lực cho xây dựng quân đội là nhiệm vụ chính trị của toàn Đảng, toàn dân và sự nghiệp cách mạng.

 

Khẩn trương xét xử 4 vụ án trọng điểm

Khẩn trương xét xử 4 vụ án trọng điểm Công tác điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng kinh tế được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, khởi tố mới nhiều vụ án, nhiều bị can, trong đó có nhiều bị can là cán bộ cấp cao, thực hiện đúng quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Trưởng ban Chỉ đạo “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Trong 6 tháng đầu năm 2021, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố mới 1.850 vụ án/3.294 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ, trong đó có 144 vụ án/384 bị can về các tội tham nhũng. Các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo, từ sau Phiên họp thứ 19 của Ban Chỉ đạo đến nay, đã khởi tố mới 7 vụ án /35 bị can, khởi tố thêm 55 bị can trong 10 vụ án; phục hồi điều tra 1 vụ án/7 bị can; kết thúc điều tra 12 vụ án/111 bị can, kết thúc điều tra bổ sung 2 vụ án/23 bị can; truy tố 11 vụ án/112 bị can; xét xử sơ thẩm 13 vụ án/82 bị cáo, xét xử phúc thẩm 6 vụ án/20 bị cáo. Các cơ quan chức năng khẩn trương đưa ra xét xử kịp thời 4 vụ án trọng điểm: Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng” và “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty cổ phần hóa dầu và nhiên liệu sinh học dầu khí Ethanol Phú Thọ, Tổng công ty Xây lắp dầu khí Việt Nam. Vụ án “Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí” xảy ra tại Dự án cải tạo và mở rộng sản xuất giai đoạn 2 - Công ty Gang thép Thái Nguyên. Vụ án “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát, lãng phí; vi phạm các quy định về quản lý đất đai” xảy ra tại Bộ Công Thương và Tổng công ty Bia - rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco) liên quan đến dự án 2 - 4 - 6 Hai Bà Trưng, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án "Buôn lậu; vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng; vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại Công ty Nhật Cường và một số đơn vị liên quan./.

Khắc phục “trên nóng, dưới lạnh”

Khắc phục “trên nóng, dưới lạnh” Qua công tác kiểm tra, thanh tra, kiểm soát nội bộ, các bộ, ngành đã phát hiện chuyển 125 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Điển hình như Thanh tra Chính phủ chuyển 26 vụ, Bộ Tài chính chuyển 95 vụ, Ngân hàng Nhà nước phát hiện, xử lý 5 vụ việc/5 người... Cơ quan chức năng đã xử lý kỷ luật 27 cán bộ, chiến sĩ trong Công an nhân dân, 16 cán bộ, đảng viên trong Quân đội nhân dân do tham nhũng, tiêu cực. Cơ quan điều tra Viện Kiểm sát nhân dân tối cao đã khởi tố mới 16 vụ án/19 bị can tham nhũng trong hoạt động tư pháp. Công tác phát hiện, xử lý tham nhũng ở nhiều địa phương có chuyển biến tích cực, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Các địa phương, thanh tra, kiểm tra đã chuyển 80 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật. Nhiều địa phương đã khởi tố mới nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế như: Khánh Hòa 7 vụ/8 bị can; Thanh Hóa 7 vụ/16 bị can; Bắc Ninh 6 vụ/22 bị can; Nam Định 5 vụ/10 bị can; Phú Thọ 4 vụ/10 bị can; Thái Nguyên 4 vụ/6 bị can; Quảng Nam 4 vụ/7 bị can; Nghệ An 3 vụ/8 bị can; Hà Tĩnh 3 vụ/7 bị can; Tây Ninh 3 vụ/7 bị can... Một số địa phương đã chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nhiều vụ việc, vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp được dư luận đồng tình, đánh giá cao như: Khánh Hòa, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh, An Giang, Phú Yên, Sơn La... Công tác thu hồi tài sản tham nhũng tiếp tục được quan tâm, đạt được nhiều kết quả. Các cơ quan tố tụng đã thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn giao dịch tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế có giá trị hơn 14.413 tỷ đồng. Cơ quan thi hành án dân sự đã thu hồi hơn 1.995 tỷ đồng. Các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản, phong tỏa tài khoản, ngăn chặn tẩu tán tài sản trị giá trên 1.467 tỷ đồng và nhiều tài sản có giá trị khác, trong giai đoạn thi hành án đã thu hồi gần 1.900 tỷ đồng. Thể chế về xây dựng Đảng, quản lý kinh tế - xã hội và phòng, chống tham nhũng tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, góp phần tạo cơ sở chính trị - pháp lý đồng bộ, khả thi để phòng, chống tham nhũng hiệu quả. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về phòng, chống tham nhũng tiếp tục được đẩy mạnh; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí và nhân dân trong phòng, chống tham nhũng. Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo, các thành viên Ban Chỉ đạo, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo và các cơ quan chức năng tiếp tục duy trì hoạt động nền nếp, hiệu quả./.

BÓC TRẦN ÂM MƯU “DÂN SỰ HÓA QUÂN ĐỘI”

         Gần đây, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều ý kiến cho rằng: Trung ương nên chủ trương “dân sự hóa hoạt động quân sự” để hạn chế hao tốn nguồn lực đầu tư cho quốc phòng, lại huy động được sức dân trong thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của quân đội.

          Thực chất, đằng sau những lập luận ấy là chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch, hòng phá vỡ tính tổ chức, tính kỷ luật, hạ bệ vai trò của quân đội, làm cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam xa rời mục tiêu, lý tưởng, nhằm hiện thực âm mưu “phi chính trị hóa quân đội”

Mưu đồ phía sau “những lời có cánh”

          Trên một số trang mạng nước ngoài gần đây đăng tải nhiều bài viết tập trung “phân tích” về chủ trương, cách thức vận hành trong công tác phòng, chống dịch Covid-19 ở Việt Nam. Các bài viết này “ngợi khen” việc nhất quán “mỗi người dân là một chiến sĩ” thể hiện cách làm sáng tạo, hiệu quả.

          Họ thuyết giảng: Vì dịch bệnh cũng là một loại “giặc” nên đáng ra quân đội phải là lực lượng duy nhất có trách nhiệm đương đầu, ứng phó. Thế nhưng, Việt Nam đã biết cách biến mỗi người dân thành một chiến sĩ nên công cuộc chống “giặc dịch” trở nên hiệu quả.

          Trên luận điệu đó, họ cố tình suy diễn: Quân đội không thể hiện được vai trò, vị trí của mình, nên cần phải “dân sự hóa hoạt động quân sự”; trao sứ mệnh bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) cho quần chúng. Có nghĩa, phải tinh giản biên chế trong quân đội một cách mạnh mẽ, chỉ để lại một vài cơ quan chỉ đạo chiến lược; cũng nên giảm ngân sách đầu tư cho quốc phòng và không nên “nuôi” một số lượng quân thường trực “đông nhưng không mạnh”... vì nếu có biến cố gì đi nữa, thì nhân dân ứng phó là đủ (?)

          Với cách lập luận lập lờ nêu trên khiến không ít người thoạt nghe đã sinh ra a dua, cổ xúy, tán dương. Một số người dân đón nhận thông tin một chiều tỏ ra nghi hoặc về sức mạnh quân đội, rồi bày tỏ sự ủng hộ “dân sự hóa” một số lĩnh vực hoạt động quân sự, dành ưu tiên nguồn lực cho phát triển kinh tế...

          Từ những phân tích trên, các bài viết còn viện dẫn về chuyện một số quốc gia trên thế giới không cần xây dựng lực lượng quân đội, chỉ thiết lập đội tự vệ quốc gia với quân số ít. Thậm chí, có quốc gia không bận tâm đến việc BVTQ, vì trong xu thế hội nhập, các nước sẽ biết cách tôn trọng độc lập, tự do, chủ quyền của mỗi quốc gia.

          Thực chất, đây là những thủ đoạn nhằm hạ thấp ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ BVTQ, hạ bệ vai trò của QĐND Việt Nam đối với sự nghiệp xây dựng, BVTQ; thúc đẩy xu hướng nhận thức tiêu cực, tạo áp lực tâm lý để xới lên đề xuất “giải tán” quân đội, cắt giảm nguồn lực đầu tư cho quân đội và quốc phòng. Đây là thủ đoạn nhằm phá vỡ “lõi hạt nhân” trong kết cấu thế trận chiến tranh nhân dân, làm tan hỏng, mục rũa nền quốc phòng toàn dân từ bên trong.


Đừng để bị cuốn theo chiêu trò “lắc thuyền tạo sóng”

Ngày 30-10-2022, thực hiện chỉ đạo của Thành ủy, UBND TP Hồ Chí Minh, các lực lượng công an, cơ quan quân sự phối hợp với một số ban, ngành, địa phương ở TP Hồ Chí Minh tổ chức diễn tập xử lý tình huống an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, cứu nạn, cứu hộ. Đây là cuộc diễn tập thường kỳ, được thông báo, tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng. Mục đích của diễn tập nhằm kiểm tra, đánh giá kết quả huấn luyện của các đơn vị, địa phương, tăng cường khả năng phòng thủ dân sự, kỹ năng phối hợp các lực lượng, chủ động ứng phó, xử lý hiệu quả các tình huống về an ninh trật tự, phòng, chống cháy nổ, cứu nạn, cứu hộ. Thông qua diễn tập để nhân dân thấy được năng lực, cách thức tổ chức phối hợp thực hiện nhiệm vụ của các lực lượng, củng cố lòng tin của nhân dân vào cấp ủy, chính quyền và lực lượng chức năng với vai trò là chỗ dựa vững chắc của nhân dân. Diễn biến và kết quả cuộc diễn tập đã phản ánh đúng mục đích, ý nghĩa và yêu cầu do Ban chỉ đạo, Ban tổ chức diễn tập đề ra. Đừng để bị cuốn theo chiêu trò “lắc thuyền tạo sóng” TP Hồ Chí Minh diễn tập tình huống xảy ra trên tòa nhà cao tầng ngày 30-10. Ảnh: thanhnien.com Ở các địa phương, hoạt động diễn tập là nội dung nằm trong chương trình, kế hoạch huấn luyện hằng năm của lực lượng công an, cơ quan quân sự các cấp. Tùy vào đặc điểm của từng đơn vị, địa phương và yêu cầu thực tế, hình thức, nội dung, phương pháp diễn tập sẽ được xác định phù hợp. Vào dịp cuối năm, bên cạnh hoạt động diễn tập của lực lượng chức năng các cấp, còn có các hoạt động phối hợp ra quân tấn công, trấn áp tội phạm. Các địa phương huy động lực lượng tuần tra, kiểm soát, duy trì trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội, ứng phó với các tình huống thiên tai, sự cố sập đổ công trình... Tất cả hoạt động ấy, dù diễn ra ở cấp độ, phạm vi nào cũng đều công khai, được tuyên truyền rộng rãi, có sự tham gia của nhiều thành phần, lực lượng... Những cuộc diễn tập thường kỳ, thường niên là hoạt động bình thường, hoàn toàn không có yếu tố bất thường, bất ngờ, đột biến... như nhiều thông tin lệch lạc, suy diễn, bịa đặt mà một số phần tử cực đoan có tư tưởng thù địch rêu rao trên không gian mạng những ngày qua. Vì sao lại có chuyện “lắc thuyền tạo sóng”? “Hóng biến”, “có biến lớn”, “biến căng”... là những thuật ngữ được các đối tượng bất mãn có tư tưởng thù địch với Đảng, Nhà nước sử dụng trên các nền tảng mạng xã hội để tuyên truyền, kích động, gây nhiễu loạn thông tin. Mục đích của họ là lèo lái dư luận hiểu sai lệch bản chất của các sự kiện đã và đang diễn ra một cách bình thường. Bám vào cuộc diễn tập như đã dẫn ở trên, họ cố tình “lắc thuyền” thật mạnh để tạo làn sóng dư luận đi ngược lại mục đích, ý nghĩa tốt đẹp của các sự kiện trong đời sống xã hội. Họ cho rằng, trong bối cảnh hiện nay, TP Hồ Chí Minh tổ chức diễn tập, trong đó có các nội dung như chống khủng bố, giải tán tụ tập đông người, thực binh xử lý tình huống an ninh trật tự, giải cứu con tin... là dấu hiệu cho thấy sắp có “biến lớn”. Họ lấy việc cơ quan điều tra của Bộ Công an ra quyết định khởi tố, bắt tạm giam bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát gán ghép vào hoạt động diễn tập của TP Hồ Chí Minh. Họ suy diễn rằng, đó là những “bằng chứng” về tình hình an ninh trật tự và đời sống kinh tế-xã hội ở thành phố này đang diễn biến phức tạp và sắp có biến động lớn?! Họ ngụy tạo các chứng cứ, luận điểm, lấy giả làm thật để suy đoán, xuyên tạc về công tác phòng, chống tham nhũng ở thành phố đông dân nhất cả nước nhằm hướng lái dư luận xã hội theo hướng tiêu cực. Có thể thấy, chiến dịch tuyên truyền chống phá của các thế lực thù địch nhân các sự kiện này là từ những cơn sóng thông tin tạo thành những đợt sóng dồn dập để gây hoang mang dư luận. Chiến dịch tuyên truyền do những phần tử phản động cấu kết với các phương tiện truyền thông phát tiếng Việt có tư tưởng thù địch ở hải ngoại thực hiện, đã đánh lừa được không ít người nhẹ dạ, cả tin. Ở chừng mực nào đó, nó đã gây rối ren trong một bộ phận dư luận xã hội, ảnh hưởng đến môi trường văn hóa, an ninh trên không gian mạng và đời sống của một bộ phận cư dân đô thị. Không ít người vì lo ngại, đã đến một số ngân hàng liên quan để rút tiền tiết kiệm trước kỳ hạn, suy đoán vô căn cứ về những diễn biến đời sống kinh tế-xã hội ở Sự tinh vi của chiêu trò “lắc thuyền tạo sóng” trong các hình thức truyền thông, chiến dịch tuyên truyền để thực hiện mục đích chống phá của các thế lực thù địch, không phải đến bây giờ mới diễn ra. Từ trước đến nay, mỗi khi đất nước ta có các sự kiện quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa, đối ngoại, quốc phòng, an ninh... là lập tức họ lại ký sinh, tầm gửi tư tưởng cực đoan, bất mãn, chống đối... để xuyên tạc sự thật. Trong giai đoạn này, họ tiếp tục chĩa mũi dùi kích động, chống phá vào TP Hồ Chí Minh bởi những lý do sau: Thứ nhất, những thông tin liên quan đến việc khởi tố, bắt tạm giam bà Trương Mỹ Lan và các đồng phạm là một vụ án lớn, phức tạp. Trong quá trình cơ quan chức năng đang thực hiện các thủ tục tố tụng, biện pháp nghiệp vụ mở rộng điều tra, các thế lực thù địch nhân cơ hội này tung tin thất thiệt, gây rối an ninh trật tự trên không gian mạng nhằm mưu đồ phá hoại. Thứ hai, sau đại dịch Covid-19, với vị thế là đầu tàu phát triển, TP Hồ Chí Minh đã và đang trên đà phục hồi nhanh chóng, mạnh mẽ các mục tiêu, chỉ số tăng trưởng kinh tế. Hiện thực đời sống xã hội vận động theo xu hướng tích cực ấy là điều các thế lực thù địch không bao giờ mong muốn. Họ tìm mọi cách để xuyên tạc, lôi kéo, phá hoại. Thứ ba, việc thực hiện các cơ chế, chính sách đặc thù để phát triển TP Hồ Chí Minh bên cạnh những thành tựu, thành tích đạt được đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế. Bám vào những “điểm nghẽn” bất cập này để xuyên tạc, phá hoại là mục đích của các thế lực thù địch... Chỉ ra những yếu tố căn bản như vậy để thấy rõ hơn mục tiêu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Họ không vô cớ “tạo sóng”, mà các chiến dịch tuyên truyền với mưu đồ chống phá đều được tính toán, thực hiện ở những thời điểm dư luận xã hội có biểu hiện tâm lý tò mò, hiếu kỳ; một bộ phận bộc lộ tâm lý hoang mang khi nhiều quan chức, nhân vật "cộm cán" lần lượt sa lưới pháp luật... Để không ai bị cuốn theo thông tin thất thiệt, phản động Tin giả (bao gồm cả những thông tin lừa đảo, thông tin phản động) đang là vấn nạn của môi trường số. Trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội vào ngày 4-11 vừa qua, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định: Hầu hết các vấn đề trong cuộc sống con người đã sang môi trường số. Tin giả không chỉ là vấn nạn ở Việt Nam mà là thách thức mang tính toàn cầu. Việc ngăn chặn thông tin xấu độc thực sự là công việc khó khăn. Giải pháp căn bản là cần có sự vào cuộc tích cực, chủ động của mọi bộ, ngành, các tổ chức, gia đình. Khi toàn xã hội vào cuộc thì mới giải quyết được căn cơ vấn đề này trên không gian mạng... Tận dụng triệt để tiện ích công nghệ số, lợi dụng vào những khó khăn, thách thức trong quản lý, xử lý, ngăn chặn thông tin xấu độc của các cơ quan quản lý Nhà nước, các thế lực thù địch ngày càng thực hiện nhiều hơn, sâu hơn, rộng hơn, tinh vi hơn... các chiến dịch tuyên truyền bằng thông tin thất thiệt, tư tưởng phản động. Thông tin trên môi trường số cũng giống như luồng cá giữa đồng nước mênh mông, rất khó để có thể ngăn chặn chúng. “Lắc thuyền tạo sóng” chỉ là một chiêu trò; xuyên tạc, lèo lái dư luận hiểu sai lệch về các sự kiện thường kỳ, thường niên cũng chỉ là một trong rất nhiều hình thức, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” do các thế lực thù địch thực hiện. Cách tốt nhất chúng ta cần làm là nâng cao khả năng miễn nhiễm, trình độ thẩm định, kỹ năng thanh lọc để không bị cuốn vào các thông tin thất thiệt, phản động do các thế lực thù địch tung ra. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu đối với cán bộ, đảng viên: “Không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động”. Muốn phát huy được sức mạnh cộng đồng, sức mạnh toàn xã hội trong môi trường số thì cán bộ, đảng viên phải thể hiện rõ tinh thần, trách nhiệm tiên phong. Bắt đầu từ mỗi chi bộ, đơn vị, tổ chức trong hệ thống chính trị phải nhất quán quan điểm “lấy xây để chống”, “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”. Chúng ta có mạng lưới thông tin từ hệ thống báo chí, truyền thông dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đó là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, là diễn đàn của toàn dân, toàn quân; là môi trường cung cấp, lan tỏa thông tin chính thống, tin cậy; là cơ sở để nhận diện, đấu tranh vạch trần, đẩy lùi các luận điệu xuyên tạc, thù địch...

Mấy suy nghĩ về vấn đề xây dựng Đảng hiện nay

 Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực.

Ảnh minh họa.

Ảnh minh họa.

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Bước vào công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đối diện với thách thức, diễn biến hết sức phức tạp, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ, các vấn đề an ninh phi truyền thống, biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, an ninh mạng,… Đặc biệt, đại dịch COVID-19 từ đầu năm 2020, xảy ra đã tác động mạnh đến nước ta, gây thiệt hại về kinh tế - xã hội và sự phát triển của đất nước. Nếu không giữ vững bản chất cách mạng của mình, không thật vững vàng về chính trị tư tưởng, không thống nhất cao về ý chí và hành động, không trong sạch về đạo đức lối sống, không chặt chẽ về tổ chức, không được nhân dân ủng hộ thì Đảng không thể đứng vững và đủ sức lãnh đạo đưa đất nước đi lên.

Thực tế cho thấy bên cạnh đa số những cán bộ, đảng viên tiên phong, gương mẫu được nhân dân tin tưởng, đã xuất hiện “một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc”. Điều đó đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của Đảng. Bởi vậy liên tiếp trong hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng khóa XI và XII, BCH Trung ương đã ban hành và tập trung nguồn lực để thực hiện hai nghị quyết chuyên đề quan trọng: Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay; Nghị quyết tập trung vào 3 vấn đề trong đó có ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên. Tuy nhiên đến cuối nhiệm kỳ tình trạng suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống trong đội ngũ cán bộ, đảng viên chưa kịp giảm vẫn là vấn đề nhức nhối, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả điều hành của nhà nước. Từ thực trạng đó BCH Trung ương khóa XII ban hành Nghị quyết số 04 về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, Nghị quyết chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái bao gồm 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cùng 4 nhóm nhiệm vụ giải pháp công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình, về cơ chế, chính sách, về kiểm tra, giám sát kỷ luật Đảng, về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội. Quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII rất đồng bộ, rất toàn diện, rất quyết liệt và có tính đột phá, đem lại kết quả rất cụ thể, đã giải quyết được hàng loạt các vụ việc trong đó có những vấn đề khó, những vấn đề phức tạp, nhạy cảm, tạo ra niềm tin to lớn trong nhân dân đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn của Đảng. Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, kết hợp giữa xây và chống. Đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII, Đảng ta khẳng định tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII và nhấn mạnh một số nội dung mới, chủ yếu là: Mở rộng phạm vi không chỉ xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả xây dựng hệ thống chính trị theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; cùng với ngăn chặn, đẩy lùi thì phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “tiêu cực” sát hợp tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh sự nguy hiểm của biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tin, nói trái, làm trái quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút về ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.

Năm 2016, Đảng đã khởi xướng chiến dịch chống tham nhũng trên quy mô lớn mà người dân vẫn thường gọi là chiến dịch “đốt lò”, có người là Ủy viên Bộ Chính trị đã bị bắt, có người từng là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân phải đứng trước vành móng ngựa và Bộ trưởng về hưu cũng không thể “hạ cánh an toàn”... Công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cùng với chiến dịch “đốt lò” chính là cuộc chiến trực diện nhất, quyết liệt nhất nhằm vào thế lực ghê gớm nhất đang thao túng mọi mặt và đẩy Đảng đứng trước nguy cơ của sự tồn vong, từ đây thắp lên trong nhân dân, cùng những đảng viên yêu Đảng niềm tin và khả năng tự soi, tự sửa, tự chỉnh đốn để trong sạch, vững mạnh. Tuy nhiên thời gian qua chúng ta vẫn phải chứng kiến những vụ việc tham nhũng, tiêu cực của cán bộ, đảng viên bị phanh phui. Không ít những cán bộ, đảng viên Trung ương đến địa phương bị xử lý kỷ luật. Lò lửa chống tham nhũng cháy mỗi ngày một to, củi mỗi ngày một nhiều.

Xây dựng, chỉnh đốn Đảng bằng việc xử lý kỷ luật đưa những đảng viên suy thoái ra khỏi Đảng là giải pháp quan trọng cấp bách, thường xuyên. Nhưng giải pháp cơ bản mang tính chiến lược lâu dài thì phải chú trọng xây dựng tổ chức, xây dựng con người, mà công việc đó bắt đầu từ việc nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Đảng là gồm các đảng viên mà tổ chức nên. Mọi công việc của Đảng đều do đảng viên làm. Mọi nghị quyết của Đảng đều do đảng viên chấp hành. Mọi chính sách của Đảng đều do đảng viên mà thấu đến quần chúng. Mọi khẩu hiệu, mọi kế hoạch của Đảng đều do đảng viên cố gắng thực hiện”. Chất lượng đảng viên quy định chất lượng các tổ chức Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của toàn Đảng, vai trò lãnh đạo uy tín của Đảng đối với xã hội do phẩm chất năng lực và trình độ của mỗi đảng viên tạo thành. Đảng viên tốt là do rèn luyện mà nên, mà việc rèn luyện đó không phải ngày một, ngày hai, đó là cả quá trình kiên trì bền bỉ, tự mình trau dồi chuyên môn và phẩm chất đạo đức mỗi ngày. Trong cuộc sống ngày hôm nay với những cám dỗ lớn lao tiền tài, địa vị, nếu không tự mình trau dồi, tu dưỡng đạo đức cách mạng thì rất khó giữ được tấm lòng trong sáng, kiên định được mục tiêu lý tưởng của người đảng viên. Thực tế đã có những bài học cay đắng do thiếu tu dưỡng đạo đức mà thành, có những đảng viên trong gian khổ thì hăng hái trung thành, nhưng khi có trong tay quyền lực thì kiêu ngạo, xa xỉ, tham ô, lãng phí, có người đã kiên trì phấn đấu gần hết cuộc đời nhưng cuối cùng sự nghiệp lại đổ vỡ, thậm chí vướng vào vòng lao lý, đó là do họ đã không thường xuyên rèn luyện tu dưỡng đạo đức, sớm bằng lòng tự mãn với bản thân để rồi dần suy thoái.

Việc xây dựng đảng viên tốt là công việc xây dựng con người để Đảng vững mạnh từ gốc. Xây dựng con người phải đi liền với xây dựng tổ chức, tổ chức gốc rễ của Đảng là chi bộ, chi bộ chính là sợi dây chuyền để liên hệ Đảng với quần chúng. Các chi bộ mạnh tức là Đảng mạnh, các chi ủy vững tức là chi bộ mạnh. Từ những sai phạm của đảng viên dẫn đến trách nhiệm của các chi bộ, sai phạm bắt đầu từ những khuyết điểm nhỏ nếu như không có sự phê bình nhắc nhở quản lý giáo dục của tổ chức lâu dần trở thành vết trượt dài không cứu vãn nổi. Công cuộc cách mạng do nhiều việc nhỏ, nhiều bộ phận xây dựng nên, không có những việc nhỏ, những bộ phận nhỏ cộng lại thì không thành việc lớn. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên nhắc nhở phải chăm lo củng cố chi bộ giống như việc muốn làm nhà tốt phải xây nền cho vững, có chi bộ tốt, đảng viên tốt, nền móng vững chắc tất yếu Đảng sẽ mạnh. Trong đó quan trọng nhất vẫn ở người đảng viên, nếu mỗi đảng viên trong chi bộ thực sự suy ngẫm lại bản thân đã nỗ lực, đã cống hiến cho cơ quan, đơn vị, làm gì xứng đáng với lời thề trước Đảng, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, có những sửa đổi dù nhỏ nhưng bền bỉ lâu dài thì Đảng ta ngày càng vững mạnh, vững vàng trong sự nghiệp lãnh đạo nhân dân, gặt hái những vụ mùa hạnh phúc.

VTT (St)

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá.

 

 

Lợi dụng những vấn đề liên quan đến quốc phòng - an ninh của đất nước, các thế lực thù địch đã và đang đẩy mạnh nhiều hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá. Mục đích của họ là tuyên truyền, kích động nhằm làm lung lạc, suy giảm hoặc mất niềm tin của nhân dân đối với đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về sự nghiệp an ninh, quốc phòng. Vì vậy, cần phải nhận diện và đề cao cảnh giác.

Người có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có 3 mức độ, tăng dần về tính chất.

Ở mức độ biểu hiện đầu tiên, người có biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh có thái độ thiếu tin tưởng vào khả năng, sức mạnh quốc phòng, an ninh trong bảo vệ Tổ quốc. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã viết nên những trang sử vẻ vang với bao chiến công chói lọi chống lại kẻ thù ngoại xâm. Nhưng đáng buồn thay, một số kẻ đã vội quên đi những chiến thắng oanh liệt được đánh đổi bằng hi sinh, xương máu của các thế hệ cha anh.

Nhìn lại sự kiện giàn khoan Hải Dương 981 năm 2014, khi tình hình biên giới, biển, đảo có diễn biến phức tạp, nhạy cảm, những người này thể hiện sự bi quan, hoang mang. Một số quay sang phê phán đường lối xử lý của Đảng, Nhà nước ta. Thậm chí có quan điểm còn cho rằng, Việt Nam là nước nhỏ nên cần phải nhượng bộ, “chấp nhận” theo sự sắp đặt của các nước lớn. Những biểu hiện ấy dẫn đến sự lệch lạc trong nhìn nhận, xem xét các vấn đề về quốc phòng, an ninh; làm ảnh hưởng tới sức mạnh chiến đấu của lực lượng vũ trang và đối sách của Đảng, Nhà nước.

Ở mức độ tiếp theo, từ thiếu niềm tin, họ bắt đầu đòi hỏi phải có sự đổi mới nhưng theo hướng dựa vào bên ngoài, xa rời nguyên tắc độc lập, tự chủ. Họ muốn đi theo các nước lớn để nhận được sự giúp đỡ về vũ khí, trang bị kỹ thuật nhằm gia tăng sức mạnh bảo vệ Tổ quốc. Đây là suy nghĩ phiến diện, một chiều, có thể gây ra mối nguy hại về lâu dài cho đất nước. Bởi lẽ, trên thế giới đã có việc nước nhỏ dựa vào nước lớn để trợ giúp về vũ khí, quân sự. Tuy nhiên, sự trợ giúp này không phải là “miễn phí”, mà còn kèm theo những yêu cầu, đòi hỏi từ nước lớn nên thường dẫn tới yếu tố gây mất ổn định chính trị, thậm chí nguy cơ xảy ra xung đột, chiến tranh.

Ở mức độ cuối cùng, họ xuyên tạc, công kích, chống đối đường lối, chính sách quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đây là mức độ biểu hiện, phản ánh rõ ràng tính chất trầm trọng và đặc biệt nguy hiểm của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau. Chủ yếu vẫn là: đòi phi chính trị hóa Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; xuyên tạc mục đích của các hợp đồng mua bán vũ khí, trang bị cho Quân đội và Công an; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; xuyên tạc lịch sử và thực trạng tình hình biên giới, hiện trạng trên biển...

Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân và dư luận quốc tế; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo ra sự nghi ngờ, hoang mang trong nhân dân; làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng, an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào CAND, QĐND hòng làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc và truyền thống tốt đẹp của CAND và QĐND.

Với vai trò là lực lượng vũ trang nhân dân, “thanh kiếm và lá chắn” bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân, CAND có vị trí đặc biệt quan trọng trong cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh. Ý thức sâu sắc về trách nhiệm của mình, lực lượng CAND đã thực hiện và hoàn thành tốt các nhiệm vụ chính trị quan trọng. Đã chủ động phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn và vô hiệu hóa nhiều âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch; tổ chức có hiệu quả công tác đấu tranh, phản bác các luận điệu xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quan điểm sai trái, thù địch. Đồng thời, gương mẫu đi đầu trong thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII của Đảng“Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”...

Bên cạnh những kết quả đạt được, cuộc đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của lực lượng CAND vẫn còn một số hạn chế, nhất là trong công tác quản lý cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ còn bộc lộ sơ hở, có nơi để xảy ra một số vụ việc cán bộ, chiến sĩ vi phạm kỷ luật của Đảng, của ngành, gây dư luận xấu, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự, truyền thống của lực lượng. Trong công tác và chiến đấu, một số cán bộ, chiến sĩ còn có tư tưởng trung bình chủ nghĩa, thiếu ý chí rèn luyện, phấn đấu vươn lên, thậm chí có biểu hiện phai nhạt lý tưởng, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống.

Để đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” nói chung và “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị phải nhận diện chính xác những biểu hiện của “tự chuyển biến”, “tự chuyển hóa”; kiên quyết, kiên trì, chủ động ngăn chặn, phản bác những thông tin, luận điệu sai trái, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Là lực lượng tiên phong, gương mẫu đi đầu, cán bộ, chiến sĩ CAND cần không ngừng rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao bản lĩnh chính trị, quyết tâm giữ mình trong sạch; không sa ngã trước những cám dỗ; không để các thế lực thù địch lợi dụng, mua chuộc, lôi kéo, tác động.