Thứ Hai, 7 tháng 11, 2022

Không ngừng củng cố môi trường hoà bình, ổn định

 

 Nhằm phát huy những thành tựu to lớn đã đạt được trong gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới và vươn tới mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng và Nhà nước Việt Nam tiếp tục kiên trì thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế với phương châm “Việt Nam sẵn sàng là bạn và là đối tác tin cậy của tất cả các nước trong cộng đồng thế giới phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển."*

Trên cơ sở đường lối đối ngoại đó, Việt Nam chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác nhiều mặt, song phương và đa phương với các nước và vùng lãnh thổ, trong đó ưu tiên cho việc phát triển quan hệ với các nước láng giềng và khu vực, với các nước và trung tâm chính trị, kinh tế quốc tế lớn, các tổ chức quốc tế và khu vực trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp Quốc. Trong những năm qua, Việt Nam đã chủ động đàm phán và ký kết với nhiều nước trong và ngoài khu vực những khuôn khổ quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện cho thế kỷ 21. Nhiều Hiệp định, thoả thuận quan trọng đã được ký kết như Hiệp định Thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ, Hiệp định về biên giới trên bộ, Hiệp định về phân định Vịnh Bắc Bộ và Hiệp định nghề cá với Trung Quốc, Hiệp định về phân định thềm lục địa với In-đô-nê-xia... Các mối quan hệ song phương và đa phương đó đã góp phần không nhỏ vào việc không ngừng củng cố môi trường hoà bình, ổn định và tạo mọi điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

Chủ động hội nhập quốc tế, trước hết là hội nhập kinh tế quốc tế là nội dung quan trọng trong đường lối và hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong bối cảnh thế giới toàn cầu hóa và cách mạng khoa học kỹ thuật diễn ra rất mạnh mẽ hiện nay. Trong tiến trình hội nhập này, Việt Nam đặt ưu tiên cao cho việc mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, mở rộng và đa dạng hoá thị trường, tranh thủ vốn, kinh nghiệm quản lý và khoa học công nghệ tiên tiên cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.

Bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ

 

Đảng ủy các cấp trong đơn vị đã tập trung bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ nhận thức sâu sắc đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, về mô hình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN, có sự quản lý của Nhà nước... Về lĩnh vực khoa học-công nghệ luôn quan tâm bồi dưỡng để đội ngũ cán bộ tiếp cận và làm chủ được những tri thức mới về kỹ thuật- công nghệ quân sự ở từng lĩnh vực liên quan, nhất là về khai thác, quản lý, huấn luyện, sử dụng các loại vũ khí, trang thiết bị hiện hiện có của đơn vị và thông tin khoa học quân sự về VKTB của quân đội các nước thuộc đối tượng tác chiến, của quân đội các nước trong khu vực; nghiên cứu tính chất, đặc điểm, âm mưu, thủ đoạn, phương thức tác chiến của các cuộc chiến tranh, bằng vũ khí công nghệ cao gần để vận dụng sát với thực tiễn huấn luyện và SSCĐ trong toàn đơn vị.

Về khả năng tư duy đã bồi dưỡng cho đội ngũ cán bộ hướng vào lý giải sâu sắc đặc điểm của lĩnh, vực QP, QS của đất nước trong xu thế toàn cầu hóa; đóng góp trí tuệ, tài năng vào hoàn thiện đường lối và phát triển khoa học quân sự, nhất là khoa học nghệ thuật quân sự; giải quyết có hiệu quả những vấn đề lý luận và thực tiễn đang đặt ra về xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận QPTD gắn với thế trận an ninh nhân dân, kết hợp phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng, an ninh, tăng cường sức mạnh quốc phòng bằng sức mạnh tổng hợp của cả kinh tế, chính trị, tinh thần, khoa học - công nghệ, đối ngoại, an ninh, và quân sự.

Nắm chắc tình hình để đấu tranh chống âm mưu thủ đoàn của các thế lực thù địch

 

Thế giới trong thế kỷ 21 tiếp tục chứng kiến nhiều biến đổi phức tạp và khó lường. Toàn cầu hoá tiếp tục phát triển sâu rộng và tác động tới tất cả các nước. Các quốc gia lớn nhỏ đang tham gia ngày càng tích cực vào quá trình hội nhập quốc tế. Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, phản ánh đòi hỏi bức xúc của các quốc gia, dân tộc trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, các cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, khủng bố vẫn xẩy ra ở nhiều nơi với tính chất và hình thức ngày càng đa dạng và phức tạp.

Thế kỷ 21 đang mở ra những cơ hội to lớn nhưng cũng chưa đựng rất nhiều thách thức. Sau gần hai thập kỷ tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước, thế và lực của nước ta đã lớn mạnh lên nhiều. Chúng ta có lợi thế rất lớn là tình hình chính trị - xã hội cơ bản ổn định. Môi trường hoà bình, sự hợp tác, liên kết quốc tế và những xu thế tích cực trên thế giới tiếp tục tạo điều kiện để Việt Nam phát huy nội lực và lợi thế so sánh, tranh thủ ngoại lực. Tuy nhiên, chúng ta cũng đang phải đối mặt với nhiều thách thức rất lớn. Bốn nguy cơ mà Đảng ta đã từng chỉ rõ tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII năm 1996 là tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, chệch hướng xã hội chủ nghĩa, nạn tham nhũng và tệ quan liêu, diễn biến hoà bình do các thế lực thù địch gây ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp, đan xen và tác động lẫn nhau.

VIỆT NAM KHÔNG CHỌN BÊN NÀO MÀ CHỌN CÔNG LÝ VÀ LẼ PHẢI!

     Chiều 5/11, trả lời chất vấn đại biểu Quốc hội về định hướng đối ngoại cơ bản của nước ta, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đường lối đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải.

Thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế
     Trước câu hỏi của đại biểu Nguyễn Anh Trí (Hà Nội) đề nghị Thủ tướng cho biết một số định hướng đối ngoại cơ bản và thái độ của chúng ta trước tình hình thế giới đang có nhiều diễn biến khó lường, khó đoán định, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, Việt Nam theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, là bạn bè tốt, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới, vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.
     Theo Thủ tướng, hiện nay, chúng ta đang thể chế hóa và cụ thể hóa đường lối chung này trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực. Trên thực tế, vừa qua Việt Nam thực hiện đường lối đối ngoại này với 3 trụ cột chính là ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa và đã thu được nhiều kết quả quan trọng trong ứng xử với những vấn đề quốc tế phức tạp.
     Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, đường lối đối ngoại của Việt Nam là không chọn bên, mà chọn công lý và lẽ phải. Vì vậy, chúng ta thể hiện thái độ theo tinh thần này trong các vấn đề liên quan quốc tế vì hòa bình, hợp tác, phát triển khu vực, trên thế giới phù hợp với đường lối, quan điểm đối ngoại của nước ta./.
Yêu nước ST.

Bác Hồ căn dặn đảng viên cần tự ý thức cải tạo và nâng cao mình

Trong diễn văn đọc tại lễ khai mạc lớp học lý luận khóa I, Trường Nguyễn Ái Quốc, ngày 7-9-1957, Bác Hồ căn dặn: “Muốn cải tạo xã hội mà đảng viên không tự cải tạo mình, không tự nâng cao mình thì không thể được”.

Bài diễn văn của Bác có ba phần lớn: Vì sao phải học lý luận; Tinh thần thái độ trong việc học lý luận và Vấn đề lý luận liên hệ với thực tiễn.

Đặt vấn đề vì sao phải học lý luận, Chủ tịch Hồ Chí Minh vạch rõ: Một trong những nguyên nhân dẫn đến sai lầm, khuyết điểm của Đảng ta là trình độ lý luận còn thấp kém. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ việc học lý luận có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục lập trường tư tưởng và đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Người đặc biệt nhấn mạnh: “Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của Chủ nghĩa Mác-Lênin. Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn mù quáng. Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông”.

Khi học tập lý luận yêu cầu cán bộ, đảng viên phải khiêm tốn thật thà, tự nguyện tự giác, nêu cao tác phong độc lập suy nghĩ và tự do tư tưởng, biết bảo vệ chân lý và đoàn kết giúp đỡ nhau trong học tập, phải mạnh dạn phê bình và thật thà tự phê bình. Kiêu ngạo, tự phụ, tự mãn là kẻ thù số một của học tập.


Chủ tịch Hồ Chí Minh khai mạc lớp học lý luận khóa I, Trường Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh), ngày 7-9-1957.

Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh có ý nghĩa to lớn, là sự định hướng cho quá trình học tập, tu dưỡng của mỗi cán bộ, đảng viên. Là người lãnh đạo, đảng viên phải xung kích, đi đầu, nêu gương về mọi mặt trong thực hiện nhiệm vụ. Muốn vậy, đảng viên phải không ngừng cải tạo mình, tự học, tự rèn để nâng cao trình độ, khắc phục những hạn chế, yếu kém để hoàn thiện bản thân. Hiện nay, đội ngũ cán bộ, đảng viên chịu tác động nhiều chiều của đời sống xã hội, trong đó có những tác động tiêu cực, đòi hỏi người đảng viên phải nâng cao bản lĩnh, trình độ, để không bị chi phối bởi các yếu tố tiêu cực.

Mai Năm Mới (ST)

Bám dân, hiểu dân, dựa vào dân

Thực tế cho thấy, không ít trường hợp từ những điểm nóng nhỏ lẻ có nguyên nhân là các vấn đề dân sinh, lại bị các lực lượng thù địch lợi dụng, thúc đẩy các mâu thuẫn nội tại, gây bức xúc trong dân chúng và tạo điểm nóng trên thực địa, hoặc trên mạng xã hội. Trong khi đội ngũ cán bộ không hiểu được dân, không nắm chắc dân càng tạo điều kiện để các thế lực thù địch hiện thực âm mưu đó một cách dễ dàng. Ví như, sự vụ ở xã Đồng Tâm (Mỹ Đức) có nguyên nhân từ việc cán bộ cơ sở không hiểu dân; không nắm chắc và chưa phân tích đúng tình hình, do đó lúng túng trong xử lý. Nghị quyết Đại hội lần thứ XVII Đảng bộ TP Hà Nội (nhiệm kỳ 2020-2025) thẳng thắn đánh giá: Công tác nắm bắt, dự báo tình hình, tham mưu với cấp ủy, chính quyền trong giải quyết một số vụ việc phát sinh, giải quyết điểm nóng... còn hạn chế. Nghị quyết xác định mục tiêu: Không để bị động, bất ngờ trong mọi tình huống; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, an toàn xã hội, phòng, chống tội phạm hiệu quả; bảo vệ tuyệt đối an toàn các cơ quan đầu não của Trung ương và thành phố, các sự kiện quốc gia, quốc tế. Một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện mục tiêu đó là phải bám dân, hiểu dân, dựa vào dân. Giải pháp này thực chất là một bài học thực tiễn quý báu, có tính kế thừa, kế tiếp qua các nhiệm kỳ. Theo thông tin từ đội ngũ làm công tác tuyên giáo, nhiều năm qua, trong quá trình tiến hành công tác dự báo và nắm bắt thông tin, cơ quan chức năng đặc biệt quan tâm đến cả những vấn đề thông tin nhỏ nhất từ quần chúng. Vì quần chúng có trăm nghìn “tai mắt” nên kẻ thù dẫu có tinh vi cũng khó lòng “cất giấu” mọi thủ đoạn, manh mối. Mặt khác, nếu kẻ thù có lợi dụng, mua chuộc quần chúng thì cũng bắt đầu từ những con người cụ thể. Do đó, để kiếm tìm, nhận rõ các nguy cơ, dấu hiệu nảy sinh dư luận tiêu cực, hình thành điểm nóng, Ban Tuyên giáo Thành ủy và ngành tuyên giáo định kỳ tổ chức các cuộc điều tra dư luận xã hội. Định kỳ hoặc đột xuất, ngành tuyên giáo tiến hành tổng hợp phản ánh tình hình xã hội theo phân cấp, trên cơ sở thu thập, phân tích, tổng hợp từ nhiều nguồn: Phản ánh của nhân dân, dư luận từ cơ sở, hội nghị, hội họp và báo chí... Hà Nội cũng sớm có chủ trương tạo mọi điều kiện, cơ chế để các cơ quan chức năng trong hệ thống chính trị tăng cường phối hợp, phát huy sức mạnh tham gia vào việc tổng hợp, phân tích tình hình nhân dân chính xác, kịp thời. Hiện ở Hà Nội có rất nhiều cơ quan cùng thực hiện chức năng, nhiệm vụ nắm tình hình nhân dân, như: Ban Tuyên giáo, Ban Dân vận, Mặt trận Tổ quốc, LLVT, cấp ủy các cấp, các cơ quan thanh tra, kiểm tra, tổ chức đoàn thể, các trung tâm nghiên cứu và hệ thống học viện, nhà trường... Theo chức năng, nhiệm vụ và theo phân công, phân cấp, mỗi cơ quan, đơn vị nắm số liệu, tư liệu liên quan tình hình nhân dân ở từng địa bàn, từng lĩnh vực, khu vực. Trên cơ sở đó, tổng hợp, phân tích qua các kênh thông tin của cả hệ thống chính trị làm cơ sở để tham mưu cho cấp ủy, chính quyền thành phố lãnh đạo, chỉ đạo đạt hiệu quả cao hơn. Một điểm nhấn khác trong công tác nắm bắt dư luận xã hội là Đảng bộ TP Hà Nội sớm có chủ trương, giải pháp, cơ chế, quy chế phát huy cao nhất vai trò của đội ngũ cộng tác viên; xây dựng các phương án, kịch bản công tác tuyên truyền đối với những vấn đề phức tạp, nhạy cảm trên địa bàn để sẵn sàng đối phó, chuẩn bị các phương án truyền thông trước mọi tình huống và đấu tranh hiệu quả trên không gian mạng. Với các giải pháp căn cơ, đồng bộ như vậy, cùng kinh nghiệm đã có là tiền đề nền tảng để cấp ủy, chính quyền nắm chắc "trận địa lòng dân"; kịp thời phát hiện, ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các lực lượng thù địch. Minh chứng là qua các kênh nắm bắt tư tưởng, tâm lý xã hội thường xuyên, đã giúp Hà Nội phát hiện, khống chế được các làn sóng dư luận tiêu cực và tin đồn; đẩy lùi mọi âm mưu, hành động chống phá của các thế lực thù địch, khống chế, triệt phá từ sớm những điểm nóng trên địa bàn. Ví như ngay từ những tháng đầu của quý II-2018, cơ quan chức năng đã sớm nắm thông tin, phát hiện: Vào thời điểm Quốc hội khóa XIV bàn về Dự thảo Luật Đơn vị Hành chính-Kinh tế đặc biệt và Dự thảo Luật An ninh mạng, trên các trang mạng xuất hiện những bài viết kích động biểu tình, gây bạo loạn chính trị, hướng vào nhiều tầng lớp xã hội. Các bài viết trên có nhiều nội dung bịa đặt, phiến diện hoặc bóp méo sự thật, “biên tập” có chủ đích một số nội dung của dự thảo luật nhằm gây bức xúc trong cộng đồng. Nhờ nắm chắc thông tin dư luận xã hội, Đảng bộ TP Hà Nội đã chủ động, tập trung lãnh đạo ngăn chặn ngay từ đầu những mầm mống nảy sinh điểm nóng, khống chế, kiểm soát được tình hình; trong khi vào cùng thời điểm, không ít địa phương khác lại rơi vào thế bị động, để xảy ra tụ tập đám đông, gây rối, đập phá công sở và tấn công người thi hành công vụ. Cũng với cách làm đó, hơn 13 năm trước, Hà Nội đã sớm nhận diện, bóc gỡ thành công các âm mưu kích động dư luận, chống phá chủ trương mở rộng địa giới hành chính Hà Nội; hay gần đây là thủ đoạn kêu gọi tẩy chay, vận động người dân không sử dụng tàu điện đường sắt trên cao Cát Linh-Hà Đông; bóc gỡ, triệt phá thành công nhiều âm mưu bôi nhọ, hạ bệ danh dự, uy tín của lãnh đạo Thủ đô... Thái Bằng 30A

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2022

Nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ trong Cách mạng Tháng Tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, với nghệ thuật chớp thời cơ chiến lược “ngàn năm có một”, nhân dân Việt Nam đã tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa “long trời, lở đất” giành chính quyền trong cả nước. Việc dự báo, nhận định đúng thời cơ, nghệ thuật chớp thời cơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng là vô cùng quan trọng, yếu tố quyết định đến sự thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - sự kiện vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 - sự kiện vĩ đại của lịch sử cách mạng Việt Nam.

1. Từ năm 1924, Nguyễn Ái Quốc đã cảnh báo: Tương lai có thể trở thành một lò lửa của chiến tranh thế giới... Đúng như dự đoán, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. Ngay sau khi xảy ra chiến tranh thế giới thứ hai, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (11-1939), Hội nghị Trung ương lần thứ 7 của Đảng (11-1940) đã phân tích tình hình trong và ngoài nước, các mâu thuẫn cơ bản và chủ yếu trước mắt, quyết định điều chỉnh về đường lối và phương pháp cách mạng, nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tập trung mũi nhọn vào chống bọn đế quốc và tay sai. Với Bác, việc phân tích tình hình, lựa chọn tình thế, nắm chắc thời cơ đã được thể hiện rõ ngay từ khi Bác còn nằm trong nhà tù của Quốc dân Đảng. Trong bài thơ “Học đánh cờ”, Bác viết: “Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ/ Kiên quyết không ngừng thế tiến công/ Lạc nước hai xe đành bỏ phí/ Gặp thời, một tốt cũng thành công”.

Tháng 6-1940, được tin Pháp đầu hàng Đức, Nguyễn Ái Quốc triệu tập một cuộc họp cơ quan của Đảng ở nước ngoài để phân tích tình hình và chuẩn bị kế hoạch hành động. Người đã phân tích và dự báo: “Việc Pháp mất nước là một cơ hội rất thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước ngay để tranh thủ thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng”. Sau cuộc họp này, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ thị cho các đồng chí Phùng Chí Kiên, Vũ Anh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp tìm cách về nước. Cuối tháng 9-1940, Người đã đưa ra một nhận định cực kỳ quan trọng: “Đồng minh sẽ thắng. Nhật, Pháp ở Đông Dương chóng chày sẽ bắn nhau. Việt Nam sẽ giành được độc lập”.

Ngày 28-01-1941, Nguyễn Ái Quốc cùng với các đồng chí Phùng Chí Kiên, Lê Quảng Ba lên đường về nước. Đến ngày 8-02-1941, Người đã đặt chân tới cột mốc 108 trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc, trở về nước sau 30 năm bôn ba, hoạt động ở nước ngoài.

Từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941, Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị BCH Trung ương Đảng lần thứ 8 để phân tích tình hình thế giới đang bị tác động sâu sắc bởi cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hội nghị đã xác định nhiệm vụ giải phóng dân tộc là nhiệm vụ bức thiết của các mạng Đông Dương, không biết chớp thời cơ thì vạn năm cũng không đòi lại được. “Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi được”.

Để tập hợp, quy tụ các lực lượng, cá nhân yêu nước trên toàn quốc, theo chủ trương của Hồ Chí Minh, ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh, gọi tắt là Mặt trận Việt Minh ra đời với Tuyên ngôn: “Việt Minh chủ trương liên hiệp hết thảy các giới đồng bào yêu nước, không phân biệt giàu nghèo, già trẻ, trai gái, không phân biệt tôn giáo và xu hướng chính trị, đặng cùng nhau mưu cuộc giải phóng và sinh tồn…”. Chương trình Việt Minh nêu rõ: “Liên hiệp hết thảy các tầng lớp nhân dân, các đoàn thể cách mạng, các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại, chiến đấu đánh đổ chủ nghĩa đế quốc phát xít Nhật, giành quyền độc lập cho nước Việt Nam… lập chính phủ nhân dân của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, do Quốc dân Đại hội cử lên, lấy cờ đỏ, sao vàng năm cánh làm quốc kỳ…”. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương Đảng, đứng đầu là Hồ Chí Minh, công tác xây dựng lực lượng cách mạng, phát động phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền đã diễn ra sôi nổi trong toàn quốc. Phong trào xây dựng các đoàn thể cứu quốc, như Hội Nông dân cứu quốc, Hội Thanh niên cứu quốc, Hội Phụ nữ cứu quốc, Hội Công nhân cứu quốc… diễn ra sôi nổi từ cuối năm 1941 ở cả nông thôn và thành thị. Việc xây dựng các căn cứ địa cũng được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Người, khu căn cứ địa Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên đã phát triển mạnh mẽ và trở thành khu giải phóng Việt Bắc. Hồ Chí Minh cũng chỉ thị cho đồng chí Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân vào ngày 22-12-1944. Đến giữa năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng, lực lượng cách mạng trên toàn quốc đã phát triển vượt bậc, sẵn sàng cho thời cơ đến.

Tình hình chiến sự đã diễn ra đúng như dự đoán. 21 giờ 30 phút ngày 9-3-1945, Nhật đồng loạt tấn công Pháp trên toàn Đông Dương. Ngày 10-3, quân Pháp đầu hàng Nhật. Ngay trong đêm Nhật đảo chính Pháp, Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng đã họp ở Đình Bảng. Hội nghị đã đưa ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Bản Chỉ thị nêu rõ: “Ngay bây giờ phát động chiến tranh du kích, chiếm căn cứ, duy trì và mở rộng chiến tranh du kích phải là phương pháp duy nhất của dân tộc ta để đóng vai trò chủ động trong việc đánh đuổi quân ăn cướp Nhật bản ra khỏi nước, chuẩn bị hưởng ứng quân Đồng minh một cách tích cực”.

Tháng 5-1945, sau khi phát xít Ý, Đức bị đánh bại ở châu Âu, ngày 9-8-1945, Hồng quân Liên Xô tuyên chiến với phát xít Nhật. 12 giờ ngày 15-8-1945, Nhật hoàng chấp nhận bản Tuyên bố chung của các cường quốc – đầu hàng Đồng minh. Quân đội Nhật đang đóng ở Việt Nam hoang mang, rệu rã; Chính phủ thân Nhật bị lung lay cực điểm.

Ngày 13-8-1945, Kỳ bộ Việt Minh Bắc kỳ đã ra thông báo khẩn: “Thời kỳ tiền khởi nghĩa đã hết, chúng ta đứng trong tình thế trực tiếp khởi nghĩa”. Hồ Chí Minh nhận rõ thời cơ tổng khởi nghĩa đã chính thức xuất hiện và thời cơ này chỉ tồn tại trong khoảng hai mươi ngày, từ ngày 15-8. Người  khẩn trương chỉ đạo Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng, Hội nghị khẳng định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập đã tới”, cách mạng Việt Nam lúc này đang trong “tình thế vô cùng khẩn cấp”. Đại hội quốc dân (ngày 16 và 17-8) tại Tân Trào đã thành lập Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc và Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam - Chính phủ lâm thời sau khi cách mạng thắng lợi.

Ngày 17-8-1945, trước đình Tân Trào, thay mặt Ủy ban dân tộc giải phóng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lời tuyên thệ: “Chúng tôi là những người được quốc dân đại biểu bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc để lãnh đạo cuộc cách mạng của nhân dân ta. Trước lá cờ thiêng liêng của Tổ quốc, chúng tôi nguyện kiên quyết lãnh đạo nhân dân tiến lên, ra sức chiến đấu chống quân thù, giành độc lập cho Tổ quốc. Dù phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, quyết không lùi bước…”.

Ngày 18-8-1945, Hồ Chí Minh viết thư kêu gọi đồng bào cả nước: “Hỡi đồng bào yêu quí! Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến! Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta. Nhiều dân tộc bị áp bức trên thế giới đang đua nhau tiến bước giành quyền độc lập. Chúng ta không thể chậm trễ. Tiến lên! Tiến lên! Dười lá cờ Việt Minh, đồng bào hãy dũng cảm tiến lên”.

Đáp lời kêu gọi của Người và Trung ương Đảng, chỉ trong vòng 15 ngày (từ ngày 14 đến ngày 28-8), toàn thể nhân dân Việt Nam trên khắp mọi miền đất nước, từ thành thị đến nông thôn, từ miền núi đến đồng bằng, hải đảo… đều nhất loạt đứng lên tổ chức khởi nghĩa, lập ra chính quyền nhân dân. Ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ cách mạng lâm thời đọc Bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Bản tuyên ngôn đã khẳng định: “Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc ấy phải được độc lập!”.

2. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hội tụ của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; là thắng lợi vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng vận dụng một cách sáng tạo để “lựa tình thế, chọn thời cơ”, đưa ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo ở tầm chiến lược. Thắng lợi đó cũng chứng minh rằng, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có truyền thống nồng nàn yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng chân chính có thể làm nên những sự kiện vĩ đại có tầm vóc đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới.

Nhiều bài học kinh nghiệm trong Cách mạng Tháng Tám của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể vận dụng vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay. Đó là bài học về sự kiên quyết điều chỉnh đường lối cách mạng khi cần, trên cơ sở phương hướng chiến lược cách mạng đúng đắn, mục tiêu cách mạng nhất quán. Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo Đảng không ngừng bổ sung, phát triển, cụ thể hóa đường lối cho phù hợp với tình hình trong nước và quốc tế. Bài học về chớp thời cơ và tận dụng thời cơ để giành thắng lợi. Nghệ thuật chớp thời cơ của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn luôn là bài học cực kỳ quý báu cho cả hiện tại và tương lai, đang được Đảng và nhân dân ta kế thừa, phát huy, góp phần tạo nên những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng đất nước. Bài học về tập hợp, đoàn kết, lôi cuốn toàn dân tham gia sự nghiệp cách mạng, tham gia sự nghiệp xây dựng đất nước; nâng cao ý thức tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của dân tộc, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế. Bài học về xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; giữ vững ổn định chính trị, xã hội, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng đất nước Việt Nam: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

VTT Sưu tầm bài của: Trần Công Huyền

CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA - CÀNG NHÌN XA CÀNG HIỂU GẦN!

CÁCH MẠNG THÁNG 10 NGA - CHỦ ĐỀ CŨ NHƯNG LUÔN HẤP DẪN 
     Hơn 105 năm đã trôi qua, kể từ ngày Cách mạng Tháng Mười Nga giành thắng lợi trên đất nước của Lênin và nhân dân Nga vĩ đại, đến nay, những “kẻ thù lớn nhỏ” của ông và Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn luôn tìm mọi cách để chống phá, phủ nhận tầm vóc, giá trị và ý nghĩa của cuộc cách mạng vĩ đại này. Vì sao đã hơn một thế kỷ trôi qua, các thế lực thù địch lại căm ghét và điên cuồng chống phá Cách mạng Tháng Mười Nga một cách quyết liệt như vậy? Phải chăng cuộc cách mạng này là “vũ khí”, là “thuốc độc” tiêu diệt chủ nghĩa tư bản và lợi ích của giai cấp bóc lột?
     Thực tế chứng minh rằng những “kẻ thù lớn nhỏ” của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng chính là những kẻ thù của chủ nghĩa Mác - Lênin, kẻ thù của học thuyết khoa học, cách mạng - hệ tư tưởng của giai cấp công nhân, của tiến bộ xã hội. Bởi lẽ, đằng sau các luận điệu chống phá, xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga là sự xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin; phủ nhận hệ tư tưởng của giai cấp công nhân; nói xấu, bôi đen, hạ thấp uy tín, danh dự, tầm ảnh hưởng của C. Mác, Ph. Ănnghen, V. I. Lênin và các đảng cộng sản. Các chiêu trò, thủ đoạn xưa và nay, vẫn “một giuộc”, là “điệp khúc chống phá”, vẫn là thái độ hư vô lịch sử, phủ định sạch trơn, vẫn là thái độ ngông cuồng với giọng điệu trơ tráo của những kẻ “cả vú lấp miệng em”, “nói lấy được”, vẫn là tầm nhìn hạn hẹp “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”, nói và làm theo kiểu “ngựa quen đường cũ”; có khác chăng là sự biến thái “thay hình, đổ dạng” của các mưu mô, hình thức khác nhau ngày càng công khai, trắng trợn và thô bạo hơn.
     Chào mừng kỷ niệm 105 năm Cách mạng Tháng Mười Nga, chúng ta nhìn xa trông rộng, càng hiểu sâu hơn những điều gần - cuộc sống đang diễn ra quanh ta. Đúng là cái ngày ấy càng lùi xa thì nhân dân ta càng thấm thía hơn tầm vóc, giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga và những gì cuộc cách mạng này đem lại cho chúng ta, càng khâm phục, ngưỡng mộ và thành kính biết ơn công lao trời biển của Bác Hồ kính yêu, chính Người đã đem về cho đất nước, dân tộc “mùa xuân” và “con đường cách mạng”, lý tưởng, niềm tin, lẽ sống mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã vạch ra. Nhân dân ta có chủ nghĩa Mác - Lênin soi sáng, dẫn đường, đã làm nên chiến thắng. “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ người trồng cây” - Đạo lý ấy thấm sâu vào lẽ sống nhân sinh của con người Việt Nam.
     Cho nên, câu chuyện về Cách mạng Tháng Mười Nga tưởng là xa xôi nhưng hoàn toàn không phải vậy, nó rất gần gũi, rất mới, mới trong từng ngày sống của chúng ta, mãi mãi là nguồn suối mát lành tưới “xanh tươi đồng ruộng Việt Nam”, cho chúng ta hoa thơm, quả ngọt; là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi điều xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga và Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam.

DẤU ẤN VÀ ÂM HƯỞNG HÀO HÙNG CỦA KHÚC TRÁNG CA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
VĨ ĐẠI 
Nhớ về mùa thu cách mạng, nhớ về cội nguồn chiến thắng, chúng ta không thể nào quên Cách mạng Tháng Mười Nga - một sự kiện vĩ đại làm rung chuyển thế giới trong thế kỷ XX, là cột mốc đánh dấu sự ra đời của thời đại mới - thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên CNXH và cách mạng vô sản trên phạm vi toàn thế giới. Đây là một nhân tố có ý nghĩa quyết định sự lựa chọn con đường cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, tạo ra bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam và dẫn dắt nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; là luận cứ khoa học phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề này.
     Thực tiễn khẳng định Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn sống động, vẫn còn nguyên giá trị, ý nghĩa lịch sử và thời đại. Nó “không phải là sai lầm của lịch sử”, “là quái thai của thời đại”, “là sự áp đặt chủ quan, duy ý chí của V.I. Lênin và Đảng Cộng sản Bônsêvích Nga”; hoàn toàn không phải “đã cáo chung”, “đã đưa vào bảo tàng lịch sử” cùng với sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa theo mô hình Xô viết ở Liên Xô và các nước Đông Âu như lời vu cáo, xuyên tạc của những người Mensêvích và bọn cơ hội, xét lại, chống đối V.I. Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga, chống chủ nghĩa Mác - Lênin.
     Dấu ấn đặc sắc của Cách mạng Tháng Mười Nga là tạo ra bước ngoặt lớn đưa giai cấp công nhân Nga trở thành giai cấp trung tâm của thời đại, gánh vác trọng trách xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công; thực hiện tiến bộ xã hội. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga, Nhà nước Xô viết ra đời (gọi tắt là Liên Xô). Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và V.I. Lênin, nhân dân Liên Xô đã chuyển nước Nga và các nước Cộng hòa Xô viết từ chế độ nông nô, phong kiến; từ nền kinh tế tiểu nông lạc hậu thành một quốc gia hùng cường, trở thành cường quốc thứ hai trên thế giới với nền quốc phòng vững mạnh, nền công nghiệp hiện đại sau 18 năm xây dựng, (nước Anh sau 200 năm; nước Mỹ sau 120 năm; nước Nhật Bản sau 40 năm).
     Cách mạng Tháng Mười Nga đã thay đổi “số phận nước Nga và các dân tộc trong đại gia đình Xô viết”. Trước Cách mạng Tháng Mười Nga, hơn 70% dân số nước Nga và 90% dân số các nước Cộng hòa Xô viết mù chữ. Thế nhưng, đến cuối năm 1980, Liên Xô đã là một trong những nước có trình độ học vấn cao nhất thế giới với 164 triệu người có trình độ trung học và đại học. Liên Xô cũng là nước có số lượng các nhà khoa học trên các lĩnh vực khoa học vũ trụ, luyện kim, điện lực và vũ khí công nghệ cao… đứng ở tốp đầu thế giới. Cột mốc nổi bật đánh dấu sự phát triển vượt bậc của ngành khoa học công nghệ Liên Xô là vào năm 1957, Liên Xô lần đầu tiên phóng thành công vệ tinh nhân tạo vào vũ trụ; năm 1959, đã thử thành công bom nguyên tử và nhiều loại vũ khí hiện đại; năm 1961, đưa người vào vũ trụ, mở ra kỷ nguyên chinh phục không gian vũ trụ và đại dương với các thế hệ tàu phá băng hiện đại.
     Sự tiến bộ “nhảy vọt” sau Cách mạng Tháng Mười Nga của nhân dân của Liên Xô được nhà báo Mỹ John Reet -  người viết tác phẩm “Mười ngày rung chuyển thế giới” đã viết: “Trước khi trở thành thiên đường của người lớn, Liên Xô đã là thiên đường của trẻ thơ” để phản ánh sự phát triển mang tính bước ngoặt, đầy tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Những điều nhà báo Mỹ John Reet viết đã thành hiện thực trên quê hương Cách mạng Tháng Mười. Đến năm 1960, 100% các trường mầm non, mẫu giáo và phổ thông cơ sở, phổ thông trung học đã được xây dựng hiện đại; học sinh các cấp của 15 nước Cộng hòa Xô viết được miễn học phí ở các cấp học cho tới đại học; 100% trẻ em ở độ tuổi mẫu giáo được chăm nuôi miễn phí.
     Liên Xô là nước đầu tiên trên thế giới quy định ngày làm việc 8 giờ; người lao động được nghỉ 30 ngày trong năm nhưng vẫn được hưởng 100% lương; được cấp nhà ở và được khám phá chữa bệnh miễn phí hoàn toàn….Việc 100% nông dân Liên Xô được trợ cấp kinh phí xây nhà ở, hưởng lương hưu và trở thành “công nhân nông nghiệp” đã làm cho bộ mặt nông thôn mới và đời sống người dân các nông trang, nông trại thật sư đổi đời. Đến năm 1960, Liên Xô đã thực hiện 100% điện khí hóa, cơ giới hóa, đường nhựa hóa trên đất nước chiếm 1/6 diện tích thế giới.
     Bài ca nhân dân Liên Xô viết đã cất lên ấm lòng nhân loại, lan tỏa khắp bốn biển năm châu, trở thành âm hưởng khải hoàn ca của thời đại, lan rộng đến mọi góc biển, chân trời; từ Matxcơva đến Xibêri, đến tận khu vực Mỹ - Linh. Từ năm 1945 đến 1970, hơn 100 quốc gia và 70% dân số thế giới đã thoát khỏi ách thực dân, đế quốc. Nhiều quốc gia ở châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ - Latinh sau khi giành độc lập dân tộc đã lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hiện thực xã hội chủ nghĩa ở Cu Ba - một đất nước ở bên kia bán cầu, ngay “sát sườn đế quốc Mỹ” đã nói lên điều sâu sắc ấy.
     Đi theo và bảo vệ giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga, Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô đã chặn lại bàn tay đẫm máu, đầy tội ác của chủ nghĩa phát xít Đức - Ý - Nhật, đã chiến đấu, hy sinh xương máu của gần 30 triệu người để cứu nhân loại thoát khỏi thảm họa phát xít; đã “thắt lưng buộc bụng” giúp đỡ nhân dân 14 nước cộng hòa trong Liên bang Xô viết và nhiều nước Đông Âu, các nước châu Á, châu Phi, khu vực Mỹ - Latinh xây dựng chế độ XHCN và định hướng XHCN.
     Ai đó cho rằng sức sống, sự lan tỏa của Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ “quanh khu vực châu Âu” là hoàn toàn không đúng. Sự thật lịch sử đã khẳng định, lịch sử thế giới hiện đại còn ghi.

SỨC SỐNG MẠNH MẼ CỦA CÁCH MẠNG THÁNG MƯỜI NGA
Ở VIỆT NAM:
SỰ LAN TỎA, NHỮNG GIÁ TRỊ NHÂN VĂN 
     Cách mạng Tháng Mười Nga đã ảnh hưởng trực tiếp, đặc biệt sâu sắc đến cách mạng Việt Nam; làm thay đổi vận mệnh của nước ta; đóng vai trò quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Không có Cách mạng Tháng Mười Nga, sự giúp đỡ của nhân dân Liên Xô và V.I. Lênin vĩ đại, nhân dân ta không thể làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Không có Cách mạng Tháng Mười Nga, chúng ta không thể có cuộc sống hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc như ngày nay. Điều này thể hiện rõ ở các điểm:
     Một là, Cách mạng Tháng Mười Nga đã giúp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tìm ra con đường cách mạng vô sản để cứu nước, cứu dân, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị ở Việt Nam.Dấu mốc cực kỳ quan trọng, rất đáng nhớ là, vào tháng 7-1920, sau gần 10 năm bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đọc được“Sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của V.I. Lênin. Từ đó, Người tin tưởng và đi theo lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga, đã xác định cách mạng Việt Nam phải đi theo con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã vạch ra; phải tin tưởng, tin theo chủ nghĩa Mác - Lênin. Bác khẳng định: “Chỉ có đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười - con đường duy nhất đúng đắn - Cách mạng Việt Nam mới giành được độc lập, tự do thực sự”. Chính sự lựa chọn đúng đắn ấy của Người mà nhân dân ta có tất cả những gì là tốt đẹp hôm nay.
     Hai là, Cách mạng Tháng Mười Nga đã tiếp thêm động lực, nghị lực, sức mạnh, động viên, cổ vũ nhân dân Việt Nam “rũ bùn đứng dậy” kiên quyết đấu tranh giải phóng dân tộc, làm nên cuộc đổi đời nhờ thắng lợi vẻ vang của Cách mạng Tháng Tám năm 1945; khai sinh ra nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà; tiến hành 9 năm kháng chiến thánh thần để đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do. Ghi nhận điều đó, Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô đã hết lòng ủng hộ nhân dân Việt Nam chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, nhất là trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, khoa học, kỹ thuật, công nghệ, y tế, giáo dục, đào tạo. Có thể khẳng định rằng lý tưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga đã được hiện thực hóa trên đất nước Hồ Chí Minh.
     Ba là, bài học kinh nghiệm của Cách mạng Tháng Mười Nga và của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, cả thành công và chưa thành công luôn là sự gợi ý, tham khảo rất có giá trị cho Việt Nam xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Các tác phẩm của V.I.Lênin và các văn kiện Đại hội của Đảng Cộng sản Liên Xô là tài liệu quý, góp phần định hướng, chỉ dẫn nhân dân ta rút kinh nghiệm để vượt qua mọi khó khăn, thử thách, vững tin đi trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN Việt Nam. Vì vậy, thắng lợi của cách mạng Việt Nam trước hết là thắng lợi của chủ nghĩa Mác – Lênin, của lý tưởng Cách mạng Tháng Mười Nga ở đất nước Hồ Chí Minh. Nhờ đó, đất nước ta có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Điều này đã bác bỏ mọi định kiến sai lầm, những quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và nhân dân ta; xuyên tạc giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga ở Việt Nam.
     Bốn là, Cách mạng Tháng Mười Nga và quá trình xây dựng CNXH ở Liên Xô là tấm gương và là tài sản tinh thần vô giá, luôn nhắc nhở, cảnh báo cho chúng ta phải đề cao cảnh giác, không được lơ là, chủ quan, duy ý chí; không được vứt bỏ vũ khí khi xung quanh chúng ta vẫn còn kẻ thù bởi cách mạng đã đánh đổ kẻ thù, nhưng chúng chưa bị tiêu diệt hẳn, vẫn còn âm mưu và lực lượng chống phá cách mạng. Chúng ta không được mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang như sự kiện chính trị đã xảy ra ở Liên Xô và các nước Đông Âu từ những năm 90 của thế kỷ XX, cũng như cảnh giác với các tình huống xảy ra cuộc xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina vừa mới xảy ra tháng 2-2022.
     Đây là vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng tư tưởng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động; xuyên tạc giá trị và ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại; những cống hiến to lớn và uy tín của C. Mác, Ph. Ăngghen và V.I. Lênin, Hồ Chí Minh. Đó là bài ca bất tử về tình yêu con người, giá trị của hòa bình, độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc; phù hợp với lẽ sống của nhân dân Việt Nam. “Ôn cũ để biết mới”, “nhìn xa để thêm hiểu gần” giúp chúng ta thêm yêu quý những giá trị chân - thiện - mỹ và bảo vệ nó bằng tất cả trái tim và khối óc của mình./.















Môi trường (Yêu nước) ST.

Quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý

 Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Bình Minh vừa ký ban hành Nghị định số 83/2022/NĐ-CP ngày 18-10-2022 quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Nghị định quy định đối tượng áp dụng gồm:

1. Cán bộ, công chức nữ giữ các chức vụ, chức danh dưới đây:

a) Phó Trưởng ban, cơ quan Đảng ở Trung ương; Phó Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân, Phó Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản.

b) Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

c) Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Phó Chủ nhiệm các Ủy ban của Quốc hội, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội;

d) Phó Chánh án Tòa án Nhân dân tối cao, Phó Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;

đ) Thứ trưởng, cấp phó của người đứng đầu cơ quan ngang bộ;

e) Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước, Phó Tổng Kiểm toán Nhà nước;

g) Phó trưởng các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương;

h) Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy khối trực thuộc Trung ương. Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

i) Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương;

k) Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật;

l) Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

m) Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Tổng Giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Trưởng ban Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia; Phó Chủ tịch Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp;

n) Phó Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh.

o) Ủy viên Thường trực Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;

p) Ủy viên Ban Thường vụ kiêm Trưởng các Ban đảng của Thành ủy thành phố Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh;

q) Ủy viên Ban Thường vụ tỉnh ủy, thành ủy là người dân tộc thiểu số.  

2. Công chức được bổ nhiệm chức danh Thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.  

Đối tượng không áp dụng

Nghị định này không áp dụng đối với các đối tượng sau:

a) Cán bộ giữ chức vụ từ Bộ trưởng hoặc tương đương trở lên;

b) Cán bộ, công chức quy định tại khoản 1 nêu trên là Ủy viên Trung ương Đảng;

c) Trợ lý, thư ký của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư, Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Chủ tịch Quốc hội.  

Việc nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với các trường hợp này thực hiện theo quy định của cơ quan có thẩm quyền của Đảng.  

Bảo đảm tuổi nghỉ hưu không vượt quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ

Nghị định quy định rõ nguyên tắc thực hiện nghỉ hưu ở độ tuổi cao hơn là phải bảo đảm khách quan, công bằng, công khai và đúng quy định.

Cơ quan có thẩm quyền quyết định nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức theo quy định tại Nghị định này nhưng phải bảo đảm tuổi nghỉ hưu không vượt quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ.

Cán bộ, công chức quy định tại khoản 1 nêu trên khi được cơ quan có thẩm quyền quyết định nghỉ hưu ở tuổi cao hơn vẫn tiếp tục giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.

Trong thời gian thực hiện chính sách nghỉ hưu ở tuổi cao hơn, nếu cán bộ, công chức có nguyện vọng nghỉ làm việc thì được giải quyết chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật.

Thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn

Đối với cán bộ, công chức quy định tại khoản 1, thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn không vượt quá 60 tuổi.

Đối với các trường hợp quy định tại khoản 2, thời gian công tác khi nghỉ hưu ở tuổi cao hơn không quá 65 tuổi đối với nam và 60 tuổi đối với nữ.

Nghị định 83/2022/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 20-10-2022 và thay thế Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29-5-2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức và Nghị định số 104/2020/NĐ-CP ngày 4-9-2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2015/NĐ-CP ngày 29-5-2015 của Chính phủ quy định về nghỉ hưu ở tuổi cao hơn đối với cán bộ, công chức.

VTT (St)

Giải pháp thực hiện tinh thần thượng tôn Hiến pháp và pháp luật phải trở thành chuẩn mực thực thi, tuân thủ và văn hóa trong xã hội

 Một là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; khẩn trương triển khai Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII về "Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới" sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành.

Tập trung đầu tư cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế, một trong ba đột phá chiến lược. Đầu tư cho xây dựng và hoàn thiện thể chế là đầu tư cho phát triển. Gắn kết chặt chẽ xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật, đây là hai mặt của một quá trình thống nhất. Pháp luật phải phù hợp với thực tiễn cuộc sống và từ thực tiễn để tiếp tục hoàn thiện pháp luật. Muốn "đưa pháp luật vào cuộc sống" thì ngay từ khi xây dựng phải có các quy định cụ thể, rõ ràng, khả thi, phù hợp với cuộc sống, phải "đưa hơi thở cuộc sống vào trong pháp luật". Quan tâm, đầu tư nguồn lực, các điều kiện cần thiết tương xứng, tăng cường đội ngũ làm công tác pháp chế, tư pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Hai là, chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền pháp luật với phương châm người dân là trung tâm, là chủ thể trong quá trình xây dựng theo hướng truyền thông chính thống có nhiệm vụ định hướng, dẫn dắt dư luận, nhất là giới trẻ. Đây là giải pháp quan trọng để thu hút sự quan tâm của nhân dân, trước hết là các đối tượng chịu ảnh hưởng của chính sách, phát huy trí tuệ của các chuyên gia, nhà khoa học, người làm công tác thực tiễn, doanh nghiệp, Mặt trận Tổ quốc các cấp, các đoàn thể nhằm tạo sự đồng thuận xã hội, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành chính sách, pháp luật và tổ chức thực thi pháp luật.

Ba là, phát huy vai trò chủ động, tích cực, tính tự giác, trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức trong học tập, tìm hiểu pháp luật, đặc biệt là chấp hành pháp luật. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, công bằng, nghiêm minh, nhất quán, công khai, minh bạch.

Bốn là, công tác tổ chức thi hành pháp luật phải hướng về cơ sở. Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN phải được chú trọng ngay từ cấp chính quyền gần dân nhất. Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, lắng nghe tiếng nói của người dân, đặt quyền lợi của người dân lên trên hết theo phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng". Cần đặc biệt quan tâm đến các nhóm đối tượng yếu thế, đối tượng khó khăn trong tiếp cận pháp luật, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số… Thực hiện hiệu quả Đề án về "Tăng cường năng lực tiếp cận pháp luật của người dân".

Nhân đây, tôi đề nghị và mong muốn mỗi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp cần chủ động hơn trong việc tìm hiểu, tuân thủ nghiêm pháp luật, vì quyền, lợi ích hợp pháp của bản thân và cộng đồng.

Năm là, đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và tổ chức thực hiện pháp luật. Cung cấp đầy đủ các dịch vụ về luật sư, tư vấn pháp luật, công chứng, hộ tịch… để hỗ trợ tối đa nhu cầu pháp luật của người dân, tổ chức và doanh nghiệp. Vận động, thu hút nguồn lực xã hội tham gia hoạt động xây dựng, tổ chức thực hiện pháp luật.

Sáu là, phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, tiên tiến để hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam, trong tuyên truyền, phổ biến, thực thi pháp luật. Kịp thời biểu dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân tiêu biểu, gương người tốt, việc tốt trong xây dựng, thi hành, bảo vệ pháp luật. Từ những hạt nhân nòng cốt này sẽ lan tỏa giá trị tích cực, củng cố niềm tin, tăng cường sự đồng thuận của nhân dân với các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

VTT (St)