Thứ Hai, 10 tháng 7, 2023

Tránh mắc lừa chiêu trò tâng bốc

Gần đây, trên một số trang mạng xã hội và trang tin không thân thiện có những tin, bài bình luận, suy diễn, gán ghép, nhằm “khen lấy, khen để” về hình ảnh các đồng chí lãnh đạo nước ta khi giao lưu, hợp tác, thực hiện hoạt động đối ngoại. Đây thực chất là chiêu trò tâng bốc với ý đồ xấu cần lên án.

1. Từ sau Đại hội XIII của Đảng đến nay, tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp, khó lường; khó khăn, thách thức mới xuất hiện. Ở trong nước, dưới tác động của tình hình thế giới và hậu quả nặng nề của đại dịch Covid-19, biến đổi khí hậu, thiên tai, bão lũ,... kinh tế - xã hội nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức lớn.

Trong bối cảnh đó, với ý chí, quyết tâm cao và tinh thần "Tiền hô hậu ủng", "Nhất hô bá ứng", "Trên dưới đồng lòng", "Dọc ngang thông suốt", Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai tổ chức thực hiện một cách quyết liệt, đồng bộ, có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Đảng ta, đất nước ta vẫn vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, tiếp tục đạt được những kết quả quan trọng, khá toàn diện và đáng mừng trên nhiều lĩnh vực.

Trong đó, hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế tiếp tục được mở rộng và đạt nhiều kết quả quan trọng; tiếp tục củng cố, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế. Hình ảnh, vị thế Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.

Trong các báo cáo tổng kết và phát biểu của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, sự phát triển tích cực này đều đã được khẳng định với tinh thần đánh giá khách quan, bảo đảm đúng mực, sát thực tiễn. Chúng ta tự hào về những bước tiến quan trọng của đất nước, dân tộc, nhưng cũng rất khiêm tốn nhìn nhận, nước ta là nước đang phát triển có thu nhập trung bình, còn nhiều khó khăn, đòi hỏi phải nỗ lực cố gắng nhiều hơn nữa.

Trái với tinh thần, quan điểm và nhận thức đó, gần đây, nhiều trang mạng xã hội và các trang tin không thân thiện thường xuyên đăng tải những bình luận cố ý tô hồng một cách thái quá những thành công của Việt Nam về mặt ngoại giao, ca ngợi kiểu trào lộng những lời nói, việc làm thông minh, sáng tạo, chính trực, tốt đẹp của các đồng chí lãnh đạo nước ta khi gặp gỡ, tiếp xúc với lãnh đạo các nước, tham gia những sự kiện ngoại giao quốc tế.

Nhiều tin, bài, hình ảnh cố tình lái dư luận theo hướng coi Việt Nam là “đỉnh cao thế giới”, “out trình” (vượt tầm) khu vực... Những kẻ này còn suy diễn, bịa đặt ra những mưu kế trong bang giao tưởng như chỉ có trên phim ảnh nhằm tô vẽ hình ảnh không có thật về tinh thần, thái độ kiểu như “khôn”, “quái” của người Việt khi giao lưu, làm ăn với các đối tác nước ngoài.

Đây là những thông tin không đúng đắn cần phải được phân biệt rõ. Vì nếu vô thức tiếp nhận thường xuyên những thông tin này rồi coi đó là thật, lâu ngày từ cá nhân đến tập thể cán bộ, đảng viên dễ nảy sinh những tư tưởng không phù hợp; nhất là thói chủ quan, tự mãn, dần dần sinh ảo tưởng, giảm ý chí phấn đấu.

2. Để không rơi vào bẫy thông tin này, chúng ta cần phân biệt và tránh tiếp nhận những thông tin được phát ra từ những tài khoản, trang tin “tạp pí lù” hay núp dưới những cái tên như: “Thông tin chính trị”, “Tin tức hằng ngày”, “Thời sự Việt Nam”...

Về quan điểm nhìn nhận tình hình đất nước, chúng ta cần quán triệt tinh thần mà Trung ương đã nêu rõ trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, đó là “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật”. Chúng ta tự hào về thành tựu, vị thế, uy tín quốc tế mà đất nước đang có, nhưng cần nhận thức sâu sắc như yêu cầu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nêu rõ trong phát biểu bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng vừa diễn ra. Đó là: “... tuyệt nhiên không được chủ quan, tự mãn, quá say sưa với những kết quả, thành tích đã đạt được...”.

Có như vậy, chúng ta mới bình tĩnh, sáng suốt, phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại để tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để triển khai thực hiện thắng lợi các chương trình, kế hoạch, mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra trong thời gian tới.

Riêng lĩnh vực ngoại giao, nước ta đang có quan hệ ngoại giao song phương với hơn 190 nước trên thế giới, trong đó có quan hệ Đối tác chiến lược với 4 nước. Về đa phương, Việt Nam thể hiện tốt vai trò thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, ghi nhiều dấu ấn quan trọng với việc được bầu làm Phó Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 77; trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025... Có được thành công này là nhờ văn hóa ngoại giao Việt Nam được xây dựng trên nền tảng của sự chân thành, thẳng thắn. Nhà báo Gaston Fiorda, chuyên gia nghiên cứu về các vấn đề Đông Nam Á của Đài Phát thanh quốc gia Argentina từng nhận xét: Ở bất cứ đâu trên thế giới, Việt Nam luôn tạo ra những mối quan hệ nghiêm túc, rõ ràng, thẳng thắn, chân thành, cởi mở và thân thiện. Chính từ lập trường và chính sách nhất quán như vậy mà Việt Nam đã thiết lập được quan hệ đối tác tôn trọng lẫn nhau vì lợi ích song phương với các cường quốc hàng đầu thế giới.

Như chúng ta đều biết, ngoại giao Việt Nam được triển khai trên cơ sở phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các trụ cột là đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối ngoại Quốc hội, ngoại giao nhân dân và các hoạt động đối ngoại của các ban, bộ, ngành, địa phương... Do đó, tránh cổ súy cho những thông tin tô vẽ sai lệch là rất cần thiết để thống nhất quan điểm, nhận thức về một tinh thần ngoại giao thẳng thắn, chân thành, xây dựng thành văn hóa ngoại giao ngấm vào từng cán bộ, đảng viên và người dân sẽ là cơ sở vững chắc để Việt Nam “thuận thiên, thuận nhân” tiến ra thế giới.

Cấp thiết xây dựng văn hóa trung thực

Cán bộ, đảng viên trung thực, đặt lợi ích quốc gia, dân tộc, địa phương lên trên lợi ích cá nhân và nêu cao trách nhiệm trong thực thi công vụ thì đất nước phát triển, nhân dân được hưởng lợi. Do đó, việc xây dựng văn hóa trung thực trong cán bộ, đảng viên là rất cấp thiết.

Gần đây có không ít cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật bị phát hiện và xử lý. Điều đó phần nào cho thấy có một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa trung thực đang lẫn trong số đông.

Ví dụ đầu tháng 5-2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hà Tĩnh khởi tố 7 nữ cán bộ thuộc Văn phòng giao dịch Quỹ phát triển phụ nữ huyện Hương Khê về tội “Tham ô tài sản”. Theo cơ quan điều tra, từ tháng 4-2021 đến tháng 4-2023, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Thị Mai, Trưởng Văn phòng giao dịch Quỹ phát triển phụ nữ huyện, 6 cán bộ tín dụng đã gian dối, lập khống 354 bộ hồ sơ vay vốn tại 10 xã trên địa bàn huyện, với tổng số tiền trên 10 tỷ đồng. Số tiền rút ra từ việc lập khống, Mai sử dụng để trả các khoản vay đến hạn, kinh doanh bất động sản, đầu tư tiền ảo. Do kinh doanh thua lỗ, Mai không có khả năng trả lại tiền cho Quỹ phát triển phụ nữ huyện Hương Khê.

Những hành vi như ví dụ trên làm tổn hại đến uy tín của Đảng; cho thấy, phẩm chất trung thực của một số cán bộ, đảng viên bị lung lay trước lợi ích vật chất.

Trung thực là tính từ để chỉ phẩm chất có ở mỗi người. Đó là sự ngay thẳng, thật thà, luôn nói lên sự thật, thành thực với chính mình, mọi người và công việc. Trung thực chính là tôn trọng lẽ phải, không dối trá từ lời nói đến hành vi. Hiểu đơn giản người trung thực là người không biết nói dối, sẵn sàng dũng cảm nói lên sự thật và nhận lỗi khi phạm sai lầm. Người có tính trung thực là người luôn sống và hành động theo chân lý, lẽ phải, không mưu cầu lợi lộc.

Đối với một người bình thường, trung thực là một phẩm chất cần thiết của đạo đức, nhân cách, là điểm tựa để họ giải quyết hài hòa các mối quan hệ, để làm ăn, sinh sống, phát triển. Có thể nói, trung thực là một căn cứ quan trọng để xã hội đánh giá ai đó về phẩm chất đạo đức, uy tín trong tập thể và cộng đồng.

Đối với cán bộ, đảng viên, dù ở cương vị nào thì phẩm chất trung thực cũng rất quan trọng và tối cần thiết và được xem là trung tâm của các công việc, từ tham mưu thiết kế, xây dựng chủ trương, kế hoạch cho đến triển khai thực hiện rồi tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm... Trong tất cả các công đoạn của công việc, cán bộ, đảng viên phải trung thực tuân thủ pháp luật, tuân thủ nguyên tắc, quy trình, quy phạm trong thu thập thông tin, trong sử dụng nguồn lực tài chính, huy động nhân lực triển khai…

Phẩm chất trung thực của cán bộ, đảng viên phát triển thành văn hóa sẽ được ví như gốc của cây, móng của ngôi nhà. Gốc vững, rễ sâu thì cây phát triển còn móng không chắc thì ngôi nhà khó đứng vững theo thời gian. Cán bộ, đảng viên không chỉ trung thực, thành thật để được đứng trong hàng ngũ của Đảng; để cống hiến, hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng mà còn trung thực cả trong thực thi Điều lệ Đảng, chỉ thị, nghị quyết, quy định của Đảng; trung thực trong nhận nhiệm vụ, báo cáo về phương thức, kết quả thực hiện nhiệm vụ đó với Đảng. Cán bộ, đảng viên cũng phải trung thực cung cấp thông tin về các mối quan hệ, cũng như thu nhập và tài sản của mình và gia đình với tổ chức.

Đặc trưng nổi bật ở cán bộ, đảng viên là những người có kiến thức, tri thức; có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng cao đẹp; có phẩm chất đạo đức trong sáng. Do công tác, làm việc trong lĩnh vực công, nên các quyết định của cán bộ, đảng viên trực tiếp hoặc gián tiếp ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của cá nhân, tập thể trong xã hội. Bởi vậy, nếu không trung thực, cán bộ, đảng viên dễ bị chủ nghĩa cá nhân lấn át, dẫn đến các hành vi như khai man học vấn, báo cáo thiếu trung thực, khen thưởng không đúng đối tượng. Thậm chí có trường hợp nhắm mắt làm liều, làm sai, bao biện… khiến quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp không được thực hiện công bằng, khách quan. Cá biệt có trường hợp không trung thực, không xác định rõ trách nhiệm, tham ô, tham nhũng, câu kết đục khoét ngân sách nhà nước bằng các thủ đoạn tinh vi.

Thế giới đang bước vào kỷ nguyên số, thời kỳ truyền thông phát triển như vũ bão trên nền tảng của internet, mạng không dây và thiết bị thông minh. Thông tin xấu và tốt bùng nổ đan xen. Trước bối cảnh này, phẩm chất trung thực trong cán bộ, đảng viên càng cần thiết, cấp bách hơn và cần phát triển trở thành trung tâm trong mọi hành vi của cán bộ, đảng viên. Bởi một quyết định của cán bộ, đảng viên với một cá nhân, tập thể đều lan truyền rất mạnh trong xã hội. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên cần xây dựng văn hóa trung thực trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng mức các yếu kém để có biện pháp khắc phục.

Muốn xây dựng văn hóa trung thực, trong lãnh đạo, quản lý, mỗi cán bộ, đảng viên cần thực hiện đúng nguyên tắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát là: “Theo đúng đường lối nhân dân” và làm tốt 6 điều: Đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết. Liên hệ chặt chẽ với nhân dân. Việc gì cũng bàn với nhân dân, giải thích cho nhân dân hiểu rõ. Có khuyết điểm thì thật thà tự phê bình trước nhân dân và hoan nghênh nhân dân phê bình mình. Sẵn sàng học hỏi nhân dân. Tự mình phải gương mẫu cần kiệm, liêm chính để nhân dân noi theo.

Đây cũng là cách thức tốt nhất để cán bộ, đảng viên thể hiện lòng trung thành với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân, để Đảng mãi trường tồn, là đạo đức, là văn minh.

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

Một thực tế đó là, mỗi khi có đồng chí cán bộ nào bị xử lý sai phạm thì xuất hiện tâm lý hả hê ở một bộ phận dư luận. Phần đa ý kiến không đồng tình với tâm lý hả hê đó, nhưng điều này cần được nhìn nhận thấu đáo để hiểu rõ vì sao? Một trong những nguyên nhân gây nên tâm lý đó chính là “bệnh xa dân” của cán bộ khiến dư luận đã có cái nhìn tiêu cực, thiếu cảm thông mỗi khi có vụ việc.

1. Mới đây, khi cơ quan chức năng thực hiện lệnh bắt tạm giam và khám xét nhà riêng của ông Nguyễn Văn Vịnh, cựu Bí thư Tỉnh ủy Lào Cai, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều bình luận thể hiện tâm lý hả hê. Căn biệt thự của gia đình ông cựu Bí thư Tỉnh ủy nằm ở vị trí được xem là đẹp nhất của TP Lào Cai từ lâu đã trở nên xa cách với đời sống của phần đông người dân. Cũng theo kết luận của cơ quan chức năng, ông Nguyễn Văn Vịnh có tới 7 lô đất đều nằm ở các vị trí đắc địa của TP Lào Cai, chưa kể những tài sản khác. Hình ảnh người cán bộ như vậy đã khiến người dân không có cảm tình.

Tìm hiểu những câu chuyện thực tế ở nhiều địa phương cho thấy, tình trạng cán bộ mắc “bệnh xa dân” khá phổ biến. Có những nơi đã hình thành khu ở của người giàu, của một số “quan chức”, hoặc vợ con họ sống xa xỉ, hưởng lạc. Đó là những khu phố luôn kín cổng cao tường, xa cách với nhân dân lao động. Ngay tại TP Lào Cai, ngày 24-5-2017, Báo Tuổi trẻ đã đăng tải bài điều tra “Đấu giá đất biệt thự “đắc địa” Lào Cai: Toàn quan chức trúng”. Theo bài báo, cả 6 lô biệt thự ở vị trí đắc địa bậc nhất Lào Cai sau đấu giá đều thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình quan chức tỉnh này, trong đó có ông Nguyễn Văn Vịnh, khi đó đang đương chức Bí thư Tỉnh ủy.

Chuyện cán bộ mắc “bệnh xa dân” ngày nay thể hiện muôn hình vạn trạng, đó là cán bộ ít đến với dân, ít nghe tâm tư nguyện vọng của người dân; cán bộ tránh, trốn tiếp dân bằng nhiều lý do, nhất là khi có “tình huống điểm nóng”. Người dân không dễ gì gặp được họ dù ý kiến, nguyện vọng muốn trình bày với người có trách nhiệm giải quyết là chính đáng và cần thiết.

Luật pháp có quy định, các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở đều phải thực hiện tiếp công dân. Người đứng đầu phải định kỳ tiếp công dân theo quy định của luật. Mục đích của việc tiếp công dân chính là sự gần dân, là để nắm bắt tâm tư nguyện vọng, tiếp nhận ý kiến của công dân để giải quyết, để ban hành chủ trương, chính sách sát thực tiễn. Tuy vậy, kết quả nội dung thanh tra trách nhiệm của các địa phương trong thực hiện việc tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo những năm qua cho thấy một tình trạng phổ biến đó là việc tiếp công dân định kỳ của người đứng đầu không đầy đủ, không nền nếp, ủy quyền cho người khác tiếp công dân, nhiều người đứng đầu nhiều năm không tiếp công dân. Chính vì người đứng đầu, có thẩm quyền giải quyết những vấn đề bức xúc của nhân dân lại không tiếp dân khiến bức xúc của người dân không những không được giải quyết mà còn bị đẩy lên cao, trở thành điểm nóng.

Ở một góc độ khác, chính vì mắc “bệnh xa dân” nên có những cán bộ chỉ nắm được tình hình qua báo cáo. Mà chất lượng báo cáo thì không phải ở đâu, chỗ nào cũng đúng, cũng thực chất. Tình trạng “tô hồng” báo cáo là một “trọng bệnh” với đa số ưu điểm, thành tích mà lảng tránh khuyết điểm, yếu kém. 

2. Trở lại với nguyên lý gốc về người cán bộ và nhân dân thì mối quan hệ này như thế nào trong chế độ xã hội chủ nghĩa, hay cụ thể nhất là Nhà nước ta? Cán bộ thực chất là những thủ lĩnh của nhân dân trong mối quan hệ công nhân-nông dân-trí thức và đoàn kết mọi lực lượng yêu nước bền chặt. Nguyên nghĩa đó là những hạt nhân tinh túy trong phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và các giai tầng khác để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, xây dựng chủ nghĩa xã hội tốt đẹp.

Vì là những hạt nhân tinh túy nhất nên dĩ nhiên họ xuất phát từ chính những người dân, từ nhân dân mà ra, qua quá trình lăn lộn trong đấu tranh, lao động mà trưởng thành. Đắm mình trong thực tiễn, họ đã xuất sắc hơn so với đại đa số quần chúng, cả về tài năng, trí tuệ và đặc biệt là phẩm chất đạo đức tốt đẹp (đạo đức cách mạng). Họ trở thành thủ lĩnh để dẫn dắt, lãnh đạo quần chúng. Nhưng mục đích lớn nhất đó là dẫn dắt quần chúng làm cách mạng, phục vụ cách mạng chứ không phải là những người làm quan phát tài, ăn trên ngồi trốc. Cần thiết phải nói rõ ngọn nguồn như vậy để hiểu sâu sắc người cán bộ là ai, họ đứng ở vị trí nào và phải làm gì cho nhân dân.

Soi điều đó vào thực tiễn, trong suốt sự nghiệp cách mạng của dân tộc đã có biết bao thế hệ cán bộ thực sự là của nhân dân, vì nhân dân, được nhân dân đùm bọc, che chở, nuôi dưỡng. Họ lớn lên trong cách mạng, vào sống ra chết vì cách mạng, vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Chính nhân dân đã rèn luyện, đào tạo cán bộ, từ phẩm chất, bản lĩnh đến ý chí, hành động. Trong suốt quá trình thực tiễn lịch sử đất nước càng thấm thía điều đó. Ai từng một lần đặt chân đến di tích Nhà tù Phú Quốc, Nhà tù Côn Đảo hay nhiều nhà tù khác mới hiểu hết tấm lòng kiên trung vì nước, vì dân của những chiến sĩ cách mạng trong sự nghiệp cao cả của dân tộc. Họ là những cán bộ, đảng viên của dân tộc, của nhân dân. Trong số hàng vạn chiến sĩ cách mạng ấy, đã có nhiều người sau này trở thành cán bộ chủ chốt, giữ các cương vị cấp cao của đất nước nhưng họ vẫn giữ mãi những phẩm chất cao quý, thanh liêm đó. Họ đã được dân tin, dân quý, dân chở che, bảo vệ.

Ngày nay, trên thực tế, rất nhiều cán bộ, từ Trung ương đến cơ sở vẫn nỗ lực để lo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp, nhất là lo cho người dân trong thiên tai, dịch bệnh, trong xóa đói, giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội. Hình ảnh những cán bộ luôn hết lòng vì dân, từ suy nghĩ đến việc làm rất đáng trân trọng. Những mô hình như “ngày cuối tuần cùng dân” khởi đầu từ huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) qua thực tiễn 4 năm, giờ đã được nhiều địa phương hưởng ứng bởi tính hiệu quả gần dân của nó. Nhiều tấm gương người tốt, việc tốt kể về việc cán bộ gần dân, vì dân, giúp dân, dân giúp, xuất hiện thường xuyên trên mặt báo thật đáng quý.

 

Người cán bộ khi đó không chỉ tạo sự gần gũi, gắn kết giữa người dân với chính quyền, với tổ chức mà điều quan trọng nhất là việc này đã giúp đội ngũ cán bộ được nghe, tiếp nhận được thông tin đúc rút từ thực tiễn để tham mưu, ban hành các chủ trương, chính sách đúng, tháo gỡ được vướng mắc, khó khăn từ cơ sở. Suy cho cùng, việc cán bộ phải vì dân vẫn luôn là bài học lớn và rất sâu sắc, đúng như tinh thần Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước phải luôn quán triệt sâu sắc quan điểm "dân là gốc"; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng".

3. Đã có rất nhiều cảnh báo, phân tích về hệ lụy ghê gớm của “bệnh xa dân”, một biểu hiện rõ nét nhất của tệ quan liêu nếu mỗi cán bộ, đảng viên không thực tâm rèn luyện. Chính vì xa dân, không được nghe và không chịu nghe những ý kiến từ đời sống khiến cán bộ mắc thói quan liêu, cửa quyền. Chủ nghĩa cá nhân trong mỗi con người cũng lớn lên từ đó, là căn nguyên khiến cán bộ hư hỏng.

Lãnh tụ vĩ đại của phong trào cộng sản và nhân dân thế giới V.I.Lênin đã từng cảnh báo: “Toàn bộ công việc của tất cả cơ quan kinh tế của chúng ta bị khốn khổ trước hết vì bệnh quan liêu. Nếu có cái gì làm tiêu vong chúng ta thì chính là cái đó”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặc biệt coi trọng, giáo dục cán bộ công quyền phải trọng dân, gần dân, vì dân mới làm được cách mạng và đó mới là mục đích của cách mạng. Ngay từ những ngày đặt viên gạch đầu tiên để xây dựng nền móng cách mạng, Bác đã nhiều lần nhấn mạnh: “Có dân là có tất cả”. Trong cuộc đời mình, Người đã dành nhiều thời gian đi cơ sở, thăm nhân dân, cán bộ, công nhân, người lao động. Trong những lần đến, Bác rất chú ý thăm đồng bãi, công trường, nhà ăn, nơi ngủ nghỉ của công nhân, người lao động. Theo một thống kê chưa đầy đủ, trong vòng 10 năm, từ năm 1955 đến 1965, Bác đã về địa phương, cơ sở, đến với nhân dân hơn 700 lần. Những chuyến đi của Bác thường không được báo trước, gọn nhẹ, không gây tốn kém, lãng phí cho cơ sở. Nhiều lần Người còn mang cơm nắm đi, ăn cùng cảnh vệ cho đỡ phiền phức địa phương và đặc biệt là tác phong giản dị, không bao giờ quan cách.

Để mỗi cán bộ, đảng viên thấm nhuần tư tưởng và hành động, đặc biệt chống thái độ thờ ơ, vô cảm, quan liêu, “bệnh xa dân”, cùng với từng bước hoàn thiện hệ thống luật pháp của cả hệ thống chính trị, Đảng ta đã có nhiều nghị quyết, chỉ thị trong vấn đề này. Điển hình là Quy định số 11-QĐi/TW “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân” được Bộ Chính trị khóa XII ban hành. Quy định này đã yêu cầu đội ngũ bí thư, cấp ủy và rộng hơn là mỗi cán bộ phải khắc phục biểu hiện thiếu sâu sát thực tế cơ sở, xa dân; cần coi việc gần dân, công tác tiếp dân, giải quyết tâm tư, nguyện vọng của nhân dân là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị.

Đặc biệt, Nghị quyết số 04-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ” đã thẳng thắn chỉ ra những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" của cán bộ, đảng viên. Trung ương chỉ rõ 1 trong 27 biểu hiện suy thoái đó là “quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân”.

Nhìn nhận từ lý luận gốc đến thực tiễn sự vận động phát triển trong xã hội ngày nay, càng thấy vấn đề “gần dân, hiểu dân, trọng dân và vì dân” là cốt tử của mỗi người cán bộ, đảng viên trong cơ quan công quyền. Cán bộ mà quan liêu, xa dân thì chỉ có hại cho dân, cho nước và hại cho chính họ. Đúng như Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII chỉ rõ: “Ta làm hợp lòng dân thì dân tin và chế độ ta còn, Đảng ta còn. Ngược lại, nếu làm cái gì trái lòng dân, để mất niềm tin là mất tất cả”.

HÃY ĐI TÌM VÀ TỰ TRẢ LỜI CÂU HỎI: "HỌC SỬ ĐỂ LÀM GÌ"

 

Trong lịch sử dân tộc có ghi chép lại thời Nhà Trần, Danh tướng Trần Bình Trọng có câu nói nổi tiếng “ Ta thà làm quỉ nước Nam còn hơn làm vương đất Bắc”

Trong chiến tranh biên giới “Người Việt Nam không biết quỳ gối. Chúng mày tới đây, chúng mày sẽ chết”. Đó là câu trả lời của Liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa khi quân Trung Quốc kêu gọi đầu hàng trong cuộc chiến Biên giới 1979. Và... đó cũng là câu trả lời của dân tộc Việt Nam trong suốt 4.000 năm qua. Chưa bao giờ chúng ta chịu quỳ gối chấp nhận làm kiếp nô lệ. Thủ tướng Anh Winston Churchill có một câu nói nổi tiếng thế này: "Một đất nước né tránh chiến tranh bằng cách chịu nhục, thì dân tộc đó sẽ phải lãnh đủ cả hai thứ: chiến tranh và sự nhục nhã". Trong lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, Chủ Tịch Hồ Chí Minh khẳng định: ''...Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ...'' Đáng tiếc, những kẻ thù của chúng ta chưa bao giờ hiểu được cái gọi là: ''Ý chí và sức mạnh của cả một dân tộc''.

Trong ''Lịch sử chiến tranh Việt Nam với các nước Đông Nam Á và Trung Quốc'' tôi đã từng viết như thế này: ''Tính từ khi nhà Triệu đến nay được 2223 năm dựng nước, người dân Việt Nam đã phải trải qua 1490 năm (ít nhất) chiến tranh loạn lạc.

Tính từ 1990 đến nay, Việt Nam chỉ hòa bình được vẻn vẹn 30 năm. Tại sao chúng ta lại phải chiến đấu nhiều như vậy, phải chăng chúng ta là một dân tộc hiếu chiến? KHÔNG, Chúng ta chưa bao giờ và cũng không bao giờ là một dân tộc hiếu chiến. Có chăng, những dân tộc hiếu chiến luôn chọn chúng ta để ''bắt nạt'' vì vị trí địa lý của chúng ta, vì quy mô dân số của chúng ta, vì tiềm lực kinh tế của chúng ta luôn thua kém họ... Và kết quả thì cũng đã rõ, kẻ hiếu chiến luôn chuốc lấy thất bại. Người Phần Lan có câu nói thế này: "Quân địch quá đông mà đất nước ta lại quá nhỏ, đào đâu ra chỗ chôn hết cả lũ chúng nó bây giờ?". Câu nói đó khiến chúng ta suy nghĩ đến câu văn trong tác phẩm thuốc của Lỗ Tấn như thế này: ''Miếng đất dọc chân thành phía ngoài cửa Tây vốn là đất công. Ở giữa có con đường mòn nhỏ hẹp, cong queo, do những người hay đi tắt giẫm mãi thành đường. Đó cũng là cái ranh giới tự nhiên giữa nghĩa địa những người chết chém hoặc chết tù, ở về phía tay trái, và nghĩa địa những người chết nghèo ở về phía tay phải. Cả hai nơi, mộ dày khít, lớp này lớp khác, như bánh bao nhà giàu ngày mừng thọ''.

Đối với mảnh đất hình chữ S này cũng vậy, đã có lớp lớp xương máu của các thế hệ người Việt ở đó, lớp này đến lớp khác, đời ông cha ngã xuống, đời con cháu lại tiếp tục chiến đấu và rồi lại ngã xuống, và kẻ thù cũng phải trả giá, khắp nơi trên mảnh đất này, những địa danh như Gò Đống Đa, Sông Bạch Đằng, Chi Lăng... khe gọi hồn sẽ mãi còn đó như 1 bài học của dân tộc này dành cho kẻ xâm lược.

Quay lại với chủ để chính, tại sao chúng ta phải chịu chiến tranh. Nếu xét về quy mô dân số, tiềm lực quân sự trong vùng Đông Nam Á thì từ trước đến nay, chúng ta cũng luôn lọt vào hàng top. Tuy nhiên, điều chớ trêu, ngay trên chúng ta là một gã hàng xóm còn to béo hơn bội phần. Hiện nay, cứ khoảng 7 người trên thế giới thì lại có 1 người là người Trung Quốc, trước đây cũng vậy, họ đã từng là một trong những đế chế lớn nhất thế giới. Và chúng ta luôn luôn là cái gai cản trở họ tiến xuống phía nam. Không ít lần trong lịch sử, nếu dân tộc chúng ta thất bại trong cuộc chiến thì toàn bộ vùng Đông Nam Á và Đông Dương sẽ gập chìm trong vó ngựa của những kẻ đến từ phương Bắc. Nói một cách chính xác nhất, chính chúng ta là tiền đồn ngăn chặn sự lớn mạnh và mở rộng lãnh thổ của họ xuống phía nam.

Người Việt luôn là 1 dân tộc thượng võ và yêu nước. Đáng tiếc người Pháp, người Mỹ và nhất là người Trung Quốc không bao giờ hiểu điều này, họ không hiểu hoặc cố tình không hiểu và ''những ông kẹ với màu áo xanh cùng những chiếc mũ cối huyền thoại đã bắt họ trả giá vì cái sự không chịu hiểu của mình''.

Như một bài viết trên tạp trí Time đã đăng: ''''Một con người khắc khổ trong một chiếc áo khoác bạc màu và đôi dép cao su đã cũ, Hồ Chí Minh đã nuôi dưỡng hình ảnh của một "Bác Hồ" khiêm nhường và lành tính. Nhưng ông là một người theo chủ nghĩa dân tộc mang tính cách mạng và kiên định với một mục đích duy nhất: độc lập cho đất nước của ông ta. Ông ấy truyền cảm hứng và quyết tâm của mình cho những người khác, họ - những du kích, những người thấm nhuần tư tưởng của ông ta đã vượt qua những khó khăn và trở ngại để phá tan những nỗ lực tuyệt vọng của Pháp nhằm lấy lại đế chế ở Đông Dương của họ trước đây; sau đó họ - những người du kích được xây dựng thành một đội quân chính quy, họ đã làm nản lòng nỗ lực rất lớn của Hoa Kỳ nhằm ngăn chặn những người theo chủ nghĩa cộng sản của Hồ Chí Minh và kiểm soát Việt Nam. Đối với người Mỹ, đó là cuộc chiến dài nhất - và thất bại đầu tiên - trong lịch sử của họ, và nó đã làm thay đổi mạnh mẽ cách mà họ nhận thức được vai trò của họ trên thế giới.

Với đôi mắt phương Tây, dường như họ không thể tưởng tượng được những hi sinh to lớn của ''ông Hồ'' và những gì ông ta có thể hi sinh. Vào năm 1946, khi chiến tranh với quân Pháp, ông cảnh báo họ - người Pháp: "Các ông có thể giết 10 người của chúng tôi để đổi lại mỗi một người mà chúng tôi giết của các ông, nhưng ngay cả với tỷ lệ đó thì rốt cuộc rồi các ông cũng sẽ thua, và cuối cùng, chúng tôi sẽ là người chiến thắng". Người Pháp tin tưởng vào ưu thế của họ đã lờ đi lời cảnh báo của ông và chịu thất bại nặng nề. Các sĩ quan cao cấp của Mỹ cũng nuôi dưỡng ảo vọng rằng những vũ khí của họ chắc chắn sẽ phá vỡ tinh thần của kẻ thù. Tuy nhiên, như chỉ huy của ông Hồ, Tướng Võ Nguyên Giáp, nói với tôi tại Hà Nội năm 1990, mối quan tâm chính của ông là chiến thắng. Khi tôi hỏi ông ta có thể kéo dài bao lâu để chống lại sự tấn công của Mỹ, ông trả lời, "Hai mươi năm, có thể 100 năm - miễn là chúng tôi giành chiến thắng, bất kể những gì phải trả...''. Và rằng Chủ tịch của 1 VNDCCH non trẻ đã có những câu nói đại diện cho toàn nhân dân Việt Nam lúc đó và được tạp chí này ghi lại như sau: ''Tôi xin mời Johnson tới Hà Nội như là khách của chúng tôi. Ông hãy đến với vợ và con gái, người thư ký, người bác sĩ và người đầu bếp của mình. Nhưng đừng mang theo tướng lĩnh và đô đốc!

Mỹ phải cút đi! Chúng tôi trải thảm đỏ cũng được, nhưng Mỹ phải cút đi! Mỹ phải chấm dứt xâm lược. Johnson miệng nói hòa bình tay lại ký những lệnh điều động quân. Chúng tôi không bác bỏ gì hết, nhưng nhân dân chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mỹ cút đi! Gút-bai! ''

''Tôi là người đa nghi và tôi có lý do để ngờ vực. Người Mỹ các ông ít nhiều đều là nhà kinh doanh. Tôi cũng là nhà kinh doanh... Khi việc ném bom chấm dứt, câu chuyện bắt đầu. Chúng ta sẽ xem các mặt hàng.

Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mỹ và nhân dân Mỹ. Nhưng với Johnson và Mc Namara thì hoặc là trải thảm đỏ hoặc đá đít ra ngoài cửa.

Chúng tôi sẵn sàng đem hoa và nhạc tiễn họ và mọi thứ khác họ thích, nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của các ông: qu'ils foutent le camp! ("qu'ils foutent le camp" có nghĩa là "hãy cút đi")

Và rồi nhiều nhiều nữa những dẫn chứng nữa, tất cả chỉ nhằm chứng minh một điều: ''DÂN TỘC VIỆT NAM MUỐN HÒA BÌNH NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ NỀN HÒA BÌNH BẰNG MỌI GIÁ, CHÚNG TA MUỐN NỀN HÒA BÌNH TRONG BÌNH ĐẲNG, NẾU KẺ NÀO CỨ CỐ TÌNH ÁP BỨC HOẶC ĐE DỌA NỀN HÒA BÌNH ĐÓ, THÌ HÃY COI CHỪNG VÀ TRƯỚC KHI NGHĨ ĐẾN VIỆC DÙNG BIỆN PHÁP QUÂN SỰ VỚI DÂN TỘC NÀY THÌ HÃY VỀ ĐỌC LẠI LỊCH SỬ CỦA CHÚNG TÔI MỘT LẦN CUỐI ĐI''

Câu hỏi: ''Học lịch sử để làm gì'' tôi đã gặp khá nhiều, thậm chí ngay dưới bài viết: ''Viết cho một thế hệ cúi đầu và viết để tưởng nhớ một thế hệ khác''. Tôi cũng đọc được câu hỏi này, và rồi, chính bản thân tôi cũng đi tìm câu trả lời cho nó, và... tôi không thể tìm ra câu trả lời cho mình, nhưng... có lẽ, tôi, à không, chúng ta đã sai, chúng ta sai ngay từ khi chưa bắt đầu, sai ngay điều cốt lõi của vấn đề, sai từ cái cách chúng ta đặt vấn đề, vậy nên cái vòng luẩn quẩn lịch sử - giáo dục, lỗi của ai, mãi không có hồi kết và mãi không có câu trả lời. Và cuối cùng: ''LỊCH SỬ LÀ ĐỂ CẢM NHẬN BẰNG TRÁI TIM VÀ TẤM LÒNG CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ ĐỂ HỌC THUỘC LÒNG'', ngày tháng ghi trên tờ giấy báo tử của những người chồng, người cha, và những người con của triệu triệu gia đình Việt Nam cũng chính là lịch sử, hãy đặt mình vào vị trí của họ và cảm nhận, có lẽ những liệt sĩ dã nằm xuống kia cũng chẳng cần tượng đài hay nhưng ngôi mộ hoành tráng, có chăng, điều họ cần, là những người còn sống đừng quên lãng họ, đừng phủ nhận công lao của họ, và hãy tưởng nhớ họ với những gì thành kính nhất...Và điều đó cũng có nghĩa chúng ta cảm nhận lịch sử Dân tộc như vậy, chúng ta hãy làm gì để viết tiếp những trang sử vô cùng hào hùng của Dân tộc trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Hậu quả: Ngại phê bình, góp ý trong sinh hoạt đảng

 

Thời gian qua, khá nhiều cán bộ, đảng viên, kể cả những cán bộ đảng viên giữ những vị trí quan trọng trong bộ máy của Đảng, Nhà nước vi phạm kỷ luật và pháp luật, phải xử lý nghiêm khắc. Điều rất đáng báo động là, đa số những người này có vi phạm kéo dài, thậm chí suốt vài năm và với nhiều hành vi, thế nhưng cấp ủy, chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác lại “không biết”, hoặc biết rõ nhưng...“mũ ni che tai”!

Kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay đã cho thấy, nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm nghiêm trọng từ lâu, chủ yếu là: Thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát dẫn đến gây thất thoát lớn tài sản của Nhà nước; suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; mất đoàn kết nội bộ, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc; vi phạm các quy định trong công tác cán bộ, quản lý đầu tư, xây dựng, sử dụng đất đai, tài chính, tài sản; tham nhũng... Những vi phạm này, không thể nói là các đồng chí trong cấp ủy, ban lãnh đạo và chi bộ, đồng nghiệp cùng công tác với cán bộ, đảng viên đó đều... không biết!

Bên cạnh những vi phạm nghiêm trọng, khá nhiều cán bộ, đảng viên có những khuyết điểm, như: Độc đoán, gia trưởng, tham gia tệ nạn xã hội, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu... Đồng chí, đồng đội, nhân viên là những người trực tiếp chịu tác động hoặc được chứng kiến, nhưng vẫn không mạnh dạn góp ý, phê bình. Chính vì không được thẳng thắn góp ý, phê phán nên những cán bộ, đảng viên đó càng “tự tung tự tác”, “cái sảy nảy cái ung”, vi phạm tăng thêm dẫn đến hậu quả nghiêm trọng.

Ngoài những nguyên nhân dẫn đến tình trạng không phê bình, ngại góp ý với đồng chí, đồng đội, đồng nghiệp, nhất là với cấp trên, như: Sợ mất lòng, sợ bị trù dập, quy chụp là gây mất đoàn kết; vì cùng có chung lợi ích; hoặc đơn giản là tâm lý “an phận thủ thường”, sợ bị hiểu sai... thì lâu nay, không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức có quan điểm “việc ai nấy làm”, không tham gia vào công việc và cuộc sống của người khác. Sự thờ ơ, vô cảm trước những việc sai trái, biết rõ những sai phạm, khuyết điểm của đồng nghiệp, đồng chí, đồng đội mà không thẳng thắn góp ý, phê bình đã dẫn đến nhiều hệ lụy: Cán bộ, đảng viên tiếp tục vi phạm, làm suy yếu tổ chức, ảnh hưởng sự trong sạch vững mạnh và uy tín của Đảng.  

          Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) của Đảng thẳng thắn đánh giá: Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tự phê bình và phê bình, công tác kiểm tra, giám sát của nhiều tổ chức đảng còn hạn chế. Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thẳng thắn đấu tranh với những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, thậm chí còn cục bộ, lợi ích nhóm...

Để thực hiện mục tiêu kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã xác định nhiệm vụ và giải pháp đầu tiên là: Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng sinh hoạt của tổ chức đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, nhất là cấp ủy, thường vụ cấp ủy, đề cao và thực hiện nghiêm tự phê bình và phê bình từ Trung ương đến chi bộ, khắc phục tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm, "dĩ hòa vi quý". Kịp thời phát hiện và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"... Bên cạnh đó, chú trọng công tác tự kiểm tra, tự giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, kịp thời phát hiện từ nội bộ để chấn chỉnh ngay những vi phạm từ khi mới phát sinh, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành khuyết điểm, sai phạm lớn.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt coi trọng công tác xây dựng Đảng với rất nhiều giải pháp, nhưng quan trọng nhất, theo Người, trước hết là phải “Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân” (bài báo Người viết nhân dịp kỷ niệm 39 năm Ngày thành lập Đảng). Muốn thực hiện được điều này, Người chỉ rõ: “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Ðảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc”...

Thế nhưng, tình trạng ngại phê bình, “ngại nói thật” trong sinh hoạt chi bộ và cả sinh hoạt cấp ủy, đảng bộ vẫn khá phổ biến. Đây là nguyên nhân cơ bản làm mất tính chiến đấu trong sinh hoạt đảng, dẫn đến không kịp thời ngăn ngừa những vi phạm của cán bộ, đảng viên, để xảy ra sai phạm kéo dài và nghiêm trọng. Thậm chí, không ít cán bộ, đảng viên có sai phạm mà vẫn được đánh giá hoàn thành tốt nhiệm vụ và đề nghị khen thưởng, bổ nhiệm.

Thật đáng buồn khi hầu hết các vụ việc cán bộ, đảng viên vi phạm về đạo đức, lối sống, kỷ luật, pháp luật, nhất là tham nhũng... đều do quần chúng nhân dân, báo chí hoặc cơ quan chức năng cấp trên phát hiện. Trong khi đó, chi bộ, cấp ủy là nơi trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện và tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ, đảng viên; người cùng chi bộ, cùng cơ quan thường xuyên gần gũi, công tác, hiểu hết tính cách cũng như những việc làm của nhau-như “cùng nằm trong chăn mà lại... không biết chăn có rận”!?

Rõ ràng, việc cần làm ngay là phải quy trách nhiệm, xử lý kỷ luật nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên cùng sinh hoạt trong cấp ủy, chi bộ mà không phê bình, góp ý, để đồng chí, đồng đội vi phạm pháp luật, kỷ luật. Có thể khẳng định, việc chân thành, thẳng thắn phê bình, góp ý không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc trong sinh hoạt đảng và các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà còn thể hiện tình người sâu sắc, nhân văn. Việc biết đồng chí, đồng đội đang mắc khuyết điểm, lầm đường lạc lối mà vẫn “mũ ni che tai” chính là làm hại tổ chức và đồng chí, đồng đội. “Tội” này cần phải kiên quyết đấu tranh, phê phán, cả trong công tác và trong cuộc sống đời thường.

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc, phản động của Phạm Trần

 

Vừa qua, Phạm Trần viết trên trang “Doithoaionline. Com”: “các thế lực thù địch của CSVN là ai ?”. Thông qua bài viết Y đã lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để xuyên tạc, bóp méo sự thật, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và đoàn kết quốc tế, đi ngược lại lợi ích chính đáng của Nhân dân Việt Nam và nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Thứ nhất, Phạm Trần lu loa “quyền con người” không được Việt Nam tôn trọng nên mới có đấu tranh từ phía nhân dân, đứng đầu là giới đòi dân chủ, nhân quyền, giới tri thức trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài.

Quyền con người được hiểu là những đảm bảo pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm người chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và sự tự do cơ bản của con người. Hiến pháp năm 2013 quy định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Dân chủ ở Việt Nam được vận hành theo cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ. Và thực tiễn Nhà nước Việt Nam đã thực hiện đúng đắn, hiệu quả dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện, đặc biệt là dân chủ ở cơ sở. Thực hiện tốt, có hiệu quả trên thực tế phương châm “Dân biết, dân bàn, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”.

Ở Việt Nam các quyền con người được thế giới thừa nhận, bảo vệ và được tuyên bố trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế mà đặc biệt là trong ba văn kiện quan trọng nhất được coi là “Bộ Luật quốc tế” về quyền con người đó là: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 (The Universal Declarational of Human Rights – UDHR); Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 (International Covenant on Civil and Political Rights – ICCPR); Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966 (International Covenant on Economic, Social and Culturai Rights – ICESCR). Điều này được biểu hiện cụ thể trong việc Chính phủ triển khai hành động kịp thời, quyết liệt, coi việc bảo vệ sức khỏe, quyền lợi của người dân là ưu tiên nhất trong mọi chính sách, chương trình hành động; đẩy mạnh an sinh xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Theo Báo cáo chỉ số hạnh phúc của Liên Hợp Quốc năm 2020, Việt Nam đứng thứ 82/156 quốc gia và vùng lãnh thổ, tăng 11 bậc so với năm 2019. Cộng đồng quốc tế đã ghi nhận Việt Nam như là hình mẫu trong công tác phòng chống dịch Civid – 19. Vậy hỏi Phạm Trần “quyền con người” không được Việt Nam tôn trọng có đúng không ?.

Thứ hai, Phạm Trần đưa ra luận điệu “cả thế giới chống Việt Nam vì lội ngược dòng nhân bản tiến bộ của nhân loại, phản dân chủ và bóp nghẹt tự do”.

Thực tiễn trong nhiệm kỳ 2014 – 2016 của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam là thành viên đã có nhiều sáng kiến để lại dấu ấn, đóng góp, làm cầu nối hợp tác giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ hướng tới con người của Hội đồng Nhân quyền trên những vấn đề khác biệt. Hiện nay, Việt Nam đã phê chuẩn, ra nhập 7/9 công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người; phê chuẩn, gia nhập 7/9 công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), trong đó có 7/8 công ước cơ bản. Các công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, Việt Nam coi đó là trách nhiệm chính trị, pháp lý của Nhà nước. Từ những đóng góp hiệu quả vào hoạt động bảo đảm quyền con người của Liên hợp quốc, Việt Nam đã trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 với vai trò là thành viên, số phiếu 145/189, chiếm gần 80% tín nhiệm bầu, thuộc nhóm cao nhất, đây là lần thứ hai Việt Nam trúng cử Hội đồng nhân quyền Liên Hợp Quốc. Thứ trưởng thường trực ngoại giao Bangladesh tin tưởng “Việt Nam sẽ đóng góp được nhiều hơn nữa trên cương vị thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc”. Cùng với đó Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Antonion Guterres khẳng định: “Việt Nam là một trong những thành viên không thể thiếu, đã đang và sẽ đóng góp thúc đẩy và bảo vệ quyền con người”. Theo nhà báo Anjaiah, Việt Nam là đất nước hòa bình, ổn định, Chính phủ Việt Nam luôn cam kết bảo vệ quyền con người và các quyền tự do cơ bản trong nước. Như vậy, hỏi Phạm Trần “cả thế giới chống Việt Nam vì lội ngược dòng nhân bản tiến bộ của nhân loại, phản dân chủ và bóp nghẹt tự do” có đúng không ?

Mỗi người dân cần hiểu đúng về dân chủ, nhân quyền và các biểu hiện của việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền của các thế lực thù địch, qua đó nhận diện đúng và nâng cao cảnh giác cách mạng, đấu tranh không khoan nhượng với mọi âm mưu thủ đoạn xuyên tạc, làm thất bại mưu đồ chống phá của những kẻ như Phạm Trần. Đồng thời, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới ở nước ta, tất cả vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

 

HIẾN PHÁP NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 2013 VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

 

    Quyền con người và bảo đảm quyền con người là giá trị chung của nhân loại, là mục tiêu, mục đích hướng đến của Đảng Cộng sản Việt Nam, của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề quyền con người hay (Nhân quyền) luôn là vấn đề nhạy cảm do các các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để chống phá cách mạng nước ta, vì vậy có một thời gian chúng ta gần như ngại đề cập đến cụm từ này. Hiện nay vấn đề quyền con người và bảo đảm quyền con người là vấn đề cả thế giới đang rất quan tâm và Việt Nam cũng là một thành viên rất có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế về vấn đề này. Đến nay chúng ta đã tham gia 7/9 công ước quốc tế về Quyền con người, điều này không chỉ thể hiện trách nhiệm với cộng đồng quốc tế về Quyền con người và bảo đảm quyền con người, mà còn thể hiện rất rõ khát vọng, mục tiêu hướng đến của cách mạng Việt Nam là tất cả vì con người và sự phát triển toàn diện của con người, điều này còn được bảo đảm trên thực tế ở văn bản Pháp lý cao nhất đó là Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 gồm 11 chương và 120 điều, trong đó có 36 điều qui định về quyền con người.

    Các quyền dân sự, chính trị. Điều 19 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền sống. Tính mạng con người được pháp luật bảo hộ. Không ai bị tước đoạt tính mạng trái luật”. Đồng thời Điều 38 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam quy định “Nghiêm cấm các hành vi đe dọa cuộc sống, sức khỏe của người khác và cộng đồng”. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm. Quyền bất khả xâm phạm về thân thể là quyền thiêng liêng của con người. Điều 20 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm. Không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. Khoản 2 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam, giữ người do luật định”. Khoản 3 Điều 20 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm”. Quyền được xét xử công bằng (Điều 31). Quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa.  Đây là quyền con người cơ bản trong các giai đoạn của quá trình tố tụng, đặc biệt là giai đoạn xét xử, bảo đảm hoạt động tố tụng đối với họ được khách quan, công bằng và bảo đảm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của họ trong trường hợp bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam. Quyền bình đẳng, không phân biệt đối xử. Điều 16 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội”. Bình đẳng, không phân biệt đối xử được coi là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật về quyền con người. Quyền được bảo vệ bí mật đời tư. Khoản 1 Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình”. Khoản 2 Điều 21 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác. Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở. Khoản 1 Điều 22 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Công dân có quyền có nơi ở hợp pháp”. Khoản 2 Điều 22 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người cỏ quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở; Không ai được tự ý vào chỗ ở của người khác nếu không được người đó đồng ý”. Khoản 3 Điều 22 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Việc khám xét chỗ ở do luật định”. Quyền tự do đi lại và cư trú. Điều 23 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước.” Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo. Khoản 1 Điều 24 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Cá nhân có thể theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, người đã theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào có quyền thôi hoặc bỏ để theo tín ngưỡng, tôn giáo khác mà không ai được cưỡng bức hoặc cản trở. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Khoản 2 Điều 24 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tiếp cận thông tin. Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Quyền tự do hội họp và lập hội. Quyền hội họp và lập hội là quyền cơ bản của công dân đã được ghi nhận và kế thừa trong các bản Hiến pháp Việt Nam từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013. Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân. Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi cuủa người mẹ và trẻ em".

    Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Quyền về việc làm. Khoản 1 Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc”. Khoản 2 Điều 35 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi”. Quyền tự do kinh doanh. Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy định  “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”. Quyền sở hữu. Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Quyền có mức sống thích đáng. Điều 3 Hiến pháp: “Nhà nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Quyền thành lập và gia nhập công đoàn. Khoản 2 Điều 9 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Công đoàn Việt Nam là các tổ chức chính trị - xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình”. Quyền được hưởng an sinh xã hội. Mọi người bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội. Quyền được chăm sóc sức khỏe. Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Điều này cho thấy, quyền được chăm sóc sức khỏe nói riêng và quyền con người được quy định trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Luật Bảo hiểm y tế năm 2014 và Luật khám bệnh, chữa bệnh năm 2009. Quyền về giáo dục. Khoản 1 Điều 61 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài”. Khoản 2 Điều 61 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định “Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục, chăm lo giáo dục mầm non, bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí...”. Quyền về văn hóa. Điều 50 Hiến pháp khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tể độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”

    Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương. Quyền của phụ nữ. Điều 26 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới. Điều 36 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Quyền của trẻ em. Điều 37 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; Được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Quyền được khai sinh và có quốc tịch, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền được giáo dục học tập và phát triển năng khiếu... Đối với những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt như trẻ em không nơi nương tựa như khuyến khích gia đình, cá nhân nhận nuôi con nuôi; cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa,  trẻ em khuyết tật là nạn nhân của chất độc da cam được  Nhà nước và xã hội giúp đỡ, chăm sóc, tạo điều kiện để sớm phát hiện bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng và được nhận vào các lớp học hoà nhập, lớp học dành cho trẻ em khuyết tật hay được giúp đỡ học văn hoá, học nghề và tham gia hoạt động xã hội. Đối với những trẻ em không có quốc tịch, trẻ em lánh nạn, tị nạn: được hỗ trợ, tìm kiếm cha mẹ và gia đình... Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em. Quyền của người cao tuổi. Điều 37 Hiến pháp 2013 quy định: Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc và phát huy vai trò trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

    Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 là ý chí và nguyện vọng của toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân ta, thể hiện rõ nét bản chất của Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, vì quyền và bảo đảm quyền con người trên thực tế. Đây là cơ sở rất quan trọng để toàn Đảng, toàn Dân và toàn Quân ta phản bác lại những luận điếu bóp méo, vu khống, xuyên tạc về bảo đảm quyền con người, quyền công dân ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

CẦN NHẬN THỨC ĐÚNG ĐẮN VÀ TÍCH CỰC THAM GIA BẢO VỆ LỊCH SỬ ĐẢNG

Đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc lịch sử Đảng không những là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thành quả cách mạng mà còn là bảo vệ uy tín của Đảng đối với nhân dân và củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, chế độ.

Thời gian qua, trên mạng xã hội xuất hiện những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch về lịch sử Đảng, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng; đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác-Lênin; kêu gọi từ bỏ lý tưởng cộng sản và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng còn xuyên tạc Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; đòi đổi tên Đảng, kêu gọi “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”; phủ nhận thắng lợi, thành tựu cách mạng Việt Nam; thổi phồng sai lầm, khuyết điểm của Đảng; bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta;...

Chính vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên, đặc biệt là thanh niên, sinh viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về lịch sử Đảng để “tự miễn dịch” trong lập trường, quan điểm chính trị và tích cực tham gia đấu tranh phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Các tổ chức cơ sở Đảng, MTTQ, các đoàn thể, hội sinh viên cần tăng cường tổ chức hội thảo, tọa đàm; xây dựng chuyên đề lồng ghép vào sinh hoạt thường kỳ, câu lạc bộ, đội, nhóm; tổ chức các cuộc thi, diễn thuyết, kể chuyện về tấm gương cán bộ, đảng viên chiến đấu, hy sinh anh dũng, bị tù đày; tổ chức viết bài đấu tranh (chính danh và ẩn danh);... Đặc biệt, coi trọng đấu tranh trực diện trên không gian mạng với hình thức phong phú, đa dạng, hấp dẫn, hiệu quả; tranh thủ những người có ảnh hưởng lớn đối với cư dân mạng để thông qua họ đưa tin về cái tốt, lên án cái xấu.

Tri thức lịch sử, trong đó có lịch sử Đảng cung cấp cho chúng ta hiểu biết quá khứ để phục vụ cuộc sống hiện tại và đoán định tương lai. Bởi vậy, các nhà sử học Hy Lạp cổ đại từng kết luận: “Lịch sử là cô giáo cuộc sống, là bó đuốc soi đường đi tới tương lai”. C.Mác và Ph.Ănghen cho rằng: “Sử học là khoa học duy nhất vì mọi khoa học đều phải dựa vào sự kiện từ lịch sử”. Lênin cũng khẳng định: “Sử học là một bộ phận của khoa học xã hội kết hợp với giai cấp vô sản trở thành vũ khí mạnh mẽ”. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng làm nghiên cứu sinh chuyên ngành Lịch sử khi ở Liên Xô và Người đã căn dặn: “Dân ta phải biết sử ta. Sử ta dạy cho ta những chuyện vẻ vang của tổ tiên ta”.

Nhà văn Nga Trécnưsepki từng viết: “Có thể không biết, không cảm thấy say mê học tập môn Toán, tiếng Hy Lạp hoặc Latinh, môn Hóa học, có thể không biết hàng ngàn môn khoa học khác nhưng dù sao đã là người có giáo dục mà không yêu thích lịch sử thì chỉ có thể là một con người không phát triển đầy đủ về trí tuệ”.

"Ǎn quả phải nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta... Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khǎn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta". Lời dạy đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh càng nhắc nhở chúng ta phải nâng cao trách nhiệm bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ, nhân dân; kiên quyết bảo vệ “pho lịch sử bằng vàng” của Đảng; vững tin vào thắng lợi con đường cách mạng do Đảng lãnh đạo, tiến lên chủ nghĩa xã hội vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

VTN_ST

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHIẾN TRANH TÂM LÝ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG HIỆN NAY

 


 

Cùng với những lợi ích to lớn, các đe dọa từ không gian mạng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia. Đó là những thách thức về tình báo mạng, gián điệp mạng, khủng bố mạng, nguy cơ về một cuộc chiến tranh mạng và hàng loạt nguy cơ khác. Nếu không gian mạng quốc gia không được bảo vệ, các bí mật nhà nước sẽ bị lộ, lọt; các hạ tầng quan trọng của quốc gia như hệ thống thông tin hàng không, điện lưới quốc gia, giao thông đường bộ, các cơ sở công nghiệp trọng yếu sẽ bị phá hủy.

“Bệnh xa dân” làm cán bộ dễ hư hỏng

 

Một thực tế đó là, mỗi khi có đồng chí cán bộ nào bị xử lý sai phạm thì xuất hiện tâm lý hả hê ở một bộ phận dư luận. Phần đa ý kiến không đồng tình với tâm lý hả hê đó, nhưng điều này cần được nhìn nhận thấu đáo để hiểu rõ vì sao? Một trong những nguyên nhân gây nên tâm lý đó chính là “bệnh xa dân” của cán bộ khiến dư luận đã có cái nhìn tiêu cực, thiếu cảm thông mỗi khi có vụ việc.

Việt Nam không “tự mình cô lập mình” trong thực hiện chính sách quốc phòng

 

Đến nay, Việt Nam đã 4 lần công bố Sách trắng quốc phòng, trong đó công khai chính sách quốc phòng hòa bình và tự vệ, nhằm mục tiêu tạo lập, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Tuy nhiên, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, phủ nhận một cách vô căn cứ.

NGÀY 27 THÁNG 7 HÀNG NĂM LÀ NGÀY LỄ LÀ HOÀN TOÀN HỢP ĐẠO LÝ " UỐNG NƯỚC NHỚ NGUỒN" CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM TA!

NHỮNG AI LÀ ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI, LÀ CÁN BỘ MÀ KHÔNG ĐỒNG Ý LẤY NGÀY 27 THÁNG 7 HÀNG NĂM LÀ NGÀY LỄ THÌ HÃY TỪ CHỨC!

     Chúng tôi phản đối những cán bộ nói không đồng ý ngày 27/7 ngày thương binh liệt sĩ là ngày lễ lớn sợ bên kia kìa họ buồn những cán bộ phát biểu như vậy là loại hai mang là phản động . Hãy từ chức cho thôi việc .

Chúng tôi phản đối những cán bộ thắp nhang khấn vái cho Lê văn duyệt tên giặc đã giết nhân dân rước giặc vào đất nước mà nhân dân chúng tôi ngàn đời sau vẫn lưu truyền các ông từ chức đáng ra nhà nước cắt chức tổng các ông vào lò mới đúng tội .
 
Ủng hộ ý kiến của đại biểu Quốc hội Cầm Thị Mẫn đại biểu Thanh Hóa./.
Yêu nước ST.