Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

Những lời chúc, tri ân ý nghĩa ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7

1.Đã bao năm trôi qua nhưng nỗi đau còn mãi. Niềm thương nhớ của bậc con cháu đối với những bậc anh hùng đã hy sinh thân mình bảo vệ đất nước. Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ 27/7, con/cháu xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất đến cho những thương binh, những người đã chứng kiến đất nước từ chiến tranh đến hoà bình.

Xin tưởng niệm đến công lao của những liệt sĩ, những người đã nằm xuống vì từng tấc đất của tổ quốc thiêng liêng.

2.Hoà trong bầu không khí đầy hân hoan, bồi hồi, trang nghiêm của ngày 27/7 - Ngày Thương binh Liệt sĩ. Con/cháu dâng lên những người đã nằm xuống vì tổ quốc thân yêu lòng tôn kính và biết ơn sâu sắc nhất, gửi những người may mắn trở về nhưng chẳng còn lạnh lặn lời chúc sức khoẻ, mong mọi người sẽ luôn hạnh phúc, khó khăn gì cũng có thể vượt qua.

3.Để có được đất nước độc lập như ngày nay, nơi mà chúng ta có thể sống vui vẻ, hạnh phúc và đầy tự do, biết bao thanh niên thời ấy đã phải gác lại hạnh phúc cá nhân, gác lại mong ước đèn sách mà mang theo hành trang tiến ra chiến trường.

Bao nhiêu gia đình trở thành hậu phương cho con cái an tâm bảo vệ đất nước, chỉ mong đất nước độc lập, con mình có thể trở về. Chiến tranh đã qua nhưng những nỗi đau để lại vẫn còn đó.

Nhân ngày 27/7, ngày Thương binh Liệt sĩ, bậc con cháu chúng con xin kính cẩn nghiêng mình bày tỏ lòng biết ơn với những vị anh hùng còn hay đã mất, với những Bà Mẹ Việt Nam anh hùng, với những người vợ tảo tần, với những gia đình mà người thân họ đã cống hiến tuổi xuân vì độc lập của nước nhà một cách chân thành nhất.

4.Thế hệ trẻ chúng tôi không chứng kiến khói lửa, chưa từng tận mắt nhìn thấy sự khốc liệt của chiến tranh nhưng không đồng nghĩa chúng tôi sẽ quên đi những công lao của các anh, các chú, các ông mang lại.

Chúng tôi in những gì bộ đội cụ Hồ đã làm vào sâu trong tâm khảm, mãi ghi nhớ, mãi khắc ghi. 27/7, ngày Thương binh, Liệt sĩ, tưởng nhớ người đã ra đi, bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc với người ở lại.

5.Nhân ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7, kính chúc những bộ đội cụ Hồ, luôn dồi dào sức khoẻ, nhân dân Việt Nam sẽ luôn khắc ghi công lao của anh trong sâu thẩm trái tim.

6.Ngày 27/7 hàng năm là ngày Thương binh Liệt sĩ. Đây chính ngày ngày mà người Việt Nam ta sẽ lắng đọng lại, nhớ đến những công lao mà những người chiến sĩ đã bỏ ra, mồ hôi, nước mắt và cả máu để mang đến một đất nước Việt Nam độc lập và tự do. Nhân ngày này, con/ cháu xin gửi những lời chúc, những lời tri ân tốt đẹp nhất dành cho những vị anh hùng đã quên mình vì đất nước, vì nhân dân.

7.Chiến tranh qua đi nhưng thương tổn vẫn còn đọng lại. Đọng lại trên những vết thương của thương binh, đọng lại trong trái tim của những gia đình của liệt sĩ đã hi sinh, đọng lại trong chính trái tim con người Việt Nam.

Ngày 27/7 là ngày để chúng ta, những người đã được sống ở một đất nước hoà bình nhờ vào sự hi sinh quên mình của bậc cha ông, tưởng nhớ và biết ơn những công lao to lớn của họ. Nhân ngày Thương binh Liệt sĩ, chúng con xin bày tỏ sự biết ơn chân thành nhất đối với những anh hùng đã xả thân vì một đất nước độc lập tự do.

8.Xin gửi đến những anh hùng đã gửi lại thanh xuân mình trong khói lửa. Vì một đất nước độc lập tự do, vì đồng bào mình được ấm no hạnh phúc. Họ gửi lại tuổi 20 nơi chiến trường khốc liệt mà chẳng hề sợ hãi. Họ gửi lại những hoài bão tuổi trẻ vì nhân dân đất Việt, họ trở về với thân đầy mảnh đạn hay mãi nằm lại nơi đất mẹ cũng chẳng màng.

Gửi ngàn lời tri ân, biết ơn đầy chân thành đến với thương binh, gửi tấm lòng luôn khắc ghi những gì liệt sĩ đã làm cho đất nước. Nhân ngày 27/7 - ngày Thương binh Liệt sĩ - chúc những vị anh hùng luôn tràn đầy sức khoẻ, không bệnh tật, luôn may mắn và hạnh phúc.

 

 

 

ĐIỂM CỐT LÕI TRONG TƯ DUY CỦA TỔNG BÍ THƯ VỀ XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC QUỐC PHÒNG VIỆT NAM!

     Lần đầu tiên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật ra mắt cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về lĩnh vực quân sự, quốc phòng. Cuốn sách đã góp phần thể hiện rất rõ nét tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Đảng ta về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới.

Nhân dịp ra mắt cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Phóng viên Báo Quân đội nhân dân (QĐND) có cuộc trao đổi với Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, Viện trưởng Viện Chiến lược Quốc phòng để cùng phân tích rõ hơn về ấn phẩm này.

Phóng viên (PV): Thưa Thiếu tướng, PGS, TS Vũ Cương Quyết, xin đồng chí cho biết tính nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về lĩnh vực quân sự, quốc phòng trong tình hình mới hiện nay được thể hiện qua cuốn sách: “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa (XHCN) thời kỳ mới”?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Cuốn sách “Một số vấn đề về đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa thời kỳ mới” là hệ thống hóa những chỉ đạo, định hướng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương về đường lối quân sự, quốc phòng Việt Nam hiện nay.

Nội dung cuốn sách đi theo từng nhóm vấn đề cho thấy sự nhất quán, tính xuyên suốt trong tư tưởng của Tổng Bí thư, đó là tiếp tục khẳng định nguyên tắc: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang, sự nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo vệ Tổ quốc; chú trọng nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân; xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Kết hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa nhiệm vụ quốc phòng, quân sự với nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, ngăn ngừa nguy cơ xung đột, chiến tranh từ sớm, từ xa, “giữ nước từ khi nước chưa nguy”. 

Xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, trước hết phải nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác Đảng, công tác chính trị trong toàn quân; xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị; phải nâng cao chất lượng công tác chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng, đồng thời, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với an ninh nhân dân; xây dựng các khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố vững chắc; tăng cường tiềm lực, sức mạnh quốc phòng của đất nước.

Từng quân, binh chủng, từng lực lượng phải gắn với chức năng, nhiệm vụ cụ thể để xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại. Các học viện, nhà trường Quân đội cần đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, giảng dạy và nghiên cứu khoa học; kết hợp chặt chẽ tổng kết thực tiễn với nghiên cứu lý luận; tích cực tham gia đấu tranh trên mặt trận tư tưởng lý luận. Thanh niên Quân đội phải xây dựng “Khát vọng đẹp - Trách nhiệm cao; Học tập tốt - Hành động giỏi; Đoàn kết tốt - Kỷ luật nghiêm”, thực sự tiêu biểu cho bản lĩnh, trí tuệ, phẩm chất của thanh niên Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh…

PV: Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam là gì, thưa Thiếu tướng?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Thông qua 41 trang sách được trình bày trong phần ba của cuốn sách đã cho người đọc thấy một cách khách quan về Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương, một người có tư duy biện chứng, tầm nhìn chiến lược trong xây dựng đường lối quân sự; chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Những chỉ đạo, định hướng ngay từ ngày đầu tiên và trong suốt quá trình xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam, chiến lược quân sự Việt Nam được thể hiện tập trung nhất ở 13 câu hỏi của Tổng Bí thư nêu ra và chỉ đạo cụ thể, cặn kẽ và sâu sát, cho thấy “sự uyên bác, vốn hiểu biết sâu rộng” cũng như “tư duy chiến lược” của người đứng đầu Đảng ta, là hết sức to lớn; hiện nay còn nguyên giá trị.

Điểm cốt lõi, bước đột phá trong tư duy của Tổng Bí thư trong xây dựng chiến lược quốc phòng Việt Nam chính là tư tưởng “Bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình”; bảo vệ hòa bình chính là một giá trị thiêng liêng của nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện căn cốt nhất để đất nước phát triển. Đây là tư tưởng lý luận quân sự, quốc phòng sáng tạo, độc đáo, đó là: “Lấy bảo vệ môi trường hòa bình là mục tiêu xuyên suốt trong xây dựng sức mạnh tổng hợp quốc phòng, quân sự”.

PV: Xin Thiếu tướng cho biết, việc biên soạn và tập hợp các bài viết, bài phát biểu, trả lời phỏng vấn của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương qua cuốn sách lần này sẽ đem lại những giá trị lý luận và thực tiễn như thế nào, nhất là trong bối cảnh chúng ta đang thực hiện chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới?

Thiếu tướng PGS, TS Vũ Cương Quyết: Trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó lường, chiến tranh, xung đột gia tăng, cạnh tranh chiến lược ngày càng quyết liệt, những vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống đang đặt ra những thách thức mới đối với mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Nội dung cuốn sách của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã làm sáng tỏ, bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng về đường lối quân sự và chiến lược quốc phòng, đặc biệt là vai trò lãnh đạo và năng lực hoạch định đường lối, chính sách quốc phòng của Đảng ta. Cuốn sách có giá trị định hướng tư tưởng rất lớn; có sự lan tỏa rất sâu rộng trong xây dựng QĐND vững mạnh; xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững chắc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Nâng cao nhận thức, tạo sự đồng thuận trong xã hội thực hiện chủ trương, quan điểm của Đảng, Nhà nước đối với nhiệm vụ tăng cường sức mạnh quốc phòng, quyết tâm bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN trong tình hình mới.
Theo Báo QĐND./.
Yêu nước ST.

QUI ĐỊNH VỀ ĐÁNH GIÁ, XẾP LOẠI CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC, VIÊN CHỨC TỪ 15 THÁNG 8 NĂM 2023!

         Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 48/2023/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức.

Theo đó, cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật đảng hoặc kỷ luật hành chính thì đánh giá, xếp loại chất lượng như sau:

Cán bộ, công chức, viên chức bị xử lý kỷ luật đảng hoặc kỷ luật hành chính trong năm đánh giá thì xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ. Trường hợp hành vi vi phạm chưa có quyết định xử lý kỷ luật của cấp có thẩm quyền nhưng đã được dùng làm căn cứ để đánh giá, xếp loại chất lượng ở mức không hoàn thành nhiệm vụ trong năm đánh giá thì quyết định xử lý kỷ luật ban hành sau năm đánh giá đối với hành vi vi phạm đó (nếu có) không được tính để đánh giá, xếp loại chất lượng ở năm có quyết định xử lý kỷ luật.

Trường hợp cán bộ, công chức, viên chức là đảng viên, đã bị xử lý kỷ luật đảng và kỷ luật hành chính về cùng một hành vi vi phạm nhưng quyết định kỷ luật đảng và quyết định kỷ luật hành chính không có hiệu lực trong cùng năm đánh giá thì chỉ tính là căn cứ xếp loại chất lượng ở một năm đánh giá.

Nghị định cũng quy định, tỷ lệ cán bộ, công chức, viên chức xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” trong tổng số cán bộ, công chức, viên chức tại cùng cơ quan, tổ chức, đơn vị và đối với từng nhóm đối tượng có nhiệm vụ tương đồng không quá tỷ lệ đảng viên được xếp loại “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” theo quy định của Đảng.

Trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị có thành tích xuất sắc, nổi trội, hoàn thành vượt kế hoạch các công việc được giao, hoàn thành tốt các công việc đột xuất, có đề xuất hoặc tổ chức thực hiện đổi mới sáng tạo, tạo sự chuyển biến tích cực, mang lại giá trị, hiệu quả thiết thực thì cấp có thẩm quyền quyết định tỷ lệ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phù hợp với thực tế, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cán bộ, công chức, viên chức.
Nghị định có hiệu lực từ ngày 15/9.
Nghị định số 48/2023/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung quy định về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức./.
Môi trường ST.

LỜI TRI ÂN SÂU SẮC LUÔN NHẮC, GỌI CHÚNG TA!

     Kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7-2023) là một trong những sự kiện chính trị lớn của quốc gia, không chỉ có ý nghĩa tôn vinh và tri ân sâu sắc những người đã anh dũng chiến đấu, hy sinh vì nước, vì dân, mà còn tô thắm thêm nét đẹp văn hóa quân sự độc đáo, đặc sắc trong lịch sử đánh giặc giữ nước của dân tộc anh hùng. Đây là truyền thống và đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc và Quân đội ta.
Vì vậy, quan tâm, chăm lo thực hiện tốt công tác thương binh, liệt sĩ và chính sách hậu phương quân đội là bổn phận, trách nhiệm, niềm vinh dự, tự hào của chúng ta, là phương thức thể hiện tình cảm, sự yêu thương và giúp đỡ chân thành nhất của chúng ta đối với những người đã làm nên lịch sử thời đại Hồ Chí Minh, có công với nước, với dân.
 Với tình cảm, tinh thần và trách nhiệm thiêng liêng, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang cố gắng làm hết sức mình, tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất, tốt nhất để không ngừng nâng cao đời sống vật chất - tinh thần cho các đối tượng chính sách. Đó là việc làm biết ơn, thấu tình đạt lý, mang đậm giá trị, ý nghĩa nhân văn, vừa thể hiện tinh thần đền ơn, đáp nghĩa, vừa tạo động lực mới để góp phần đưa sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc đạt thành tựu mới cao hơn.
Cùng với việc quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và chính sách hậu phương quân đội; những năm qua, cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về công tác hiếu - nghĩa này; luôn chủ động phối hợp với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương thực hiện tốt các văn bản quy định về chế độ, chính sách đối với thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và hậu phương quân đội, nhất là đối với các đối tượng chính sách tồn đọng sau chiến tranh, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, hương khói, thờ cúng và tổ chức bàn giao hài cốt liệt sĩ về địa phương, gia đình theo đúng quy định.
Thấm nhuần sâu sắc truyền thống và đạo lý nhân văn, toàn quân đã và đang thực hiện tốt Phong trào “Đền ơn, đáp nghĩa” với nhiều nội dung, hình thức phong phú, thiết thực, nổi bật là “Chương trình xây dựng Nhà tình nghĩa”, “Nhà đồng đội”; tặng máy móc, phương tiện, trang bị y tế cho các trung tâm điều dưỡng thương binh; phụng dưỡng các Mẹ Việt Nam anh hùng; giải quyết việc làm cho con liệt sĩ, thương binh nặng; thăm hỏi, tặng quà, khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí đối với đối tượng chính sách và người có công; tu sửa nâng cấp nghĩa trang, chăm sóc phần mộ liệt sĩ; quyên góp, tặng sổ tiết kiệm cho các gia đình chính sách...
Đảng, Nhà nước, nhân dân luôn đánh giá cao Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” do Quân đội tổ chức với có nhiều sáng kiến, cách làm hay, biện pháp tốt, toàn quân đang lan tỏa mạnh mẽ, sâu rộng giá trị và ý nghĩa của Phong trào này; qua đó, nhân lên giá trị tốt đẹp trong lòng xã hội ta. Nhờ đó, thu hút đông đảo cán bộ, chiến sĩ và các tầng lớp nhân dân tham gia, làm cho Phong trào ngày càng có ý nghĩa chính trị và nhân văn sâu sắc. Đến nay, tuyệt đại đa số các thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, người có công đều có mức sống trung bình trở lên, có việc làm, nhà ở ổn định. Quân đội đã và đang góp phần đẩy nhanh và thực hiện tốt mục tiêu “xóa đói, giảm nghèo”, “xây dựng nông thôn mới”, “đô thị văn minh”, nâng cao chất lượng cuộc sống của các đối tượng thụ hưởng chính sách.
Cùng với quá trình xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, công tác chính sách đối với hậu phương quân đội cũng được quan tâm và thực hiện ngày càng tốt hơn, làm cho cán bộ, chiến sĩ an tâm công tác, hoàn thành nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, xây dựng đơn vị ngày càng vững mạnh. Các chế độ, chính sách đối với gia đình quân nhân, công nhân, viên chức quốc phòng tại ngũ không ngừng được hoàn thiện, nhất là những cán bộ, chiến sĩ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, công tác ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo. Hiện nay, 100% thân nhân quân nhân, công nhân và viên chức quốc phòng được cấp thẻ bảo hiểm y tế; hỗ trợ kinh phí, đào tạo, cấp thẻ học nghề, giới thiệu việc làm cho quân nhân xuất ngũ được tiến hành chặt chẽ, đúng đối tượng.
Tuy đã rất cố gắng nhưng do tác động của hoàn cảnh và những khó khăn từ đời sống, công tác thương binh, liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội và Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục trong thời gian tới, nhất là công tác tuyên truyền, phổ biến chế độ, chính sách và phát huy vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện và kiểm tra của cấp ủy, chỉ huy một số đơn vị sao cho hiệu quả hơn. Cùng với đó là xử lý nhanh, hiệu quả các thủ tục giải quyết chế độ, chính sách, không để xảy ra sai sót, tiêu cực...
Để thực hiện tốt hơn nữa công tác này, cấp ủy, chỉ huy, nhất là đội ngũ chính ủy, chính trị viên, cán bộ chủ trì và cơ quan chức năng các cấp trong toàn quân cần quán triệt sâu sắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; hướng dẫn của Tổng cục Chính trị về công tác thương binh, liệt sĩ, người có công với cách mạng và chính sách hậu phương quân đội để thực hiện công tác này tốt hơn nữa.
Đồng thời, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục, làm cho cán bộ, chiến sĩ và nhân dân nhận thức đúng mục đích, ý nghĩa của công tác thương binh, liệt sĩ, chính sách hậu phương quân đội và Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”; truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc; tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, nhất là các đối tượng được thụ hưởng chính sách; thực tiễn tình hình kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, đơn vị mình sau khi thực hiện tăng lương cơ bản từ 1-7-2023 nhằm khơi dậy tình cảm, đạo lý, truyền thống dân tộc trong mỗi người dân, cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, xử lý nghiêm các vụ việc tiêu cực, quan liêu, tham nhũng, thiếu trách nhiệm, cố ý làm trái quy định trong thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch về vấn đề có liên quan.
Tiếp tục thực hiện các các chế độ, chính sách cho các đối tượng làm nhiệm vụ đặc thù quân sự, nhiệm vụ mới, cứu hộ, cứu nạn, làm nhiệm vụ quốc tế và nhiệm vụ ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo... Quan tâm, chăm lo bảo đảm tốt đời sống cho các gia đình chính sách có nhiều khó khăn, người có công với cách mạng hiện đang sống cô đơn, không nơi nương tựa, gia đình chính sách ở vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ địa cách mạng.
Tích cực đổi mới Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa” theo hướng phát triển những mô hình hay, cách làm tốt, mang lại hiệu quả thiết thực; qua đó, thực hiện tốt hơn nữa Cuộc vận động “Toàn dân chăm sóc các gia đình thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng”, Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, giúp các gia đình chính sách khắc phục khó khăn, cải thiện cuộc sống, thoát nghèo bền vững. 
Tiếp tục thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, phát hiện những tập thể, cá nhân thực hiện tốt công tác chính sách để biểu dương, khen thưởng, nhân rộng; chấn chỉnh, xử lý những tập thể và cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm, vô cảm, tiêu cực, làm không đúng chế độ, chính sách đã ban hành. Đó là những việc làm thiết thực nhất góp phần làm sâu sắc thêm truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc và Quân đội ta./.
Yêu nước ST.

Không thể xuyên tạc chính sách đối với người có công

 

Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta cũng không ngừng quan tâm chăm lo các gia đình thương binh, liệt sĩ, người có công và đẩy mạnh phong trào "Ðền ơn đáp nghĩa" với nhiều hoạt động thiết thực nhằm thể hiện tình cảm, trách nhiệm sâu sắc đối với những người đã chiến đấu, hy sinh tính mạng và một phần xương máu của mình vì độc lập, tự do và thống nhất của Tổ quốc. Thế nhưng, bằng mọi thủ đoạn, các thế lực thù địch, phản động trong và ngoài nước đã không ngừng xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta đối với người có công nhằm kích động chống phá Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc... 

XUYÊN TẠC CHÍNH SÁCH ĐỐI VỚI NGƯỜI CÓ CÔNG – MỘT THỦ ĐOẠN BỈ ỔI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn quan tâm và dành những tình cảm, trách nhiệm sâu sắc để chăm sóc Thương binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng. Thế nhưng, thay vì đồng lòng, ủng hộ các hoạt động thể hiện đạo lý truyền thống tốt đẹp của dân tộc những năm gần đây đâu đó vẫn có tiếng nói lạc lõng, xuyên tạc về chính sách Thương binh-Liệt sĩ, phủ nhận sự hi sinh đóng góp của họ.  

Thâm độc hơn, chúng còn đánh đồng người hy sinh, cống hiện vì cách mạng với người ngả xuống trong chiến tranh mà không tham gia, cống hiến gì, thậm chí là kẻ cam tâm làm tay sai cho thực dân đế quốc, phản bội Tổ quốc; đồng thời, gây ra những hành động cụ thể để hạ thấp, phủ nhận sự hy sinh, cống hiến của người có công; cho rằng đất nước được giải phóng là do công sức của toàn dân tộc chứ không riêng gì thương binh, liệt sĩ.

Lợi dụng những vướng mắc, hạn chế trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương, chúng viết bài, đưa thông tin, hình ảnh… trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ, đánh tráo giá trị, “đổi trắng, thay đen” nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi về chính sách ưu đãi đối với người có công, đổ điều cho rằng, kinh kế Việt Nam chậm phát triển là do gánh nặng của chính sách xã hội, trong đó có chi nhiều cho thương binh, liệt sĩ. Mục đích kích động chống phá Đảng, Nhà nước, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. 

Bất chấp đạo lý, các thế lực thù địch, phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động luôn tìm mọi âm mưu, thủ đoạn để xuyên tạc, chống phá. Họ hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sỹ, thương binh trong quá trình giải phóng dân tộc, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công nhằm kích động, chống phá chế độ, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC TA LUÔN QUAN TÂM NGƯỜI CÓ CÔNG, GIA ĐÌNH CHÍNH SÁCH

Ngày 16-2-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 20/SL ban hành chế độ hưu bổng thương tật và tiền tuất tử sĩ, đồng thời đồng ý với đề xuất chọn ngày 27-7 hằng năm là Ngày Thương binh toàn quốc, là dịp tôn vinh công ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và những người có công với cách mạng. Trước lúc đi xa, Người cũng không quên căn dặn trong Di chúc thiêng liêng rằng: “Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”. Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta. Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác xã nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét”.

Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, mặc dù đất nước còn gặp nhiều khó khăn, nhưng Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng lãnh đạo, chỉ đạo công tác thương binh, liệt sĩ và người có công với cách mạng. Từ năm 1947 đến nay, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về ưu đãi người có công với cách mạng đã được xây dựng, ban hành tương đối toàn diện, đầy đủ và kịp thời, được ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và được chế định thành các văn bản, như Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng, Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước “Bà mẹ Việt Nam Anh hùng” cùng nhiều chính sách ưu đãi khác; đã thể chế hóa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước thành cơ sở pháp lý cho việc triển khai thực hiện đồng bộ các chính sách, chế độ ưu đãi đối với người có công và thân nhân.

 Đoàn thanh niên Công an tỉnh Kon Tum cùng Đoàn thanh niên các sở, ban, ngành trên địa bàn tham gia hoạt động thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ. Ảnh: HB

Có thể khẳng định rằng, việc chăm lo sức khỏe, đời sống vật chất, tinh thần với người có công luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt và là nhiệm vụ chính trị quan trọng, thường xuyên của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị. Chính sách về người có công luôn được hoàn thiện; nguồn lực được ưu tiên bố trí quan tâm đến người có công. Gần đây nhất, năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIV đã thông qua Pháp lệnh số 02 ngày 9-12-2020 về việc hoàn thiện cơ chế, chính sách, chế độ với người có công với cách mạng..

Cho đến nay, hệ thống các chính sách ưu đãi người có công ngày càng được hoàn thiện và được cả hệ thống chính trị triển khai đồng bộ, toàn diện, công tác chăm sóc người có công đã có sự chuyển biến mạnh mẽ, tạo phong trào đền ơn đáp nghĩa sâu rộng, xuyên suốt từ Trung ương đến các làng, bản, thôn xóm; chế độ, chính sách đối với người có công được mở rộng về đối tượng thụ hưởng với mức trợ cấp được nâng lên hằng năm theo điều kiện kinh tế của đất nước, đặc biệt là vấn đề giải quyết hồ sơ tồn đọng đề nghị xác nhận thương binh, liệt sĩ tại các địa phương, cơ quan công an, quân đội đã được giải quyết căn bản trong năm 2020.

Trong giai đoạn cách mạng mới, Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định: “Thực hiện tốt chính sách người có công; đẩy mạnh các hoạt động đền ơn đáp nghĩa. Tiếp tục cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho người có công; bảo đảm chế độ ưu đãi người và gia đình người có công phù hợp với xu hướng tăng trưởng kinh tế, tiến bộ và công bằng xã hội”.

Phong trào đền ơn đáp nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của các cấp chính quyền, sự đồng hành của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị xã hội đã lan tỏa rộng khắp cả nước với nhiều chương trình thiết thực và ý nghĩa. Trong những năm qua, các cấp, các ngành và địa phương trên cả nước luôn phấn đấu thực hiện tốt chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người có công với cách mạng, quan tâm chăm lo đời sống cho các đối tượng và đẩy mạnh phong trào “đền ơn đáp nghĩa”, góp phần nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người có công.

Trên cơ sở các quy định, Sở Lao động, Thương binh và Xã hội các địa phương đã hướng dẫn đối tượng chính sách lập hồ sơ đề nghị giải quyết chế độ theo đúng mẫu biểu quy định. Từ đó đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét giải quyết chế độ chính sách cho đối tượng, đảm bảo đúng quy trình, tiêu chuẩn chế độ, đúng đối tượng theo quy định của Pháp lệnh ưu đãi Người có công theo quy định. Đồng thời, triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các chế độ trợ cấp hàng tháng, chế độ điều dưỡng, trợ cấp một lần, mai táng phí, ưu đãi trong giáo dục và đào tạo, chế độ bảo hiểm y tế... đối với người có công và thân nhân của người có công.

Công tác chăm sóc đời sống thương, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và người có công với cách mạng được chú trọng. Nhất là vào các dịp lễ, Tết, ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7), các địa phương, đơn vị đều tổ chức các đoàn đại biểu đến thăm hỏi, tặng quà, động viên các gia đình chính sách tiêu biểu trên địa bàn. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 có những diễn biến phức tạp, thực hiện Quyết định số 15/2020/QĐ-TTg ngày 24/4/2020 của Chính phủ quy định việc thực hiện các chính sách hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch Covid-19, các địa phương trong cả nước đã thực hiện triển khai chi trả hỗ trợ kịp thời, đầy đủ cho 994.626 đối tượng thuộc lĩnh vực người có công với kinh phí khoảng 1.483 tỷ đồng. Những kết quả đó là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định Đảng, Nhà nước và nhân dân ta không bao giờ quên ơn các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh và người có công với cách mạng. Đồng thời, đó là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động về công tác “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.

Dẫu biết rằng, những thủ đoạn trên tuy không phải chiêu trò mới mà các thế lực thù địch thực hiện trong chiến lược “diễn biến hòa bình” đối với cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp sự hy sinh to lớn của các anh hùng liệt sỹ, thương binh, người có công là thủ đoạn thể hiện sự tột cùng của bản chất bất nhân, vô ơn, bạc nghĩa để phục vụ mục tiêu chống phá, tạo ra nhận thức lệch lạc, làm suy giảm lòng tin của một bộ phận quần chúng nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phủ nhận sự hy sinh to lớn của các Anh hùng liệt sỹ, khoét sâu vào mất mát, nỗi đau chiến tranh, tổn thương thân nhân gia đình liệt sỹ, thương binh, người có công với cách mạng.

Trước những dã tâm đen tối, thủ đoạn đê hèn, tàn độc của số cá nhân cực đoan, những tổ chức phản động; là công dân Việt Nam, mỗi chúng ta cần thẳng thắn lên án, vạch trần, kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước ta trong tình hình hiện nay. Bên cạnh đó, cũng cần đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục truyền thống lịch sử dân tộc cho thế hệ trẻ, giúp họ hiểu, biết ơn và trân trọng những đóng góp hy sinh xương máu của các anh hùng liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người có công với cách mạng. Kiên quyết đấu tranh có hiệu quả với những biểu hiện sai trái, xuyên tạc về chính sách người có công với cách mạng.

Phản bác luận điệu xuyên tạc Việt Nam vi phạm quyền con người với những "nhà hoạt động nhân quyền"

 

Nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Nhà nước ta, trên không gian mạng, các thế lực thù địch thường lấy vấn đề nhân quyền như một cái cớ để xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Lợi dụng Báo cáo nhân quyền thường niên năm 2022 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tổ chức phản động Việt Tân tiếp tục xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam “Chính phủ Việt Nam không cho phép các tổ chức nhân quyền trong nước được thành lập và hoạt động. Nhà cầm quyền thường khẳng định việc vận động cho nhân quyền và dân chủ là hành động chống lại đảng và Nhà nước Cộng sản này”. Đây là luận điệu phiến diện, xuyên tạc, đưa ra với mục đích xấu nhằm phủ định những thành quả về nhân quyền mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã đạt được, kích động gây bất ổn xã hội ở Việt Nam. 

Việt Tân cáo buộc Việt Nam vi phạm nhân quyền trong các lĩnh vực khác như bắt và giam giữ tùy tiện; tù nhân chính trị; sự độc lập của tư pháp, chúng tự vẽ ra các con số “chính quyền đã bắt giữ ít nhất 173 người hoạt động chính trị hoặc nhân quyền, trong đó có 24 người đang bị tạm giam chờ xét xử, có 19 người bị bắt giữ và 26 người khác bị kết án vì thực thi các quyền. Điển hình như việc những ngày qua trên trang Facebook của tổ chức khủng bố Việt Tân liên tục đăng tải các bài viết về nhân quyền ở Việt Nam và đòi thả tự do cho các đối tượng như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang,… những kẻ mà chúng tự phong là “nhà hoạt động nhân quyền”.

Có lẽ người dân đều chẳng mấy xa lạ khi nhắc đến những cái tên như Trương Văn Dũng, Lê Đình Lượng, Phạm Đoan Trang, bởi từ lâu, các đối tượng trên đã được biết đến với hàng loạt các hành vi chống phá Nhà nước, công kích chính quyền, miệt thị đất nước. Thực chất đây đều là những kẻ phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, chống đối Đảng, Nhà nước và nhân dân đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 

Trương Văn Dũng, sinh năm 1958, trú tại số 69, ngõ 73, Nguyễn Lương Bằng, Nam Đồng, Đống Đa, Hà Nội. Trước khi “dấn thân” vào “nghề dân chủ”, y sống ở phố Ô Chợ Dừa, hành nghề xe ôm có biệt danh “Ly lùn Trương Văn Dũng”, đã có nhiều tiền án, tiền sự vì tội trộm cắp và gây rối trật tự công cộng. Do ghen tức với nhà hàng xóm trong cùng ngõ không thuộc diện bị giải tỏa, được ra mặt đường, Dũng khăng khăng đòi hưởng mức độ đền bù như nhà mặt đường. Khi không được chấp nhận, ông ta tự nhận mình là “dân oan” và bắt đầu gia nhập “hội anh em dân chủ” từ đó. Bị đối tượng xấu xúi giục, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc phong cho cái danh hão “người hùng dân chủ Trương Văn Dũng”. Thế là nhân vật này đã trở thành “con buôn dân chủ” được Việt tân và đồng bọn dán nhãn “nhà bất đồng chính kiến”, “bloger, nhà đấu tranh dân chủ” càng khiến y ảo tưởng và ngày càng lấn sâu vào con đường tội lỗi. Một vài ví dụ được dân mạng liệt kê về “thành tích” làm nghịch tặc của nhân vật này như: Trong hầu hết các vụ biểu tình gây rối an ninh trật tự, an toàn xã hội tại nhiều địa phương do bọn phản động khủng bố Việt Tân và các nhóm “dân oan”, “nhóm Nou”, “hội Anh em dân chủ” tổ chức thì Trương Văn Dũng hiếm khi vắng mặt, hưởng ứng với vai trò là hạt nhân xung kích. Bên cạnh đó, Dũng còn nhiều lần xuyên tạc, cung cấp thông tin sai sự thật về lực lượng Công an nhân dân như: Ngày 02/6/2013, Dũng tố bị Công an Trại phục hồi nhân phẩm đánh bất tỉnh với thương tích ở đầu, chấn thương sọ não, sắp chết; thế nhưng ngay ngày hôm sau, người dân đã thấy Dũng uống bia cùng đồng bọn, cười nói, rôm rả, chém gió, trong một quán bia hơi. Ngày 25/10/2013, Dũng lại loan tin bị công an còng tay và 10 chiến sĩ công an phường Thụy Khê “tra tấn” đến mức gãy 3 xương sườn nhưng ngay sau đó, người dân đã thấy ông ta bình thường, tiếp tục hò hét, đấu tranh. Ngày 22/12/2017, Dũng tố cáo “bị lực lượng công an đánh tàn bạo khi bị bắt về đồn công an phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý tỉnh Hà Nam” trong phiên tòa phúc thẩm Trần Thị Nga nhưng ngay sau đó, người dân lại thấy hắn trên mạng xã hội với hình ảnh không hề xây xát và hoàn toàn khỏe mạnh. Những hành động của y đã nhiều lần bị cơ quan công an mời lên làm việc, nhắc nhở, cảnh cáo, nhưng không hề sửa đổi mà vẫn tiếp tục lấn sâu hơn nữa với những hành vi, vi phạm pháp luật một cách trắng trợn, coi thường kỷ cương phép nước, bôi nhọ lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Có thể nhận rõ, những hành động và việc làm của Dũng hoàn toàn mang mục đích chống phá, kích động, chia rẽ, đả phá, tấn công vào lực lượng thực thi pháp luật của cơ quan Nhà nước và quy kết rằng đó là “sản phẩm lỗi của chế độ cộng sản”, từ đó kêu gọi tẩy chay chế độ, chỉ trích, chống phá Đảng. 

Ngày 21/5/2022, Trương Văn Dũng đã bị bắt để điều tra về tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại điều 88 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009. Các quyết định và lệnh nêu trên đã được Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phê chuẩn; Cơ quan An ninh điều tra, Công an thành phố Hà Nội tích cực điều tra và xử lý nghiêm theo quy định pháp luật.

Lê Đình Lượng vốn là đối tượng cộm cán, một cánh tay đắc lực của tổ chức Việt Tân, hoạt động phổ biến ở các địa bàn Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Thông qua các trang mạng xã hội, Lê Đình Lượng đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết tuyên truyền ca ngợi, cổ vũ cho đường lối của Việt Tân, xuyên tạc về tình hình đất nước, lợi dụng các sự kiện chính trị, kinh tế-xã hội, môi trường để xuyên tạc, bóp méo sự thật nhằm gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong quần chúng nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Năm 2018, Lê Đình Lượng bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tuyên án 20 năm tù và phạt quản chế 5 năm về tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Từ lâu nay, cái tên Phạm Đoan Trang vốn nằm trong số nhiều cái tên được các thế lực thù địch liên tục nhắc tới trên các diễn đàn như những kẻ xả thân đấu tranh vì dân chủ nhân quyền ở Việt Nam. Thế nhưng, trong thực tế Phạm Đoan Trang là đối tượng đã soạn thảo, tán phát nhiều tài liệu có nội dung chống phá Nhà nước, đả phá thể chế, công kích chính quyền nhân dân, hướng dẫn kỹ năng cho các hoạt động chống phá, cấu kết với các phần tử, tổ chức trong và ngoài nước nhằm chống đối chính quyền nhân dân. Ngày 07/10/2020, Phạm Đoan Trang bị khởi tố, bắt tạm giam để điều tra về hành vi làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại điều 117 Bộ luật Hình sự 2015.

Đảng và Nhà nước ta luôn xác định việc thực thi quyền con người là một trong những mục tiêu quan trọng đã được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể tại Điều 3, Hiến pháp 2013 quy định “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Trên cơ sở Hiến pháp, các quy định về quyền con người tiếp tục được quy định cụ thể trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành như Luật Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018, Luật Báo chí năm 2016…

Trên trường quốc tế, Việt Nam đã tham gia hầu hết các Công ước quốc tế cơ bản về quyền con người như: Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966, gia nhập ngày 24/9/1982; Công ước về Xoá bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ 1979... và những đóng góp lớn được cộng đồng quốc tế công nhận. Đặc biệt, ngày 11/10/2022, Việt Nam đã trúng cử trở thành thành viên của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 tại phiên họp của Đại hội đồng Liên Hợp quốc khóa 77. Kết quả này không chỉ là minh chứng rõ ràng nhất về thành tựu nhân quyền ở Việt Nam mà còn là lời khẳng định sự tín nhiệm của quốc tế đối với Việt Nam trong lĩnh vực này.

Không chỉ riêng Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, người nào vi phạm pháp luật cũng sẽ bị xử lý nghiêm. Thực tế khách quan đã chứng minh không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng. Ở Việt Nam không có khái niệm, danh xưng nào gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “hoạt động nhân quyền”,“bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc có chủ đích theo một chiều, không phản ánh đúng hiện thực khách quan. Do đó, những luận điệu của các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng.

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí


Thời gian qua, việc đảm bảo quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng ở nước ta đã đạt được những kết quả hết sức quan trọng, được cộng đồng quốc tế công nhận. Tuy nhiên, bất chấp những thành quả ấy, các thế lực thù địch, phản động lại cố tình xuyên tạc, vu khống Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Các thế lực thù địch ra sức phê phán, xuyên tạc Việt Nam ngăn cản tự do ngôn luận, tự do bày tỏ chính kiến, là kẻ thù của tự do báo chí trên mạng. Các thế lực thù địch cho rằng: Nhà nước Việt Nam hạn chế nghiêm trọng tự do biểu đạt, tự do báo chí, tự do internet, bao gồm bắt và truy tố tùy tiện những người chỉ trích chính quyền, kiểm duyệt, đóng các trang mạng, ra các luật về hành vi phi bảng mang tính chất hình sự; “chính quyền, dưới chế độ cai trị độc đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam, xiết chặt vòng kiềm tỏa các quyền tự do biểu đạt, tự do lập hội, nhóm họp ôn hòa, tự do đi lại và tự do tôn giáo”, hay “Chính phủ Việt Nam đã sử dụng lực lượng 47 với khoảng 10.000 chiến binh mạng nhằm chống lại cái mà Chính phủ Việt Nam gọi là lực lượng phản động trên mạng, tức những thông tin chỉ trích Chính phủ”,… Điển hình như vụ việc xảy ra vào năm 2018, trên trang mạng Dân luận và nhiều hãng thông tấn, báo chí phương Tây đã tán phát “Bản lên tiếng về quyền được nói và nghe sự thật”. Văn bản này do những tổ chức xã hội mạng phi pháp và một số cá nhân tự xem mình là người “bất đồng chính kiến” ký. Điều đáng chú ý là có nhiều trang mạng và các cá nhân ở nước ngoài đã hùa theo “Bản lên tiếng...” mà về bản chất là sự xuyên tạc, phủ nhận quyền tự do ngôn luận, báo chí, internet ở Việt Nam.

Các đối tượng còn ngộ nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối nhằm kích động, tẩy chay và trả đũa nhau khốc liệt, kế cả bôi nhọ, chống đối chế độ xã hội, đặc biệt thông qua livestream “bẩn” trên mạng xã hội. Thúc đẩy thành lập một số tổ chức nhân danh văn chương, báo chí đề chống đối chể độ xã hội, đấy thành lập một số tổ xuyên tạc Nhà nước bắt, bỏ tù nhà báo độc lập. Với các tổ chức như “Văn đoàn độc lập”, “Hội nhà báo độc lập”, “Nhà báo độc lập”. “Phóng viên không biên giới” để đấu tranh cho cái gọi là tự do ngôn luận. Đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam; gây sức ép đòi thả tự do cho các đổi tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam mà họ gọi là bắt, bỏ tù “nhà báo báo độc lập”, “Blogger”…

Thực tế cho thấy, các thế lực phản động, thù địch đã cố tình lờ đi thực tiễn chính trị - pháp lý trong quá trình thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở các quốc gia trên thế giới. Chúng nhấn mạnh, cường điệu quyền tự do một chiều mà lờ đi nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức cũng như các hậu quả xấu mà các hành vi đó gây ra cho xã hội. Chúng cố tình không đề cập quy định pháp luật của các quốc gia, trong đó có Việt Nam, về hướng dẫn thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí một cách phù hợp. Đối với Đảng và Nhà nước Việt Nam, quyền tự do ngôn luận, báo chí không chỉ là quyền cần phải bảo đảm mà còn là một động lực cho sự phát triển của xã hội. Sự phát triển toàn diện kinh tế xã hội của Việt Nam thời gian qua cho thấy những cáo buộc Việt Nam không tôn trọng nhân quyền, thiếu tự do báo chí là vô căn cứ.

Việt Nam đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí

- Tôn trọng, bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là quan điểm xuyên suốt, nhất quán của Đảng, Nhà nước ta. 

Trong đó, báo chí là diễn đàn của nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, để nhân dân trình bày những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình, thông qua đó báo chí thực hiện chức năng phản biện xã hội, đề xuất những ý kiến tâm huyết đối với Đảng, Nhà nước, định hướng dư luận trong quá trình xây dựng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh té, văn hóa, xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội.

Trong những năm qua, Nhà nước Việt Nam đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin. Điều này được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 và được thể chế hóa trong các bộ luật liên quan như Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018 và nhiều văn bản pháp luật khác. Cụ thể: Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hay khoản 1, Điều 3, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng khẳng định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Bên cạnh đó, Luật Báo chí năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân.

Tính đến năm 2022, cả nước có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (có 327 tạp chí lý luận chính trị và khoa học, 72 tạp chí văn học nghệ thuật), 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình, 77 kênh phát thanh trong nước, 194 kênh truyền hình (7 kênh truyền hình thiết yếu quốc gia, 63 kênh truyền hình thiết yếu địa phương), 57 kênh nước ngoài. Nhân sự hoạt động trong lĩnh vực báo chí có khoảng 41.000 người, trong đó, khối phát thanh, truyền hình xấp xỉ 16.500 người. Số liệu thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông cũng cho thấy, tính tới tháng 9/2022, số lượng người dùng Internet ở Việt Nam là khoảng 70 triệu người, tăng 0,8% trong giai đoạn 2020 - 2021 (chiếm hơn 70% dân số); số người sử dụng mạng xã hội ở Việt Nam là gần 76 triệu người, tăng gần 10 triệu người trong vòng 1 năm (tương đương 73,7% dân số). Với con số này, Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia/vùng lãnh thổ khu vực châu Á. Người dùng Việt Nam dành trung bình tới gần 7 giờ mỗi ngày để tham gia các hoạt động liên quan tới Internet và tỉ lệ người dùng Internet ở Việt Nam sử dụng Internet hàng ngày lên tới 94%. Vậy vì sao trong số 70 triệu tài khoản Facebook của người Việt chỉ có một số rất ít người, như Hồ Văn Hải, Vũ Quang Thuận, Hoàng Đức Bình, Phạm Đoan Trang,… bị ra tòa? Đó là vì họ đã vi phạm pháp luật.

Thực tế là Nhà nước Việt Nam chỉ xét xử những ai lấy danh nghĩa nhà báo nhưng có hành vi cố tình vi phạm pháp luật, lợi dụng “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận”, để tuyên truyền, tán phát tài liệu, các bài viết có nội dung xấu độc phá hoại an ninh quốc gia, gây mất an toàn xã hội, kích động bạo lực, ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức, lối sống, truyền thống, văn hóa, lịch sử đất nước, con người Việt Nam. Chẳng hạn Hồ Văn Hải với trang blog và tài khoản Facebook đã đăng nhiều bài viết bôi nhọ, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước; Vũ Quang Thuận và Nguyễn Văn Điển đã đăng tải nhiều video/clip lên internet, phỉ báng chính quyền, phao tin bịa đặt, xuyên tạc sự thật. Hoàng Đức Bình vi phạm tội “Chống người thi hành công vụ”; “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân” trong vụ “biểu tình bất bạo động” đòi đuổi Formosa, tụ tập đông người cố tình gây ách tắc Quốc lộ 1A đoạn qua Hà Tĩnh, Nghệ An vào tháng 5/2017. Phạm Thị Đoan Trang với hàng loạt các hành vi như viết hàng trăm tài liệu nội dung xuyên tạc, phản động; thực hiện trên 50 lượt trả lời phỏng vấn các đài báo nước ngoài; viết, tán phát 10 cuốn sách có nội dung tuyên truyền xuyên tạc thực trạng dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, đả phá, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hướng dẫn  "kỹ năng", cách thức đối phó với cơ quan An ninh như Cẩm nang truyền thông”, “Cẩm nang pháp lý dành cho các bạn hoạt động xã hội”, “Từ facebook xuống đường”. “Anh Ba Sàm”, “Bầu cử phi dân chủ ở Việt Nam”, “Chính trị bình dân”, “Toàn cảnh thảm họa môi trường Formosa ở Việt Nam”, “Phản kháng phi bạo lực”,"Học chính sách công qua chuyện luật khu”... kích động lật đổ chế độ; huy động các đối tượng phản động của VOICE ở trong nước thành lập trang fanpage “Nhà xuất bản Tự do” nhằm xuất bản các đầu sách “nâng cao dân trí” cho giới Dân chủ Việt. Với sự tài trợ của VOICE, Phạm Thị Đoan Trang cùng đám đàn em trong nhóm “Green Trees” gồm: Cao Vĩnh Thịnh, Nguyễn Trường Thịnh, Trần Vũ Anh Bình, Hoàng Thành Nhân, Đặng Vũ Lượng, Nguyễn Đình Hà tổ chức in lậu hàng ngàn cuốn sách... vi phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 88 Bộ luật Hình sự 1999 và Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự 2015…

- Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do thông tin được xem là nguyên tắc bản cho một nền dân chủ, nhưng không vì thể mà quyên tự do báo chí, tự do ngôn luận hay tự do thông tin không chế; các quyền này không được cộng đồng quốc tế thừa nhận là quyền tuyệt đối. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 khẳng định: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Như vậy, quyền tự do ngôn luận không phải là tự do tuyệt đối. Hay tại Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 cũng đã nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”. Rõ ràng, trong một số trường hợp nhất định, tự do ngôn luận có thể xung đột với các giá trị hay quyền chính đáng khác.

Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến. Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự); việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí. Các nước như Italia, Tây Ban Nha, Thổ Nhĩ Kỳ cũng hình sự hóa các hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự của tổng thống hay các thành viên hoàng gia. Bên cạnh đó, trong nỗ lực chung nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên internet, Liên minh châu Âu (EU) đã ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên internet với sự cam kết hành động của bốn doanh nghiệp mạng lớn nhất thế giới bao gồm Facebook, Twitter, Youtube và Microsoft. Rõ ràng, trong bất cứ chế độ chính trị nào cũng không thể có tự do ngôn luận tuyệt đối, các quốc gia đều xử lý nghiêm khắc hành vi lợi dụng tự do ngôn luận; đề cao tự do ngôn luận phải vì lợi ích chung, không phải là sự tuyệt đối hóa tự do cá nhân, không thể lợi dụng tự do ngôn luận để viết, nói, xuyên tạc với ý đồ xấu, bất chấp luân lý và luật pháp.

Thấy rằng, việc Việt Nam xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý bảo đảm quyền tự do ngôn luận, bảo đảm nguyên tắc báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ nháp luật và được Nhà nước bảo hộ nhưng không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân là hoàn toàn phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người và kinh nghiệm thực tiễn ở nhiều nước. Luật pháp nghiêm cấm các hành vi lợi dụng quyền tự do này để viết bài vu khống, bôi nhọ danh dự cá nhân.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, ở bất kỳ quốc gia nào, tự do ngôn luận, tự do báo chí cũng phải nằm trong khuôn khổ pháp luật nhằm tránh hiện tượng bị lợi dụng, gây phương hại đến quyền, lợi ích của cá nhân khác, đến đạo đức xã hội, trật tự công cộng và an ninh quốc gia. Với sự phát triển của công nghệ thông tin, internet và mạng xã hội đã trở thành công cụ thể hiện quyền tự do ngôn luận của đông đảo người dân, điều này đặt ra nhiều vấn đề về xã hội và pháp lý, trong đó có việc quản lý thông tin trên không gian mạng hiện nay. Cũng cần phải nhìn nhận một cách khách quan rằng việc thực hiện các quyền tự do nói chung, quyền tự do ngôn luận nói riêng phải luôn gắn chặt với nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm chăm lo thực hiện tốt quyền tự do cơ bản của con người, của công dân, trong đó có tự do ngôn luận, nhưng đi kèm với đó phải là kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Tạo mọi điều kiện tốt nhất để công dân thực hiện quyền tự do, trong đó, có tự do ngôn luận nhưng với những hành vi lợi dụng tự do ngôn luận để làm những điều trái luật, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác; gây tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc… thì phải nghiêm trị theo pháp luật.