Thứ Tư, 3 tháng 5, 2023

ANH HÙNG BẾ VĂN ĐÀN - LẤY THÂN MÌNH LÀM GIÁ SÚNG !!!

 Thân làm giá súng, thân làm cành xuân;

Đang khi trận địa gian truân,
Vai khiêng núi lửa diệt quân bạo tàn.
Quân ta cờ thắm khải hoàn,
Mà người chiến sĩ đã tàn thịt xương.
Mộ Bế Văn Đàn trong sáng trong gương:
Hai đế giày cao su rách sờn.
Giản đơn một cây bút máy.
Một túi ni lông.
Tám khuy cúc áo.
Một mảnh đại bác - còn lại trong người.
Tất cả tình anh đã hiến cho đời.
Không giữ cho mình, dù chỉ là hài cốt.
Mộ Bế Văn Đàn trong sáng trong gương.
Mộ Bế Văn Đàn trong viện Bảo tàng Quân đội.
Khách viếng qua đây
Dừng chân đứng lại:
Nơi đây mộ Bế Văn Đàn,
Nơi đây gió nội trăng ngàn,
Nơi đây chim ca hoa nở,
Đất Tổ quốc là một nền nhung đỏ,
Nơi đây bốn mùa muôn thuở vãng lai...
Tất cả tinh anh đã hiến cho đời...
ST


Những giấy tờ thay thế sổ hộ khẩu giấy từ năm 2023

 

Từ 1/1/2023, người dân có thể dùng một trong các loại giấy tờ làm thủ tục hành chính là thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, giấy thông báo số định danh cá nhân.

Ngày 21/12, Phó thủ tướng Vũ Đức Đam ký ban hành Nghị định 104 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định liên quan đến nộp, xuất trình sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy khi thực hiện thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công.

Từ đầu năm 2023, nhiều thủ tục sẽ không cần xuất trình sổ hộ khẩu, như: Hỗ trợ tạo việc làm; bảo hiểm y tế; hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn; phát triển giáo dục mầm non; quản lý học phí với cơ sở giáo dục công lập; miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập; giá dịch vụ lĩnh vực giáo dục, đào tạo; điện lực; nhà ở; đất đai; y tế...

Khi thực hiện thủ tục ở các lĩnh vực nói trên, người dân chỉ cần trình một trong các loại giấy tờ sau: Thẻ căn cước công dân, chứng minh nhân dân, giấy tờ xác nhận thông tin về cư trú (văn bản ghi nhận thông tin cư trú do cơ quan có thẩm quyền cấp), giấy thông báo số định danh cá nhân, thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Chính phủ yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức sử dụng thông tin về cư trú của công dân trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để giải quyết thủ tục hành chính, cung cấp dịch vụ công. Thông tin về cư trú của công dân tại thời điểm làm thủ tục hành chính được ghi nhận và lưu giữ trong hồ sơ trên Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, tỉnh.

Các phương thức khai thác thông tin về cư trú của công dân gồm: Hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính cấp bộ, cấp tỉnh đã kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư hoặc qua Cổng dịch vụ công quốc gia; tài khoản định danh điện tử của công dân hiển thị trong ứng dụng VNEID; sử dụng thiết bị đầu đọc đã được kết nối trực tuyến với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, gồm thiết bị đọc mã QRCode hoặc thiết bị đọc chip trên thẻ căn cước công dân gắn chip.

Nếu không thể khai thác được thông tin cư trú của công dân theo các phương thức nêu trên, cán bộ có thể yêu cầu công dân nộp bản sao hoặc xuất trình một trong số giấy tờ có giá trị chứng minh thông tin về cư trú.

Nghị định có hiệu lực từ 1/1/2023.

Cuối năm 2020, Quốc hội thông qua Luật Cư trú (sửa đổi), trong đó quy định sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy có giá trị đến hết năm 2022, sau đó người dân sẽ chuyển sang sử dụng mã số định danh cá nhân để chứng minh nơi cư trú.

Luật có hiệu lực từ tháng 7/2021, song có điều khoản chuyển tiếp, người dân tiếp tục được dùng sổ hộ khẩu, sổ tạm trú giấy đến hết năm 2022 để chứng minh nơi cư trú, giải quyết thủ tục hành chính khi cần thiết.

Quốc hội yêu cầu Chính phủ và các cơ quan rà soát văn bản có nội dung liên quan đến sổ hộ khẩu, sổ tạm trú hoặc yêu cầu xuất trình giấy tờ, tài liệu xác nhận về cư trú, để sửa đổi cho phù hợp.

Nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở

Nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, bảo đảm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, tạo lập cơ sở pháp lý cho việc thực hiện quyền làm chủ của nhân dân và của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động, tạo sự chuyển biến tích cực trong đời sống chính trị - xã hội, tại Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XV đã thông qua Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở (Luật số 10/2022/QH15). Luật gồm 6 chương, 91 điều; trong đó quy định việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và tổ chức sử dụng lao động.

Luật nêu rõ quyền của công dân trong thực hiện dân chủ ở cơ sở như sau:

- Được công khai thông tin và yêu cầu cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời theo quy định của pháp luật.

- Đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định đối với các nội dung thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan.

- Kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với các quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

- Được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp trong thực hiện dân chủ ở cơ sở theo quy định của pháp luật.

Thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của nhân dân, để công dân, cán bộ, công chức, viên chức, người lao động được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến của mình thông qua việc thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do vậy, cần tập trung một số nhiệm vụ sau:

Một là, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.

Chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền việc đẩy mạnh thực hiện QCDC trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân phải cụ thể: Xây dựng cơ chế thông tin đa chiều, thực hiện minh bạch, công khai thông tin, đáp ứng quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và mọi tầng lớp nhân dân. Đa dạng hóa phương pháp, hình thức tuyên truyền theo hướng tăng cường đối thoại, trao đổi, tương tác phù hợp với đặc điểm của từng đối tượng. Hiện đại hóa và sử dụng các phương tiện tuyên truyền hiện đại, nhiều chức năng, dịch vụ, tiện ích nhằm góp phần hữu ích, thiết thực trong việc tương tác, chia sẻ. Do vậy, cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp phải thực sự gương mẫu trong việc chấp hành các nguyên tắc tập trung dân chủ, trong thực hiện nhiệm vụ đảng viên, trong sinh hoạt, lối sống… Đồng thời, kịp thời phê phán những biểu hiện cực đoan, lợi dụng dân chủ để xuyên tạc, kích động, lôi kéo quần chúng phục vụ cho “lợi ích nhóm”, lợi ích cá nhân, đồng thời cần khắc phục, chấm dứt những việc làm mang tính dân chủ hình thức trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý của Nhà nước trong đẩy mạnh thực hiện QCDC ở cơ sở.

Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, vai trò quản lý Nhà nước để bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân. Nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy các cấp trong phát huy quyền làm chủ của nhân dân; đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hành dân chủ; phát huy hiệu lực, hiệu quả vai trò các cơ quan, tổ chức trong thực hành dân chủ; tổ chức bộ máy gọn nhẹ, trong sạch, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào dân để xây dựng Đảng. Cán bộ, công chức, viên chức làm việc trong bộ máy nhà nước phải được lựa chọn theo những tiêu chí cụ thể và công khai, có uy tín trong nhân dân, có năng lực, bảo đảm liêm, chính.

Ba là, phát huy hiệu quả vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Sự nghiệp đổi mới đất nước đặt ra yêu cầu phải phát huy đầy đủ quyền làm chủ, tiềm năng sáng tạo của các tầng lớp nhân dân và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, không ngừng đổi mới phương thức hoạt động và cơ chế để phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Đồng thời, làm tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội đối với cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, góp phần xây dựng Đảng và bộ máy chính quyền các cấp thật sự trong sạch, vững mạnh. Thường xuyên kiện toàn tổ chức, bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với các chức năng, vai trò và nhiệm vụ; nâng cao chất lượng hoạt động theo hướng hiệu quả, thiết thực, khắc phục triệt để tình trạng phô trương, hình thức; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; bảo đảm lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ XHCN. Tăng cường giám sát việc lãnh đạo và thực hiện QCDC ở cơ sở, việc tổ chức tiếp công dân, đối thoại với công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân của chính quyền các cấp nhằm giải đáp nguyện vọng, kiến nghị chính đáng, hợp pháp của nhân dân.

Bốn là, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất, đạo đức cách mạng trong sáng, chí công vô tư trong thực hiện QCDC ở cơ sở.

Để thực hành dân chủ, công tác cán bộ là một trong những khâu quan trọng và mang tính quyết định nhất. Do đó, cần: Nâng cao nhận thức cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân về vai trò của việc giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng; nhất là trong xu thế hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ như hiện nay. Kết hợp thực hiện các biện pháp cụ thể về tổ chức quản lý, hành chính, pháp luật và đề cao sức mạnh của dư luận xã hội. Kiên quyết đấu tranh, xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân lợi dụng dân chủ, gây rối loạn nội bộ, làm mất ổn định chính trị - xã hội hoặc vi phạm dân chủ, làm phương hại đến quyền làm chủ của nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải quán triệt sâu sắc, có nhận thức đầy đủ các quan điểm, đường lối của Đảng về công tác cán bộ, về thực hiện dân chủ trong Đảng. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy quyền và trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ. Mỗi cán bộ đủ điều kiện, tiêu chuẩn, đã được quy hoạch đều có cơ hội và điều kiện như nhau để có thể phát huy tốt những phẩm chất, năng lực của mình trong tuyển dụng, tuyển chọn vào các chức danh lãnh đạo, quản lý./.

KHỔ MẤY CŨNG PHẢI GIỮ, CÓ CHẾT CŨNG PHẢI GIỮ

 Tướng Giáp Văn Cương (Đô đốc đầu tiên của Hải quân Nhân dân Việt Nam) bảo: “Tớ đâu có muốn đày đọa các cậu. Giá trị gì mấy cái hòn đá cằn cỗi này mà phải gìn giữ? Nhưng đây là Tổ quốc của mình, là máu thịt của mình. Có phải chúng ta giữ mấy hòn đá hoang dại này đâu mà là giữ biển đấy! Mất đảo là mất biển, mà biển lại bao bọc suốt từ Bắc đến Nam. Tất cả kẻ thù đánh ta đều đi từ đường biển vào. Thế nên chúng ta phải giữ đảo, giữ biển. Khổ mấy cũng phải giữ, có chết cũng phải giữ! Thế nên chúng mày mới phải chịu cảnh này”.

“Tớ già rồi, ngoài 70 rồi, lẽ ra được ở nhà an thú tuổi già, vậy mà vẫn phải lọ mọ lặn lội sóng gió ra đây với chúng mày, vẫn phải làm tư lệnh. Tất nhiên tớ biết, các cậu vất vả hơn tư lệnh nhiều, khổ hơn tư lệnh nhiều vì tư lệnh còn được ở đất liền. Hay là các cậu vào đất liền, làm tư lệnh thay tớ, để tớ giữ đảo cho? Ở đây có cậu nào làm được tư lệnh không, xung phong nào! Cậu nào làm được tư lệnh, tớ sẽ báo cáo quân chủng, báo cáo Bộ Chính trị cho thay ngay Giáp Văn Cương”.
Ông tâm tình: “Còn việc về phép của các cậu, chúng tớ có tiếc gì đâu. Nhưng Bộ Tư lệnh nghèo quá, đất nước nghèo quá. Chúng ta vừa qua chiến tranh, còn hàng triệu bà mẹ liệt sĩ thiếu ăn, hàng triệu trẻ con không có trường học. Đưa một cậu về phép, Bộ Tư lệnh phải xuất 20 tấn dầu cả tàu ra, tàu về, rồi tàu lại ra. Mà dầu thì ta không có, phải mua của nước ngoài, rất đắt. Mỗi đứa bớt một lần về phép thì một trăm bà mẹ liệt sĩ có được đến mấy tháng ăn...”.
Thế rồi ông khóc, lính cũng khóc: “Thôi, chúng con hiểu rồi. Bố đừng nói nữa, chúng con thương bố lắm”. Tướng Cương bảo: “Chẳng ai nỡ làm cái việc táng tận lương tâm là cắt phép của các cậu. Nhưng hôm nay tớ phải làm cái việc táng tận lương tâm ấy đấy. Cắt phép. Còn nếu cậu nào có thể tự túc về được thì tớ cho đi ngay, bất cứ lúc nào. Có ai bơi được về đất liền không? Không à? Trai trẻ gì mà kém thế! Tớ mà trẻ trai như các cậu là tớ trốn đấy”. Thế là tướng với lính cười bò. Cười mà nước mắt giàn giụa.
Vậy đấy, Tổ quốc sẽ không bao giờ bị ''trôi dạt'' bởi chúng ta đã có những vị tướng như thế, những người lính như thế./.
ST


Chủ trương của Đảng về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói về dân chủ theo cách rất dễ hiểu: Dân chủ nghĩa là dân là chủ và dân làm chủ. Người còn nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Trên cơ sở tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, Điều 3, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”.

Trong tiến trình đổi mới, việc vi phạm dân chủ ở nông thôn khi nhân dân tham gia đóng góp xây dựng hạ tầng đường, trường, trạm... đã không được bàn bạc, mức đóng góp quá sức dân, gây bức xúc trong nhân dân, làm xói mòn lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, gây nên tình trạng mất an ninh và trật tự xã hội ở một số địa phương. Trước tình hình đó, ngày 18-2-1998, Bộ Chính trị (khóa VIII) đã ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW “Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Chỉ thị nhấn mạnh: “Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất”, nhằm cụ thể hóa phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đảm bảo dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ thực sự của nhân dân. Trên cơ sở đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành các Nghị quyết số 45/1998, Nghị quyết số 55/1998, Nghị quyết số 60/1998, Pháp lệnh số 34/2007 và Chính phủ ban hành các Nghị định số: 29/1998, 71/1998, 07/1999, 79/2003, 87/2007 về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan hành chính, doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn đã tạo ra cơ chế cụ thể về quyền làm chủ của nhân dân.

Trong từng thời kỳ cách mạng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư kế thừa, bổ sung và phát triển nhận thức về thực hiện QCDC ở cơ sở cho phù hợp với tình hình thực tiễn, nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở; là khâu quan trọng, then chốt trong xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân. Ngày 22-6-2000, Bộ Chính trị ban hành Thông báo số 304-TB/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW Về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Tiếp sau đó, ngày 4, 5-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết việc thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị giai đoạn 1998-2001. Đến ngày 28-3-2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) ban hành Chỉ thị số 10-CT/TW “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Ngày 28, 29-9-2004, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa IX) đã tổ chức Hội nghị toàn quốc tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị và ra Thông báo số 159-TB/TW “Kết quả 6 năm thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) và tiếp tục chỉ đạo xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”. Đến ngày 4-3-2010, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Kết luận số 65-KL/TW “Về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII). Nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở trong thời kỳ mới. Ngày 7-1-2016, Bộ Chính trị (khóa XI) đã ban hành Kết luận số 120-KL/TW “Về tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định “Nhân dân làm chủ”, “Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân” và tập trung làm rõ tình hình, phương hướng, nhiệm vụ tiếp tục phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Đồng thời, khẳng định: “Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân, từ nêu sáng kiến, tham gia thảo luận, tranh luận đến giám sát quá trình thực hiện”.

Đại hội XIII, kế thừa và phát triển tư tưởng “trọng dân” trong truyền thống lịch sử của dân tộc, bài học “dân là gốc” tiếp tục được phát triển bổ sung nội dung “dân giám sát” và “dân thụ hưởng” vào phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” để tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân.

Bài học “dân là gốc”, phải thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đó tạo thuận lợi, có cơ sở chính trị, pháp lý tổ chức thực hiện, mở rộng, tăng cường, phát huy dân chủ, vai trò chủ thể của nhân dân. Sự phát triển, hoàn thiện đó có ý nghĩa thiết thực, quan trọng trong xây dựng và phát triển đất nước như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”./.

Có thể dùng tài khoản định danh điện tử khi đi máy bay

 

Thay vì phải xuất trình các loại giấy tờ tùy thân, hành khách có thể sử dụng tài khoản định danh điện tử (VNeID) để làm thủ tục đi máy bay từ hôm nay.

Ngày 2/5, Cục Hàng không Việt Nam yêu cầu các sân bay, hãng hàng không sử dụng thông tin của hành khách đã được tích hợp trên VNeID để xác thực danh tính khi làm thủ tục bay. Ngoài ra, hành khách vẫn có thể dùng các loại giấy tờ tùy thân như chứng minh thư, căn cước công dân, giấy phép lái xe, thẻ nhà báo, giấy xác nhận nhân thân để làm thủ tục bay.

Quy định trên nhằm thực hiện hướng dẫn của Bộ Công an về định danh và xác thực điện tử (Nghị định 59/2022). Theo đó, khi người dân sử dụng tài khoản VNeID mức độ 2 trong giao dịch điện tử thì có giá trị tương đương với việc xuất trình giấy tờ cá nhân đã được tích hợp vào tài khoản. Bộ đã cập nhật tính năng kiểm tra thông tin, giấy tờ tích hợp trên VNeID khi thực hiện thủ tục hành chính.

Hành khách làm thủ tục bay tại Nội Bài. Ảnh: Ngọc Thành

Hành khách có thể trình thông tin cá nhân qua tài khoản VNeID trên điện thoại, hoặc các giấy tờ khác khi làm thủ tục đi máy bay.

Tài khoản định danh điện tử mức độ 2 áp dụng đối với người đã được cấp căn cước công dân gắn chíp điện tử. Người dân đến công an xã, phường, thị trấn hoặc nơi làm thủ tục cấp thẻ căn cước công dân để làm thủ tục cấp tài khoản VNeID.

Cán bộ tiếp nhận nhập thông tin của người dân cung cấp vào hệ thống định danh và xác thực điện tử; chụp ảnh chân dung, thu nhận vân tay để xác thực với cơ sở dữ liệu căn cước công dân và khẳng định tạo lập tài khoản định danh điện tử. Cơ quan quản lý định danh điện tử thông báo kết quả đăng ký tài khoản qua ứng dụng VNelD, hoặc tin nhắn SMS, hoặc địa chỉ thư điện tử.

Các khoản đóng - hưởng tăng theo lương cơ sở

 

Lương cơ sở tăng từ 1,49 lên 1,8 triệu đồng từ ngày 1/7 kéo các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp của lao động khối nhà nước tăng theo.

Tăng tiền lương tháng trích đóng bảo hiểm

Theo quy định hiện hành, người lao động trích 8% tiền lương hàng tháng đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc. Nếu mức lương cao hơn 20 tháng lương cơ sở thì lương tháng đóng bảo hiểm bắt buộc bằng 20 tháng lương cơ sở, tương đương 36 triệu đồng. Với quy định đóng 8%, tiền lương trích đóng tối đa sẽ tăng từ 2,384 lên 2,88 triệu đồng mỗi tháng.

Tiền đóng bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) mỗi tháng bằng 1% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc, nên mức trích tối đa cũng tăng lên 360.000 đồng sau ngày 1/7 thay vì 298.000 đồng như hiện nay.

Tương tự với BHYT, lao động mỗi tháng trích 1,5% tiền lương làm căn cứ đóng BHXH bắt buộc. Nếu lương tháng cao hơn 20 lần mức lương cơ sở, tức 36 triệu đồng trở lên thì tiền trích đóng BHYT sẽ là 540.000 đồng thay vì 447.000 đồng như hiện nay.

Với BHYT hộ gia đình, mức đóng theo quy định hiện hành áp dụng cho người thứ nhất bằng 4,5% lương cơ sở, tương ứng tăng từ 67.050 lên 81.000 đồng mỗi tháng; người thứ hai, thứ ba, thứ tư đóng lần lượt bằng 70%, 60% và 50% mức đóng của người đầu tiên, tương ứng 56.700, 48.600 và 40.500 đồng. Người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức của người thứ nhất, tức 32.400 đồng.

Người đóng BHYT từ đủ 5 năm liên tục trở lên và có số tiền cùng chi trả phí khám chữa trong năm lớn hơn 6 tháng lương cơ sở thì được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán toàn bộ, mức này sẽ tăng lên 10,8 triệu đồng từ ngày 1/7 so với 8,94 triệu như hiện nay.

Mức hưởng trợ cấp, phụ cấp tăng

Theo nguyên tắc đóng - hưởng của bảo hiểm xã hội, một số loại trợ cấp, phụ cấp của lao động làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước sẽ tăng.

Cụ thể, lao động nữ khi sinh con hoặc nhận con nuôi (dưới 6 tháng tuổi) được nhận trợ cấp một lần cho mỗi con bằng 2 lần mức lương cơ sở. Trường hợp sinh con nhưng chỉ có cha tham gia BHXH thì người cha được nhận trợ cấp. Từ ngày 1/7, mức này tăng từ 2,98 lên 3,6 triệu đồng.

Mức trợ cấp mỗi ngày cho lao động sau ốm đau phải dưỡng sức, phục hồi; người sau điều trị thương tật; lao động nữ phải phục hồi sau thai sản theo quy định bằng 30% mức lương cơ sở, tương đương 540.000 đồng, thay vì 447.000 đồng như hiện nay. Riêng với người suy giảm khả năng lao động 31% trở lên, nếu sau đó bị suy giảm thêm thì cứ 1% được hưởng thêm 2% lương cơ sở, tức 36.000 đồng.

Người bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, suy giảm 5% khả năng lao động hưởng trợ cấp một lần bằng 5 lần mức lương cơ sở, sau đó cứ suy giảm thêm 1% thì hưởng thêm 0,5 lần lương cơ sở. Mức trợ cấp này sau ngày 1/7 sẽ tăng từ 7,45 triệu lên 9 triệu đồng; sau đó nếu lao động bị suy giảm thêm 1% thì được hưởng thêm 900.000 đồng.

Người suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên mà liệt cột sống, liệt chi hoặc bị tâm thần, ngoài trợ cấp hàng tháng được hưởng trợ cấp phục vụ bằng với lương cơ sở. Mức này sẽ từ 1,49 lên 1,8 triệu đồng khi lương cơ sở tăng.

Người tử vong do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc qua đời trong thời gian điều trị mà chưa được giám định thì thân nhân được hưởng trợ cấp một lần bằng 36 lần lương cơ sở, tức 64,8 triệu đồng từ 1/7 (hiện nay là 53,64 triệu).

Trợ cấp mai táng theo quy định bằng 10 lần mức lương cơ sở tại tháng mà lao động tử vong, tương đương 18 triệu đồng. Tiền tuất hàng tháng với mỗi thân nhân đủ điều kiện hưởng bằng 50% mức lương cơ sở, lên 900.000 đồng mỗi tháng so với 745.000 đồng như hiện nay. Trường hợp thân nhân không có người trực tiếp nuôi dưỡng thì trợ cấp tuất bằng 70% lương cơ sở, tức 1,26 triệu đồng so với 1,043 triệu đồng như hiện nay.

Mức lương cơ sở được áp dụng đối với cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương, phụ cấp và người lao động làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động ở trung ương, ở cấp tỉnh, huyện, xã, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt và lực lượng vũ trang. Lương cơ sở cũng được dùng làm căn cứ để điều chỉnh lương hưu.

Mức lương này không áp dụng với lao động trong doanh nghiệp. Nhóm này sẽ hưởng lương tối thiểu vùng.

BẤT TỬ

 Thánh Gióng về trời. Thánh Giáp về quê

Vì Dân Nước Người trở thành Bất Tử
Thành Núi, thành Mây thành Ruộng, Đồng, Sông, Bể
Thành tượng hình chữ S trấn biển Đông
Thành Đền thờ trong mỗi tấm lòng Dân
Thành Ngọn đuốc soi đường đêm tăm tối
Thành Mặt trời cho trần gian nắng mới
Thành Mặt trăng vành vạnh tấm gương vàng
Người ba năm không nói không cười vươn vai thành Phù Đổng
Người cuối đời phải dấu ánh sao Khuê trong tấc dạ trung thành
Nhẫn và Vinh đốn ngộ Vinh và Nhẫn
Trái tim hồng thành Xá lị, Kim đan
Người không nghĩ mình sẽ hóa Thánh nhân
Khi nằm xuống cả non sông thương khóc
Cả non sông thành Rồng chầu Hổ phục
Tôn vinh Người vị Thánh của lòng Dân
Bắn lên trời cao những tiếng sấm vang rền
Tiễn Người vào Bất Tử
Nghe trái đất rùng mình thương nhớ
Nghiêng về Người lấp lánh những vì sao…
ST


Đề xuất các nguồn tăng lương cơ sở năm 2023

 

Bộ Tài chính đề xuất ba nguồn để các bộ, cơ quan trung ương tăng lương cơ sở năm 2023, trong đó có số tiền thu được để lại và tiết kiệm chi thường xuyên.

Dự thảo Thông tư hướng dẫn xác định nhu cầu, nguồn điều chỉnh mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức năm 2023 đang được Bộ Tài chính lấy ý kiến nhân dân.

Trong đó, Bộ đề xuất kinh phí tăng lương cơ sở năm 2023 của các bộ, cơ quan trung ương từ nguồn cải cách tiền lương năm 2022 chưa sử dụng hết chuyển sang năm 2023 (nếu có).

Hai là các đơn vị sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại theo chế độ năm 2023; số thu từ khám chữa bệnh, y tế dự phòng và dịch vụ y tế khác của bệnh viện công lập thì sử dụng tối thiểu 35%.

Nguồn thứ ba là sử dụng nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên dự toán năm 2023 tăng thêm so với dự toán năm 2022 được cấp có thẩm quyền giao.

Bộ Tài chính đề xuất nguồn kinh phí để tăng lương cơ sở và điều chỉnh trợ cấp cán bộ xã đã nghỉ việc của các tỉnh, thành từ nguồn tiết kiệm 10% chi thường xuyên dự toán năm 2023 đã được cấp có thẩm quyền giao.

Các địa phương có thể sử dụng nguồn 70% tăng thu ngân sách năm 2022 so với dự toán được Thủ tướng giao, không bao gồm tăng thu từ tiền sử dụng đất; xổ số kiến thiết; thu tiền bảo vệ và phát triển đất trồng lúa; phí tham quan các khu di tích, di sản thế giới; phí sử dụng công trình kết cấu hạ tầng, công trình dịch vụ, tiện ích công cộng trong khu vực cửa khẩu; phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản; thu từ quỹ đất công ích, thu hoa lợi, công sản tại xã.

Các nguồn khác có thể sử dụng là kinh phí cải cách tiền lương năm 2022 chưa sử dụng hết chuyển sang nếu có; hoặc sử dụng tối thiểu 40% số thu được để lại năm 2023 (số thu từ khám chữa bệnh, y tế dự phòng và dịch vụ y tế khác của bệnh viện công lập sử dụng tối thiểu 35%).

Theo dự thảo, ngân sách trung ương sẽ hỗ trợ nhu cầu điều chỉnh tiền lương tăng thêm cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương ngân sách khó khăn sau khi đã cân đối các nguồn nêu trên mà chưa đáp ứng đủ nhu cầu tăng lương cơ sở.

Lương cơ sở dùng làm căn cứ tính lương trong các bảng lương, phụ cấp, sinh hoạt phí, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội, lương hưu. Tháng 11/2022, Quốc hội đồng ý tăng lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức từ 1,49 triệu đồng lên 1,8 triệu đồng một tháng (tăng 20,8%) từ 1/7/2023.

Cùng với đó, lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, người nghỉ hưu trước năm 1995 cũng tăng 12,5% và tăng 20,8% chi các chính sách an sinh xã hội đang gắn với lương cơ sở. Tổng chi cho cải cách tiền lương và điều chỉnh lương hưu, một số chế độ trợ cấp, phụ cấp, và chính sách an sinh xã hội là 12.500 tỷ đồng.

VIỆT NAM QUÊ HƯƠNG TA

 Việt Nam đất nước ta ơi

Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn
Cánh cò bay lả rập rờn
Mây mờ che đỉnh Trường Sơn sớm chiều
Quê hương biết mấy thân yêu
Bao nhiêu đời đã chịu nhiều thương đau
Mặt người vất vả in sâu
Gái trai cũng một áo nâu nhuộm bùn
Đất nghèo nuôi những anh hùng
Chìm trong máu lửa lại vùng đứng lên
Đạp quân thù xuống đất đen
Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa
Việt Nam đất nắng chan hoà
Hoa thơm quả ngọt bốn mùa trời xanh
Mắt đen cô gái long lanh
Yêu ai yêu trọn tấm tình thuỷ chung
Đất trăm nghề của trăm vùng
Khách phương xa tới lạ lùng tìm xem
Tay người như có phép tiên
Trên tre lá cũng dệt nghìn bài thơ
Nước bâng khuâng những chuyến đò
Đêm đêm còn vọng câu hò Trương Chi
Đói nghèo nên phải chia ly
Xót xa lòng kẻ rời quê lên đường
Ta đi ta nhớ núi rừng
Ta đi ta nhớ dòng sông vỗ bờ
Nhớ đồng ruộng, nhớ khoai ngô
Bũa cơm rau muống quả cà giòn tan...
ST


Cán bộ có thể bị miễn nhiệm khi 2/3 đại biểu đánh giá tín nhiệm thấp

 

Cán bộ có từ 2/3 tổng số đại biểu trở lên đánh giá "tín nhiệm thấp" thì cơ quan có thẩm quyền có thể trình Quốc hội, HĐND miễn nhiệm tại kỳ họp gần nhất.

Ban Công tác đại biểu (Ủy ban Thường vụ Quốc hội) đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết về lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn, dự kiến trình Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp thứ 5, khai mạc ngày 22/5.

Theo dự thảo, Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm (thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm) đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, gồm: Chủ tịch nước, Thủ tướng, Chủ tịch Quốc hội, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao, Phó chủ tịch nước, Phó chủ tịch Quốc hội, Ủy viên Thường vụ Quốc hội, Tổng kiểm toán Nhà nước. Các chức danh Quốc hội phê chuẩn gồm: Phó thủ tướng, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ.

HĐND lấy phiếu tín nhiệm đối với chủ tịch, phó chủ tịch, trưởng ban của HĐND; chủ tịch, phó chủ tịch, các ủy viên UBND. HĐND tổ chức lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ.

Việc lấy phiếu tín nhiệm bằng hình thức bỏ phiếu kín. Trên phiếu ghi rõ họ tên, chức vụ của những người được lấy phiếu tín nhiệm với các mức độ "tín nhiệm cao", "tín nhiệm", "tín nhiệm thấp".

Người có quá nửa đến dưới 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đánh giá "tín nhiệm thấp" thì có thể xin từ chức, hoặc Quốc hội, HĐND bỏ phiếu tín nhiệm tại kỳ họp gần nhất. Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trở lên đánh giá "tín nhiệm thấp" thì cơ quan có thẩm quyền trình Quốc hội, HĐND miễn nhiệm tại kỳ họp gần nhất.

Với trường hợp bỏ phiếu tín nhiệm (thể hiện sự tín nhiệm hoặc không đối với người giữ chức vụ), Ủy ban Thường vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn trong trường hợp: Ủy ban Thường vụ Quốc hội tự mình đề nghị; có kiến nghị của Hội đồng Dân tộc hoặc ủy ban của Quốc hội; có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu Quốc hội; người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa đến dưới 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội trở lên đánh giá "tín nhiệm thấp".

Với HĐND, Thường trực HĐND bỏ phiếu đối với trường hợp: Có kiến nghị của ít nhất 1/3 tổng số đại biểu HĐND; có kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp; người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa đến dưới 2/3 tổng số đại biểu HĐND trở lên đánh giá "tín nhiệm thấp".

Theo dự thảo nghị quyết, người được bỏ phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND đánh giá "không tín nhiệm" thì xin từ chức. Trường hợp không từ chức, cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu người đó để Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội, HĐND xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm đối với người đó tại kỳ họp gần nhất.

Việc đánh giá mức độ tín nhiệm dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật của cán bộ; thông qua việc chấp hành sự phân công của tổ chức, khả năng quy tụ, đoàn kết nội bộ và xử lý những vấn đề khó, phức tạp, nhạy cảm; kết quả thực hiện quy định về đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; sự gương mẫu của bản thân và vợ, chồng, con trong việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Ngoài ra, mức độ tín nhiệm còn được đánh giá dựa trên kết quả công tác của cơ quan trong lĩnh vực, phạm vi phụ trách; tính năng động, đổi mới, sáng tạo, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; hiệu quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; mức độ hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị trực thuộc.

Kết quả lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm được công khai trên phương tiện thông tin đại chúng để cử tri và nhân dân biết.

Việc xây dựng Nghị quyết này nhằm thể chế hóa Quy định 96/2023 của Bộ Chính trị. Theo đó, người có trên 1/2 nhưng dưới 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp sẽ bị đưa ra khỏi quy hoạch chức vụ cao hơn; xem xét cho thôi giữ các chức vụ đang đảm nhiệm, bố trí công tác khác; cho từ chức; hoặc sẽ bỏ phiếu tín nhiệm.

Người có từ 2/3 số phiếu tín nhiệm thấp sẽ bị miễn nhiệm chức vụ đang đảm nhiệm và bố trí công tác khác thấp hơn mà không chờ đến hết nhiệm kỳ hoặc thời hạn bổ nhiệm. Như vậy, kết quả lấy phiếu tín nhiệm được dùng để đánh giá cán bộ, chứ không phải chỉ để "tham khảo trong đánh giá" như trước đây.

Quốc hội từng lấy phiếu tín nhiệm ba lần vào tháng 6/2013, tháng 11/2014 và tháng 10/2018, bằng cách bỏ phiếu kín với ba mức độ tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp. Trong cả ba lần, không có ai bị trên 50% tín nhiệm thấp.

Trò cũ xáo lại

Trước, trong và sau mỗi phiên tòa xét xử các đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, chống phá Nhà nước thì những màn kịch kêu oan, khóc mướn, “tẩy trắng” tội danh lại được dịp “bung nở” trên một số hội nhóm truyền thông, mạng xã hội. Đây là những chiêu trò quen thuộc của những tổ chức, cá nhân chống phá đội lốt “dân chủ”, “nhân quyền” và các hãng truyền thông thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam.

Màn kịch kêu oan, khóc mướn, “tẩy trắng” tội danh được các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị diễn đi diễn lại nhiều lần theo cách rập khuôn cùng chung kịch bản, chỉ khác là thay tên đối tượng, thời điểm cùng những hành vi liên quan. Người được các đối tượng rêu rao “dân chủ”, “nhân quyền” xướng tên lần này là Nguyễn Lân Thắng.

Trong phiên xét xử kín sáng 12/4 vừa qua, cáo trạng của VKSND Hà Nội nêu rõ, từ ngày 13/6/2018 đến 31/12/2020, bị cáo Thắng trực tiếp tham gia trả lời phỏng vấn các trang mạng và được đăng tải lên Internet 12 video tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước. Trong đó có 11 nội dung tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; 8 nội dung tuyên truyền luận điệu chiến tranh tâm lý, phao tin bịa đặt; 4 nội dung xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự và nhân phẩm của cá nhân...

Đối chiếu theo Điều 117, Bộ luật Hình sự (tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”), người nào có một trong những hành vi sau nhằm chống Nhà nước sẽ bị phạt tù 5-12 năm: Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân hoặc có nội dung bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân hoặc gây chiến tranh tâm lý. Căn cứ hành vi, tính chất phạm tội của bị cáo, TAND Hà Nội tuyên phạt bị cáo Nguyễn Lân Thắng 6 năm tù về tội danh trên. Ngoài án tù, theo phán quyết của tòa, bị cáo Thắng bị quản thúc 2 năm sau khi chấp hành xong hình phạt.

Sau khi Nguyễn Lân Thắng bị tuyên phạt bản án nêu trên, trên nhiều trang mạng của các tổ chức, cá nhân chống phá, số báo, đài định kiến với Việt Nam đã đánh tráo bản chất, hướng lái vụ án theo chiều hướng tiêu cực. Trên trang mạng xã hội facebook Việt Tân, BBC, Đài Á châu tự do, VOA, Chân trời mới Media… dùng các từ mĩ miều để tung hô, tán dương Nguyễn Lân Thắng là “nhà yêu nước”, ca ngợi Thắng là “người sống có lý tưởng cao đẹp”. Tổ chức Ân xá quốc tế xuyên tạc việc xét xử là “Việt Nam đang làm xấu vị trí trong Hội đồng nhân quyền”. Các thế lực thù địch đã tạo nên làn sóng phản đối nhằm tẩy chay phiên tòa, “tẩy trắng” tội danh cho các đối tượng, đưa ra yêu cầu phi lý khi đòi “thả tự do” cho Nguyễn Lân Thắng.

Thủ đoạn tiến hành theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, thẩm thấu từ từ, nếu không có cách nhìn nhận, xem xét thấu đáo sẽ dễ sa vào màn kịch giả tạo do họ tạo ra. Tuy nhiên, trên thực tế dù các đối tượng đã giở đủ trò, rêu rao, lu loa, “khóc mướn” trên các trang mạng xã hội để chính trị hóa vụ án với hy vọng tìm kiếm sự đồng tình của dư luận, can thiệp từ bên ngoài song không đem lại kết quả như mong muốn bởi không thể đánh tráo bản chất vụ án. Do đó, chiêu trò này thành ra chỉ là những màn tấu hài lố bịch, tung hứng kệch cỡm.

Các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động đã khai thác, giật dây, lợi dụng, tiêu khiển số đối tượng trên như những con rối nhằm phục vụ cho những mưu đồ chính trị của họ. Khi những con rối đứng trước vành móng ngựa, phải nhận những bản án nghiêm khắc của pháp luật thì họ lại “thổi lửa”, “ném đá” phiên tòa, diễn màn kịch khóc thuê, kêu oan, để bao biện “tẩy trắng” tội danh.

Thực tế từ trước đến nay, các tổ chức phản động, cơ hội chính trị, các nhà dân chủ giả hiệu, số báo, đài hải ngoại thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam vẫn đưa ra luận điệu đả phá theo kiểu “bình mới rượu cũ”. Các thế lực thù địch cố tình bôi đen, xuyên tạc, vu cáo Việt Nam “vi phạm dân chủ, nhân quyền”; đánh lạc hướng, lôi kéo dư luận vào những màn kịch giả tạo do chính họ dàn dựng. Lợi dụng quá trình xét xử, tuyên án nhằm tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ ngành tư pháp và chế độ; kêu gọi một số chính phủ, tổ chức quốc tế can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; sâu xa hơn nhằm lật đổ chế độ ở nước ta. Xét đến cùng, đây là một chiêu trò chống phá nguy hiểm trong tổng thể chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam.

Hơn mười năm qua, cái tên Nguyễn Lân Thắng không còn xa lạ với cộng đồng mạng. Thắng tự phong cho mình là nhà đấu tranh, hoạt động dân chủ nhưng từ lời nói cho đến hành động đều bộc lộ rõ thái độ bất mãn, hằn học, kích động chống phá Đảng, Nhà nước, bôi nhọ, xúc phạm tổ chức, cá nhân… Mặc dù đã được cơ quan chức năng nhiều lần giáo dục, nhắc nhở, khuyên răn song Thắng vẫn nuôi tư tưởng, hành vi sai trái. Thế nên khi nghe tin Nguyễn Lân Thắng bị bắt, dư luận cho rằng đó là kết cục đã được dự báo trước.

Quá trình tạm giam, xét xử đối với Nguyễn Lân Thắng, quyền của bị cáo được bảo đảm theo quy định pháp luật. Bản án dành cho Nguyễn Lân Thắng đã được hội đồng xét xử xem xét, đánh giá thấu đáo. Vì vậy, màn kịch tung hô, kêu oan, “tẩy trắng” tội danh cho bị cáo Thắng mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội, số tổ chức, cá nhân định kiến đã và đang làm là kệch cỡm.

Quyền dân chủ, tự do ngôn luận là những quyền cơ bản của con người. Song không thể sử dụng các quyền này để chống phá thể chế chính trị, có hành vi trái với lợi ích quốc gia, dân tộc cũng như không thể sử dụng quyền này để bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của tổ chức, cá nhân. Điều này đã được quy định rõ trong các công ước, thông lệ, luật pháp quốc tế. Đối với Việt Nam, hệ thống pháp luật, nền tư pháp đều được xây dựng trên cơ sở nguyện vọng, ý chí của nhân dân, vì nhân dân, phục vụ nhân dân. Pháp luật Việt Nam được xây dựng phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế và yêu cầu thực tiễn nhằm bảo đảm cho sự phát triển tự do, toàn diện của nhân dân, góp phần xây dựng và duy trì xã hội trật tự, ổn định, ngăn chặn các tổ chức và cá nhân lợi dụng quyền tự do, dân chủ để xâm phạm lợi ích Nhà nước, xã hội, quyền con người.

Ở Việt Nam, Nhà nước luôn đặt quyền tự do dân chủ của công dân lên hàng đầu, được quy định rõ trong Hiến pháp và các quy định của pháp luật. Thực tế chứng minh, công dân Việt Nam có đầy đủ các quyền như tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do lập hội, quyền khiếu nại, tố cáo… và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm việc thực hiện các quyền đó.

Bất kỳ ai tự cho mình có quyền tự do tuyệt đối, bất chấp tất cả để bán rẻ lương tri, phản bội Tổ quốc, nhân dân, làm con rối, quân cờ cho các thế lực thù địch để chống phá Đảng, Nhà nước thì đều phải chấp hành những bản án nghiêm minh của pháp luật. Cùng với đó, pháp luật Việt Nam mang tính nhân văn, nhân đạo, tạo cơ hội cho người mắc sai lầm, vi phạm có cơ hội cải tạo, biết “quay đầu là bờ”, trở thành công dân có ích cho xã hội./.


ĐẠI TÁ TÌNH BÁO NGUYỄN THÀNH TRUNG

 Đây là Đại tá tình báo, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, phi công Nguyễn Thành Trung (Đinh Khắc Chung, quê xã An Khánh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).

Ông là người đã lái máy bay F-5E ném bom vào Dinh Độc Lập vào ngày 08/4/1975 và dẫn đầu phi đội A-37 ném bom sân bay Tân Sơn Nhất khi ông đang trong quân phục của Không lực nguỵ quyền.
Cùng với các đồng chí Phạm xuân Ẩn, Vũ ngọc Nhạ, Anh hùng LLVT Nguyễn Thành Trung là điệp viên nằm lâu nhất trong lòng địch cho đến ngày ném bom vào Dinh Độc lập. Cựu Đại tá, AHLLVTND, Phi công Nguyễn Thành Trung là con của Bí thư huyện ủy Châu Thành Đinh Văn Dậu (còn gọi là Tư Dậu), hoạt động cách mạng cùng thời kỳ với bà Nguyễn Thị Định. Ông được sinh ra trong một gia đình cách mạng lọt vào hoạt động trong hàng ngũ địch; Cấp trên chỉ đạo Nguyễn Thành Trung thi tuyển vào ngành không quân của Không lực nguỵ quyền lúc bấy giờ.
Cũng giống như các cuộc sát hạch tuyển phi công quân sự khác, Nguyễn Thành Trung phải trải qua vòng tuyển lựa gắt gao về thể lực, tiếng Anh, trình độ văn hóa… Mọi yêu cầu ông đều vượt qua dễ dàng.
Ngày 01/6/1969, Nguyễn Thành Trung nhận được giấy báo trình diện nhập ngũ. Trước đó một ngày, ngày 31/5, Nguyễn Thành Trung nhận chỉ thị của Ban Binh vận khu 8, quyết định kết nạp ông vào Đảng Lao động Việt Nam.
Sau hơn một năm huấn luyện tại Nha Trang, Nguyễn Thành Trung được đưa đi đào tạo phi công ở các căn cứ Hoa Kỳ tại các bang Texas, Louisiana và Mississippi.
Ông học rất giỏi và được xếp thứ 2 trong tổng số 40 học viên của khóa. Trong thời gian học bên Mỹ, mọi liên lạc của Nguyễn Thành Trung với tổ chức Đảng vẫn diễn ra thông suốt và thường xuyên bằng những cánh thư tay, ngắn gọn, súc tích nhưng đầy đủ thông tin.
Ngày 8/4/1975, tổ chức của ta quyết định để Nguyễn Thành Trung thực hiện việc ném bom vào Dinh Độc Lập. Quyết định nằm ngoài dự kiến vì tình hình hoạt động bí mật của Nguyễn Thành Trung đang có nguy cơ bị lộ do một cán bộ của ta bị địch bắt và khai ra.
Tất cả các tình báo của ta hoạt động ở cơ sở pháo binh của địch đều đã bị bắt. Cán bộ này cũng khai luôn việc có biết một tình báo của ta hoạt động bên không quân, mặc dù không biết tên nhưng có một chi tiết rất quan trọng là phi công đó người Bến Tre.
Ông nhận được lệnh từ Bí thư Trung ương Cục miền Nam Phạm Hùng: "Nếu chạy bộ thì phải chạy vào rừng, còn nếu đánh cắp được máy bay thì phải bay ra Lộc Ninh, nhảy dù xuống để máy bay tự rơi và anh em sẽ đón. Nhưng đó là phương án cuối cùng mà tất cả mọi phương án đã chuẩn bị đều không thực hiện được".
8 giờ sáng ngày 8-4-1975, Nguyễn Thành Trung nhận được lệnh xuất kích từ sân bay Biên Hòa, lái máy bay F5-E ném bom ở Phan Thiết. Nguyễn Thành Trung đã suy nghĩ rất nhiều, vì đây là cơ hội tốt làm tròn nhiệm vụ tuyệt mật mà Đảng và nhân dân tin tưởng giao phó, nhưng làm được là rất khó khăn. Khi đang bay thì không thể tách rời phi đội. Một mình cũng không thể lấy máy bay trong căn cứ với cả một ê kíp phục vụ, khởi động rồi lái ra đường băng để cất cánh.
Theo quy định, máy bay sau phải cất cánh theo máy bay trước 5 giây và tối đa là 10 giây. Nguyễn Thành trung đã quyết định dùng 10 giây quý giá để đánh lạc hướng phi tuần trưởng, đài quan sát mặt đất.
Quy định của hàng không quân sự, khi chuẩn bị cất cánh cũng như khi bay, phi đội không trao đổi với nhau qua máy vô tuyến điện mà chỉ được ra hiệu bằng tay điều muốn nói.
Chỉ riêng phi tuần trưởng mới được trao đổi với đài chỉ huy mặt đất. Đây chính là lỗ hổng mà ông thừa thông minh để khai thác, tạo ra sự hiểu lầm giữa phi tuần trưởng và đài chỉ huy.
Khi hai chiếc máy bay số 1 và số 3 đã cất cánh, thay vì phải ở lại theo lệnh của phi tuần trưởng, Nguyễn Thành Trung chờ đúng giây thứ 10 và ông cất cánh bay lên, nhưng thay vì nhập đội ông đã bay ngược về Sài Gòn, tiến đánh vào Dinh Độc Lập. Cú lừa ngoạn mục và bất ngờ đến mức khi ông đã thực hiện xong việc ném bom, 2 phi công bay cùng và đài chỉ huy mặt đất vẫn còn chưa biết gì.
Máy bay F5-E mang theo 4 quả bom, mỗi quả nặng 500 pound (1 pound = 0,45359237kg) và việc cho nổ hay không là quyết định của phi công. Nguyễn Thành Trung biết rằng, trong dinh thự to lớn này sẽ có rất nhiều người vô tội đang ở đó nên ông quyết định không cho bom nổ hết trong dinh và thầm vái trời không có ai bị thương vong.
Sau này, ngày 2-5-1975, Nguyễn Thành Trung quay lại dinh và biết chính xác không có ai bị chết mà chỉ có 1 người bị thương nhẹ, ông thở phào.
Mục đích lớn nhất của việc làm này chỉ là để đánh động vào cơ quan đầu não của địch, nên hai quả bom đầu tiên Nguyễn Thành Trung cho phát nổ ở ngoài sân, hai quả cuối cùng ông cho nổ một trong dinh và một quả không cho nổ.
Hoàn thành nhiệm vụ ném bom vào Dinh Độc Lập và kho xăng Nhà Bè, Nguyễn Thành Trung còn một nhiệm vụ quan trọng khó khăn nữa là phải hạ cánh an toàn xuống sân bay Phước Long.
Máy bay F5-E là loại máy bay chiến đấu tối tân nhất của Mỹ, đòi hỏi đường bay cất và hạ cánh tối thiểu 3.000m, nhưng sân bay dã chiến Phước Long lúc này chỉ có đường băng 1.000m và rất gồ ghề. Để chuẩn bị cho giây phút này, trước đó Nguyễn Thành Trung đã thử hạ cánh trong khoảng cách 1.000m trong lúc đang tập.
Cuộc thử nghiệm đã được tính toán rất kỹ nhưng không thành công và kết quả là máy bay sụp càng, nổ lốp nhưng nó giúp ông rút ra bài học là ít nhất máy bay có thể dừng lại được, nhờ bật dù hãm ở phía đuôi máy bay với tốc độ hợp lý. Sau sự cố này, Nguyễn Thành Trung bị kỷ luật, hạ lon từ Đại úy xuống Trung úy, phạt 50 điểm tiêu cực.
Nguyễn Thành Trung không bao giờ quên phút giây hạ cánh an toàn xuống sân bay dã chiến Phước Long. Qua cả ngàn giờ bay nhưng có lẽ đây mới là những giờ bay hạnh phúc nhất của đời ông.
Nguyễn Thành Trung lúc đó vừa tròn 28 tuổi, mang quân hàm Trung úy Không quân của nguỵ quyền. Trở về với cách mạng, ông được phong quân hàm Đại úy quân Giải phóng, tiếp tục thực hiện sứ mệnh cao cả trên bầu trời.
Ông là người Việt Nam đầu tiên lái máy bay Boeing 767 và 777 và là phi công dày dạn kinh nghiệm nhất của Việt Nam với hơn 35 năm kinh nghiệm và hơn 22000 giờ bay.
ST



Nhận diện những luận điệu sai trái về cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”

Thời gian quan, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng việc các cơ quan tiến hành tố tụng khởi tố, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng để tung ra luận điệu sai trái, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông xã hội.
Đặc biệt gần đây, khi cơ quan tiến hành tố tụng điều tra, làm rõ những vụ án lớn như vụ án xảy ra tại Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao và một số bộ, ngành, địa phương (còn gọi là vụ án "chuyến bay giải cứu), vụ Việt Á, các đối tượng rêu rao rằng, tham nhũng ở Việt Nam hiện trở thành "hệ thống", bản chất và muốn chống không còn cách nào khác phải thay đổi cơ chế, phải "xóa bỏ chế độ"!
Nhiều bài viết vu cáo rằng, đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên là "đấu đá nội bộ, phe cánh", "thanh trừng phe phái" nên "ai đen thì chết"!. Họ cố tình bội đen việc thực hiện công cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở nước ta, cho rằng việc bắt bớ nhiều, xử lý nhiều không làm ai run sợ, không hề có tính cảnh tỉnh, răn đe mà ngược lại, việc xử lý nhiều làm cho "tình hình thêm phức tạp, nghiêm trọng"!.
Một số bài viết lại quy kết rằng, cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng đang “làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế”. Họ cho rằng, cuộc chiến chống tham nhũng rộng khắp của Đảng Cộng sản Việt Nam đang khiến cho nhiều giao dịch kinh tế bị tê liệt, có thể ảnh hưởng đến đầu tư trực tiếp nước ngoài, giảm xuất khẩu. Suy diễn việc chống tham nhũng làm tê liệt hoạt động kinh doanh, đặc biệt “nếu việc thực thi pháp luật bị cho là không rõ ràng và có động cơ chính trị”…

Một số bình luận vu cáo, chiến dịch chống tham nhũng của Việt Nam làm tê liệt chuỗi cung ứng đầu tư, làm “nhà đầu tư nước ngoài lo sợ”!. Họ lập luận rằng, chiến dịch chống tham nhũng ở Việt Nam đã làm tê liệt nhiều giao dịch thông thường trong nước, gây ra tình trạng thiếu hàng hóa thiết yếu và làm giảm niềm tin của nhà đầu tư vào một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á.

Các cá nhân, tổ chức chống phá Việt Nam đã chia sẻ những bài viết này lên các trang mạng xã hội, từ đó đi đến quy kết, xuyên tạc bản chất cuộc chiến chống tham nhũng, hạ uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, tác động vào tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân, nhất là đối với các doanh nhân, cán bộ trong bộ máy Nhà nước.

Thực tế, với sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt trong cuộc chiến chống tham nhũng của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, trong đó có sự ủng hộ của nhân dân, cuộc chiến này đã có chuyển biến tích cực, rõ rệt và mang lại những thành quả quan trọng.

Đánh giá về nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, trong cuộc họp của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 18/11/2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh: “Càng đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, Đảng của chúng ta càng mạnh lên, càng củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ, làm cho bộ máy trong sạch, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, góp phần quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh và đối ngoại, đồng thời bác bỏ luận điệu sai trái của các thế lực xấu, thù địch, chống đối cho rằng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, xử lý cán bộ, đảng viên sai phạm là "đấu đá nội bộ", "phe cánh", làm "nhụt chí" những người khác”.

Với luận điệu “chống tham nhũng làm ảnh hưởng xấu đến kinh tế” là hoàn toàn không có cơ sở. Cần phải nhìn nhận, tham nhũng tác động trực tiếp đến sự ổn định và phát triển đối với mọi mặt của đời sống xã hội. Hành vi này gây ra những hậu quả, tác hại to lớn trên các lĩnh vực như chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, nhất là đối với kinh tế, tình trạng tham nhũng gây thất thoát nghiêm trọng tài sản công, bào mòn ngân sách nhà nước để làm lợi cho một số cá nhân, nhóm người tham nhũng. Tham nhũng còn đe dọa sự ổn định, an ninh xã hội, xâm hại các thể chế và giá trị dân chủ, các giá trị đạo đức, công lý. Nếu không kịp thời ngăn chặn, tham nhũng sẽ trở thành mối đe dọa đặc biệt nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội, đe dọa đến tồn vong của chế độ.

Lợi dụng một số vụ việc tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất của một bộ phận cán bộ, đảng viên được phát hiện trong thời gian gần đây, đặc biệt là liên quan đến vụ kit test Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu”, các cá nhân, tổ chức thù địch đã lấy hiện tượng làm bản chất, quy chụp rằng toàn bộ đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước “đang rơi vào tình trạng tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, thoái hóa, biến chất”. Họ vu cáo rằng, đó là bản chất, là “căn bệnh nan y, kinh niên” của chế độ độc đảng cầm quyền.

Trên thực tế, chế độ một đảng lãnh đạo cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tệ nạn tham nhũng, suy thoái, biến chất trong đội ngũ cán bộ. Tổ chức Minh bạch quốc tế (AI) đã từng cho rằng tham nhũng là tệ nạn nhức nhối, xảy ra ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong số đó, đa số là các quốc gia thực hiện chế độ đa đảng lãnh đạo, tam quyền phân lập, do giai cấp tư sản lãnh đạo. Một số quốc gia có biểu hiện nguy hiểm khi tình trạng tham nhũng đã leo đến tận các nguyên thủ quốc gia như Hàn Quốc, Brazil Colombia, Malaysia; một số quốc gia thuộc nhóm “nước tham nhũng nghiêm trọng” đều theo thể chế đa đảng, không do Đảng Cộng sản cầm quyền, lãnh đạo.

Do đó, việc cho rằng, tham nhũng, tiêu cực, suy thoái, biến chất là “căn bệnh nan y”, chỉ xảy ra ở các quốc gia do Đảng Cộng sản lãnh đạo hay ở quốc gia do một đảng lãnh đạo, cầm quyền là hoàn toàn không đúng với thực tế, là sự quy chụp, suy diễn. Âm mưu của chúng là nhằm gây ra tình trạng nghi ngờ, hoang mang, gây lầm tưởng tham nhũng phức tạp là do chế độ một đảng lãnh đạo, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với chế độ. Đồng thời, thông qua đó, các đối tượng nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với xã hội, Nhà nước; gây tâm lý hoài nghi, dao động, thiếu niềm tin, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Để phòng, chống tham nhũng, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, cần phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo tập trung, thống nhất của Đảng và Chính phủ; cần xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân; phải làm cho quần chúng nhân dân khinh ghét, xa lánh tham ô, lãng phí; kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; mỗi cán bộ, đảng viên phải nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân. Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội. Tham nhũng vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa của Đảng và chế độ ta”.

Do đó, việc kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta, xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Điều này cũng xuất phát từ vị thế, uy tín của Đảng trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, từ đòi hỏi công tác xây dựng Đảng ta trong sạch, vững mạnh, đủ sức chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam. Việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực không làm cho nội bộ mất đoàn kết, không phải giữa các “phe cánh”, “đấu đá” mà góp phần quan trọng vào việc thực hiện thắng lợi các Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; tăng cường đoàn kết, gắn bó máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Chống tham nhũng cũng nhằm thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển; giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cốniềm tin vững chắc của cán bộ, đảng viên, các tầng lớp nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng./.