Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2023

Giải pháp phòng ngừa vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước trong Quân đội hiện nay

Tình trạng quân nhân vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước trong thời gian qua đang diễn ra rất phức tạp, nhất là: “Các vụ việc liên quan đến hình sự còn cao, trong đó có vụ việc nghiêm trọng xảy ra với tính chất mới” , làm ảnh hưởng xấu đến bản chất, truyền thống của quân đội và hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Để phòng ngừa, ngăn chặn vi phạm kỷ luật quân đội, pháp luật Nhà nước trong quân nhân hiện nay, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, về công tác tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Lãnh đạo quan trọng nhất là lãnh đạo tư tưởng, phải hiểu tư tưởng của mỗi cán bộ để giúp đỡ thiết thực trong công tác” . Theo đó, cấp ủy, chỉ huy, chính ủy, chính trị viên các cấp, nhất là cấp cơ sở phải làm tốt việc nắm và quản lý chặt chẽ tình hình tư tưởng quân nhân, nắm chắc tâm tư, tình cảm, nguyện vọng, những khó khăn vướng mắc nảy sinh trong đời sống hàng ngày của từng quân nhân. Phải dự báo được diễn biến tư tưởng của bộ đội, nhất là trước những diễn biến phức tạp của tình hình chính trị, xã hội và nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó, có biện pháp giáo dục chính trị, định hướng nhận thức tư tưởng, hướng dẫn hành động cho bộ đội, nhất là trước những tình huống phức tạp nảy sinh từ thực tiễn. Duy trì nghiêm túc chế độ nắm, báo cáo tình hình tư tưởng và phân loại đánh giá tư tưởng bộ đội theo định kỳ và khi có diễn biến tư tưởng phức tạp trong đơn vị. Kịp thời giải quyết thấu đáo, triệt để và có hiệu quả mọi tình huống tư tưởng trong đơn vị, đấu tranh loại bỏ những tư tưởng, tâm lý tiêu cực trong bộ đội. Đặc biệt, phải tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức tiến hành công tác tư tưởng theo hướng “thường xuyên, cụ thể, kịp thời, tôn trọng nhân cách”. Làm cho công tác tư tưởng ngày càng có sức sống, đi sâu, bám sát đời sống bộ đội, cảm hóa và làm chuyển biến nhận thức, thái độ, hành vi và lối sống lành mạnh cho bộ đội. Đồng thời, phải coi trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực, kĩ năng, kinh nghiệm tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, nhất là đội ngũ cán bộ chính trị. Quan tâm tạo dựng môi trường văn hóa lành mạnh và tăng cường đầu tư trang, thiết bị cho công tác tư tưởng ở các cơ quan, đơn vị, nhất là cấp cơ sở.

Hai là, về công tác giáo dục, phổ biến pháp luật Để nâng cao kiến thức về pháp luật cũng như hình thành ở mỗi quân nhân nhu cầu, thói quen tìm hiểu pháp luật và sống, hành động theo pháp luật phải coi trọng làm tốt công tác giáo dục, phổ biến pháp luật. Trước hết, cần nêu cao vai trò, trách nhiệm của các cấp, các ngành trong tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho bộ đội. Đổi mới nội dung và tạo sự chuyển biến căn bản trong các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị, nhất là cấp cơ sở. Trong tuyên truyền giáo dục pháp luật phải hạn chế tối đa tính hàn lâm, giáo khoa, tăng tính thiết thực, cụ thể, tính phóng sự, đối thoại, sân khấu hóa hoặc trò chơi giải trí mang nội dung pháp luật. Lựa chọn những nội dung pháp luật liên quan trực tiếp đến nhu cầu, hoạt động, giải quyết các quan hệ hàng ngày của quân nhân để phổ biến, giáo dục pháp luật cho quân nhân. Cần coi trọng sử dụng các thiết chế văn hóa, hệ thống truyền thanh nội bộ, pano, áp phích, tranh cổ động, tranh châm biếm... để tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, làm cho bộ đội cập nhật và thấm nhuần những nội dung, văn bản pháp luật mới. Đồng thời, quan tâm bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp luật, kĩ năng, kinh nghiệm và phương pháp giáo dục pháp luật cho những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở đơn vị. Mở rộng việc xây dựng tủ sách pháp luật ở cấp đại đội, có cơ chế và tạo điều kiện để các tủ sách pháp luật thường xuyên được cập nhật những văn bản pháp luật mới ban hành, nhất là những văn bản pháp luật có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, nhiệm vụ của quân đội. Tăng cường tổ chức các cuộc thi tìm hiểu pháp luật trong bộ đội, mở rộng các hình thức thi tuyên truyền viên, báo cáo viên về pháp luật trong các cơ quan, đơn vị.

Ba là, về công tác chỉ huy, quản lý, rèn luyện bộ đội Công tác quản lý bộ đội hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề mới, đòi hỏi phải nêu cao vai trò, trách nhiệm của cán bộ, chỉ huy các cấp, nhất là đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý, giáo dục, rèn luyện bộ đội. Cần đổi mới phương pháp quản lý bộ đội theo phương châm: quản lý, rèn luyện bộ đội phải đáp ứng yêu cầu vừa duy trì nghiêm điều lệnh, điều lệ của quân đội, chế độ, quy định của đơn vị, vừa phải tôn trọng nhân cách quân nhân và coi trọng việc giải quyết hài hòa, thỏa đáng những nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của quân nhân. Cùng với việc thực hiện nghiêm túc giờ nào việc ấy, nhưng phải biết quan tâm giải quyết hợp lý, hài hòa nhu cầu quan hệ, giao lưu tình cảm, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí của bộ đội; quản lý chặt chẽ bộ đội phải đi đôi với tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của quân nhân, bảo đảm đầy đủ quyền lợi, chế độ mà quân nhân được hưởng. Khắc phục tình trạng cứng nhắc, rập khuôn máy móc, hoặc quan liêu, quân phiệt trong duy trì chế độ, nền nếp và quản lý, rèn luyện quân nhân. Đồng thời: “Khi có vụ việc vi phạm xảy ra, phải báo cáo kịp thời, trung thực, không bao che, giấu giếm; phải tổ chức kiểm điểm làm rõ và quy trách nhiệm cụ thể đối với cá nhân, tổ chức trong việc để cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng thuộc quyền vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật quân đội”

Bốn là, về chăm lo cải thiện đời sống vật chất, tinh thần bộ đội Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ phải chăm lo đội viên đủ ăn đủ mặc. Cán bộ có coi đội viên như chân như tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”4 . Thực tế cho thấy, không ít vụ vi phạm kỷ luật nghiêm trọng bắt nguồn từ nhu cầu về đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội không được quan tâm giải quyết thỏa đáng. Điều này đòi hỏi các cấp ủy đảng, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên phải nêu cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, quan tâm cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho bộ đội. Đảm bảo mọi chế độ, tiêu chuẩn của bộ đội đều được bảo đảm đầy đủ theo đúng chính sách của Đảng, Nhà nước và chế độ, quy định của quân đội.

Mặt khác, phải có biện pháp phát huy nội lực của đơn vị, tạo mọi điều kiện để không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của bộ đội. Quan tâm xây dựng môi trường sống và môi trường văn hóa, tinh thần cũng như mối quan hệ xã hội lành mạnh trong đơn vị; chuẩn hóa những quan hệ cán binh, cấp trên với cấp dưới, tạo cho cán bộ và chiến sĩ có tình cảm yêu mến đơn vị, tin tưởng vào lãnh đạo, chỉ huy, yên tâm, phấn khởi và không ngừng vươn lên hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

Thứ Sáu, 8 tháng 9, 2023

BẠN CẦN BIẾT: HAI HÌNH ẢNH Ý NGHĨA ĐƯỢC CÀI CẮM TRONG PHIM "CUỘC CHIẾN KHÔNG GIỚI TUYẾN" CỦA VTV!

     Cuộc chiến không giới tuyến là một bộ phim về Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất hiện trên VTV trong thời gian tới. Bộ phim đề cập đến những chiến sĩ biên phòng ở biên giới phía Bắc và những chiến sĩ hải quân ở miền Trung. Khi xem phim, mình rất ấn tượng với màu phim rất đẹp, quân phục chỉnh chu, cảnh đất nước hùng vĩ, nên thơ và dàn diễn viên uy tín.... Trong đó, mình quan sát thấy hai khung cảnh rất ý nghĩa mà VTV đã đưa vào bộ phim.

Bức ảnh bên là đồn phó Quang lau cột mốc biên giới 254 của Tổ Quốc. Hành động lau cột mốc tưởng như là một hoạt động bình thường, nhưng thực chất có hàm ý rất lớn về mặt chủ quyền. Đa phần các cột mốc đều nằm ở những nơi rất xa, hiểm trở, khó đi lại, giữa những cánh rừng, đồi núi… Các cột mốc này thường chịu nắng gió, sương, bị thú rừng phá, bị dính bẩn. 

Việc lau cột mốc thường xuyên để khẳng định rằng nơi này có sự hiện diện của bộ đội biên phòng, dân quân, người dân ở khu vực này. Cho nước bạn biết tinh thần bảo vệ Tổ Quốc, coi trọng biên giới quốc gia, sẵn sàng bảo vệ sự toàn vẹn của các cột mốc. Trong một chuyến tình nguyện Cao Bằng năm 2017, đoàn mình nghỉ chân ở một đồn biên phòng biên giới, anh đồn trưởng chia sẻ rằng các chiến sĩ khi đi tuần tra cột mốc luôn mang theo những tấm khăn để lau cột mốc. Vì cột mốc càng sáng, biên giới càng vững chãi. 

Bức ảnh bên dưới là đoàn biên phòng Việt Nam và lực lượng Trung Quốc cùng tuần tra chung biên giới ở cột mốc 254 như bên trên đề cập. Cột mốc 254 ở ngoài đời nằm ở Thanh Thủy, Vị Xuyên, Hà Giang. Ai trong chúng ta cũng đã biết về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc diễn ra từ năm 1979 cho đến tận những năm đầu 90 của thế kỷ trước… Trong đó, vị trí cột mốc 254 Vị Xuyên là chiến địa khó khăn nhất, hào hùng nhất, anh dũng nhất của quân dân ta trong những năm 1984 - 1989. Thậm chí đến thời điểm hiện tại, xung quanh cột mốc 254 ngoài đời vẫn còn bom mìn của Trung Quốc còn lại. 

Cột mốc 254 cũng chính là một trong những điểm mà quân đội Trung Quốc âm mưu vẽ lại biên giới Trung Quốc lấn vào Việt Nam. Trong bao nhiêu năm tháng, chúng ta đã đấu tranh kiên cường để bảo vệ cột mốc này. Từng có thời điểm, Trung Quốc sử dụng đêm tối, mưa rồi đào cột mốc, di dời vào bên trong 2 cây số, rồi khi chúng ta dời ra điểm cũ thì mai phục dưới danh nghĩa bắt quả tang Việt Nam vi phạm chủ quyền. Nhưng cột mốc 254 đã và đang tồn tại, như một minh chứng lịch sử… 

Một bộ phim truyền hình chủ đạo về quân đội lên sóng truyền hình VTV đã là khá hiếm hoi rồi. Đây dường như lại là bộ phim đầu tiên có những hình ảnh, vũ khí trang bị, khí tài, tập trận quy mô lớn hay hình ảnh biên giới vốn phức tạp được đưa lên phim… Lại còn được cài cắm những chi tiết có ý nghĩa chính trị, lịch sử lớn lao, như là một lời nhắc nhẹ về chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và an ninh biên giới./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: LỊCH SỬ CỦA MỘT QUỐC GIA, DÂN TỘC LÀ SỰ TIẾP DIỄN, BẢO TỒN CỦA MỘT QUỐC GIA, DÂN TỘC - KHÔNG THỂ XUYÊN TẠC, ĐÁNH TRÁO ĐƯỢC!

         Sức mạnh của một quốc gia - một dân tộc là quá trình tiếp diễn, bảo tồn và phát triển từ lịch sử của dân tộc đó. Sự đứt gãy lịch sử là một mối nguy hại của bất cứ dân tộc nào - thậm chí, nó còn có nguy cơ "xóa sổ" cả dân tộc đó nữa... Không biết, các nhà giáo dục đang suy nghĩ gì...

Còn nước Nga... Xin chia sẻ lại thông tin từ FB của anh Phan Việt Hùng.

SÁCH GIÁO KHOA LỊCH SỬ MỚI CỦA NGA ĐÃ DẦN VIẾT ĐÚNG VỀ LIÊN XÔ 

Như mình đã viết, bắt đầu từ năm học mới 2023-2024, học sinh 2 lớp cuối cấp của Nga là lớp 10 và lớp 11 sẽ học Sách giáo khoa Lịch sử thống nhất, mới được biên soạn. 

Sách GK Lịch sử mới của Nga có gì khác so với SGK các lần xuất bản trước?

Đó là lịch sử Liên Xô dù chưa được phản ánh đầy đủ khách quan, nhưng đã được viết đúng hơn so với các sách GK trước đây. 

Báo Kommersant đã kỳ công so sánh đối chiếu để thấy các điểm khác nhau đó.

Cuốn sách GK mới cho lớp cuối cấp (lớp 11) có tên Lịch sử nước Nga, 1945 - đầu thế kỷ 21, lớp 11. do V. R. Medinsky, A. V. Torkunov biên soạn, xuất bản năm 2023.

(Ông Medinsky- một trong 2 tác giả là cố vấn của ông Putin, là Chủ tịch Hội lịch sử quân sự Nga) 

Hai cuốn được đem đối chiếu là:

1). Lịch sử nước Nga, XX - đầu thế kỷ XXI, lớp 11. A. A. Levandovsky, Yu. A. Shchetinov, S. V. Mironenko, 2010.

(2) . Lịch sử nước Nga, đầu thế kỷ 20 - đầu thế kỷ 21, lớp 10. A. V. Shubin, M. Yu. Myagkov, Yu. A. Nikiforov, 2021.

Kết quả một số sự kiện trong sách cũ và mới:

1. VỀ CÁI CHẾT CỦA STALIN: 

Trước viết: 

“Ngày 5 tháng 3 năm 1953, I.V. Stalin qua đời. Đến cuối đời, người đàn ông này đã đạt đến đỉnh cao quyền lực, xây dựng nên cường quốc mạnh thứ hai thế giới bằng máu và nhiệt huyết quên mình của hàng chục triệu người”.

Nay viết: 

“Với cái chết của I. Stalin vào ngày 5 tháng 3 năm 1953, cả một kỷ nguyên trong đời sống đất nước đã kết thúc. Sự ra đi của nhà lãnh đạo lâu năm của nhà nước đã khiến cho đa số người dân Liên Xô bối rối, sợ hãi và đau buồn chân thành. Phản ứng trên thế giới là trái chiều. Cùng với sự tiếc nuối và những biểu hiện đau buồn thường thấy trong những trường hợp như vậy của những người dân bình thường có cảm tình với Liên Xô và nhà lãnh đạo của nước này, thì nhiều tờ báo và tạp chí thân Mỹ đã gọi nhà lãnh đạo quá cố là một bạo chúa, một kẻ độc tài. Tuy nhiên, người ta thường nhớ về vai trò của Stalin trong chiến thắng trước Đức và giải phóng thế giới khỏi mối nguy cơ của phát xít”.

2. VỀ CHUYẾN BAY CỦA GAGARIN

Trước viết nhạt nhòa:

“Vệ tinh đầu tiên trên thế giới (1957) và tàu vũ trụ đầu tiên có con người - Yu. A. Gagarin (1961) đã được phóng vào quỹ đạo gần Trái đất. Tuy nhiên, nhìn chung, ngành công nghiệp này vẫn tiếp tục đi theo con đường thường lệ.”

Nay SGK mới đánh giá khác:

“Chuyến bay vào vũ trụ đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã trở thành một chiến thắng của Liên Xô. Nhà du hành vũ trụ Liên Xô Yuri Gagarin được nhiều nước trên thế giới đón chào nhiệt tình. Uy tín của Liên Xô đã đạt tới tầm cao vũ trụ.”

(Ca ngợi thế này thì dưới thời Liên Xô chắc cũng chỉ đến thế là cùng 🙂).

3. VỀ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG:

Trước SGK xuyên tạc: 

“Không quá 4% thu nhập quốc dân được chi cho chăm sóc sức khỏe (ở các nước phát triển - khoảng 12%). Từ năm 1970 đến năm 1985, tuổi thọ trung bình giảm hai năm và theo chỉ số quan trọng nhất này, Liên Xô đã tụt xuống vị trí thứ 35 trên thế giới và thứ 50 về tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh”.

Nay SGK mới đã phải thừa nhận:

“Liên Xô đã đạt được thành công lớn trong việc phát triển khoa học, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Điều này đảm bảo động lực tích cực của tăng trưởng dân số và tăng tuổi thọ. Về giáo dục, Liên Xô chiếm vị trí tiên tiến trên thế giới.”

4. VỀ CHỦ TRƯƠNG CÔNG KHAI HOÁ THỜI CẢI TỔ

Trước đây viết:

“Một lộ trình hướng tới Công khai đã được tuyên bố, tức là hướng tới giảm thiểu sự kiểm duyệt đối với các phương tiện truyền thông được kiểm soát từ bên trên, loại bỏ “kho lưu trữ đặc biệt” trong các thư viện, xuất bản những cuốn sách bị cấm trước đây, v.v. Tuy nhiên, nó sớm cho thấy rõ rằng bộ máy Đảng từ lâu đã mất đi tính linh hoạt, khả năng thích ứng, không giữ được dòng chảy tự do ngôn luận trong lòng của “sự lựa chọn xã hội chủ nghĩa” đã được khẳng định”.

Nay, SGK Lịch sử mới viết:

“Trong các điều kiện, khi tất cả các hạn chế kiểm duyệt được dỡ bỏ và nhà nước thực sự rút khỏi sự kiểm soát các phương tiện truyền thông, một trận tuyết lở thông tin mang tính phá hoại và thù địch đã đổ xuống đầu các công dân Liên Xô. Nó được giới thiệu đó là "tự do ngôn luận."

Viết ra thì dài, các nhà báo của Kommersant còn tìm được nhiều điểm khác nhau giữa SGK Lịch sử cũ và SGK mới, khi viết về thời kỳ Brezhnev, đánh giá Brezhnev, cuộc chiến Afganistan, về sự sụp đổ của Liên Xô, về chính biến 8/1991, về cuộc bầu cử tổng thống năm 1996…

Mừng cho nước Nga vì cuối cùng những bộ sách GK lịch sử xuyên tạc lịch sử do quỹ Soros ”tài trợ” trong thời gian trước đã bị ném vào sọtrác . Nước Nga tư bản hiện nay, nói gì thì nói, cuối cùng thì cũng không thể chấp nhận được sự lật sử, bởi thời kỳ Xô viết là một thời kỳ tiếp nối liên tục của lịch sử nước Nga, với những mảng sáng, tối của nó cần được phản ánh một cách trung thực, như nó vốn có.

p/s: 

Một trong những nguyên nhân khiến nền Giáo dục Nga phải viết lại SGK Lịch sử, theo mình là do bị đích thân Tổng thống phê phán tơi bời vào tháng 4/2021, sau đó Nga phải tổng kiểm tra lại nội dung SGK Lịch sử các cấp học. 

Tháng 4/2021, ông Putin đã nói: “Có một điều khá quan trọng, đó là số phận và chiến thắng của thế hệ đi trước vĩ đại, tất nhiên, là của những người đương thời nữa, có vai trò định hướng cho lớp trẻ nuôi dưỡng tình yêu với Tổ quốc, hoài bão muốn góp sức mình vào sự phát triển đất nước.

Bằng các phương tiện hiện đại, giới trẻ cần phải có cơ hội để biết được lịch sử đất nước và nền văn hóa đa sắc tộc, biết được các thành tựu của chúng ta trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, văn học và nghệ thuật.

Cho đến gần đây, thưa các vị, tôi mở một số cuốn sách giáo khoa phổ thông và ngạc nhiên xem những gì viết trong đó, dường như không phải viết về chúng ta. Ai đã viết, ai đã xuất bản những cuốn giáo khoa như thế? Thật là đáng ngạc nhiên! Bạ gì là viết nấy, viết cả về "Mặt trận thứ hai", thế nhưng về trận chiến Stalingrad thì không đả động gì cả- đấy có những chuyện như thế đó. Thật là đáng ngạc nhiên! Đơn giản là tôi không hiểu nổi và không muốn bình luận gì nữa".

p/s 2: Giờ mình (TDH) mới thấm thía câu nói của Putin: "Ai mà không luyến tiếc về sự sụp đổ của Liên Xô thì kẻ đó không có trái tim, còn ai mà luyến tiếc thì người đó không có cái đầu"./.
Yêu nước ST.

CÁN BỘ CẦN “BIẾT LÃNH ĐẠO” ĐỂ LÀM “ĐẦY TỚ” NHÂN DÂN

 

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền… Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Ý nghĩa sâu xa của lời căn dặn đó chính là, để hoàn thành sứ mệnh giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con người, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải “biết lãnh đạo” để đi tới mục tiêu cao cả đó, để xứng đáng là “Người đầy tớ thật trung thành của nhân dân”. Người đã chỉ dẫn: “muốn cho mọi người làm tròn nhiệm vụ, cán bộ Đảng và chính quyền cần biết lãnh đạo”. 


Theo Hồ Chí Minh, các cán bộ biết lãnh đạo tức là họ phải đáp ứng được một số yêu cầu cơ bản sau:


Thứ nhất, cán bộ cần phải nắm vững mục đích (mục tiêu) và phương thức (phương pháp) trong lãnh đạo. Đây là vấn đề đặc biệt cần thiết đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi mục tiêu và phương pháp là các vấn đề cơ bản của lãnh đạo. Không nắm vững lý luận khoa học sẽ không thể đề ra được phương pháp lãnh đạo khoa học và hiệu quả. Ngược lại, không có phương pháp đúng sẽ không đạt được mục tiêu trong lãnh đạo. Lâu nay, trong lãnh đạo, nhiều cán bộ đã chỉ chú ý đề ra các mục tiêu (nói thì “nhiều” “hay”), mà không quan tâm đến đề ra các phương pháp thực hiện (làm thì “ít”, “dở”). Thực tế nhiều năm qua cho thấy, cán bộ ta còn nhiều khuyết điểm trong lãnh đạo, nhưng không muốn sửa chữa, không dám nhận trách nhiệm, là do họ đã không biết lãnh đạo. Cán bộ biết lãnh đạo rất cần phải nói ít, làm nhiều, tức cần phải nắm vững, đề ra các mục tiêu, phương pháp đúng đắn, hiệu quả trong lãnh đạo.


Thứ hai, cán bộ cần phải nắm vững “dân là chủ” (dân chủ) và “dân làm chủ” (thực hành dân chủ) trong lãnh đạo. Đây là phương châm rất quan trọng đối với mỗi cán bộ trong lãnh đạo, bởi dân là chủ (với ý nghĩa là mục tiêu) và dân làm chủ (với ý nghĩa là phương pháp) là các vấn đề cơ bản nhất trong lãnh đạo để xây dựng một xã hội dân chủ như Cương lĩnh của Đảng, Hiến pháp năm 2013 đã nêu rõ. Không xây dựng được các mục tiêu dân chủ sẽ không đề ra được các phương pháp dân chủ. Ngược lại, không thực hiện các phương pháp dân chủ sẽ không đạt được các mục tiêu dân chủ. Lãnh đạo dân chủ tức là cán bộ phải kết hợp giữa đạo đức và pháp luật, đặc biệt coi trọng tuyên truyền, vận động, giáo dục, thuyết phục, biến quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước thành hành động tự giác của nhân dân. Ví như đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân cần phải được hiểu là chống lại các quan điểm có đặc tính cá nhân vị kỷ (vụ lợi), các hành vi có biểu hiện đặc điểm cá nhân ích kỷ (tư lợi), chứ không phải chống lại các quan điểm, hành vi vì quyền lợi chính đáng, có quan điểm nhân văn của cá nhân. Hồ Chí Minh phân tích rằng: “Mỗi người đều có tính cách riêng, sở trường riêng, đời sống riêng của bản thân và gia đình mình. Nếu những lợi ích cá nhân đó không trái với lợi ích của tập thể thì không phải là xấu”.


Thứ ba, cán bộ cần phải biết đi đầu, gương mẫu (tiên phong) trong lãnh đạo. Theo Hồ Chí Minh: “Lãnh đạo được hay không, là do đặc tính cách mạng, chứ không phải do số người nhiều ít của giai cấp”. Nghĩa là, hoạt động lãnh đạo là không phụ thuộc vào nhiều người hay ít người lãnh đạo, mà phụ thuộc vào tính gương mẫu (chất lượng) của các cán bộ lãnh đạo. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “nói giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo, thì cụ thể là phải gương mẫu trong sản xuất, gương mẫu trong đời sống”. Một người lãnh đạo mà không gương mẫu, không tiên phong về tư tưởng, đạo đức, lối sống thì người đó không biết lãnh đạo. Những người có tư tưởng, quan điểm “bảo thủ”, “kiêu ngạo”, “lệch lạc”, những người có hành vi “giả dối”, thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm, quan liêu, tham nhũng, lãng phí, đều là những người không biết lãnh đạo.


Thứ tư, cán bộ cần phải có tinh thần trách nhiệm trong lãnh đạo. Mỗi cán bộ cần phải nhận thức đúng đắn cách làm việc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách trong nguyên tắc tập trung dân chủ. Hồ Chí Minh cho rằng, lãnh đạo theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thì tập thể lãnh đạo (cơ quan lãnh đạo) là muốn nói tới các đại hội Đảng, Quốc hội, Hội đồng nhân dân; còn cá nhân phụ trách hay cá nhân lãnh đạo (người lãnh đạo) là muốn nói tới các thành viên, ủy viên trong các cơ quan Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp. Tập thể hay cá nhân lãnh đạo đều phải tuân thủ nguyên tắc: “quyền hạn gắn với trách nhiệm” trước Tổ quốc và nhân dân. Tinh thần trách nhiệm của tập thể, cá nhân trong lãnh đạo cần phải gắn chặt với ba nội dung cơ bản: nắm vững chính sách, đi đúng đường lối quần chúng và làm tròn nhiệm vụ. Trong ba nội dung này thì việc nắm vững chính sách được coi như nắm vững phương pháp lãnh đạo dân chủ; việc làm đúng đường lối quần chúng được coi như việc xác định rõ mục tiêu lãnh đạo dân chủ; còn làm tròn nhiệm vụ được coi như vừa xác định rõ mục tiêu (tiêu chí) lãnh đạo dân chủ, vừa đề ra phương pháp (phương thức) lãnh đạo dân chủ của tập thể, mỗi cán bộ. Quyền hạn cần phải gắn với trách nhiệm; cương vị lãnh đạo càng cao thì trách nhiệm trước Tổ quốc, nhân dân càng nặng nề. Cán bộ cần phải nhận thức rõ rằng, làm lãnh đạo là để “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân”, chứ không phải để “làm quan phát tài”.


Thứ năm, cán bộ cần phải có nghệ thuật lãnh đạo. Cán bộ phải biết lãnh đạo một cách mềm dẻo, linh hoạt, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Phương pháp lãnh đạo này đối lập với phương pháp lãnh đạo theo kiểu “mệnh lệnh” trong thời kỳ nền kinh tế chỉ huy, bao cấp, hoặc trong chiến tranh. Theo Người, lãnh đạo theo phương pháp mệnh lệnh, là “làm việc theo cách quan liêu”, tức sử dụng quyền lực “cứng”, khó thuyết phục đối tượng lãnh đạo, mặc dù cán bộ vẫn có thể “làm tròn nhiệm vụ”, nhưng nhìn về tổng thể, thực chất thì lại thất bại. “Làm theo cách quan liêu đó, thì dân oán. Dân oán, dù tạm thời nay có chút thành công, nhưng về mặt chính trị, là thất bại”. Nếu cán bộ sử dụng phương pháp lãnh đạo khéo léo sẽ mang lại nhiều hiệu quả, mang tính “hai chiều”, tức có tính phản biện. Hồ Chí Minh coi phương pháp lãnh đạo khéo léo tương tự như “làm việc theo cách dân chủ”, sử dụng quyền lực “mềm”. Người nói: “Khi tuyên truyền chính sách của Đảng, cán bộ phải dùng cách thuyết phục chứ không được dùng mệnh lệnh”. Một tập thể lãnh đạo khéo thể hiện ở sự sáng suốt, tôn trọng các quan điểm, chính kiến khác nhau nhằm tạo sự đồng thuận, đoàn kết. Cá nhân lãnh đạo khéo thể hiện ở việc khéo tổ chức, khéo thuyết phục, khéo sử dụng cán bộ, khéo kiểm tra, kiểm soát trong thực hiện các công việc. Khéo lãnh đạo là đối lập với “thủ đoạn chính trị”.


Việc giáo dục, bồi dưỡng, rèn luyện để cán bộ biết lãnh đạo theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là cách thiết thực để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” ở Việt Nam./.

#St. Trường Tồn 

NHẬN DIỆN VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC BIỂU HIỆN LỆCH LẠC TRONG THỰC HÀNH NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN

 

Việc nhận diện và triển khai các giải pháp khắc phục biểu hiện lệch lạc trong thực hành nêu gương một mặt giúp cán bộ, đảng viên “tự soi, tự sửa”, tự điều chỉnh để hoàn chỉnh bản thân; mặt khác, kịp thời chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc, suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, góp phần xây dựng Đảng ta thực sự “là đạo đức, là văn minh”. 


Nhận diện những biểu hiện lệch lạc


V.I.Lê-nin từng cảnh báo: Không một kẻ thù nào, cho dù nó nham hiểm và hung hãn nhất có thể tiêu diệt được Đảng Cộng sản, ngoại trừ những người cộng sản tự tiêu diệt chính họ. Bài học về sự sụp đổ của chế độ XHCN theo mô hình Xô Viết của Liên Xô và các nước Đông Âu với nguyên nhân cốt tử là do “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn đối với chúng ta cho tới hôm nay.


Để phòng, tránh điều đó từ sớm, từ xa, vấn đề mấu chốt là chúng ta cần nhận diện những biểu hiện lệch lạc trong thực hành nêu gương, một mặt để cảnh báo, cảnh tỉnh đối với mỗi cán bộ, đảng viên, để mỗi người trong chúng ta “tự soi”, “tự sửa”; mặt khác, đây cũng là cơ sở để mỗi cấp ủy, tổ chức đảng xác định và đưa ra các giải pháp thiết thực để uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời những biểu hiện lệch lạc đó. Quán triệt ý kiến của Tổng Bí thư Nguyễn Phú trọng tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ BCH Trung ương khoá XIII: “Cần phát huy cao độ tinh thần nêu gương, thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao đạo đức cách mạng; nghiêm túc tự soi, tự sửa, tự phê bình và phê bình; giữ vững kỷ luật, kỷ cương... gương mẫu về đạo đức, lối sống trong công tác, trong cuộc sống của bản thân, gia đình và người thân. Hết sức tránh tình trạng “Chân mình còn lấm bê bê/ Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; trong khuôn khổ bài viết này, chúng tôi tạm thời “điểm mặt, chỉ tên” ba biểu hiện lệch lạc chủ yếu mà cán bộ, đảng viên cần tránh, cụ thể như sau:


Một là, biểu hiện tự ti, bàng quan: Tự đánh giá thấp bản thân, không thấy được những điểm tốt, mặt mạnh của bản thân để phát huy và nêu gương trước mọi người, không tin vào khả năng của bản thân mình, nghĩ mình kém hơn người khác, luôn sống mặc cảm và thu mình lại; đứng ngoài cuộc, “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về”, thờ ơ với việc nêu gương trước mọi người và làm ngơ với việc học tập, noi gương người tốt xung quanh mình.


Hai là, biểu hiện “nói không đi đôi với làm”, “nói nhiều, làm ít”, “nói một đằng làm một nẻo”: Giữa lời nói và việc làm, suy nghĩ và hành động không nhất quán; có thể nói đúng, nói hay, hứa hẹn nhiều nhưng không làm hoặc nói suông, nói dối nhằm “mồm miệng đỡ chân tay”, thậm chí lấp liếm những thiếu sót, sai phạm của bản thân. Trong thực tế, cá biệt có những trường hợp luôn miệng rao giảng về đạo đức, kêu gọi nêu gương song lại có những hành vi vi phạm nghiêm trọng những điều đảng viên không được làm, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước...


Ba là, biểu hiện nêu gương hình thức, giả tạo, trá hình, “đầu voi, đuôi chuột”: Bề ngoài luôn tỏ ra gương mẫu, mực thước; “tô vẽ”, “đánh bóng” bản thân khiến mọi người lầm tưởng là một tấm gương sáng, song đằng sau vỏ bọc hoàn hảo là những thói hư, tật xấu, cách ứng xử tồi tệ, thậm chí suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước; giả tạo, giấu kín bản chất thật sự, chỉ bị “lộ” trong những tình huống nguy nan, tình huống có vấn đề hoặc khi bị “phát hiện”. Các vụ việc gây chấn động dư luận xã hội trong thời gian vừa qua như vụ Việt Á, vụ “chuyến bay giải cứu” là những minh chứng đáng xấu hổ đối với một số cán bộ, đảng viên giữ chức vụ cao, trọng trách lớn mà nêu gương hình thức, giả tạo, trá hình, gây hậu quả nghiêm trọng.  


Nhận diện các thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch  


Với mục tiêu làm suy yếu, lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động không từ thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt nào; trong đó, chúng tập trung lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền các quan điểm sai trái, phát tán rộng rãi các tài liệu có nội dung xấu, độc, phản động. Đối với phương thức lãnh đạo của Đảng là nêu gương, chúng triệt để sử dụng ba thủ đoạn chính, đó là: Xuyên tạc, phủ định các quan điểm của Đảng về nêu gương; trực tiếp, tập trung chống phá các quy định của Đảng ta. Đối với Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25-10-2018 của BCH Trung ương “Về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương”, chúng cho rằng: Nêu gương là quy định không có tác dụng, nêu gương là mị dân và không cần thiết trong điều kiện tất cả đã có quy định. Với Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của BCH Trung ương (khóa XIII) về “Những điều đảng viên không được làm”, chúng không ngại bóp méo sự thật, rêu rao: “Đảng đang suy yếu và rệu rã nên phải ban hành Quy định số 37”... Mục đích của những thủ đoạn này là cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào Đảng và chế độ XHCN, tiến tới nhằm xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng và thể chế chính trị ở Việt Nam. Bịa đặt, thêu dệt âm mưu hạ bệ thần tượng và những tấm gương được nhân dân ngưỡng mộ, tin yêu; bôi nhọ, nói xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Đây là thủ đoạn thâm độc được chúng tiến hành từng bước, từ phá hoại uy tín của một số cá nhân cụ thể đến phá hoại uy tín của tổ chức đảng, từ làm lung lay niềm tin của một bộ phận dân chúng đối với Đảng, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự, nhất là bộ phận dân chúng đã vốn có sẵn những bức xúc, bất bình với tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí... đến chống phá phương thức lãnh đạo của Đảng bằng nêu gương nhằm mục đích làm suy giảm năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.


Lợi dụng việc xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước để làm gương cho cán bộ, đảng viên, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị dựng chuyện, bóp méo, rêu rao đó là “đấu đá nội bộ”, “thanh trừng phe phái trong Đảng”, qua đó gây hoang mang, hoài nghi trong dư luận xã hội, hòng hạ bệ uy tín của Đảng, phá vỡ khối đoàn kết trong nội bộ Đảng và sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với Nhân dân; cản trở công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phủ nhận những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng và Nhân dân ta đạt được, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.


Kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm của Đảng, quán triệt chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị BCH Trung ương lần thứ 7 (khoá XIII): “Phát huy dân chủ, nâng cao ý thức trách nhiệm, nêu gương”; “nâng cao đạo đức, văn hóa, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức, viên chức” và xuất phát từ thực tiễn đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong thời gian qua, chúng tôi mạnh dạn đề xuất nghiên cứu và triển khai mô hình “Bốn chủ động, Năm phát huy” tại mỗi cấp ủy, tổ chức đảng để chúng ta luôn có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, đấu tranh hiệu quả, ngăn chặn kịp thời, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.


Theo đó, “Bốn chủ động” gồm: 1) Chủ động “tăng cường miễn dịch” cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân: Về bản chất, đây chính là việc chúng ta chủ động trang bị những kiến thức nền tảng về Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta cũng như những hiểu biết toàn diện về kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội thông qua tuyên truyền, giáo dục bằng nhiều hình thức; khuyến khích tự học tập, tự tìm hiểu, tự nghiên cứu, cập nhật nhằm nâng cao nhận thức, nhãn quan chính trị để mỗi cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân tự “miễn dịch” trước những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của các thế lực thù địch, phân biệt được thật - giả, đúng - sai; tuyệt đối không chia sẻ những thông tin xấu độc trên các trang mạng xã hội; có cơ sở lý luận, thực tiễn để tham gia phê phán, đấu tranh bảo vệ cái đúng, loại trừ cái sai trái, tiêu cực, phản động.


2) Chủ động xây dựng lực lượng đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng ở các cấp. Chủ động xây dựng lực lượng kế cận, kế tiếp, lực lượng mở rộng gồm các đồng chí đáp ứng yêu cầu “5T” (tâm huyết, trí tuệ, trách nhiệm, tinh thông, tỉnh táo) sẵn sàng bổ sung, củng cố, kiện toàn, không để hẫng hụt lực lượng tham gia đấu tranh. Huy động sự tham gia của các nhà báo, nhà nghiên cứu, chuyên gia có kiến thức uyên thâm, khả năng đấu tranh sắc bén để nâng cao chất lượng đấu tranh, bảo vệ quan điểm của Đảng về nêu gương nói riêng và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung. 


3) Chủ động dự báo, nắm, quản lý tình hình: Để làm tốt việc này, bên cạnh óc phán đoán nhạy bén đón trước nội dung, thời điểm, cách thức, “địa bàn” mà các thế lực thù địch tập trung công kích, chống phá; cần phát huy kỹ năng, kinh nghiệm trong nắm bắt các quy luật của đối tượng, âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng để dự kiến tình huống, cách xử trí, bảo đảm không bị động, bất ngờ ngay cả trên không gian mạng.


4) Chủ động triển khai phương án “tác chiến” phù hợp, hiệu quả. Trên cơ sở dự báo, các cấp ủy, tổ chức đảng chủ động chỉ đạo việc chuẩn bị nội dung, phương án, cách thức và tổ chức đấu tranh linh hoạt trên nhiều hướng, trực diện và gián tiếp, sử dụng bài viết, bình luận phản bác, báo xấu các thông tin xuyên tạc, xấu độc… Để đạt hiệu quả tốt, cần tổ chức diễn tập các phương án, xử trí nhiều tình huống giả định sát thực tế và thường xuyên bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kỹ năng đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch cho đội ngũ cán bộ, đảng viên và những lực lượng tham gia vào “trận chiến” này.


“Năm phát huy” của mô hình này tập trung vào: 1) Phát huy vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, liên tục, chặt chẽ của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong định hướng, xây dựng lực lượng và tổ chức đấu tranh;


2) Phát huy tinh thần tiên phong và trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong tuyên truyền, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác, ngăn chặn, đẩy lùi những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc, phản động;


3) Phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức quần chúng, sức mạnh của “thế trận lòng dân” trong đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch;


4) Phát huy vai trò của khoa học - công nghệ để tăng cường hiệu quả, sức chiến đấu trong đấu tranh trên không gian mạng;


5) Phát huy ưu điểm, bài học kinh nghiệm trong tổng kết thực tiễn gắn với khắc phục những nhược điểm, hạn chế trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng thời gian qua.      


Các giải pháp khắc phục


Những biểu hiện lệch lạc của cán bộ, đảng viên nếu không được uốn nắn, chấn chỉnh, khắc phục kịp thời rất dễ dẫn tới hệ lụy khôn lường, hậu quả nghiêm trọng, làm tổn hại thanh danh và uy tín của Đảng ta, suy giảm lòng tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước. Việc triển khai các giải pháp cần sự vào cuộc, phối hợp đồng bộ của các cấp, các ngành, các lực lượng , cụ thể như sau:


Đối với Trung ương, cần tiếp tục bổ sung, phát triển, hoàn thiện quy định và đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu gắn với học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; lãnh đạo, triển khai đồng bộ, kịp thời, hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức, hành động của cấp ủy, tổ chức đảng, của cán bộ, đảng viên về trách nhiệm nêu gương; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.


Đối với cấp ủy, tổ chức đảng, cần thường xuyên làm tốt việc bồi dưỡng lý tưởng, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, chú trọng rèn luyện các phẩm chất “Trung với Đảng, với nước; hiếu với Nhân dân”; “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”; đặt ra yêu cầu cao cho mỗi cán bộ, đảng viên trong việc tự giác tu dưỡng, rèn luyện về đạo đức, lối sống ở mọi lúc, mọi nơi, bất luận trong điều kiện, hoàn cảnh nào cũng phải giữ mình, đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất đó là danh dự của cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, báo chí và nhân dân; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên có dấu hiệu vi phạm kỷ luật đảng, không gương mẫu trong thực hiện nhiệm vụ và trong cuộc sống, đúng với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”; có cơ chế, hình thức biểu dương, khen thưởng kịp thời những cá nhân, tổ chức, đơn vị luôn tự giác, thường xuyên thực hiện vấn đề nêu gương; bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nói, dám đấu tranh, tố cáo sai phạm, tiêu cực.


Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, cần nhận thức đúng đắn rằng nêu gương không chỉ là trách nhiệm, còn là bổn phận, là niềm vui, niềm vinh dự, tự hào của bản thân; thực hành nêu gương phải tự giác, thực chất, thường xuyên qua từng suy nghĩ, lời nói, việc làm cụ thể hằng ngày; việc gì đem lại điều tốt đẹp cho mọi người xung quanh, cho cơ quan, tổ chức, tập thể, cho đất nước thì hết sức làm, việc gì không tốt phải hết sức tránh; không ngừng đổi mới phong cách làm việc, cần phải sâu sát, cụ thể, tỷ mỷ, khoa học, sáng tạo trong công tác, tinh thông về nghiệp vụ, chuyên môn; xác định rõ trách nhiệm người đi trước giúp đỡ người đi sau, cấp trên nêu gương cho cấp dưới, đảng viên gương mẫu trước quần chúng; kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, tiêu cực; nghiêm túc trong tự phê bình và phê bình, thấy đúng phải bảo vệ, thấy sai phải đấu tranh, không tranh công, đổ lỗi, nếu sai dũng cảm nhận khuyết điểm và trách nhiệm, “tự soi”, “tự sửa”, tự điều chỉnh và hoàn thiện bản thân. 


Rõ ràng, nhận diện và triển khai các giải pháp đồng bộ, cụ thể, thấu đáo sẽ giúp hạn chế tối đa những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; qua đó, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh, phẩm chất, trình độ, năng lực, kinh nghiệm, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, thực sự “là đạo đức, là văn minh”. Như vậy, có thể thấy, việc đề cao trách nhiệm nêu gương là một quá trình phát triển tư duy quan trọng của Đảng, từ chỗ vận động, giáo dục, thuyết phục; đến tiếp tục thực hiện phương châm nêu gương “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, phát huy vai trò nêu gương của người đứng đầu; đề cao trách nhiệm tự giác nêu gương; nêu gương “nói đi đôi với làm” đến việc thể chế hóa thành những quy định của Đảng, cụ thể hóa trong chính sách, pháp luật của Nhà nước. Trên cơ sở đó, mỗi tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân coi nêu gương là thói quen sống lành mạnh, một nét văn hóa chính trị tích cực trong đời sống xã hội.          


Tăng cường xây dựng Đảng về đạo đức, phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện lệch lạc, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ và đấu tranh không khoan nhượng làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, chắc chắn Đảng ta sẽ ngày càng trong sạch, vững mạnh. Nhất định Đảng ta sẽ lãnh đạo nhân dân thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới, xây dựng thành công CNXH và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN./.


Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng

#St. Trường Tồn 

NGUY CƠ ĐÃ HIỂN HIỆN

 

(

BPO - Trước đây, chúng ta từng cảnh báo luận điệu cổ vũ xét lại lịch sử, đòi đánh giá lại công - tội của các nhân vật lịch sử còn đang gây tranh cãi thì hiện nay, nguy cơ đó đã hiển hiện trước mắt chúng ta với liên tục là những bài viết vinh danh những kẻ được coi là bán nước, “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ” như Nguyễn Ánh.


Họ đăng những dòng rất trịnh trọng, với những lời lẽ ca ngợi Nguyễn Ánh là người có công lớn với đất nước, kiểu như: “Kỷ niệm 260 năm ngày sinh vua Gia Long - vị hoàng đế đầu tiên của triều Nguyễn. Ông là vị vua có công rất lớn trong việc thống nhất, mở mang bờ cõi nước ta với vùng đất rộng lớn từ ải Nam Quan đến đất Mũi Cà Mau”. Hoặc là những thông tin mang tính câu khách, tâng bốc Nguyễn Ánh hết lời, xem như một vị vua anh minh bằng lối diễn đạt đánh lừa độc giả: “Phát hiện thú vị về vua Gia Long và những kế sách ngoại giao khôn khéo”.


Nguyễn Ánh tên thật là Nguyễn Phúc Ánh, sinh năm 1762, mất năm 1820, là kẻ đã năm lần bảy lượt cầu viện ngoại bang đem quân sang đánh nhà Tây Sơn, từ Xiêm La đến thực dân Pháp. Năm 1802, với sự suy yếu của vương triều Tây Sơn bắt đầu từ sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung (năm 1792), cùng sự giúp đỡ của thực dân Pháp, Nguyễn Ánh đã lật đổ nhà Tây Sơn, lập ra nhà Nguyễn (trước đây, tổ tiên của Nguyễn Ánh chỉ dám xưng chúa - sử gọi là chúa Nguyễn). Trong suốt quá trình từ khi lưu vong nhờ ngoại bang đến khi lên ngôi vua, Nguyễn Ánh đã phạm những tội lỗi không thể dung thứ đối với người thân, gia tộc và đất nước. Để phục vụ mưu đồ bá vương của mình, Nguyễn Ánh đã làm một việc thất đức là dùng chính con trai mình - hoàng tử Cảnh làm con tin để cầm cố cho Pháp; Ánh thậm chí còn giết con trai mình là hoàng tử Cải vì sợ bị tiếm quyền. Khi vợ là bà Phi Yến khuyên không nên cầu viện ngoại bang, Ánh đã giam bà đến chết. Sau khi lên ngôi, Nguyễn Ánh đã cho phá thành Thăng Long để chở gạch ngói vào Phú Xuân xây kinh đô Huế.


Nếu cho rằng Nguyễn Ánh là người có công thống nhất giang sơn, xã tắc thì đó là sự hồ đồ về lịch sử, bởi vì vào cuối thời Lê Trung Hưng, chúa Trịnh chiếm đoạt quyền hành nhà Lê ở Đàng Ngoài, chúa Nguyễn cát cứ lập vương triều độc lập ở Đàng Trong, đất nước chia 2 nửa Nam - Bắc phân tranh hơn 200 năm bất phân thắng bại. Chỉ đến khi anh em nhà Tây Sơn lãnh đạo nông dân khởi nghĩa thành công, đánh tan 2 tập đoàn phong kiến Trịnh, Nguyễn cùng nhà Hậu Lê, chấm dứt tình trạng chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài kéo dài suốt 2 thế kỷ, thống nhất Nam - Bắc, giang sơn liền dải. Cũng chính Quang Trung là người đã lần lượt đập tan các cuộc xâm lược Đại Việt của Xiêm La ở phía Nam và Mãn Thanh ở phía Bắc. Trong khi đó, giống như Lê Chiêu Thống ở phía Bắc đã rước 29 vạn quân Mãn Thanh vào giày xéo đất nước mình nhằm bảo vệ quyền lợi của cá nhân, gia đình, dòng tộc mình thì ở miền Nam, Nguyễn Ánh đã quỳ gối mời giặc Xiêm La vào nước ta. Sau khi Xiêm La bị thất bại, Nguyễn Ánh đã cầu viện giặc Pháp đánh nhà Tây Sơn hòng chiếm lại vương quyền. Thậm chí, khi nghe tin quân Thanh giúp Lê Chiêu Thống sang đánh Tây Sơn và đã tiến chiếm Thăng Long, Nguyễn Ánh từng sai chở 50 vạn cân gạo ra giúp quan quân Tôn Sĩ Nghị, tuy nhiên âm mưu bất thành do giữa đường đi bị sóng to, gió lớn đánh chìm.


Năm 1787, hầu tước Montmorin đại diện cho vua Louis XVI của Pháp và Pigneau de Behaine (Bá Đa Lộc) thay mặt Nguyễn Ánh ký Hiệp ước Versailles. Hiệp ước này gồm 10 khoản, nội dung chính là vua Pháp cam kết cung cấp cho Nguyễn Ánh 4 tàu chiến loại frégaté cùng 1.200 bộ binh, 200 pháo binh, 250 lính Cafres (lính da đen châu Phi) và các phương tiện trang bị vũ khí tương ứng; ngược lại, Nguyễn Ánh phải chấp thuận cắt cửa biển Đà Nẵng và quần đảo Côn Lôn cho Pháp; cho phép người Pháp được quyền tự do buôn bán và kiểm soát thương mại của người nước ngoài ở Việt Nam; phải cung cấp thủy thủ, tàu bè, lương thực và quân nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước khác ở khu vực Viễn Đông; mỗi năm phải đóng 1 chiếc tàu, y như tàu của nước Pháp đã cho sang giúp, để đem sang trả cho vua nước Pháp. Đổi lại, Pháp sẽ đưa quân đội, vũ khí sang giúp đánh nhà Tây Sơn. “Công lao” của Nguyễn Ánh chính là đã mở đường cho sự can thiệp của Pháp ở Việt Nam qua việc mời Pháp giúp xây dựng các thành trì lớn, huấn luyện quân đội và khoan thứ cho việc truyền đạo Công giáo tại Việt Nam. Nguyễn Ánh nếu đem so với Lê Chiêu Thống thì cũng là kẻ tám lạng, người nửa cân, giống nhau như 2 giọt nước ở chỗ “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, bán nước cầu vinh.


Nguyễn Ánh đã gây dựng nên triều đình nhà Nguyễn - một triều đình trong suốt thời gian tồn tại 143 năm - luôn thỏa hiệp và cắt đất cho ngoại bang để giữ vững ngai vàng của mình. Chẳng hạn như phủ Trấn Ninh gồm các huyện Khám Liên, Quảng, Khang, Cát, Xuy, Mộc và Liêm rộng khoảng 45.000km² được Nguyễn Ánh cống nạp cho vương quốc Vạn Tượng (nay là tỉnh Xiêng Khoảng của Lào) để nhận lấy sự ủng hộ của họ trong cuộc chiến với nhà Tây Sơn. Năm 1827, nhà Nguyễn đã cắt huyện Sầm Nưa, phủ Trấn Biên, tỉnh Thanh Hóa cho nước Ai Lao; 3 huyện Cam Môn, Cam Cát, Cam Linh trước đây thuộc tỉnh Nghệ An nhưng đến năm 1840 nhà Nguyễn cũng cắt cho Ai Lao. Phủ Lạc Biên thuộc Việt Nam năm 1828, sau cũng được nhà Nguyễn cắt cho Lào, nay là Savannakhet. Hay cam tâm tình nguyện để thực dân Pháp ngang nhiên cắt đất của tổ tiên dâng cho nhà Thanh theo Công ước Pháp - Thanh năm 1887. Khôn ngoan đâu chưa thấy, song lãnh thổ của Tổ quốc mất về tay ngoại bang là có thật, là sự thật hiển nhiên đau lòng, là tội nhân thiên cổ của dân tộc Việt Nam.


Nguyễn Ánh chính là kẻ đã thừa hưởng thành tựu thống nhất giang sơn của hoàng đế Quang Trung. Thế nhưng, vì sao ngày nay một số nhà sử học, trí thức “cấp tiến”, các tờ báo mạng lại trơ trẽn, tráo trở, bất trung, bất nghĩa vinh danh, ca ngợi Nguyễn Ánh? Mục đích cuối cùng của hành vi này là gì? Câu trả lời của trò “lật sử” này chỉ có thể là tạo tiền lệ công nhận và đạo đức hóa hành vi rước ngoại xâm vào lãnh thổ của ngụy Việt Nam Cộng hòa, cuối cùng là tấn công và phủ nhận các cuộc chiến tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta trong thế kỷ XX nhằm rửa mặt cho Mỹ và bọn bán nước cầu vinh Việt Nam Cộng hòa! Bọn chúng muốn hủy hoại lịch sử vẻ vang của nước ta. Giặc Xiêm La và các nhà truyền đạo phương Tây - công cụ hỗ trợ cho bọn thực dân kiểu cũ vào xâm lược Việt Nam cũng do một tay Nguyễn Ánh rước vào. Một số nhà sử học và thành phần “lật sử” khẳng định rằng, việc xây dựng cố đô Huế, giờ là di sản văn hóa thế giới chính là công lao của Nguyễn Ánh và nhà Nguyễn. Nhưng họ đã cố tình quên rằng, về cơ bản nó là di sản của nhân dân, nhà Nguyễn cũng chỉ dùng sức lực, trí tuệ, của cải của nhân dân để xây dựng mà thôi. 


Tóm lại, Nguyễn Ánh chỉ xứng để so sánh với Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống. Nguyễn Ánh cùng phần lớn con cháu của mình đã để lại hậu quả nặng nề cho sự phát triển của đất nước, ôm chân ngoại xâm để bảo vệ đặc quyền gia tộc mà bỏ qua lợi ích dân tộc. Mục đích của bọn “lật sử” khi hết lời ngợi ca Gia Long - Nguyễn Ánh đã rõ. Hãy luôn tỉnh táo để nhận rõ phải - trái, đúng - sai, công - tội nhằm đập tan âm mưu phủ định cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đầy hào hùng của cha ông ta thế kỷ XX.

Báo Bình Phước, https://baobinhphuoc.com.vn/news/33/131727/nguy-co-da-hien-hien)

#St. Trường Tồn 

Ý NGHĨA LÂU BỀN CỦA TÁC PHẨM “THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY” (ВЕЧНОЕ ЗНАЧЕНИЕ ПРОИЗВЕДЕНИЯ «КАК ЗАКАЛЯЛАСЬ СТАЛЬ»)

 

"Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời".


Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka.


Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.


Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới. Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự.


Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai.


Sau khi Liên Xô sụp đổ, những giá trị lớn của văn học Xô-viết bị xem xét lại. Người ta không dám công khai đả kích vào "Thép đã tôi thế đấy" nhưng cũng có người cho rằng, đó là một thứ văn nghệ tuyên truyền, văn nghệ của một thời đã qua, ít có giá trị văn hóa...


N.Ostrovsky là một chiến sĩ, có học vấn không cao, cả đời ông chỉ viết được hai cuốn sách ("Ra đời trong bão táp" cũng đã được dịch ra tiếng Việt) nhưng không phải vì thế mà giá trị văn hóa của tác phẩm lại không cao.


Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên.


Hiện nay, ở nước Nga sau cải tổ một tờ báo lớn viết: "Nokolai Ostrovsky và hình tượng của nhà văn là Pavel Corchaghin đã và đang là biểu tượng lớn của một nền văn minh vĩ đại".


Vào dịp này, hai cuốn tiểu thuyết "Ra đời trong bão táp" và "Thép đã tôi thế đấy" của nhà văn lại được tái bản tại Việt Nam. Một cậu bé lớp 9 đã thức suốt đêm để đọc một mạch 700 trang "Thép đã tôi thế đấy" vì không dứt được. Sức sống của tác phẩm không hề giảm sút ...


Cho đến nay, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn là một trong những tác phẩm thành công nhất khắc họa chân dung người thanh niên cộng sản.


Pavel Corchaghin-ghin từ con nhà "mụ nấu bếp", nghịch ngợm, đầy tính tự phát, trong con mắt của con bé quý tộc hàng xóm là "du côn", đã trở thành một anh hùng trong nội chiến, anh hùng trong lao động, và thể hiện rõ là chân dung một con người thuộc về văn hóa tương lai. Cách mạng không chỉ tôi luyện chí anh hùng mà còn có khả năng hoàn thiện và mở rộng những tính cách, những khả năng tốt đẹp của con người. Cái nhìn của tư sản mới kỳ thị. Cái nhìn của vô sản mới thật sự cầu thị và bao dung. Pavel  mê tít sách ở nhà Tonya, nhìn mẹ Tonya trong mối thiện cảm, dành nửa tháng lương để may áo xa-tanh mới và húi tóc, biết làm ngoại giao, giữ thể diện quốc gia khi gặp lại con bé nhà Lesinsky... là một khả năng cách mạng, khả năng tự cải biến mình nhưng không bao giờ xa rời nguyên tắc, xa rời lý tưởng sống cao đẹp. Ðoạn đối thoại với Tonya khi gặp lại Pavel, một bên sực nức mùi son phấn, giàu có, một bên là anh xúc tuyết (để làm đường sắt chở củi cứu thành phố khỏi cái rét mùa đông) là đoạn bộc lộ sự tự tin của một tầm cao văn hóa: "Tonya khó khăn lắm mới nhận ra cái người mặc rách rưới này là Pavel đứng ngay đó, trước mặt Tonya, mình khoác manh áo rách bươm, chân xỏ đôi ủng kỳ quái, cổ buộc cái khăn mặt cáu bẩn, mặt đã lâu không rửa. Chỉ độc có đôi mắt là vẫn như xưa, đôi mắt ánh lên một ngọn lửa không gì dập tắt được: đôi mắt Pavel... Tonya ngại ngùng không dám đưa tay ra bắt. Vasili, chồng chị, sẽ nghĩ thế nào, nếu chị bắt tay Pavel? Ðời Pavel đã xuống dốc đến thế thì mình cũng ngượng với mình thật ...


- Chào Pavlusa. Nói thật với anh, tôi không ngờ thấy anh như thế này. Hóa ra chính quyền Xô-viết không có việc gì khác tốt hơn đáng giao cho anh hay sao mà lại để anh đi xúc đất như vậy? Tôi cứ tưởng đã từ lâu anh làm chính ủy hay là giữ một chức vụ gì đại khái như vậy rồi kia đấy"...


Suy nghĩ của Tonya có thể coi là một suy nghĩ bình thường vì Pavel có công trạng, đã từng cứu sống cán bộ cấp trên. Nhưng Pavel đi làm cách mạng để hiến dâng chứ không phải đi kiếm lợi lộc, chức vụ. Nếu như vậy, chỉ là từ thân phận hèn kém này sang thân phận hèn kém khác dù có được sự "bọc đường" dễ chịu. Ðây là tấm gương soi cho những ai theo cách mạng chỉ nhằm kiếm lợi lộc mà Lenin đã hết sức đả đảo. Giải phóng nhân loại, giải phóng cá nhân, trước hết là sự tiến lên về tư tưởng, nhân cách. Tầm cao và ý nghĩa sâu sắc của tác phẩm được toát lên từ hình tượng Pavel chính là ở chỗ đó. Sức cuốn hút, sự tất thắng của con người và CNCS cũng chính là ở chỗ đó.


Chừng nào con người còn những khát vọng cao cả, chừng đó, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn còn là cuốn sách hấp dẫn, thôi thúc tiến lên.


Nguồn: Báo Nhân dân điện tử

#St. Trường Tồn 

CỜ ĐỎ SAO VÀNG GIỮA TRÙNG KHƠI

 


Ở đâu có lãnh thổ của Việt Nam, ở đó có lá cờ đỏ sao vàng năm cánh. Giữa trùng khơi, Quần đảo Trường Sa hiện lên sừng sững phía xa, không chỉ có màu xanh của trời và biển mà nó còn là dáng hình đất nước với dáng đứng hiên ngang cùng với những lá cờ Tổ quốc.


Ngày 11/4/1975, lá cờ giải phóng đã tung bay trên đảo Song Tử Tây mở màn cho chiến dịch giải phóng Trường Sa. Cho đến nay trên khắp huyện đảo Trường Sa, ở bất cứ góc nhìn nào cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng đang tung bay trong gió.


Lá cờ đỏ sao vàng luôn được cắm ở chỗ cao nhất, trang trọng nhất thể hiện cho độc lập chủ quyền, lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời, cũng thể hiện cho tinh thần bất khuất, kiên cường của người dân Việt Nam trong mọi phong ba, bão táp, hiểm nguy.


Tháng 6/2012, lá cờ bằng gốm ở đảo Trường Sa lớn có kích thước 12.5x25m, diện tích 310m2, được ép từ 310.000 viên gốm cỡ 3x3cm, lá cờ đỏ sao vàng khổng lồ được đặt trên mái nhà hội trường Trường Sa lớn.


Lá cờ đỏ sao vàng tung bay trên những cánh sóng Trường Sa như lan tỏa hào khí của dân tộc và khẳng định chủ quyền của Quần đảo Trường Sa đối với Việt Nam. 

#St. Trường Tồn 

HỒI CHUÔNG BÁO ĐỘNG


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Có lẽ, đã đến lúc phải gióng lên hồi chuông báo động về tình trạng thiếu kiến thức về lịch sử dân tộc; thái độ thiếu tôn trọng đối với các danh nhân của một bộ phận giới trẻ ngày nay.


1. Hồi chuông đáng báo động. Vừa rồi, có một nhóm nhạc Hàn Quốc qua Việt Nam biểu diễn, qua đây đã làm bộc lộ nhiều chuyện buồn rất đáng để chúng ta lưu tâm. Đó là việc nhiều bạn trẻ vì cuồng thần tượng, ham muốn được xem thần tượng biểu diễn mà bằng mọi cách để được có tấm vé của đêm diễn. Họ đã nói dối cha mẹ một cách trắng trợn rằng cần tiền gấp để đóng học phí, để mua tài liệu, phương tiện học tập mà nhẫn tâm ngửa tay cha mẹ khoản tiền không nhỏ hàng chục triệu đồng để mua vé vào xem hai đêm diễn ca nhạc của thần tượng. Số tiền đó không phải gia đình nào ở quê cũng sẵn có, nhiều bậc cha mẹ khi nghe con nói vậy phải đôn đáo chạy vạy, vay chỗ nọ, mượn chỗ kia hòng có tiền gửi cho con vì sợ con bị đuổi học, vì sợ con học thua kém bạn bè. Họ có ngờ đâu, số tiền đó đã được con mình “đốt” hết chỉ trong hai đêm diễn của ban nhạc kia. Thậm chí, nhiều bạn trẻ khi ở nhà thì như cậu ấm cô chiêu, nắng không tới đầu, mưa không tới chân, nhưng đã đội mưa, dầm mình trong cơn mưa Hà Nội hàng tiếng đồng hồ chỉ để thỏa mãn được mục sở thị, tận mắt nhìn thấy thần tượng bằng xương bằng thịt đang uốn éo, múa may quay cuồng. Các em sẵn sàng bỏ học, bỏ việc để ra sân bay đón, đưa tiễn thần tượng. Rồi thì những hành động khóc lóc, gào thét, múa may quay cuồng, thậm chí hôn lên ghế mà trước đó thần tượng đã ngồi. Đi xem một sự kiện văn hóa nhưng hành động của khán giả thì lại không được “văn hóa chút nào” – xã rác bừa bãi khắp nơi, từ quầy vé, công ra vào đến khán đài. Khi xem thần tượng biểu diễn, trong họ yếu mềm, ẻo lả biết bao. Tổng Bí thư Lê Duẩn từng nói “Hồn Tổ quốc ngự trong lòng tuổi trẻ. Họ yếu hèn đất nước sẽ nguy vong”.

Chúng ta đã được chứng kiến những ồn ào không đáng có đến tân hoa hậu, tân á hậu quốc tế người Việt. Thật đáng buồn và đáng trách khi trả lời phỏng vấn của hoa hậu, á hậu thì như đứa trẻ lên 3, ngây ngô, ngờ nghệch đến tội nghiệp. Mặc dù là danh hiệu do các công ty giải trí tổ chức và trao tặng, nhưng được sự cấp phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thì đương nhiên hoa hậu, á hậu trước hết phải có tầm trí tuệ, chí ít thì cũng phải có những hiểu biết sơ đẳng, phải được dạy dỗ về công -  dung - ngôn - hạnh, nhưng đằng này lại hết sức lố bịch, láo xược, hợm hĩnh, ngang nhiên đặt mình ở vị trí ngang hàng, thậm chí cao hơn cả bậc vĩ nhân. Hoa hậu thì ngoài việc nhớ sai quê quán của anh hùng dân tộc còn cho rằng mình ngang hàng với anh hùng áo vải Quang Trung; á hậu thì cho mình còn hơn cả lãnh tụ Hồ Chí Minh. Ở đâu ra những thói kệch cỡm, láo xược như vậy ở một cô gái trẻ nhưng không phải là con nít, mà đang là nhưng sinh viên, cũng đã đến tuổi trưởng thành, tự chịu trách nhiệm về các hành động của bản thân? Ở đây, chính là công tác quản lý, công tác giáo dục của nhà trường, của gia đình có vấn đề; sự nuông chiều, chiều chuộng thái quá của gia đình đình đã hình thành nên suy nghĩ ngạo mạn, coi thường người khác của giới trẻ. Dưới sự bảo bọc như ông hoàng bà chúa của gia đình, sự chăm bẵm nâng như nâng trứng, hứng như hứng hóa của gia đình, một bộ phận giới trẻ cho mình là tất cả, là số một, là duy nhất, dẫn đến ảo tưởng về bản thân nên mới có những phát ngôn trước công chúng mang tính ngông cuồng, ngạo mạn như thế. 


Ngày nay, rất nhiều nam thanh nữ tú không thể nhớ nổi tên của một danh nhân, một danh thắng của đất nước, một chiến công hào hùng của dân tộc. Họ thậm chí còn nhầm lẫn tai hại khi cho rằng Quang Trung và Nguyễn Huệ là hai nhân vật khác nhau, nhưng họ lại có thể kể vanh vách về tất tần tật những gì thuộc về thần tượng của mình, từ thượng vàng tới hạ cám, từ anh ta, cô ta thích cái gì, ngủ như thế nào, mặc đồ gì, nghe nhạc gì, đang cặp kè với ai. Những việc của đất nước, của địa phương thì không quan tâm, không cần biết, nhưng suốt ngày lại lên mạng bô lô bô loa về đất nước phương Tây đẹp thế này, văn minh như thế kia, rồi thì chê bai, dè bỉu nào là Việt Nam thô lỗ, Việt Nam lạc hậu, Việt Nam bẩn thỉu, Việt Nam kém hiểu biết. Khi về nhà là cửa đóng then cài, không biết đến hàng xóm, láng giềng, không tham gia một hoạt động nào của địa phương, không đem những hiểu biết, kiến thức mà mình được trang bị để giúp địa phương phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; không đóng góp công sức mình cho sự phát triển của địa phương. Họ tự cho mình cái đặc quyền bắt nhà nước, xã hội phải cung phụng, phải phục vụ, đáp ứng những nhu cầu mà theo họ là văn minh hiện đại theo tiêu chuẩn phương Tây! 

2. Vì đâu nên cơ sự này?Để đến cơ sự như thế, không phải trách nhiệm của một tổ chức, cá nhân nào, mà đó là trách nhiệm của gia đình, nhà trường xã hội và bản thân mỗi chúng ta. Sự buông lỏng quản lý, giáo dục, bất lực trong nuôi dạy con cái của không ít bậc cha mẹ. Họ, một là mải làm ăn, kiếm tiền nên đã giao phó hoàn toàn việc chăm sóc, nuôi dạy con cái cho bảo mẫu, cho gia sư, cho ô sin, người giúp việc mà không biết con mình cần gì, muốn gì, thích gì, suy nghĩ như thế nào. Chỉ cần đều đặn hàng ngày, hàng tuần quẳng ít tiền để gia sư, bảo mẫu lo cho con từ a đến z, miễn sao con mạnh khỏe, không bệnh tật. Còn việc con có ngoan không, có nghe lời thầy cô, người lớn hay không thì nằm ngoài bộ nhớ của họ. Hoặc, không ít người, vì phương pháp giáo dục, quản lý con cái không phù hợp, khắt khe đến mức tàn nhẫn hoặc nuông chiều đến mức tôn thờ đều dẫn đến việc hình thành những tính cách, suy nghĩ lệch lạc, cực đoan trong con trẻ. Chúng hoặc là trở thành những kẻ phá phách, ngông cuồng, coi trời bằng vung hoặc là ngơ ngác như gà công nghiệp, tự cao, tự đại như ếch ngồi đáy giếng. Một nguyên nhân nữa phải kể đến là từ những bất cập của việc giáo dục trong nhà trường. Không biết từ khi nào mà thầy cô đã mất đi cái quyền được nhéo tai, bệu má những học trò quậy phá, nghịch ngợm, hay đầu têu những chuyện trên trời dưới đất. Tục ngữ có câu nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò, vì vậy, trong nhà trường, cần phải có kỷ luật, thầy cô phải được coi trọng, phải được trao cho những quyền phê bình, dạy dỗ những trò hư tới nơi tới chốn. Nhưng đáng buồn thay, ngày nay, hễ giáo viên có hành động gì không hay không phải hoặc chỉ cần có lời nói nặng, động chạm đến lòng tự ái của học trò là chúng lu loa lên rằng bị thầy cô đánh, rồi thì phụ huynh hùng hổ, các báo lá cải, báo biến chất thì đăng bài giật tít câu lai, lên án, thay thế pháp luật để xử các thấy cô phải bị thế nọ thế kia. Riết rồi giáo viên co mình, bảo toàn công việc, còn thì mặc bay, láo cũng được, dốt cũng được miễn là không ảnh hưởng tới mình. Rồi thì từ quản lý yếu kém của nhà nước đối với internet và mạng xã hội. Một thời gian dài, chúng ta để cho các báo mạng, các trang mạng xã hội tự tung tự tác, đưa tin giật gân, thiếu kiểm chứng, đưa những tin hiếp – chém – giết lên mặt báo bằng những màn miêu tả chi tiết đến ly kỳ, rõ từng chân tơ kẽ tóc đến từng milimet; rồi thì tin nhảm nhí, câu khách câu like, thiếu tính tuyên truyền, định hướng suy nghĩ, hành động, nhận thức của người đọc kiểu như con chó của ông hoàng nọ chết vì mắc bệnh, hay con mèo của ca sĩ kia nhảy lầu tử vong, hoặc hôm nay ngôi sao này ăn gì, đi chơi ở đâu, ngủ lúc mấy giờ, đang yêu những ai….Thôi thì hằng hà sa số những thông tin vô bổ, xấu độc hằng ngày, hằng giờ đầu độc giới trẻ, bảo sao giới trẻ không bắt chước làm theo. Mạng xã hội thì đầy rẫy những anh hùng bàn phím suốt ngày đăng tải các video, clip nói tục, chửi thề, chửi nhau như hát hay hoặc thách đó đánh nhau trên mạng xã hội. Thế thì, bảo sao giới trẻ không bị tiêm nhiễm, mà hiện tượng Khá Bảnh hay Dương Minh Tuyền là những ví dụ điển hình. 


Vì vậy, muộn còn hơn không, hãy bắt tay vào chỉnh đốn ngay từ bây giờ để nhịp sống, suy nghĩ, hành động của giới trẻ trở về với nhịp điệu vốn có: Hồn nhiên, trong sáng, nhiệt huyết, năng động, xứng đáng là những chủ nhân tương lai của đất nước.  


NHV#St. Trường Tồn 

NHẬN DIỆN MỘT SỐ BIỂU HIỆN SUY THOÁI

 

Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Mặc dù vậy, còn rất nhiều biểu hiện suy thoái trong cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) khi thực thi nhiệm vụ, đòi hỏi chúng ta phải nhìn nhận thấu đáo, nhận diện, phát hiện và kiên quyết đấu tranh.

Trước hết, một trong những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị tương đối dễ nhận diện đó là “tranh công, đổ lỗi”. Khi công việc được hoàn thành đúng tiến độ, đạt chất lượng, hiệu quả cao thì cố gắng tranh giành đó là công lao của mình, còn gặp khó khăn, thất bại thì tìm mọi cách đổ lỗi cho một cá nhân khác hoặc do yếu tố khách quan. Song hành cùng biểu hiện này còn có biểu hiện khác là “đùn đẩy, né tránh trong việc phối hợp thực hiện nhiệm vụ”. Biểu hiện này thường thấy ở việc không có cơ quan, đơn vị, cá nhân nào chịu trách nhiệm chính trong công tác phối hợp, luôn cho rằng nhiệm vụ đó không phải là nhiệm vụ chính của cơ quan, đơn vị mình và đơn vị chỉ có trách nhiệm phối hợp thực hiện, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”, hoặc “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” đối với những công việc có sự tham gia phối hợp của nhiều đầu mối đơn vị...

Bên cạnh đó, một biểu hiện khác nghiêm trọng hơn biểu hiện thiếu tinh thần trách nhiệm là “thực hiện công việc nửa vời, không đến nơi đến chốn”. Đó là việc cá nhân đã ý thức được việc làm của mình, thấy trước được kết quả, nhưng làm cho có và không mang lại hiệu quả. Mặt khác, có một bộ phận CB, ĐV “lười nghiên cứu chủ trương, chính sách và các quy định của pháp luật để phục vụ công tác”. Đây là biểu hiện suy thoái dễ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng do thực hiện không đúng, không đủ các quy định của pháp luật, chủ yếu ra các quyết định thông qua bộ phận tham mưu, không xem xét, kiểm tra trước khi quyết định. Nghiêm trọng hơn, CB, ĐV có biểu hiện suy thoái này thường đùn đẩy trách nhiệm, hoặc sợ sai không dám làm vì không nắm chắc các quy định của pháp luật có liên quan đến lĩnh vực chuyên môn.


Ngoài những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị nêu trên, một biểu hiện hết sức nguy hại khác đang diễn ra khá phổ biến ở không ít nơi, đó là “trọng dụng người không đủ năng lực, không đủ tài, đức và ưa dùng người xu nịnh”. Với việc đánh giá và sử dụng cán bộ như vậy khiến cho những người có năng lực, trình độ, có tinh thần cống hiến mất niềm tin, không còn động lực phấn đấu và gây mất đoàn kết nội bộ trong cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng.

Trong quá trình thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, một bộ phận CB, ĐV đã có những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống mà phổ biến nhất trong thực tiễn đó là “lợi dụng việc mua sắm, đầu tư công để hưởng lợi tư”. Không ít người lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc mua sắm, đầu tư công để móc nối, cấu kết với các đơn vị nhà thầu hưởng phần trăm chênh lệch, tiền “hoa hồng”, “lót tay” để phục vụ mục đích cá nhân.

Một biểu hiện khá phổ biến khác đó là “sử dụng thời gian làm việc hành chính để phục vụ mục đích cá nhân”. Biểu hiện này được thể hiện thông qua việc không tập trung vào chuyên môn, không xem nhiệm vụ được giao là nhiệm vụ chính mà chú tâm vào các mối quan hệ bên ngoài, “tham nhũng” thời gian làm việc công để tranh thủ làm việc riêng, tạo thu nhập cá nhân... Cùng với biểu hiện trên, “thiếu đạo đức nghề nghiệp” cũng được xem là biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống. Trong đó, người mắc biểu hiện này chỉ chú trọng đến lợi ích cá nhân hoặc lợi ích nhóm mà đi ngược lại với đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức xã hội...

#St. Trường Tồn 

CÙNG ĐỌC VÀ SUY NGẪM: THƯA BỘ TRƯỞNG BỘ TT&TT!

         Lịch sử là hồn cốt, là yết hầu của bất kỳ dân tộc, quốc gia nào! Một người dân đủ kiến thức, được giáo dục đầy đủ đều nhận thấy vấn đề cốt yếu này!

Thưa Bộ trưởng, bao năm nay ông có quan tâm, để ý, có nắm được dư luận Nhân dân? Có biết được họ đang gọi VNXEPERESS là "TÀU NHANH" - Như vậy đủ hiểu uy tín, hình ảnh của cơ quan báo chí này trong mắt công chúng? Nó đang cho dân chúng một cái nhìn xấu xí, ác cảm về cơ quan báo chí trực thuộc bộ ngành trung ương nhưng lại thường xuyên vượt qua lằn ranh đỏ, thường xuyên phá rào lệch lạc...! Chúng tôi đang hy vọng, đó chỉ là những "con sâu bỏ rầu nồi canh", chỉ là những kẻ yếu kém, cơ hội, gian manh đang luồn lách, chui sâu, tác quái trong cơ quan báo chí!

Chúng tôi nghĩ rằng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước hãy nhìn về lĩnh vực chính trị, tư tưởng đang rối ren ra sao? Đang bị lũng đoạn ra sao? Các cơ quan báo chí, nền giáo dục đang "chệch hướng xã hội chủ nghĩa ra sao"?!

Cần có một sự quyết liệt, rõ ràng từ trên, từ kiến trúc thượng tầng để lũ cơ hội chính trị, bọn gian tà, lũ hai mang, bọn dốt nát phá hoại, các thế lực thù địch... không còn đất sống! Có như vậy mới mong dân tộc ta trường tồn!
Yêu nước ST.

DÙ THẾ NÀO THÌ "LỊCH SỬ" VẪN LÀ MÔN THI BẮT BUỘC!

     Nghe giọng văn đã thấy bài viết có định hướng rằng đòi muốn bỏ môn lịch sử khỏi danh sách môn học bắt buộc, tiến tới sẽ đòi bỏ luôn học lịch sử. Gì mà "Đẩy thế khó cho học sinh nếu Lịch sử là môn thi bắt buộc" và "Thi Lịch sử năm này qua năm khác theo kiểu bị ép buộc, học sinh sẽ chỉ học để đối phó, để đủ điểm qua môn và rồi quên sạch".

Tôi thấy nhà báo đang hiểu sai về chủ trương để môn Lịch sử là môn thi bắt buộc tốt nghiệp THPT. Bởi lẽ, nhà báo chỉ đơn thuần nghĩ môn Lịch sử là môn học thuộc lòng, nhiều chữ, mà không nghĩ học Lịch sử là học hồn cốt quốc gia. Bản thân tôi là người dạy Lịch sử tôi cũng không bắt các em phải học thuộc lòng, chỉ cần các em nhớ các giai đoạn lịch sử và ý nghĩa lịch sử.

Cơ mà xem kết quả bình chọn mà nhà báo này lập ra vẫn cho thấy người ta vẫn chọn lịch sử là môn học bắt buộc. Chứng tỏ dù nhà báo có lập luận đến mấy nhưng cũng thua hết nhận thức của người dân./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: DÂN BIẾT, DÂN BÀN, DÂN KIỂM TRA, DÂN GIÁM SÁT, DÂN THỤ HƯỞNG, THỂ HIỆN BẢN CHẤT TỐT ĐẸP CỦA CHẾ ĐỘ CHÍNH TRỊ CỦA NƯỚC TA!

         Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng, đặt nhân dân vào trung tâm các quyết sách của mình, mà còn luôn tạo điều kiện để nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.

NHÂN DÂN LÀ CHỦ THỂ QUYỀN LỰC NHÀ NƯỚC
Thấm nhuần quan điểm của V.I.Lênin và truyền thống “nước lấy dân làm gốc”(1), trong những năm Đảng lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), tư tưởng Hồ Chí Minh về việc xây dựng một nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân đã từng bước được triển khai trong thực tiễn. Trong đó, không thể không nhắc đến vai trò của quần chúng nhân dân đối với nền độc lập, tự do của Tổ quốc trong Chương trình Việt Minh năm 1941; trong quá trình xây dựng, bảo vệ và phát triển các căn cứ địa cách mạng và tại các Khu giải phóng thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nhất là việc tổ chức thành công cuộc tổng tuyển cử bầu Quốc hội khóa I theo nguyên tắc phổ thông đầu phiếu, bình đẳng, đoàn kết; thành lập chính phủ chính thức và quá trình soạn thảo, ban hành Hiến pháp năm 1946… sau khi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.

Đặc biệt, Điều 1 Hiến pháp năm 1946 khẳng định: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa, tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam. Không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” và Điều 6 cũng hiến định: “Tất cả các cơ quan nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân. Tất cả các nhân viên cơ quan nhà nước đều phải trung thành với chế độ dân chủ nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân” ... Đây chính là cơ sở pháp lý đầu tiên cho việc thực hiện quyền lực của nhân dân; là sự khẳng định địa vị là chủ của nhân dân ở văn bản pháp lý cao nhất - điều chưa từng có trong các nhà nước trước đó ở Việt Nam.

Một điểm nữa cho thấy vai trò của nhân dân trong Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam chính là tại các cơ quan công quyền (thuộc bộ máy nhà nước và trong cả hệ thống chính trị) do nhân dân lựa chọn, bầu và ủy quyền để thực hiện ý chí, nguyện vọng của mình thì đội ngũ cán bộ, công chức phải là “đày tớ”/“công bộc” chứ không phải là “quan phụ mẫu”. Theo đó, mối quan hệ giữa các cơ quan công quyền và nhân dân chính là: “Các cơ quan của Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh việc chung cho dân, chứ không phải để đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật. Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh. Chúng ta phải yêu dân, kính dân thì dân mới yêu ta, kính ta”(2). Đồng thời, “Chính phủ ta là Chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là ra sức phụng sự lợi ích của nhân dân”, cho nên “Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình Chính phủ làm trọn nhiệm vụ của mình: là người đày tớ trung thành tận tụy của nhân dân”(3)... Điều đó cũng có nghĩa là các cơ quan Nhà nước phải thực thi và tạo điều kiện để thực thi quyền làm chủ của người dân; đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước phải hết lòng, hết sức phụng sự nhân dân; ngược lại, nhân dân cũng phải thượng tôn pháp luật và thực hiện đầy đủ quyền lợi cũng như trách nhiệm của mình.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “Nước ta là nước dân chủ”, việc triển khai “thực hiện có nền nếp khẩu hiệu dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” và coi đó “là nền nếp hằng ngày của xã hội mới, thể hiện chế độ nhân dân lao động tự quản lý Nhà nước của mình”(4) tại Đại hội VI đã được thay bằng “xây dựng cơ chế cụ thể để thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước” tại Đại hội VIII và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(5) của Đại hội XII. Từ phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” của Đại hội VIII đến Đại hội XIII được bổ sung hai điểm mới là “dân giám sát” và “dân thụ hưởng”. Việc bổ sung hai điểm mới này đã làm cho tổng thể phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” tại Đại hội XIII trở nên sâu sắc, sinh động, nhân văn hơn về vị trí, vai trò của nhân dân - chủ thể quyền lực Nhà nước. Đồng thời cũng cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng, đặt nhân dân vào trung tâm các quyết sách của mình, mà còn luôn tạo điều kiện để nhân dân làm chủ đất nước, làm chủ xã hội, bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân.

ĐỂ PHƯƠNG CHÂM CỦA ĐẢNG TRỞ THÀNH HIỆN THỰC SINH ĐỘNG
78 năm sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều thể hiện rõ nội dung nhân dân làm chủ là bản chất của chủ nghĩa xã hội và việc kiên định nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân.

Nhìn lại thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, quan điểm “trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc” xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động”(6) tại Đại hội VI - Đại hội khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước tiếp tục được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Đó chính là “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo”(7) và “Dân chủ xã hội chủ nghĩa” là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm”(8). Đó chính là “tiếp tục phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Bảo đảm để nhân dân tham gia ở tất cả các khâu của quá trình đưa ra những quyết định liên quan đến lợi ích, cuộc sống của nhân dân… Tiếp tục thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”(9) .

Đó cũng chính là thực hiện dân chủ ở cơ sở phải được thực hiện gắn với các chỉ thị, kết luận quan trọng liên quan đến dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, như Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18/2/1998 về “Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 28/11/1984 về “Tăng cường công tác quần chúng của Đảng”; Chỉ thị số 10-CT/TW ngày 28/3/2002 về “Tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”; Kết luận số 120-KL/TW ngày 7/1/2016 về “Tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”... Việc thực hiện dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn với các chỉ thị, kết luận này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, góp phần hiện thực hóa phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” trong thực tiễn cuộc sống.

Dân chủ, thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền dân chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội/bảo đảm quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân không chỉ được thể hiện trong từng chủ trương, chính sách của Đảng, mà còn được khẳng định tại Điều 2, Hiến pháp năm 2013; Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Luật Bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 2015, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Luật Viên chức năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2019), Bộ luật Lao động năm 2019, Luật Phòng, chống tham nhũng,v.v..

Điều này cho thấy, việc thực thi dân chủ và bảo đảm phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nhất là phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” không chỉ được khẳng định trong Văn kiện các kỳ Đại hội; trong các chỉ thị, kết luận của Đảng mà còn được thể chế hóa và bảo đảm thực hiện thông qua Hiến pháp và hệ thống pháp luật của Nhà nước. Điều đó không chỉ thể hiện rõ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được mở rộng, đi vào nền nếp trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, mà còn thể hiện rõ sự thấu triệt, vận dụng thực hiện để “làm sao cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm” như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn.

Có thể nói, cùng với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ được xây dựng, mà còn ngày càng điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện phù hợp với điều kiện, trình độ phát triển và yêu cầu của đất nước. Việc thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” được triển khai trong thực tiễn là minh chứng sinh động của việc thực hiện nguyên tắc quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân, đảm bảo và phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Minh chứng đó cũng cho thấy “chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay”(10) là không thể phủ nhận. Vì thế, việc dựa vào dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, ý kiến, nhu cầu của nhân dân và được nhân dân đồng tình, hoan nghênh, ủng hộ, giúp đỡ không chỉ góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của từng tổ chức cơ sở Đảng; nâng cao năng lực quản lý, điều hành của các cơ quan Nhà nước; trách nhiệm đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức Nhà nước mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh, quốc phòng và trật tự an toàn xã hội ở từng địa bàn cơ sở./.
Yêu nước ST.

CHỈ LÀ TRÒ "NÉM ĐÁ AO BÈO"!

         Cứ mỗi dịp Quốc khánh, cùng niềm vui của nhân dân trong nước, rất nhiều người đang sinh sống, làm việc tại các quốc gia, vùng lãnh thổ lại trở về nước thăm thân nhân, khám phá danh lam, thắng cảnh đất nước và để được sống trong không khí hân hoan của ngày tết Độc lập. Năm nay cũng vậy, hàng trăm kiều bào từ các nước Mỹ, Pháp, Đức, Canada, Úc, Nhật Bản, Lào, Thái Lan… đã trở về, dự họp mặt kỷ niệm 78 năm Ngày Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh (2-9) tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Thế nhưng cũng “đến hẹn lại lên”, trên trang tin của các tổ chức phản động hoặc tài khoản cá nhân của các phần tử chống phá lại xuất hiện những bài viết xuyên tạc thành quả của Cách mạng tháng Tám, Quốc khánh 2-9 và xuyên tạc tình hình trong nước. 

Trang Đất Việt có bài: “Cờ đỏ CSVN bị cấm treo ở San Jose, Westminster”. Tất nhiên, nội dung bài viết hoàn toàn là thông tin xuyên tạc, bịa đặt. Nhưng vào dịp lễ quan trọng này của Việt Nam, nếu những kẻ sống bằng nguồn viện trợ của các tổ chức chống cộng khoác áo “xã hội dân sự” mà “không làm gì đó” thì hẳn không thể yên thân với những tổ chức, cá nhân chống phá Việt Nam và sẽ bị cắt ngay nguồn hỗ trợ, tài trợ cho hoạt động chống phá. Tương tự, trang tin Thông luận cũng có bài viết về cờ đỏ, sao vàng của Việt Nam với nội dung: “Lá cờ đó gắn liền với lịch sử chiến tranh, với trại cải tạo, vùng kinh tế mới, đánh tư sản mại bản, với vượt biển vượt biên và đã để lại trong lòng nhiều người Việt, những người Mỹ đã chiến đấu trên mảnh đất Việt Nam và gia đình họ nhiều khổ đau và nước mắt. Nay đến bến bờ tự do họ không còn muốn nhìn thấy bóng dáng lá cờ đỏ đó nữa”… Bài viết này còn trích dẫn lời một ông nghị viên Diệp Thế Lân nào đó, rằng: “Ở bất cứ nơi nào có người Việt tự do, họ sẽ lên tiếng chống lại cộng sản”. 

Không biết tác giả bài viết trên trang Thông luận là người nước nào. Nhưng dù là nước nào thì cũng không thể không đặt câu hỏi với anh ta rằng: tại sao tận bên kia bán cầu, lại có “những người Mỹ đã chiến đấu trên mảnh đất Việt Nam”? Hẳn là đầu óc người viết bài này không bình thường. Bởi khi nhắc tới cuộc chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam mà cả nhân loại đều biết đó là cuộc chiến đấu không cân sức giữa một bên là kẻ ngoại xâm hùng mạnh cùng vũ khí hủy diệt hàng loạt với một dân tộc nhỏ bé chỉ có lòng yêu nước, căm thù quân xâm lược và quyết tâm sắt đá giữ độc lập, tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân và thắng lợi đã thuộc về nhân dân Việt Nam. Vậy mà người viết lại lẫn lộn khái niệm một cách khôi hài đến thế! Tôi cũng không biết cái sự “tự do” của ông Diệp Thế Lân ở đất nước xa xôi ấy hình thù ra sao và “người Việt tự do” mà ông nhắc tới là đối tượng nào. Nhưng cứ nhìn dòng người Việt từ mọi châu lục, trong đó có rất nhiều kiều bào ra đi từ năm 1975 đã tự do trở về, tự do hưởng bầu không khí sum họp cùng người thân, gia đình nơi chôn nhau cắt rốn của mình trong những dịp lễ, tết trọng đại của dân tộc, tự do đầu tư làm ăn trên quê hương, đất nước thì thấy rằng, nếu không phải người viết bịa ra thì cũng là chính ông nghị Diệp Thế Lân đang tự huyễn hoặc mình.

Cách đây không lâu, trang VOA Tiếng Việt - trang tin của những kẻ chống cộng cực đoan ở hải ngoại có bài: “2-9-1945: Quốc khánh của ai, quốc nạn với ai?”. Giật tít bằng một câu hỏi gây sốc rồi tác giả tự trả lời: Là ngày quốc khánh của đảng và chế độ cộng sản Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt. Nhưng là ngày quốc nạn đối với quốc dân Việt Nam…(!?) Bài viết còn giải thích loằng ngoằng: “ngày 2-9-1945 đánh dấu ngày Đảng CSVN, núp dưới mặt nạ tổ chức Việt Minh cướp chính quyền thành công, khai sinh ra chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa, tiền thân của chế độ CHXHCNVN hiện nay… Là vì trong cả hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp (1946-1954) và chiến tranh Quốc - Cộng (1954-1975), mục tiêu tối hậu của Đảng CSVN không phải là giành độc lập cho dân tộc, mà chỉ cướp chính quyền trên cả nước, thực hiện chế độ cộng sản (xã hội chủ nghĩa), làm công cụ cho cộng sản quốc tế thực hiện tham vọng cộng sản hóa toàn cầu, bá chủ thế giới…” Câu phương ngôn “Biết thì thưa thốt…” có lẽ rất đúng trong trường hợp này. Bởi muốn “phản biện” thì ít nhất phải hiểu chuyện và có lập luận sắc bén, thuyết phục. Đằng này!

Cộng đồng người Việt có hơn 4,5 triệu người sinh sống, học tập, lao động tại hơn 110 quốc gia, vùng lãnh thổ. Với khoảng 500.000 trí thức người Việt đang làm việc tại các cơ sở khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học và các cơ sở kinh doanh ở nước ngoài cho thấy, tiềm lực của kiều bào ta rất lớn. Với truyền thống yêu nước và chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc, Đảng, Nhà nước ta luôn coi cộng đồng người Việt ở nước ngoài là bộ phận máu thịt của dân tộc và luôn mong đồng bào hướng về quê hương, góp phần làm cho đất nước ngày càng phồn vinh, là cầu nối để quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới ngày càng bền chặt. Những đóng góp đáng trân trọng của kiều bào đối với quê hương đều xuất phát từ truyền thống yêu nước quý báu, được hun đúc từ ngàn đời của dân tộc Việt Nam và luôn được Đảng, Nhà nước ta trân trọng. Đáng buồn là trong khi nhiều kiều bào sẵn sàng đóng góp cho quê hương và tình nguyện làm việc thiện như thực hiện mệnh lệnh từ trái tim thì một số kẻ lại nhân danh “hòa giải”, “hòa hợp dân tộc” để thực hiện những việc phương hại đến quốc gia, dân tộc. Việc làm cũ mèm suốt nhiều năm qua của chúng là đòi “xóa bỏ quyền lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên quyết để hòa giải, hòa hợp dân tộc” - cho dù họ biết rõ nhân dân Việt Nam không bao giờ chấp nhận sự mặc cả vô lý ấy.

Lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta thời nào cũng có những kẻ vì lợi ích của bản thân mà quên đi lợi ích quốc gia, dân tộc. Có người bị mua chuộc hoặc bị “tẩy não” mà có tội với đất nước, nhân dân. Tuy nhiên, với truyền thống nhân nghĩa, nhân văn nên từ xa xưa, ông cha ta đã thực hành đạo lý “đánh kẻ chạy đi…”. Huống hồ không phải bất cứ ai ra đi cũng vì nợ máu với nhân dân, vì hận thù giai cấp mà phải chạy trốn. Bà con kiều bào ta, dù ra đi vì bất cứ lý do gì thì đa phần vẫn đau đáu hướng về quê hương, nguồn cội. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn cảm thông, sẻ chia những khó khăn, vất vả với bà con xa xứ và luôn tin tưởng rằng, người Việt Nam dù ở đâu, làm gì cũng luôn giữ gìn và truyền lại cho thế hệ mai sau lòng tự hào dân tộc. Thế nên, trò quấy phá dịp lễ Quốc khánh này cũng chỉ là “ném đá ao bèo” của những kẻ chống phá mà thôi./.
Yêu nước ST.

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN LÀM GÌ TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG?

     Thời gian qua, nhiều cán bộ, đảng viên (CB, ĐV) có ý thức, trách nhiệm cao trong sử dụng mạng xã hội (MXH). Tuy nhiên, vẫn còn một số CB, ĐV sử dụng MXH với mục đích không lành mạnh, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trên thế giới ảo.

Tại Việt Nam, nhu cầu sử dụng MXH liên tục tăng nhanh trong những năm gần đây. Hiện một số MXH đang được thịnh hành ở nước ta, như: Facebook, Zalo, TikTok, YouTube... Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến quý I-2023, Việt Nam có hơn 70 triệu thuê bao internet, trong đó có hơn 70 triệu tài khoản MXH. Trung bình mỗi ngày, người Việt Nam vào MXH hơn 2 giờ. Đối tượng sử dụng thường xuyên nhất là nhóm tuổi từ 15 đến 40 và tập trung chủ yếu vào học sinh, sinh viên, CB, ĐV, công chức và người lao động.

Đối với CB, ĐV, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị nói riêng khi tham gia MXH, nhiều người đã tận dụng những ưu thế và sử dụng MXH phục vụ hiệu quả cho công việc. Thông qua MXH, một bộ phận CB, ĐV nhanh chóng chia sẻ thông tin, trao đổi kinh nghiệm công tác; tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lan tỏa những tấm gương điển hình tiên tiến, mô hình hay, cách làm hiệu quả trong công việc chuyên môn...

Đánh giá về vấn đề này, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương khẳng định, về cơ bản, đội ngũ CB, ĐV luôn giữ vững và phát huy được phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị khi tham gia hoạt động, phát ngôn trên MXH. Đại đa số đảng viên có ý thức tốt, trình độ nhận thức cao, hiểu rõ, đầy đủ các vấn đề thực tiễn của đất nước, địa phương, đơn vị. Họ chủ động đấu tranh chống lại những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch bằng cách tích cực tuyên truyền quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và thường xuyên lan tỏa những thông tin tích cực, thông điệp nhân văn với phương châm “lấy cái đẹp dẹp cái xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực” và đẩy mạnh đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Tuy nhiên, qua khảo sát thực tế cũng cho thấy, bên cạnh những mặt tích cực, MXH đã và đang tiềm ẩn rất nhiều yếu tố rủi ro đối với CB, ĐV. Mặc dù Ban Bí thư đã có Quy định số 85-QĐ/TW ngày 7-10-2022 về việc CB, ĐV thiết lập và sử dụng trang thông tin điện tử cá nhân trên internet, mạng xã hội, tuy nhiên, một bộ phận CB, ĐV khi tham gia MXH nhưng thiếu tỉnh táo, có những bình luận, chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng hoặc thông tin mang tính chất kích động vào các mục đích xấu, như công kích cá nhân, bàn luận, suy diễn những nội dung không có thật. Mặt khác, một bộ phận CB, ĐV có thói quen thường xuyên truy cập vào các trang mạng xã hội tại nơi làm việc với mục đích cá nhân như: Bàn luận, mua sắm, bán hàng online, chơi game trực tuyến... làm giảm hiệu quả công việc, lãng phí thời gian làm việc tại cơ quan. Đó là chưa kể, có những CB, ĐV chưa ý thức sâu sắc về hành động, việc làm của mình khi tham gia MXH nhưng có thể để lại những hậu quả nặng nề. Không ít người sẵn sàng chia sẻ, lan truyền thông tin mà họ cho là “giật gân”, tin “hot” để câu like, câu view. Lại có CB, ĐV cố tình đưa những thông tin, hình ảnh, bình luận ác ý, phát ngôn tùy tiện, thiếu tính xây dựng, gây ảnh hưởng xấu đến uy tín của đội ngũ CB, ĐV, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ...

Chia sẻ quan điểm về vấn đề này, đồng chí Lâm Hồ Sỹ, Phó trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bạc Liêu cho rằng, những hành vi tiêu cực, chưa chuẩn mực của CB, ĐV khi tham gia MXH có nhiều nguyên nhân, song rõ nhất là do sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở một bộ phận CB, ĐV. Trên thực tế, vẫn còn một bộ phận CB, ĐV thờ ơ, vô cảm trước những thông tin sai trái, thông tin xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trong đời sống xã hội hay trên không gian mạng, cái đúng phải được bảo vệ, cái sai trái cần phải kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn, loại bỏ thì chúng ta mới xây dựng được xã hội văn minh cũng như một môi trường trên không gian mạng thực sự lành mạnh. Điều này, một công dân bình thường cũng phải làm và có thể làm được, là CB, ĐV càng phải gương mẫu đi đầu.

Từ những vấn đề trên thấy rằng, việc giám sát, quản lý CB, ĐV trên không gian mạng và nâng cao ý thức, trách nhiệm của CB, ĐV khi tham gia MXH là yêu cầu cấp thiết đặt ra cho mỗi cấp ủy, tổ chức đảng. Mặt khác, từng CB, ĐV khi tham gia MXH phải chú trọng thường xuyên nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội trong CB, ĐV, quần chúng nhân dân tại địa phương, cơ quan, đơn vị nơi mình sinh sống và công tác, nhất là theo dõi, nắm bắt trên không gian MXH. Qua đó kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình... không để đồng chí, đồng nghiệp của mình bị lôi kéo, dụ dỗ, vô tình hay cố ý chia sẻ, lan truyền những thông tin xấu độc trên không gian mạng.

Đặc biệt là, mỗi CB, ĐV cần quán triệt và thực hiện tốt ý kiến chỉ đạo của đồng chí Võ Văn Thưởng ngay từ khi đồng chí mới đảm nhiệm cương vị Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương: “Nếu mỗi CB, ĐV dùng smartphone, Facebook mỗi ngày chủ động chia sẻ cho nhau một bài báo hay, một clip tốt, viết một bình luận tích cực, tìm kiếm một thông tin tốt đẹp, gửi đi thông điệp hay thì đã góp phần làm cho công tác tư tưởng ngày càng tốt hơn”./.
Yêu nước ST.