Thứ Hai, 7 tháng 11, 2022

10 NĂM "ƯƠM MẦM HỮU NGHỊ" VIỆT NAM-CAMPUCHIA

 Trong chương trình "Gặp gỡ hữu nghị và hợp tác nhân dân Việt Nam-Campuchia" lần thứ 5 tại Bình Phước, chiều ngày 6/11, Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia tổ chức hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Chương trình "Ươm mầm Hữu nghị".

Dự hội nghị có các đồng chí: Ủy viên Trung ương Đảng, Trưởng ban Công tác đại biểu Quốc hội, Phó trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia Nguyễn Thị Thanh; Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước Nguyễn Mạnh Cường và đại diện lãnh đạo các bộ, ngành trung ương; lãnh đạo tỉnh Đắk Nông, Đắk Lắk.
Về phía Campuchia có bà Men Sam An, Phó Chủ tịch Đảng Nhân dân Campuchia, Phó Thủ tướng Vương quốc Campuchia, Chủ tịch Hội hữu nghị Campuchia-Việt Nam, Trưởng đoàn đại biểu nhân dân Campuchia ngài Chay Navuth, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Vương quốc Campuchia tại Việt Nam và 55 thành viên của đoàn cùng tham dự hội nghị.
Phó chủ tịch Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia Lê Tuấn Khanh đã báo cáo tổng kết giai đoạn 2012-2022 của Chương trình “Ươm mầm hữu nghị”.
Theo đó, chương trình “Ươm mầm hữu nghị” ra đời trong bối cảnh quan hệ đoàn kết, hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam- Campuchia phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt hợp tác trên lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Mục đích của chương trình góp phần cùng với Đảng, Nhà nước chăm lo bồi dưỡng, giúp đỡ lưu học sinh, sinh viên Campuchia tại Việt Nam có điều kiện học tập tốt nhất.
Khởi đầu chương trình "Ươm mầm hữu nghị" có 12 gia đình Việt Nam tình nguyện nhận đỡ đầu 34 sinh viên Campuchia đang học tập ở Hà Nội và Thái Bình.
Đến nay, Chương trình đã phát triển đến hầu hết các tỉnh/thành phố có sinh viên Campuchia đang theo học, với sự tình nguyện tham gia của trên 100 lượt gia đình, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu gần 500 sinh viên.
Chương trình "Ươm mầm hữu nghị” đã đỡ đầu trực tiếp, ủng hộ, hỗ trợ, giúp đỡ sinh viên cải thiện đời sống văn hóa tinh thần, an tâm học tập. Nhiều bạn trong số đó đã tự tin và có kết quả học tập tốt, đạt loại khá, giỏi, xuất sắc trong các kỳ thi tốt nghiệp.
Tại hội nghị đã có 7 tham luận của đại biểu hai nước nhằm chia sẻ kinh nghiệm hoạt động của chương trình “Ươm mầm hữu nghị” tại các tỉnh, thành phố, đồng thời đề xuất, kiến nghị để các hoạt động hữu nghị nhân dân ngày càng phong phú, thiết thực.
Với quyết tâm đưa Chương trình “Ươm mầm hữu nghị” phát triển đi vào chiều sâu có tính lan tỏa mạnh mẽ, Ban Chấp hành Trung ương Hội Hữu nghị Việt Nam-Campuchia đã phát động phong trào “Ươm mầm hữu nghị” giai đoạn 2022-2027.
Trong đó, phấn đấu trung bình mỗi năm nhận đỡ đầu trực tiếp từ 80-100 sinh viên Campuchia đang tham gia học tập tại Việt Nam.
Dịp này, Hội hữu nghị Việt Nam-Campuchia đã trao tặng Kỷ niệm chương vì tình hữu nghị Việt Nam-Campuchia cho 75 cá nhân vì đã có đóng góp tích cực vào việc củng cố, tăng cường quan hệ hữu nghị hợp tác Việt Nam-Campuchia; tặng Bằng khen cho 6 tập thể, 10 cá nhân vì đã có nhiều đóng góp tích cực trong công tác “Ươm mầm hữu nghị”, giai đoạn 2012-2022.
Theo báo Nhân dân

Cách mạng Tháng Mười Nga với tư duy chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay

 (ĐCSVN) - 105 năm đã trôi qua, song những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn mang tính thời sự. Những tư tưởng vĩ đại của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn luôn tươi mới trong đời sống nhân loại, với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các chính đảng cách mạng của họ...

Xã hội loài người đã diễn ra hàng trăm cuộc cách mạng, nhưng chưa có cuộc cách mạng nào triệt để và sâu sắc như Cách mạng Tháng Mười Nga 1917. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa (XHCN) đã để lại nhiều giá trị lịch sử và thời đại quý báu cho mỗi dân tộc trên con đường đấu tranh, bảo vệ thành quả cách mạng của mình. Trước bối cảnh quốc tế đang biến chuyển mau lẹ, phức tạp, khó lường, Cách mạng Tháng Mười Nga còn nguyên giá trị và những bài học kinh nghiệm cho chúng ta về một tư duy chiến lược về bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

1. Bảo vệ Tổ quốc XHCN là tất yếu khách quan, nhiệm vụ chiến lược, trọng yếu và thường xuyên, gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của Tổ quốc

Lịch sử đã cho thấy, ngay khi Cách mạng Tháng Mười nổ ra và giành thắng lợi, chính chủ nghĩa tư bản (CNTB) và chủ nghĩa đế quốc (CNĐQ) là kẻ hoảng loạn và lo lắng hơn bao giờ hết cho địa vị áp bức lao động và thống trị giai cấp và các dân tộc mà chúng đã thiết lập hằng trăm năm trên thế giới, đã bị đánh đổ trên 1/6 diện tích địa cầu. Vì vậy, chúng đã tập trung toàn lực, phối hợp liên quân 14 nước đế quốc với bọn phản động trong nước Nga, tiến công Chính quyền nhà nước và đất nước Nga Xôviết non trẻ suốt hai năm ròng rã…

Trong cuộc cách mạng XHCN này, Đảng Bônsêvích Nga, đứng đầu là V.I.Lênin - lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Nga và giai cấp vô sản thế giới, đã phân tích bản chất kinh tế - chính trị của CNTB, CNĐQ để làm rõ tính tất yếu bảo vệ Tổ quốc XHCN. V.I.Lênin chỉ ra: còn CNĐQ thì còn nguy cơ chiến tranh xâm lược; cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc XHCN là cuộc chiến tranh chính nghĩa và tự vệ… Nhận thức sâu sắc về bối cảnh thế giới và nước Nga Xôviết lúc bấy giờ, Người đã chỉ rõ: “Chúng ta đang sống trong thời kỳ đấu tranh có tính chất lịch sử chống giai cấp tư sản thế giới là giai cấp hiện đang mạnh hơn chúng ta gấp nhiều lần. Trong thời kỳ đấu tranh như thế, chúng ta phải bảo vệ công cuộc xây dựng cách mạng, phải đấu tranh chống giai cấp tư sản bằng quân sự và nhất là bằng đấu tranh tư tưởng, bằng giáo dục để cho những tập quán, những thói quen, những niềm tin mà giai cấp công nhân đã rèn đúc được trong hàng chục năm đấu tranh giành tự do chính trị, để cho toàn bộ những tập quán, thói quen và tư tưởng đó biến thành công cụ giáo dục toàn thể những người lao động” [1]… Xuất phát từ chính bản chất, âm mưu, thủ đoạn tiêu diệt Nhà nước Nga Xôviết của CNĐQ, V.I.Lênin đã kiên quyết đấu tranh với những tư tưởng, quan điểm nhận thức sai lầm đòi hỏi “giải trừ quân bị” ngay lập tức, hoặc kêu gọi “hòa hoãn” với kẻ thù. Người khẳng định: “Chỉ có sau khi đã tước vũ khí giai cấp tư sản rồi, thì giai cấp vô sản mới có thể vứt bỏ vào đống sắt vụn tất cả vũ khí nói chung, mà không phản lại nhiệm vụ lịch sử thế giới của mình; và giai cấp vô sản nhất định sẽ làm như thế, nhưng chỉ có đến lúc ấy mới làm được, chứ quyết không thể làm trước lúc ấy được” [2].

Ngày nay, dẫu bối cảnh lịch sử đã đổi thay, chủ nghĩa xã hội (CNXH) trên thế giới có sự thoái trào, nhưng bản chất, nội dung cơ bản của thời đại không thay đổi. Vẫn đúng như V.I.Lênin đã từng xác định nội dung của thời đại mới là xóa bỏ giai cấp tư sản và chế độ tư bản chủ nghĩa, đồng thời thiết lập những cơ sở của xã hội mới là xã hội XHCN và cộng sản chủ nghĩa. Đây là quá trình lịch sử lâu dài, bắt đầu từ Cách mạng Tháng Mười Nga, sau đó là những cuộc cách mạng ở nhiều nước khác trên thế giới. Với cơ sở thực tiễn đó đã giúp Đảng ta khẳng định: “Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” [3]… Vì vậy, cùng với công cuộc xây dựng CNXH là quá trình tất yếu về bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Quá trình này cần tiếp tục được thể hiện rõ ràng, nhất quán và xác lập trong tư duy Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới. Phải coi bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH; đi liền, gắn chặt với mọi nhiệm vụ giữ vững sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng, chỉnh đốn Đảng, tăng cường quốc phòng, an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại. Có như vậy, tư tưởng và giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga mới tiếp tục được phát triển và tỏa sáng trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở Việt Nam hiện nay.  

2. Mục tiêu của bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ toàn vẹn phương diện tự nhiên - lịch sử, chính trị - xã hội của Tổ quốc, trọng tâm là bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã đưa tới sự ra đời của Tổ quốc XHCN - tổ quốc kiểu mới trong lịch sử nhân loại. Ở đó, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trở thành người làm chủ thực sự xã hội, làm chủ Tổ quốc, có quyền và nghĩa vụ bảo vệ Tổ quốc. Từ trong đấu tranh cách mạng, V.I.Lênin đã thấu hiểu sự thống nhất biện chứng của những yếu tố cấu thành phương diện tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội của tổ quốc nói chung, đặc biệt là đặc trưng bản chất của Tổ quốc XHCN, đó là: “Tổ quốc, nghĩa là hoàn cảnh chính trị, văn hóa và xã hội, là một nhân tố mạnh mẽ nhất trong cuộc đấu tranh giai cấp của giai cấp vô sản” [4]. Vì vậy, trước những tình thế hiểm nghèo của Cách mạng Tháng Mười, Người đã đúc rút nên mục tiêu của hành động bảo vệ Tổ quốc XHCN, rằng: “Chúng ta tán thành “bảo vệ tổ quốc”, nhưng cuộc chiến tranh giữ nước mà chúng ta đang đi tới, là một cuộc chiến tranh bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là tổ quốc, bảo vệ nước Cộng hòa xô-viết, với tính cách là một đơn vị trong đạo quân thế giới của chủ nghĩa xã hội” [5]. Với mục tiêu bao trùm là bảo vệ tính chất XHCN của Tổ quốc, V.I.Lênin đã xác định nhiều mục tiêu mang dấu ấn đặc trưng cần phải bảo vệ. Ví như, về mục tiêu kinh tế - chính trị, Người xác định: “cuộc chiến tranh diễn ra trong nước chúng ta, nơi mà công nhân và nông dân hiểu rằng họ tiến hành chiến tranh vì ruộng đất, vì công xưởng và nhà máy… rằng họ bảo vệ chính quyền của mình, Chính quyền xô-viết, chính quyền của những người lao động, rằng họ bảo vệ sự nghiệp mà một khi thắng lợi sẽ bảo đảm cho họ, cũng như con cái họ, có khả năng hưởng thụ mọi thành quả văn hóa, mọi thành quả lao động của con người” [6].

Từ thực tiễn của Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin đã khái quát thành lý luận về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc XHCN. Lý luận này đã không ngừng được Đảng ta vận dụng và phát triển qua các giai đoạn đấu tranh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, định hình và xác lập trong các Chiến lược bảo vệ Tổ quốc của mình. Tuy nhiên, với bối cảnh mới như ngày nay, nhất là trước những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của CNĐQ và các thế lực thù địch, phản động và cơ hội về chính trị, một lần nữa chúng ta cần phải kiên định những mục tiêu trọng yếu cần phải bảo vệ của Tổ quốc XHCN. Mà bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN và nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN là những mục tiêu đặc biệt quan trọng. Sự xác lập vững chắc các mục tiêu bảo vệ này trong Chiến lược bảo vệ Tổ quốc chẳng những nâng cao được nhận thức, thống nhất hành động của toàn dân tộc đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam, mà còn làm cho các giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga ngày càng trở nên sinh động hơn trong đời sống nhân loại.

3. Sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN là sức mạnh tổng hợp của đất nước, toàn dân và hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, quản lý, điều hành của Nhà nước, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại

Tổ quốc và Nhà nước Nga Xô viết từ lúc ra đời còn rất non yếu trước sức mạnh của bè lũ đế quốc, các thế lực phản động. Nhưng dưới ánh sáng tư tưởng cách mạng và khoa học do Cách mạng Tháng Mười Nga, đứng đầu là V.I.Lênin đem lại, thế và lực của nước Nga Xô viết sau là Liên Xô ngày càng hùng mạnh, đã từng trở thành trụ cột, thành trì của phong trào XHCN, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, giai cấp và nhân loại. Những tư tưởng của Cách mạng đã chỉ ra, sự nghiệp cách mạng XHCN muốn thành công thì “Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!”, nhằm tạo nên sức mạnh tổng hợp chiến thắng quân thù.

Tấm gương và sự thành công của Cách mạng Tháng Mười Nga cho thấy những vấn đề cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc XHCN. Sức mạnh đó đã được V.I.Lênin đúc kết trên nhiều lĩnh vực. Về chính trị, đó là: “sự vững chắc của chính quyền Xô viết, đó là nguồn gốc của sức mạnh vô địch của chính quyền Xô viết trên toàn thế giới” [7]. Về kinh tế, tư tưởng và quân sự, đó là: “Giai cấp vô sản chiến thắng… sau khi đã tước đoạt bọn tư bản và đã tổ chức nền sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nước mình, sẽ đứng lên chống lại cái thế giới tư bản chủ nghĩa còn lại, lôi cuốn những giai cấp bị áp bức ở các nước khác theo mình, thúc đẩy họ nổi dậy chống bọn tư bản, sử dụng khi cần thiết, ngay cả lực lượng quân sự, để chống lại các giai cấp bóc lột và nhà nước của chúng” [8]. Về kinh tế - quốc phòng, đó là: “Khả năng phòng thủ, sức mạnh quân sự của một nhà nước mà ngân hàng đã được quốc hữu hóa, thì cao hơn khả năng phòng thủ của một nước mà ngân hàng còn ở trong tay tư nhân” [9]. Về quân sự, đó là khi phải “đương đầu với mặt trận rộng lớn của các cường quốc đế quốc chủ nghĩa, chúng ta, những người đang đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, là một khối liên minh đòi hỏi có sự đoàn kết chặt chẽ về mặt quân sự” [10]. Về đoàn kết quốc tế vô sản, đó là: “Thắng lợi của cách mạng vô sản thế giới đòi hỏi giai cấp công nhân các nước tiên tiến phải hết sức tin cậy lẫn nhau, đoàn kết anh em hết sức chặt chẽ với nhau và phải hết sức nhất trí trong các hành động cách mạng của họ” [11]…  

Thực tiễn và lý luận sinh động về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN được đúc kết từ Cách mạng Tháng Mười Nga cho thấy, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc XHCN luôn là sức mạnh tổng hợp bởi nhiều yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại… Công cuộc bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong bối cảnh hiện nay luôn đòi hỏi phải thấm nhuần và phát huy những giá trị về sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc XHCN mà Cách mạng Tháng Mười Nga đem lại. Những vấn đề cơ bản về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc và phát huy sức mạnh tổng hợp bảo vệ Tổ quốc cần phải tiếp tục được khẳng định và thể hiện rõ ràng trong các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, cũng như các chiến lược quân sự, quốc phòng, an ninh và đối ngoại.

4. Thường xuyên chăm lo xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, trước hết là Quân đội nhân dân vững mạnh toàn diện, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga 1917 đã cho thấy lực lượng vũ trang, nhất là Hồng quân công nông giữ một vị trí đặc biệt quan trọng đối sự thành bại của cách mạng XHCN. Bên cạnh sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tài tình của Đảng Cộng sản Bônsêvíc Nga, sự quản lý, chỉ đạo của Chính quyền Xô viết, đứng đầu là V.I.Lênin, thì các lực lượng vũ trang nhân dân, nòng cốt là Hồng quân công nông là lực lượng nòng cốt tạo nên sức mạnh quân sự Nhà nước và chế độ XHCN. Nhờ có sự chăm lo xây dựng toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, quân sự và trang bị của Hồng quân mà thế lực của Cách mạng đã lớn mạnh, làm xoay chuyển tình thế và cán cân lực lượng nghiêng hẳn về các Xô viết trong thời kỳ hai chính phủ song song tồn tại, trong khởi nghĩa vũ trang giành chính quyền, cũng như trong công cuộc đấu tranh bảo vệ Chính quyền Xô viết và Tổ quốc Nga XHCN.

Chính trong Cách mạng Tháng Mười, chúng ta mới thấy hết được những tư tưởng chiến lược về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân và Hồng quân công nông. V.I.Lênin đã khái quát về vai trò của Hồng quân: “Muốn bảo vệ chính quyền của công nông để chống bọn ăn cướp, tức bọn địa chủ và bọn tư bản, chúng ta phải có Hồng quân mạnh mẽ… Có Hồng quân mạnh, chúng ta sẽ vô địch” [12]. Từ đó, Người đòi hỏi: “Mỗi tổ chức của nước Nga Xô viết hãy luôn luôn đặt vấn đề quân đội lên hàng đầu” [13]. Để Hồng quân trung thành tuyệt đối với sự nghiệp cách mạng, với chế độ XHCN, phải xây dựng Hồng quân vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Điều cốt yếu nhất là phải đặt Hồng quân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự chỉ đạo toàn diện của các chính ủy. Tổng kết quá trình xây dựng Hồng quân, Người khẳng định: “Chúng ta đã có một đạo quân. Đạo quân ấy có kỷ luật mới. Kỷ luật này được các chi bộ đảng, các công nhân và các chính ủy giữ vững; hàng chục vạn người đó đã ra mặt trận và giải thích cho công nhân và nông dân biết nguồn gốc của chiến tranh. Đó là lý do của sự chuyển biến trong quân đội ta. Đó là lý do làm cho sự chuyển biến biểu hiện ra một cách mạnh mẽ như vậy” [14]. Để Hồng quân vững mạnh toàn diện, Người còn đòi hỏi: “Hãy chăm lo đến khả năng quốc phòng của nước ta và của Hồng quân như ta chăm lo đến con ngươi trong mắt mình, hãy nhớ rằng chúng ta không được phép lơ là một phút nào trong việc bảo vệ công nhân và nông dân của ta và bảo vệ những thành quả của họ” [15].

105 năm đã trôi qua, song những giá trị của Cách mạng Tháng Mười Nga vẫn còn mang tính thời sự. Những tư tưởng vĩ đại của Cách mạng còn luôn tươi mới trong đời sống nhân loại, với giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các chính đảng cách mạng của họ. Vì vậy, một trong những vấn đề có tính nguyên tắc của các chính đảng cộng sản, trước tiên là đối với Đảng Cộng sản Việt Nam là kiên định những giá trị mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã đem lại, nhất là về bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc XHCN. Hành động thiết thực nhất là bổ sung, cụ thể hóa những giá trị và tư tưởng quân sự, quốc phòng của Cách mạng Tháng Mười Nga vào đường lối và các chiến lược bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Coi đó là ngọn cờ tư tưởng quân sự, quốc phòng đúng đắn, góp phần dẫn dắt dân tộc Việt Nam vươn tới mục tiêu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng XHCN mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra./.

THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT PHẢI TRỞ THÀNH CHUẨN MỰC ỨNG XỬ CỦA MỌI CHỦ THỂ TRONG XÃ HỘI

 Tối 6-11, tại Hà Nội, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tới dự và phát biểu tại Lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2022. Lễ hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam năm 2022 do Hội đồng Phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật Trung ương tổ chức.

Cùng dự có các đồng chí: Phan Đình Trạc, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Hòa Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án Nhân dân Tối cao; Nguyễn Khắc Định, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ tịch Quốc hội, cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương...
Phát biểu tại buổi lễ, Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, ngày 9-11-1946, bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I thông qua, trở thành mốc son mở ra một nền lập pháp Việt Nam thời đại mới. Ngày 9-11 được Đảng, Nhà nước lựa chọn là “Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” và được ghi nhận trong Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012, khẳng định giá trị, vai trò của Hiến pháp, pháp luật đối với đời sống xã hội, lan tỏa sâu rộng tinh thần dân chủ-pháp quyền, ý thức chấp hành pháp luật, nhắc nhở chúng ta sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật!
Đánh giá cao những kết quả đạt được trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, Thủ tướng khẳng định: “Trong thành công chung của đất nước ta thời gian qua có sự đóng góp tích cực, quan trọng của công tác pháp luật. Trong đó, việc nâng cao ý thức chấp hành, tuân thủ pháp luật nghiêm minh của người dân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước và cộng đồng xã hội là một trong những điều kiện tiên quyết”.
Thủ tướng nhấn mạnh, chúng ta đang tập trung xây dựng và hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng. Hội nghị Trung ương 6 vừa qua đã thống nhất mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới, trong đó nhấn mạnh mạnh yêu cầu: Thượng tôn Hiến pháp và pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử của mọi chủ thể trong xã hội. Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật; đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức xã hội chủ nghĩa.
Thời gian tới, Thủ tướng yêu cầu các cấp, các ngành tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức, thực hiện hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; khẩn trương triển khai Nghị quyết Trung ương 6 khóa XIII về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới” sau khi được cấp có thẩm quyền ban hành. Tập trung đầu tư cho công tác xây dựng và hoàn thiện thể chế-một trong 3 đột phá chiến lược, coi đầu tư cho xây dựng và hoàn thiện thể chế là đầu tư cho phát triển. Gắn kết chặt chẽ xây dựng pháp luật với tổ chức thi hành pháp luật.
Thủ tướng cũng đề nghị chú trọng đổi mới công tác tuyên truyền pháp luật với phương châm: Người dân là trung tâm và chủ thể của quá trình xây dựng; theo hướng truyền thông chính thống có nhiệm vụ định hướng, dẫn dắt dư luận, nhất là giới trẻ. Phát huy vai trò chủ động, tích cực, tính tự giác và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, công chức, viên chức trong học tập, tìm hiểu pháp luật, đặc biệt là chấp hành pháp luật. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo đảm mọi vi phạm pháp luật đều bị phát hiện, xử lý kịp thời, công bằng, nghiêm minh, nhất quán và công khai, minh bạch. Công tác tổ chức thi hành pháp luật phải hướng về cơ sở. Đặc biệt, Thủ tướng đề nghị đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác xây dựng, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, tổ chức thực hiện pháp luật; phát hiện, nhân rộng các mô hình hay, cách làm sáng tạo, hiệu quả, tiên tiến để hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam trong tuyên truyền, phổ biến, thực thi pháp luật...
Nhân dịp này, Ban tổ chức đã trao các hình thức khen thưởng tặng các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc trong 10 năm hưởng ứng Ngày Pháp luật Việt Nam.
QĐND

QUỐC HỘI XEM XÉT, THÔNG QUA NHIỀU LUẬT, NGHỊ QUYẾT CÓ TÁC ĐỘNG LỚN

 Trong tuần từ ngày 7 - 11/11, Quốc hội sẽ xem xét, thảo luận và thông qua nhiều luật, nghị quyết có tác động lớn đến đời sống dân sinh và hoạt động sản xuất kinh doanh; đồng thời bổ sung, đưa ra khỏi chương trình một số nội dung quan trọng khác.

Theo chương trình, Quốc hội sẽ thảo luận ở tổ về dự án Luật Giá (sửa đổi) và dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi). Đồng thời, thảo luận ở hội trường về các dự án Luật Phòng thủ dân sự, Luật Hợp tác xã (sửa đổi), Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (sửa đổi), Luật Giao dịch điện tử (sửa đổi), Luật Giá (sửa đổi).
Quốc hội cũng sẽ thảo luận ở hội trường về 3 dự thảo nghị quyết gồm: Nghị quyết về thời hiệu xử lý kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức; Nghị quyết về thí điểm cấp quyền lựa chọn sử dụng biển số ô tô thông qua đấu giá; Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Sau khi tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu, Quốc hội sẽ tiến hành biểu quyết thông qua 2 luật và 3 nghị quyết gồm: Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện; Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2023; Nghị quyết về dự toán ngân sách nhà nước năm 2023; Nghị quyết về phương án phân bổ ngân sách trung ương năm
2022.
Quốc hội cũng sẽ dành thời gian để giám sát, thảo luận ở hội trường về các báo cáo công tác của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật; công tác thi hành án; công tác phòng, chống tham nhũng năm 2022.
Trên cơ sở đề nghị của Chính phủ, ý kiến của cơ quan thẩm tra, sau khi xem xét kỹ lưỡng hồ sơ tài liệu, tính cấp thiết của vấn đề cần giải quyết và xét thấy đủ điều kiện trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Quốc hội cho phép bổ sung nội dung vào chương trình Kỳ họp thứ 4 này nhưng không kéo dài thời gian của kỳ họp. Đó là, trình Quốc hội xem xét, quyết định việc bổ sung nội dung thông tin “nơi sinh” vào hộ chiếu cấp cho công dân Việt Nam. Quyết định của Quốc hội về nội dung này sẽ được thể hiện trong Nghị quyết Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa XV.
Trên cơ sở ý kiến phát biểu của đại biểu Quốc hội tại phiên họp sáng ngày 24/10/2022 về dự án Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi), báo cáo của Chính phủ và báo cáo của Thường trực Ủy ban Xã hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xem xét và đề nghị Quốc hội cho phép chưa thông qua dự thảo Luật Khám bệnh, chữa bệnh (sửa đổi) tại kỳ họp lần này để có thêm thời gian chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, tiếp tục tiếp thu, chỉnh lý, lấy ý kiến chuyên gia và đối tượng chịu sự tác động, hoàn thiện dự thảo luật.
Báo Hà Tĩnh

COP27 thúc đẩy nỗ lực chống biến đổi khí hậu

 Hội nghị lần thứ 27 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP27) diễn ra tại thành phố Sharm el-Sheikh bên bờ Biển Đỏ của Ai Cập từ ngày 6 - 18/11/2022.

Liên tiếp các vụ việc đáng tiếc ở sự kiện tập trung đông người

 Ngay sau thảm họa giẫm đạp tại khu phố Itaewon, Seoul, Hàn Quốc hôm 29/10 khiến hơn 150 người thiệt mạng, thế giới tuần qua (30/10 – 6/11) chứng kiến nhiều vụ việc đáng tiếc tương tự tại những sự kiện tập trung đông người

* Vụ việc xảy ra vào chiều tối 30/10 khi dây cáp của cầu cáp treo qua sông Machchu thuộc thị trấn Morbi, bang Gujarat, miền Tây Ấn Độ bị đứt. Vào thời điểm đó, có khoảng gần 500 người đang có mặt ở khu vực cầu để hành lễ trong dịp Lễ hội tôn giáo Diwali. Nhiều người trong số đó là phụ nữ và trẻ em. Cáp của cầu treo bị đứt đã khiến một phần cấu trúc cầu gãy, làm nhiều người rơi xuống sông Machchu bên dưới. Các nhân chứng cho biết, cây cầu bị sập do không chịu được sức nặng của quá nhiều người. Ít nhất 135 người đã thiệt mạng trong vụ việc này. Cảnh sát Ấn Độ đã bắt giữ 9 người có liên quan.

* Tờ Times of India hôm 30/10 dẫn lời Bộ trưởng Nội vụ Cộng hoà Dân chủ Congo Daniel Aselo Okito cho biết, ít nhất 11 người đã thiệt mạng và 7 người khác bị thương trong một vụ giẫm đạp xảy ta tại lễ hội âm nhạc của ngôi sao người châu Phi Fally Ipupa, tổ chức ở sân vận động Martyrs lớn nhất Thủ đô Kinshasa. Được biết, sân vận động Martyrs, nơi xảy ra vụ việc thương tâm, có sức chứa 80.000 người. Theo các báo cáo, sân vận động này chật cứng người hâm mộ Fally Ipupa trong buổi diễn. Một nhân chứng cho hay "thậm chí các hành lang" của sân vận động cũng đông nghẹt người.

* Truyền thông địa phương dẫn lời giới chức bang Bihar, miền Đông Ấn Độ, cho biết ít nhất 53 người đã tử vong sau khi ngã xuống nước tại các khu vực khác nhau ở bang này trong dịp lễ hội Chhath Puja của người Hindu. Những người này đã chết đuối ở các con sông và vùng nước tại nhiều khu vực của bang Bihar trong 4 ngày diễn ra lễ hội Chhath Puja, trong đó ít nhất 18 người chết đuối trong ngày 31/10, ngày cuối của lễ hội...

HẢI QUAN VIỆT NAM: ĐẨY MẠNH CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH PHỤC VỤ NGƯỜI DÂN VÀ DOANH NGHIỆP

 Theo Quyết định số 2154/QĐ-BTC ngày 25-10-2022 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, năm 2021 Tổng cục Hải quan tiếp tục giữ vị trí “quán quân” về Chỉ số cải cách hành chính trong khối Tổng cục và tương đương thuộc Bộ Tài chính.

Đây là năm thứ sáu liên tiếp tính từ năm 2016 Tổng cục Hải quan giữ vững vị trí này. Để có được kết quả đó trước hết là do sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Tài chính, bên cạnh đó có sự nỗ lực không ngừng của các đơn vị, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động ngành Hải quan với mục tiêu cao nhất là phục vụ người dân và doanh nghiệp.
Thường xuyên đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
Thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và kế hoạch hành động của Bộ Tài chính, Tổng cục Hải quan tập trung thực hiện đồng bộ các giải pháp về cải cách thủ tục hành chính (TTHC). Trong năm 2020 và 2021, đã nghiên cứu, đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 5% số quy định và 5% chi phí liên quan đến hoạt động kinh doanh theo Nghị quyết số 68/NQ-CP ngày 12-5-2020 của Chính phủ. Đề xuất bãi bỏ bản sao giấy chứng minh nhân dân của 2 TTHC tại Thông tư số 22/2019/TT-BTC ngày 16-4-2019 của Bộ Tài chính theo Đề án tổng thể đơn giản hóa TTHC, giấy tờ công dân và các cơ sở dữ liệu liên quan đến quản lý dân cư.
Trình ban hành Nghị định số 67/2020/NĐ-CP ngày 15-6-2020 của Chính phủ trong đó đã cắt giảm, đơn giản hóa 19/29 điều kiện kinh doanh, cắt giảm 22/52 thành phần hồ sơ của các thủ tục công nhận kho, bãi, cảng, cửa hàng miễn thuế. Thường xuyên thực hiện tốt hoạt động đánh giá tác động của TTHC trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật góp phần quan trọng bảo đảm sự cần thiết, tính hợp pháp, hợp lý của quy định về TTHC; công khai TTHC thường xuyên, kịp thời để bảo đảm quyền được tiếp cận thông tin về TTHC của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp; tăng cường công tác kiểm soát TTHC trong toàn ngành.
Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, xây dựng Hải quan số tiến tới mô hình Hải quan thông minh
Cơ quan Hải quan đã xây dựng và vận hành hiệu quả một số hệ thống CNTT quan trọng để phục vụ thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan tự động. Đến nay, các thủ tục hải quan cốt lõi được thực hiện hoàn toàn bằng phương thức tự động thông qua Hệ thống thông quan tự động (VNACCS/VCIS) với 100% đơn vị Hải quan trên phạm vi toàn quốc thực hiện, hơn 99% doanh nghiệp tham gia, xử lý hơn 99,8% tờ khai hải quan và thời gian thông quan đối với hàng luồng xanh chỉ từ 1 đến 3 giây.
Tổng cục Hải quan đã ký kết với 44 ngân hàng để phối hợp thu thuế điện tử, số thu đạt khoảng 99,8% số thu ngân sách toàn Ngành. Triển khai dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 đạt 91% tổng số dịch vụ công. Đã tích hợp 98 TTHC lên Cổng dịch vụ công quốc gia. Đến nay đã có 259 TTHC của 13 Bộ, ngành kết nối, thực hiện trên Cơ chế một cửa quốc gia với hơn 50.000 doanh nghiệp tham gia. Đã kết nối chính thức Cơ chế một cửa ASEAN để trao đổi thông tin chứng nhận xuất xứ mẫu D điện tử với 9 nước thành viên ASEAN. Tổng cục Hải quan triển khai Hệ thống quản lý hải quan tự động (VASSCM) thông qua việc kết nối, trao đổi thông tin với 495 doanh nghiệp kinh doanh cảng, sân bay, kho, bãi, địa điểm chịu sự giám sát hải quan.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, lưu lượng hàng hóa lưu thông giữa các quốc gia ngày càng gia tăng; Việt Nam đã tham gia 16 hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các yêu cầu hội nhập toàn diện; cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 đang diễn ra mạnh mẽ, từ đầu năm 2021, Tổng cục Hải quan tập trung xây dựng Hải quan số tiến tới mô hình Hải quan thông minh. Mô hình Hải quan thông minh sẽ có mức độ tự động hóa cao, ứng dụng các thành tựu khoa học mới và hiện đại trên nền tảng số, phi giấy tờ, đảm bảo minh bạch, công bằng, hiệu lực, hiệu quả, có khả năng dự báo, thích ứng với sự biến động của thương mại quốc tế và yêu cầu quản lý của cơ quan Hải quan, yêu cầu chia sẻ, kết nối với các bộ, ngành, phù hợp với chuẩn mực quốc tế, phục vụ người dân, doanh nghiệp.
Hiện nay, Tổng cục Hải quan đang xây dựng hệ thống công nghệ thông tin (CNTT) mới thông qua hình thức thuê dịch vụ CNTT nhằm khắc phục nhược điểm của các hệ thống CNTT hiện hành. Toàn bộ giao dịch được hệ thống mới xử lý theo cách thức thống nhất, đảm bảo áp dụng nhất quán các quy định pháp luật trong nước và đối xử ngang bằng với tất cả các đối tác thương mại. Dự kiến trong 5 năm tới, 92.000 doanh nghiệp xuất nhập khẩu, kinh doanh kho, bãi, cảng khi sử dụng hệ thống CNTT mới của Hải quan sẽ tiết kiệm khoảng 920 tỷ đồng, được khai báo thủ tục hải quan mọi lúc, mọi nơi, trên mọi công cụ.
Cải cách công tác kiểm tra chuyên ngành
Thực hiện chủ trương của Chính phủ tại Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 1-1-2020 và Nghị quyết số 99/NQ-CP ngày 13-11-2019, Tổng cục Hải quan tham mưu Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 38/QĐ-TTg ngày 12-1-2021 phê duyệt đề án “Cải cách mô hình kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu”. Trên cơ sở đó, từ năm 2021, Tổng cục Hải quan xây dựng và trình Chính phủ dự thảo Nghị định quy định cơ chế quản lý, phương thức, trình tự, thủ tục kiểm tra chất lượng, kiểm tra an toàn thực phẩm đối với hàng hóa nhập khẩu. Theo đó, cơ quan Hải quan là đơn vị vận hành Cổng thông tin một cửa quốc gia để đảm bảo đơn giản hóa thủ tục kiểm tra chuyên ngành (KTCN); các tổ chức được Bộ, ngành chỉ định thực hiện thủ tục KTCN; cơ quan Hải quan chỉ thực hiện phương thức kiểm tra giảm đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm quy định tại Khoản 1 Điều 19 Nghị định số 15/2018/NĐ-CP.
Với vai trò cơ quan thường trực Ủy ban Chỉ đạo quốc gia về Cơ chế một cửa quốc gia, Cơ chế một cửa ASEAN và tạo thuận lợi thương mại, Tổng cục Hải quan thực hiện nhiệm vụ điều phối các hoạt động cải cách KTCN của các Bộ, ngành theo kế hoạch của Ủy ban. Thường xuyên chủ động rà soát các quy định pháp luật về KTCN để kiến nghị các Bộ, ngành xem xét xử lý, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp. Triển khai rà soát chuyển đổi mã số HS đối với danh mục hàng hóa thuộc diện KTCN.
Để góp phần xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động, phục vụ người dân và doanh nghiệp, trong giai đoạn 2021-2030, Tổng cục Hải quan tiếp tục thực hiện chủ trương tăng cường hội nhập quốc tế, thực hiện hài hòa nhiệm vụ vừa tạo thuận lợi thương mại, vừa làm tốt công tác quản lý nhà nước về hải quan, tạo môi trường xuất nhập khẩu minh bạch, công bằng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Để đạt được mục tiêu đề ra, Tổng cục Hải quan xác định CCHC là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, liên tục, lấy sự hài lòng của người dân và doanh nghiệp làm mục tiêu phục vụ./.
Theo Báo QĐND.

WHO duy trì tình trạng khẩn cấp toàn cầu về bệnh đậu mùa khỉ

 Ngày 1/11, Ủy ban Khẩn cấp của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) khẳng định dịch bệnh đậu mùa khỉ vẫn là Tình trạng khẩn cấp về sức khỏe cộng đồng toàn cầu (PHEIC) - mức cảnh báo cao nhất của tổ chức này.

Theo báo cáo mới nhất của cơ quan này, tính đến ngày 31/10, thế giới đã có tổng cộng 77.264 ca được xác nhận mắc bệnh thông qua kết quả xét nghiệm tại phòng thí nghiệm, trong đó có 36 trường hợp đã tử vong.

Hồi tháng 7, WHO lần đầu tiên ban bố PHEIC đối với dịch đậu mùa khỉ để kích hoạt phản ứng phối hợp quốc tế và có thể thúc đẩy công tác tài trợ nhằm hợp tác chia sẻ vaccine và phương pháp điều trị dịch bệnh này trong bối cảnh dịch có dấu hiệu lây lan nhanh.

Kể từ tháng 1/2022, WHO đã nhận được báo cáo về sự xuất hiện của bệnh đậu mùa khỉ từ 109 nước thành viên trên toàn bộ 6 khu vực của WHO. Từ ngày 13/5, dịch bệnh đậu mùa khỉ đặc biệt lây lan nhanh tại những nước chưa từng ghi nhận ca mắc bệnh này. Hiện Mỹ là nước có số ca mắc bệnh đậu mùa khỉ cao nhất thế giới với 28.377 ca trong đó có 6 ca tử vong theo số liệu của Trung tâm kiểm soát và phòng chống dịch bệnh (CDC) nước này.

Truyền thông Trung Quốc đưa tin đậm nét kết quả chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng

Các tờ báo lớn của Trung Quốc đồng loạt đưa tin về kết quả chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Báo chí Trung Quốc cho rằng, chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng gặt hái nhiều thành quả, góp phần thúc đẩy hơn nữa mối quan hệ Việt Nam-Trung Quốc.

Hãng Tân Hoa xã đưa tin, Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã trao Huân chương Hữu nghị tặng Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi lễ trang trọng diễn ra tại Đại lễ đường Nhân dân ở thủ đô Bắc Kinh, ngày 31/10. Tờ báo cũng dẫn lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình nhấn mạnh, huân chương cho thấy tình cảm của đất nước, nhân dân Trung Quốc dành cho Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng như nhân dân Việt Nam, thể hiện hy vọng của Đảng và nhân dân hai nước về một tương lai tốt đẹp hơn.

Báo China Daily viết, hai nước Trung Quốc và Việt Nam nhất trí tăng cường hợp tác chiến lược, củng cố lòng tin, giải quyết các bất đồng nhằm đưa quan hệ Đối tác hợp tác chiến lược trong thời đại mới lên một tầm cao mới.

Trong bài viết đăng tải ngày 1/11, Global Times đưa tin, sau cuộc gặp tại Đại lễ đường Nhân dân, hai nhà lãnh đạo đã chứng kiến lễ ký kết một loạt văn kiện hợp tác giữa hai nước, trong đó có hợp tác giữa hai Đảng, hợp tác kinh tế, thương mại, bảo vệ môi trường, văn hóa - du lịch, tư pháp, hải quan.

Đánh giá về chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Global Times dẫn nhận định của chuyên gia nghiên cứu Sun Xiaoying tại Học viện Khoa học Xã hội Quảng Tây (Trung Quốc) cho rằng, một trong những trọng tâm của chuyến thăm là tăng cường hợp tác kinh tế, thương mại Việt-Trung. Theo chuyên gia này, thị trường lớn của Trung Quốc mang lại nhiều cơ hội cho các ngành kinh tế của Việt Nam, đặc biệt cho sản phẩm nông - ngư nghiệp. Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam nhiều năm liên tiếp. Việt Nam cũng là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong số các thành viên ASEAN.

Tờ báo cũng dẫn lời Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc Xu Liping nhận định rằng, Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng ở ASEAN và việc tăng cường quan hệ Việt-Trung không chỉ mang lại lợi ích cho nhân dân hai nước, mà còn hỗ trợ đà phục hồi kinh tế ở châu Á.

Các chuyên gia cũng tin rằng, hai bên "có thể giải quyết các bất đồng một cách hòa bình, vì lợi ích của nhân dân hai nước, bảo vệ hòa bình và thịnh vượng ở khu vực".

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến thăm Trung Quốc sau khi Đại hội lần thứ XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc bế mạc ngày 22/10, thể hiện đầy đủ tầm quan trọng của quan hệ giữa hai Đảng, hai Nhà nước.

“Ngày hội kết đoàn” tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam

 Trong tháng 11/2022, tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam diễn ra các hoạt động, với chủ đề “Ngày hội kết đoàn”, nhằm tôn vinh sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần làm phong phú các hoạt động của Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản Văn hóa Việt Nam” năm 2022.

Các hoạt động diễn ra theo cụm làng dân tộc nhằm tôn vinh sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc, truyền thống gắn bó, sẻ chia, đùm bọc lẫn nhau. Cụ thể, hoạt động tại Thung lũng hoa cải vàng sẽ gắn với không gian văn hóa của đồng bào Tày, Nùng (Thái Nguyên), Mông (Hà Giang), Dao (Ba Vì, Hà Nội). Trong không gian này, du khách sẽ được thưởng thức những nét văn hóa đặc trưng như đàn tính, hát then của các dân tộc Tày, Nùng; múa khèn của dân tộc Mông; dân ca, dân vũ, trò chơi dân gian có sự tương tác như kéo co, ném còn, đi cà kheo, bập bênh...

Còn tại Cánh đồng hoa tam giác mạch với thế mạnh của làng dân tộc Mường, Thái có cảnh quan đẹp, giàu truyền thống văn hóa bản địa cùng chiêng Mường, xòe Thái, nhiều món ăn ẩm thực của hai làng dân tộc đều mang nét đặc trưng vùng miền được chế biến công phu.

Chương trình hoạt động tại làng Tây Nguyên sẽ là phần trình diễn đậm sắc màu văn hóa các dân tộc ca ngợi quê hương đất nước, khối đại đoàn kết dân tộc hưởng ứng Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam” tại Làng.

Bên cạnh đó, tại các làng Nam Bộ và điểm tín ngưỡng tâm linh sẽ diễn ra hoạt động trình diễn của đồng bào dân tộc Khmer (Sóc Trăng), Chăm (Ninh Thuận) với các nét di sản văn hóa nghệ thuật Rô băm; điệu múa đền tháp...; giới thiệu trang phục truyền thống, nghề thủ công, ẩm thực Tây Nam Bộ kết hợp với tín ngưỡng ở chùa Khmer Nam Tông, đền tháp của đồng bào Chăm.

Trong Tuần “Đại đoàn kết các dân tộc - Di sản văn hóa Việt Nam” từ ngày 14 – 23/11, đồng bào các dân tộc sẽ tiến hành nhiều hoạt động đa dạng. Đó là tái hiện lễ kết nghĩa mẹ con của dân tộc Ê đê tỉnh Đắk Lắk; giới thiệu nghệ thuật bài chòi và Lễ hội Cầu ngư của tỉnh Phú Yên; giới thiệu sắc màu văn hóa của đồng bào dân tộc Chăm tỉnh An Giang; nghi lễ mừng lúa mới của đồng bào dân tộc Gia Rai tỉnh Gai Lai…

Cùng với đó là các hoạt động hoạt động hàng ngày, cuối tuần của 14 cộng đồng dân tộc, chương trình du lịch trải nghiệm, giới thiệu làm bánh, gói bánh phục vụ du khách, trò chơi dân gian; hoạt động cầu an, chúc phúc tại các không gian tâm linh chùa Khmer, tháp Chăm... nhằm giới thiệu nét văn hóa, phong tục tập quán của đồng bào, cùng các hoạt động trải nghiệm tại “Ngôi nhà chung” của cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam./.

Nội dung tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch

 Trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận, vấn đề lý luận, thực tiễn về Chủ nghĩa xã hội (CNXH) và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam luôn là đề tài nóng bỏng mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động quyết liệt chống phá, thực hiện mục tiêu xóa bỏ, lật đổ. Nghị quyết 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định và nhấn mạnh: Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Đây thực chất là những luận điệu phi lịch sử, phản khoa học và phản động. Mục đích của chúng muốn xóa bỏ CNXH, thay đổi thể chế chính trị, hướng lái nước ta từ bỏ con đường đi lên CNXH. Những luận điệu sai trái, xuyên tạc này tác động làm cho một bộ phận quần chúng nhân dân, giới trẻ hồ nghi, bi quan, dao động, suy giảm niền tin vào CNXH, vào con đường đi lên CNXH mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn. Đấu tranh phản bác những quan điểm, luận điệu này, chúng ta thấy:

Một lànền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Chủ nghĩa Mác - Lênin là học thuyết duy nhất từ trước tới nay đặt ra mục tiêu chỉ rõ con đường giải phóng triệt để giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức trên thế giới khỏi nô dịch và bóc lột, hướng tới một xã hội mà chủ thể, nhà nước thuộc về nhân dân. Đồng thời, học thuyết đó còn chỉ ra lực lượng cách mạng thực hiện sự nghiệp giải phóng và phát triển xã hội là giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại cho họ niền tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình. Bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin còn thể hiện ở chỗ, đây là học thuyết mở, không cứng nhắc, bất biến, mà đòi hỏi luôn được bổ sung, đổi mới, phát triển trong dòng chảy phát triển trí tuệ nhân loại. Toàn bộ học thuyết Mác - Lênin có giá trị bền vững xét trong tinh thần biện chứng của nó, với bản chất cách mạng, khoa học. Chủ nghĩa Mác - Lênin là vũ khí lý luận sắc bén, ngọn cờ tư tưởng trong sự nghiệp đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân cần lao tiến bộ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin[1].

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của nước ta, coi đây là cơ sở lý luận, nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho xây dựng, tổ chức và hoạt động của Đảng. Vì vậy, Đảng luôn có cương lĩnh, đường lối, chiến lược, sách lược, chỉ thị, nghị quyết đúng đắn, lãnh đạo nhân dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Lịch sử đã chứng minh, nếu mơ hồ, dao động về hệ tư tưởng thì sẽ lúng túng trong hoạch định chủ trương, đường lối, chính sách, rối loạn trong tổ chức và tất yếu dẫn đến thất bại trong hành động. Thực tiễn cách mạng nước ta chứng minh, trong mỗi giai đoạn cách mạng, mỗi lĩnh vực công tác, mỗi địa phương nếu xa rời hay vận dụng một cách giáo điều, máy móc, duy ý chí hoặc xa rời nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin thì nhất định sẽ phạm phải sai lầm, chia rẽ, mất uy tín trước quần chúng và thực hiện công việc hiệu quả thấp, thất bại. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện. Nó sẽ còn tiếp tục phát triển và có sức sống trong thực tiễn cách mạng cũng như trong thực tiễn phát triển của khoa học. Chúng ta cần tiếp thu, bổ sung một cách có chọn lọc trên tinh thần phê phán và sáng tạo những thành tựu mới nhất về tư tưởng và khoa học để chủ nghĩa, học thuyết của chúng ta luôn luôn tươi mới, luôn luôn được tiếp thêm sinh lực mới, mang hơi thở của thời đại, không rơi vào xơ cứng, trì trệ, lạc hậu so với cuộc sống[2].

 Hai làđộc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Lịch sử dân tộc ta nửa cuối thế kỷ 19 và ngót nửa đầu thế kỷ 20, đất nước không được độc lập, nhân dân không được tự do. Các phong trào từ “Cần Vương”, “Khởi nghĩa nông dân”, đến phong trào “Đông Du”, phong trào “Giải phóng dân tộc theo khuynh hướng tư sản dân tộc”…đều thất bại, cách mạng Việt Nam lâm vào khủng hoảng về con đường giải phóng dân tộc. Trong điều kiện đó, Nguyễn Ái Quốc đã đưa lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, ánh sáng của Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, cách mạng vô sản về Việt Nam. Từ khi có Đảng, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sợi chỉ đỏ xuyên suốt, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, giành lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, xây dựng đất nước theo con đường CNXH, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nói như thế để thấy, con đường cách mạng vô sản tiến bộ là phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, CNXH là sự lựa chọn của lịch sử dân tộc Việt Nam. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là sự lựa chọn đúng đắn của nhân dân. Nhân dân là cội nguồn sức mạnh, chủ thể quyết định vận mệnh của dân tộc và non sông đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam một lòng phụng sự Nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Ngoài lợi ích của dân tộc, Nhân dân, Đảng không có lợi ích nào khác. Nhân dân một lòng theo Đảng. Lý tưởng cộng sản là sự lựa chọn của Nhân dân. Kiên định con đường đi lên CNXH là sự kiên định con đường thực tiễn mà nhân dân ta đang đi, kiên định mục tiêu thực hiện mà chúng ta đang hướng tới, là tiếp nối thành quả cách mạng của nhân dân ta và nâng lên tầm cao mới phù hợp với điều kiện lịch sử. Trong tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta tiếp tục lựa chọn con đường Bác Hồ, Nhân dân đã lựa chọn, kiên định CNXH mà tính đúng đắn, khoa học, cách mạng đã được thực tiễn chứng minh để xây dựng đất nước ta thực sự giàu mạnh, dân chủ, văn minh, nhân dân ta thực sự có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh trong bài viết của mình: “Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là đường lối cơ bản, xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, là điểm cốt yếu trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh. Bằng kinh nghiệm thực tiễn phong phú, kết hợp với lý luận cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã đưa ra kết luận sâu sắc rằng, chỉ có CNXH và chủ nghĩa cộng sản mới có thể giải quyết triệt để vấn đề độc lập cho dân tộc, mới có thể đem lại cuộc sống tự do, ấm no và hạnh phúc thực sự cho tất cả mọi người, cho các dân tộc[3].

Kiên định con đường đi lên CNXH là phù hợp với quy luật lịch sử chứ không phải là “đi vào vết xe đổ của Liên Xô” như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị. Chủ nghĩa xã hội hiện thực sau cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 không chỉ có ảnh hưởng quốc tế sâu rộng mà còn làm thay đổi tiến trình lịch sử thế giới trong suốt thế kỷ XX và cho đến tận ngày nay. Chủ nghĩa xã hội từ lý luận khoa học đã trở thành hiện thực sinh động; từ một nước XHCN trở thành hệ thống các nước XHCN trên thế giới, trở thành lực lượng cách mạng thúc đẩy nhân loại phát triển và phẩm giá con người trong lòng xã hội được thực thi… Liên Xô sụp đổ là sự kiện địa chính trị lớn nhất của thế kỷ XX làm đau đớn nhân loại tiến bộ, song nó phản ánh sự sai lầm về một mô hình khi đã xa rời những vấn đề mang tính nguyên tắc của CNXH. Điều đó cho thấy, những bước thăng trầm, quanh co, khúc khuỷu nhưng tất thắng của CNXH với tư cách là một học thuyết khoa học và cách mạng, một hình thái kinh tế - xã hội và với tư cách một chế độ xã hội mới đầy ưu việt mà nó vốn có, là sự kết tinh tất cả những thành tựu tinh hoa mà các hình thái kinh tế - xã hội trước đã tạo ra, trên con đường đấu tranh khẳng định sự tồn tại phù hợp quy luật của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy con người.

Ba là, vấn đề đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập và dân chủ. Đảng chính trị được tiếp cận nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Với nghĩa chung nhất, phổ biến, dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Còn đảng là tổ chức chính trị mang bản chất giai cấp, là sự liên kết tự nguyện những người cùng chí hướng và cùng quyền lợi. Nói cho cùng, bản chất của đảng chính trị chính là bản chất giai cấp. Trong xã hội có giai cấp, thậm chí có nhiều giai cấp, sự xuất hiện của một đảng hay nhiều đảng chính trị cũng là lẽ bình thường. Dù dưới màu sắc chính trị hay xã hội, dân tộc hoặc tôn giáo, tên gọi có khác nhau, nhưng đảng thực chất là đảng chính trị, đảng nào cũng đều hướng tới việc cầm quyền, trong việc giành, giữ, thực thi quyền lực nhà nước.

 Tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tương quan lực lượng giữa các giai cấp, các bộ phận trong một giai cấp, mỗi nước có thể có một đảng hoặc nhiều đảng. Trong thực tiễn, có thể là một đảng lãnh đạo (như Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội), hoặc nhiều đảng cạnh tranh lãnh đạo, quyền lực nhà nước (như một số nước tư bản phương tây). Không có một đảng lãnh đạo hoặc không lập được liên minh lãnh đạo giữa các đảng thì tất yếu đất nước sẽ rơi vào tình trạng vô chính phủ và hỗn loạn. Dân chủ, dưới sự lãnh đạo của đảng chính trị là dành cho số đông hoặc dành cho thiểu số và lịch sử các hình thái dân chủ không nằm ngoài điều đó. Dưới chủ nghĩa tư bản, dân chủ nằm trong tay giai cấp tư sản, được tổ chức thành nhà nước tư sản và nhà nước đó bảo đảm quyền dân chủ cho một số ít người là giai cấp tư sản nhằm chống lại đông đảo những người lao động. Ở đó, dân chủ chân chính là thứ dân chủ dành cho thiểu số, không triệt để ở mọi cấp độ và tính chất, vì chỉ trong tay bộ phận thiểu số là giai cấp tư sản chứ không phải quảng đại quần chúng nhân dân lao động. Họ nói, dân chủ là phải đa đảng nhưng thực tế lại không như vậy. Chẳng hạn, ở một số nước tư bản như Hoa Kỳ - được mệnh danh là “thiên đường tự do”, trong suốt hàng trăm năm qua kể từ khi ra đời, trong bối cảnh nhiều đảng, nhưng thực chất chỉ có hai đảng lớn nhất của giai cấp tư sản thay nhau cầm quyền. Tuy là hai đảng nhưng khó ai có thể tìm thấy sự khác nhau về bản chất, về lập trường giai cấp và hệ tư tưởng giữa hai đảng đó, và nếu có khác nhau thì chỉ ở tên gọi và một số chính sách nhất định mà thôi.

Trong CNXH, dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân, vai trò chủ thể của Nhân dân. Nhà nước là nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì nhân dân. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Trong chế độ chính trị xã hội chủ nghĩa, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân là mối quan hệ giữa các chủ thể thống nhất về mục tiêu và lợi ích; mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật và hoạt động của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát là Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ. Dân chủ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội”[4]. Chính vì vậy, dân chủ XHCN vừa là mục tiêu cao cả, vừa là động lực căn bản và mạnh mẽ của sự phát triển xã hội và tiến bộ toàn diện không ngừng của nhân dân, đất nước với phẩm giá con người được thừa nhận một cách đầy đủ, tôn trọng và bảo vệ.

 Bốn là, đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Cả lý luận và thực tiễn đều cho thấy, xây dựng CNXH là kiến tạo một kiểu xã hội mới về chất, hoàn toàn không hề đơn giản, dễ dàng. Đây là cả một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách, khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài, không thể nóng vội”[5]. Trong thời kỳ quá độ, các nhân tố XHCN được hình thành, xác lập và phát triển đan xen, cạnh tranh với các nhân tố phi XHCN, gồm cả các nhân tố tư bản chủ nghĩa trên một số lĩnh vực. Sự đan xen, cạnh tranh này càng phức tạp và quyết liệt trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa, hội nhập quốc tế. Bên cạnh các mặt thành tựu, tích cực, sẽ luôn có những mặt tiêu cực, thách thức cần được xem xét một cách tỉnh táo và xử lý một cách kịp thời, hiệu quả. Đó là cuộc đấu tranh rất gay go, gian khổ, đòi hỏi phải có tầm nhìn mới, bản lĩnh mới và sức sáng tạo mới. Đi lên theo định hướng XHCN là một quá trình không ngừng củng cố, tăng cường, phát huy các nhân tố XHCN để các nhân tố đó ngày càng chi phối, áp đảo và chiến thắng. Với cách nhìn khoa học, biện chứng như vậy, không thể lấy hiện tượng, vấn đề cụ thể là những hạn chế tồn tại, thiếu sót, sơ hở trong đời sống xã hội để đánh đồng hiện tượng thành bản chất của CNXH, quy kết đó là kết quả đi theo con đường CNXH mang lại.

 Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đạt được trong hơn 35 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng là kết quả của công cuộc đổi mới, của quá trình CNH, HĐH, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN… Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên CNXH của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan, với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chính trị của Đảng tiếp tục là ngọn cờ tư tưởng, lý luận dẫn dắt dân tộc ta vững vàng tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; là nền tảng để Đảng ta hoàn thiện đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn mới. Để cuối cùng “với tất cả sự khiêm tốn, chúng ta vẫn có thể nói rằng: Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

 Đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng về CNXH và con đường đi lên CNXH ở Việt Nam có ý nghĩa quan trọng, góp phần củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, giữ vững sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận xã hội, ngăn chặn đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, qua đó góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” các thế lực thù địch, phản động trong tình hình mới./.