Thứ Ba, 19 tháng 9, 2023

Bất tuân dân sự - một thủ đoạn nguy hiểm

 

Những năm gần đây, để thực hiện chiến lược "diễn biến hòa bình" chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch thường sử dụng một thủ đoạn mới mang tên "bất tuân dân sự". "Bất tuân dân sự" thể hiện tư tưởng cực đoan, "vô chính phủ", đang được lợi dụng gắn với cái gọi là xã hội dân sự để chống phá Đảng, Nhà nước, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.

"Bất tuân dân sự" - lịch sử và sự biến tướng

Thuật ngữ "bất tuân dân sự" lần đầu tiên xuất hiện trong tập tiểu luận của Henry David Thoreau-nhà văn, nhà tư tưởng người Mỹ-với nhan đề "Dân sự bất hợp tác", vào tháng 5-1849. Nội dung cơ bản của tập tiểu luận bàn về mối quan hệ giữa cá nhân (hoặc thiểu số công dân) với nhà nước. Theo đó, cá nhân (hoặc thiểu số công dân) có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể thực hành chống lại luật pháp của nhà nước nếu cảm thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số, bằng phương pháp "cách mạng hòa bình". 

Thực chất đây là quan điểm cực đoan, "vô chính phủ" của một kẻ vốn là phạm nhân (H.D. Thoreau viết tập tiểu luận này nhằm biện minh cho việc ông ta phải ngồi tù ở bang Massachusetts vì tội không đóng thuế). Mặc dù ở thời điểm ra đời, tác phẩm của H.D. Thoreau không gây được sự ảnh hưởng nào, nhưng sang thế kỷ 20, tư tưởng về một cuộc "cách mạng hòa bình" của ông được một số nhà hoạt động chính trị lợi dụng phát triển thành phương pháp đấu tranh bất bạo động như phong trào "Satyagraha" của Mahatma Gandhi đấu tranh giành quyền lợi cho người Ấn Độ ở Nam Phi (năm 1914) và giành độc lập cho Ấn Độ từ thực dân Anh (năm 1947); phong trào đấu tranh dân quyền ở Mỹ của Martin Luther King (thập niên 60 thế kỷ 20); phong trào đấu tranh chống phân biệt chủng tộc (chủ nghĩa Apartheid) ở Nam Phi của Nelson Mandela...

Đặc biệt, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc ra đời với tư tưởng chủ đạo là chuyển cuộc đấu tranh vào bên trong các nước XHCN. Từ đó, "bất tuân dân sự" từng bước trở thành một phương thức, thủ đoạn nằm trong mối liên hệ chặt chẽ với các phương thức, thủ đoạn khác của chiến lược "diễn biến hòa bình". Trong các cuộc "cách mạng ca hát", "cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở các nước Đông Âu và Liên Xô vào những năm cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21; "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi đầu những năm 2010... đều có dấu ấn của phong trào "bất tuân dân sự". Gần đây nhất là phong trào biểu tình nhằm lật đổ Chính phủ Bolivar ở Venezuela (từ năm 2017 đến nay); phong trào “cách mạng dù” của sinh viên Hồng Công (năm 2014 và 2019) đều thể hiện rất rõ thủ đoạn "bất tuân dân sự".

Như vậy, “bất tuân dân sự” khi được sử dụng trong tay chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động quốc tế đã trở thành một thủ đoạn phản cách mạng nhằm chống phá, lật đổ chính quyền, thay đổi chế độ chính trị ở những nước tiến bộ, không cùng "quỹ đạo" với chúng.

Kiểm soát thói hư, tật xấu của cán bộ công chức

 Bộ Nội vụ đang lấy ý kiến góp ý dự thảo Nghị định ban hành Bộ Quy tắc Đạo đức công vụ, trong đó có nhiều quy định liên quan đến chuẩn mực đạo đức và giao tiếp, ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức.

Trong cuộc sống, ai cũng từng phải đến cơ quan công quyền để xử lí các công việc cụ thể và ít nhiều đã trải nghiệm cách ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức. Và tôi cũng đã có dịp quan sát vấn đề này.

Có lần tôi đi làm xác nhận thường trú và thực hiện theo đúng hướng dẫn của cán bộ tiếp nhận. Ban đầu họ gợi mở “muốn lấy nhanh thì cần thêm một khoản phí nhẹ”.

Tuy nhiên, tôi kiên trì thực hiện theo đúng trình tự các thủ tục theo quy định thông thường và đã lấy xác nhận đúng thời gian. Khi tôi bày tỏ muốn “bồi dưỡng” cho cán bộ vì đã hỗ trợ thì họ nhắc khéo “ở đây có camera”. 

Điều 18 của dự thảo Nghị định quy định về ứng xử, giao tiếp qua điện thoại, cán bộ, công chức, viên chức phải xưng tên, đơn vị công tác, nội dung trao đổi đầy đủ, rõ ràng; ngôn ngữ giao tiếp văn minh, lịch sự, ngắn gọn, dễ hiểu, âm lượng vừa đủ nghe.

Có lẽ, đây cũng là dịp để “thử lòng” cán bộ cơ sở và tôi ra về với niềm vui nho nhỏ khi thấy một số cơ quan công quyền đã sử dụng các công cụ để kiểm soát chính cán bộ công chức, viên chức của mình và họ đã “biết sợ”.

Lần khác, khi lên quận để thực hiện việc liên quan đến đất đai, sau một hồi ngó nghiêng, tìm hiểu đủ các loại thủ tục, tôi ngồi ở phòng một cửa chờ đến lượt của mình, bỗng nghe tiếng oang oang của một cán bộ nói chuyện điện thoại với ai đó rất tự nhiên với "volume maximum".

Tôi và không ít người dân ở đấy cảm thấy ngỡ ngàng về cách giao tiếp quá ư là tự nhiên của vị cán bộ này. Họ nói chuyện hồn nhiên như chốn không người, coi nơi làm việc chẳng khác gì nhà mình.

Tôi chợt nghĩ nếu trong lúc này có một màn hình biểu thị cảm xúc đánh giá cán bộ để chấm điểm thì tôi sẽ đến ấn vào nút “chưa hài lòng”. 

Từ những thực tế trên có thể thấy, ngoài các yếu tố ngày càng ưu việt được các bộ, ngành ứng dụng, cập nhật dữ liệu, chuyển đối số... để phục vụ dịch vụ công cho người dân tốt hơn thì vấn đề nhận thức, ứng xử và thái độ của cán bộ, công chức, viên chức tại nơi làm việc có tác động rất lớn đến sự cải tiến trong chương trình cải cách tổng thể nền hành chính của bộ máy Nhà nước.

Đạo đức công vụ, thái độ ứng xử, giao tiếp là một yếu tố không thể thiếu để đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về đội ngũ cán bộ "vừa hồng vừa chuyên" trong tình hình mới.

Vì vậy, việc có một nghị định về đạo đức công vụ là hết sức cần thiết, giúp cho mối quan hệ mật thiết qua lại giữa người dân và chính quyền ngày càng tăng cường, gắn bó và tạo dựng niềm tin hết sức tốt đẹp giữa người dân với cán bộ, với các cơ quan Nhà nước.

Thái độ, nhận thức và lối ứng xử theo thói quen, theo bản năng cần được kiểm soát, hạn chế một cách tối đa đối với những cán bộ công chức, viên chức gắn với các cơ quan công quyền.

Sự tha hóa quyền lực từ những biểu hiện tưởng chừng như nhỏ nhất, ít được để ý nhất cũng chính là xuất phát từ thái độ ứng xử, giao tiếp với người dân của mỗi cán bộ. 

Một số người gắn với các cơ quan quyền lực đã tự cho mình cái uy đi kèm, tự cho rằng mình có chút quyền hay chút lực nào đó mà quên mất vai trò “phục vụ” của mình.

Dự thảo Nghị định về Bộ Quy tắc Đạo đức công vụ đã chia nhỏ, cụ thể những tiêu chí, dấu hiệu rất chi li về tác phong, đạo đức, thái độ, lời nói và ứng xử của cán bộ khi tiếp xúc và giải quyết các công việc với người dân tại nơi công sở.

Việc ban hành Bộ Quy tắc Đạo đức công vụ là rất cần thiết và hữu ích để mỗi cán bộ, công chức, viên chức kiểm soát được “thói hư, tật xấu” từ những việc nhỏ nhặt nhất, dần ý thức hơn vai trò “phục vụ” của mình. 

Đây cũng là công cụ để người dân tham chiếu, giám sát, nâng cao nhận thức về vị trí, tâm thế “là trung tâm, là chủ thể” của quyền lực trong một nhà nước pháp quyền với Chính phủ có các bộ phận cán bộ là “công bộc” - người phục vụ theo đúng nghĩa của nền hành chính hiện đại.

 

Hoàn thiện thể chế để không thể tham nhũng

 

Bộ trưởng Công an Tô Lâm cho rằng, trong chỉ đạo xử lý án tham nhũng, một trong những vấn đề được quan tâm là xác định sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế - xã hội để kiến nghị hoàn thiện thể chế, để “không thể tham nhũng”.

Làm một vụ việc cảnh tỉnh cả vùng, lĩnh vực

Trả lời chất vấn trước Quốc hội, Đại tướng Tô Lâm, Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, trong chỉ đạo xử lý án tham nhũng, ngoài tập trung xử lý đối tượng vi phạm, thu hồi tối đa tài sản tham nhũng, một trong những vấn đề được quan tâm là xác định sơ hở, thiếu sót trong quản lý kinh tế - xã hội để kiến nghị hoàn thiện thể chế, để “không thể tham nhũng”.

“Qua một số vụ án trong lĩnh vực y tế, giáo dục vừa qua, cơ quan điều tra có nhiều kiến nghị khắc phục sơ hở trong đầu tư công, đấu thầu, mua sắm thiết bị, góp phần minh bạch với mục tiêu làm một vụ việc cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực. Việc này để đối tượng tham nhũng phải bị xử lý, người đang có kiểu cách làm việc hay công ty có phương thức làm việc như thế phải chấm dứt ngay, khắc phục hiệu quả, nếu không sẽ bị xử lý”, Đại tướng Tô Lâm cho hay.

Nhấn mạnh một số lĩnh vực như chứng khoán, tài chính, doanh nghiệp thể hiện rõ điều đó, ông Tô Lâm cho rằng, vụ việc không nhiều nhưng để lại những bài học, kinh nghiệm phải rút ra, phải chấn chỉnh, hoàn thiện từ thông tư, nghị định, pháp lệnh, thậm chí là luật để phòng ngừa tội phạm.

Bộ trưởng Bộ Công an cho biết, qua các vụ án, cơ quan điều tra có kiến nghị hoàn thiện cơ chế quản lý phòng ngừa tội phạm. 

3 giải pháp để cán bộ không muốn, không dám và không thể tham nhũng

Cũng trong chiều nay, trả lời câu hỏi của đại biểu Quốc hội về các giải pháp để cán bộ không muốn, không dám và không thể tham nhũng, Viện trưởng VKSND Tối cao Lê Minh Trí nêu ra 3 giải pháp.

Giải pháp thứ nhất được ông Lê Minh Trí đề cập đến là về thể chế, cơ chế quản lý, hệ thống pháp luật phải chặt chẽ, không để lợi dụng, để “không thể” tham nhũng. 

Để cán bộ “không dám” tham nhũng, ông Trí cho biết, với những đối tượng chủ mưu, cầm đầu có ý đồ chiếm đoạt, vụ lợi sẽ điều tra xử lý nghiêm, giúp răn đe, làm cho đối tượng có ý đồ không lành mạnh, vi phạm pháp luật phải “chờn”. 

Để cán bộ “không muốn” tham nhũng, ông Trí kiến nghị cần có chế độ chính sách đãi ngộ tốt hơn cho cán bộ, công chức.

Theo Viện trưởng, hiện chế độ chính sách cho cán bộ các cấp nói chung, mặc dù thời gian qua có nhiều cố gắng, có chế độ định kỳ tăng lương, nhưng “hình như với chế độ chính sách hiện hành, cán bộ chỉ sống dựa vào đồng lương thì hết sức khó khăn”. 

“Còn lại một tỷ lệ sống được cũng nhờ vào các nguồn khác. Có khi nhờ cha mẹ, nhờ anh em, nhờ bên vợ, nhờ bên chồng… Tức là có sự hỗ trợ cho nhau để hoàn thành công việc. Còn với chế độ như hiện nay thì cán bộ rất khó khăn, đặc biệt là cấp cơ sở”, ông Trí cho hay.

Viện trưởng nhấn mạnh rằng, bên cạnh việc đòi hỏi công việc tốt, cũng phải nghiên cứu để có lộ trình, giải pháp để có chế độ chính sách đảm bảo mức tối thiểu cho cán bộ an tâm công tác.

Theo ông Trí, chúng ta cũng phải quan tâm để giảm bớt khó khăn cho cán bộ, công chức có tâm huyết, nhiệt huyết đang muốn làm, muốn giữ gìn đạo đức trong sáng của mình, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp.

Về chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm, Viện trưởng Viện KSND tối cao cho biết đây là chủ trương xuyên suốt của ngành, nhiệm vụ chính trị hàng đầu, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong công tác nghiệp vụ.

Đây là yêu cầu rất cao và ngặt nghèo, do đó thời gian qua, Ban Cán sự và Viện trưởng Viện KSND tối cao đã yêu cầu toàn ngành phải quán triệt nghiêm túc lời dạy của Bác Hồ đối với kiểm sát viên là công minh, chính trực, khách quan, thận trọng, khiêm tốn.

Đặc biệt, Viện trưởng Viện KSND tối cao đã có một chỉ thị chuyên đề chuyên về chống oan sai, trong đó đưa ra nhiều giải pháp cụ thể.

 

Nhiều vụ tham nhũng được cho là 'vùng cấm, nhạy cảm' đã được xử lý nghiêm

 

Thực hiện Kết luận Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”, ngày 28/12/2012, Bộ Chính trị ban hành Quyết định số 158-QĐ/TW về việc thành lập Ban Nội chính Trung ương và Quyết định số 159-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban Nội chính Trung ương.

Sau đó, ngày 08/3/2013, Ban Bí thư ban hành Quy định số 183-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương. Đây là lần tái lập Ngành Nội chính Đảng, bởi vì trước đó Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy đã được thành lập; ngành nội chính Đảng đã có truyền thống hơn 57 năm xây dựng và phát triển, với tổ chức tiền thân là Ban Pháp chế Trung ương được thành lập vào ngày 05/01/1966.

Nhìn lại sau 10 năm được tái lập, mặc dù gặp nhiều khó khăn, chịu sức ép lớn trước sự đòi hỏi và mong muốn của Nhân dân về đẩy mạnh công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC). Nhưng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy các cấp; sự phối hợp, giúp đỡ có hiệu quả của các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương và địa phương; sự quan tâm, cổ vũ, động viên kịp thời của báo chí và Nhân dân; cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên, người lao động ngành Nội chính Đảng đã nỗ lực lớn, quyết tâm cao, đạt nhiều kết quả quan trọng, toàn diện, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp.

Vị thế, vai trò của ngành Nội chính Đảng không ngừng được nâng cao; khẳng định chủ trương tái lập Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là đúng đắn, như phát biểu chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị tổng kết ngành Nội chính Đảng năm 2018. Nổi bật là:

Một là, toàn ngành đã nỗ lực cố gắng, thực thực hiện tốt chức năng tham mưu chiến lược, đề xuất với Đảng, Nhà nước, cấp ủy cấp tỉnh nhiều chủ trương, chính sách lớn về lĩnh vực nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp. Tích cực nghiên cứu, tống kết thực tiễn, tham mưu sơ kết, tổng kết, xây dựng, ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết, đề án quan trọng của Đảng về công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp.

Nhất là tham mưu, đề xuất nhiều chủ trương, quan điểm, giải pháp lớn, mạnh mẽ, quyết liệt về công tác PCTN, TC, góp phần xây dựng, hình thành phương châm “bốn không”: “không thể”, “không dám”, “không muốn”, “không cần” tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh việc tham mưu, đề xuất những quan điểm, chủ trương, định hướng lớn của Đảng trong công tác xây dựng pháp luật, bảo đảm cho pháp luật phù hợp với Cương lĩnh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng; ngành Nội chính Đảng đã tích cực nghiên cứu, thẩm định  nhiều đề án, văn bản quan trọng về nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp; tham mưu cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng, ban hành nhiều văn bản để tổ chức thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước về nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp. Đồng thời, chủ động nghiên cứu, tham mưu tổ chức nhiều hội nghị lớn về công tác nội chính và PCTN, TC, góp phần nâng cao nhận thức, hoàn thiện lý luận của Đảng về nội chính, PCTN, TC.

Hai là, chủ động, sáng tạo, bản lĩnh, quyết liệt, tham mưu có hiệu quả cho Đảng trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực, góp phần hiện thực hóa và khẳng định quyết tâm chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai” của Đảng, Nhà nước, của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo.

Ban Nội chính Trung ương đã chủ động, sáng tạo thực hiện tốt nhiệm vụ Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC (Ban Chỉ đạo); vừa tham mưu, đề xuất và theo dõi, đôn đốc thực hiện Chương trình công tác của Ban Chỉ đạo, vừa đề xuất Ban Chỉ đạo nhiều cơ chế, cách làm hay, có hiệu quả. Nhất là, vừa chủ động tham mưu về định hướng, chủ trương xử lý, cơ chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng; vừa tích cực theo dõi, đôn đốc, phối hợp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ điều tra, truy tố, xét xử các vụ án, xử lý các vụ việc, bảo đảm kịp thời, nghiêm minh, theo đúng quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo: Có vụ việc thì phải xác minh làm rõ; tích cực, khẩn trương, rõ đến đâu xử lý đến đó, xử lý cả hành vi tham nhũng, tiêu cực và hành vi dung túng, bao che cho tham nhũng, tiêu cực, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng, tiêu cực; có dấu hiệu tội phạm phải khởi tố điều tra và kết luận có tội thì phải truy tố, xét xử, theo đúng quy định của pháp luật, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào.

Trước hết, là tham mưu, đề xuất cơ chế theo dõi, chỉ đạo xử lý vụ án, vụ việc tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm theo 3 cấp độ và tham mưu cơ chế chỉ đạo, xử lý khó khăn, vướng mắc trong điều tra, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp, dư luận quan tâm. Có thể nói đây là khâu đột phá đầu tiên mà Ban Nội chính Trung ương đã phát hiện và tập trung tham mưu cho Ban Chỉ đạo chỉ đạo xử lý có hiệu quả các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực.

Đồng thời, đã tham mưu Ban Chỉ đạo chỉ đạo khắc phục những khâu yếu, vướng mắc trong xử lý tham nhũng, tiêu cực, như khắc phục tình trạng cho hưởng án treo không đúng đối với các tội phạm về tham nhũng; xử lý khó khăn, vướng mắc trong giám định, định giá tài sản và công tác thu hồi tài sản tham nhũng; chỉ đạo cơ chế phối hợp nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý tham nhũng trong quá trình kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, bảo đảm kịp thời, đồng bộ giữa xử lý kỷ luật của Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự.

Việc tham mưu chỉ đạo xử lý các vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đã trở thành phong trào thi đua của ngành Nội chính Đảng, góp phần tạo bước đột phá trong công tác phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực, được dư luận, Nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Trong 10 năm qua, từ khi tái lập đến nay, Ban Nội chính Trung ương đã tham mưu Ban Chỉ đạo đưa 436 vụ án, 583 vụ việc về tham nhũng, kinh tế vào diện theo dõi, chỉ đạo ở 3 cấp độ; trong đó, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC trực tiếp theo dõi, chỉ đạo 193 vụ án, 140 vụ việc.

Các vụ án, vụ việc sau khi đưa vào diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã được các cơ quan chức năng phối hợp chặt chẽ, khẩn trương, quyết liệt, điều tra, truy tố, xử lý nghiêm minh, không có vùng cấm, không có ngoại lệ, rất nghiêm khắc, nhưng cũng rất nhân văn.

Nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp, kể cả những vụ, việc tồn đọng từ nhiều năm trước và các vụ án xảy ra trong ngành, lĩnh vực chuyên môn sâu, hoạt động khép kín, bí mật, được cho là “vùng cấm, nhạy cảm”, cả khu vực công và khu vực tư, đã được tham mưu chỉ đạo điều tra, xử lý nghiêm minh, cả cán bộ đương chức và đã nghỉ hưu, cả cán bộ cấp cao, cả cán bộ cấp tướng trong lực lượng vũ trang, khẳng định quyết tâm rất cao của Đảng, Nhà nước trong công tác đấu tranh PCTN, TC.

Ba là, tích cực tham mưu đẩy mạnh cải cách tư pháp; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII) đã quyết định chủ trương hợp nhất Văn phòng Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương về Ban Nội Chính Trung ương, từ đây Ban Nội chính Trung ương có thêm chức năng là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương. Ngay sau Hội nghị Trung ương 6 (khóa XII), Ban Nội chính Trung ương đã khẩn trương tiếp nhận, sắp xếp lại cán bộ, công chức Văn phòng Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương; nghiên cứu, tham mưu Bộ Chính trị sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của Ban.

Tích cực tham mưu chỉ đạo triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ về cải cách tư pháp theo Chương trình trọng tâm công tác nhiệm kỳ 2016-2021. Nhất là tập trung tham mưu tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020; nghiên cứu, thẩm định, cho ý kiến sâu, có chất lượng đối với nhiều Đề án, báo cáo quan trọng nhằm đổi mới tổ chức, hoạt động của các cơ quan tư pháp, bổ trợ tư pháp; tích cực đổi mới về nội dung, nâng cao chất lượng các Phiên họp của Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp Trung ương bảo đảm thiết thực, hiệu quả...

Những kết quả đã đạt được đã góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động tư pháp, đấu tranh có hiệu quả các loại tội phạm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tổ chức, cá nhân; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh quá trình hội nhập quốc tế.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, Ban Nội chính Trung ương đã chủ trì, phối hợp tham mưu Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết về “Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới”.

Đây là lần đầu tiên Đảng ta ban hành Nghị quyết chuyên đề về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, với nội dung toàn diện, tổng quát cả về xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng pháp luật và cải cách tư pháp; xác định rõ 08 đặc trưng bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, 5 quan điểm, 3 trọng tâm và 10 nhiệm vụ, giải pháp để tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam - Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn mới; qua đó khẳng định mạnh mẽ quyết tâm của Đảng nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Bốn là, công tác theo dõi, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về nội chính và PCTN, TC được quan tâm, ngày càng nền nếp, hiệu quả. Ban Nội chính Trung ương đã chủ động tham mưu Ban Chỉ đạo chọn những khâu yếu, việc khó, những lĩnh vực trọng tâm để kiểm tra, giám sát, đôn đốc. Nhất là đã tham mưu Ban Chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thanh tra vụ việc, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng, kinh tế; kiểm tra, rà soát hoạt động tín dụng tại các ngân hàng thương mại nhà nước; kiểm tra chuyên đề về PCTN trong lĩnh vực thuế, hải quan; rà soát các kết luận thanh tra, kiểm toán; thanh tra, kiểm tra các dự án thất thoát, thua lỗ lớn, dư luận xã hội quan tâm; kiểm tra công tác thu hồi tài sản bị thất thoát, chiếm đoạt trong các vụ án hình sự về tham nhũng, kinh tế; kiểm tra việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện việc phát hiện, chuyển giao, tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố các vụ việc có dấu hiệu tội phạm về tham nhũng, kinh tế, tiêu cực và công tác giám định, định giá tài sản trong giải quyết các vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế, tiêu cực...

Ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy đã chủ động phối hợp Ủy ban kiểm tra cùng cấp tham mưu, đề xuất cấp ủy tổ chức thực hiện nhiều cuộc kiểm tra, giám sát về công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp. Qua đó, góp phần thúc đẩy, đôn đốc, nhắc nhở các cơ quan thực hiện tốt hơn công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp; tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc; nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, kinh tế phức tạp, dư luận quan tâm được chỉ đạo, xử lý dứt điểm; hiệu quả công tác thu hồi tài sản trong các vụ án tham nhũng, kinh tế được nâng lên. 

Năm là, ngành Nội chính Đảng có nhiều đóng góp tích cực, có hiệu quả vào công tác bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy đã chủ động theo dõi, nắm tình hình, phối hợp với các cơ quan chức năng tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các tỉnh ủy, thành ủy lãnh đạo, chỉ đạo xử lý kịp thời những vấn đề nổi lên về an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Nhất là những vấn đề liên quan đến an ninh tôn giáo, dân tộc; khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài; các vụ việc tụ tập đông người, biểu tình, đình công, lãn công, gây rối, nhằm âm mưu gây bạo loạn, lật đổ của các thế lực thù địch,... góp phần quan trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội của đất nước.

Sáu là, tổ chức, bộ máy của ngành Nội chính Đảng được củng cố, kiện toàn; kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng làm việc và hiệu quả công tác của đội ngũ cán bộ được năng lên; vị thế, uy tín của ngành Nội chính Đảng ngày càng được khẳng định và nâng cao. Ngay sau khi được tái lập, Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy đã nhanh chóng ổn định tổ chức, hoàn thiện các quy chế, quy trình công tác, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, xây dựng đội ngũ cán bộ ngành Nội chính Đảng “Trung thành, bản lĩnh, liêm chính, sáng tạo”; phối hợp tốt với các cơ quan, đơn vị liên quan, hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Không những chú trọng làm tốt công tác xây dựng ngành, Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy còn chủ động, tích cực tham gia thẩm định về công tác cán bộ theo phân cấp, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị.

Nhìn lại chặng đường 10 năm được tái lập, chúng ta vui mừng, phấn khởi trước những kết quả, thành tích đã đạt được, tô thắm thêm truyền thống vẻ vang 57 năm ngày truyền thống ngành Nội chính Đảng. Từ những kết quả quan trọng đạt được thời gian qua có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

 Một là, công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp là những lĩnh vực rất quan trọng, nhưng cũng rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm. Do vậy, phải tranh thủ được sự lãnh đạo, chỉ đạo của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban thường vụ, thường trực tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương. Nhất là sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước và người đứng đầu cấp ủy các cấp, đây là chỗ dựa, niềm tin, quyết định hiệu quả công tác tham mưu cho Đảng trong lĩnh vực nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp.

Hai là, phải nắm vững chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, có phương pháp, cách làm khoa học, bài bản và phải đúng vai, thuộc bài, như đồng chí Tổng Bí thư thường chỉ đạo. Đúng vai là phải thực hiện đúng chức năng của cơ quan tham mưu, giúp việc của Đảng về chủ trương, chính sách lớn thuộc lĩnh vực nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp; đồng thời là cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ về công tác nội chính của Đảng, Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo PCTN, TC và Ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp. Thuộc bài là phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, trước hết là về lĩnh vực nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp; nắm vững và thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn, không làm thay việc của cơ quan khác. 

Ba là, phải đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng, đồng bộ, kịp thời, trước hết trong tập thể lãnh đạo, giữa các vụ, đơn vị với nhau và với các cơ quan, tổ chức có liên quan, nhất là các cơ quan nội chính trong thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở quy định của Đảng, Nhà nước; phải quán triệt và thực hiện nghiêm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư đối với các cơ quan nội chính là “phải thực sự đoàn kết, trách nhiệm, phối hợp rất chặt chẽ, rất nhịp nhàng và thống nhất với nhau”; tuyệt đối không được “quyền anh, quyền tôi”, “cua cậy càng, cá cậy vây”.

Bốn là, phải coi trọng công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn; phải kết hợp nghiên cứu của Ban, của ngành với việc thu hút, tổng hợp, chắt lọc nghiên cứu của các cơ quan liên quan; thường xuyên đúc kết kinh nghiệm, bổ sung những vấn đề mới, cách làm hay, sáng tạo, góp phần nâng cao hiệu quả công tác, không ngừng đổi mới tư duy, hoàn thiện lý luận về công tác nội chính, PCTN, TC và cải cách tư pháp. 

Năm là, phải thường xuyên xây dựng, kiện toàn tổ chức bộ máy, chăm lo đội ngũ cán bộ, công chức, xây dựng đội ngũ chuyên gia và cộng tác viên chuyên sâu trên các lĩnh vực, coi đây là nhiệm vụ then chốt. Muốn làm mạnh trước hết phải làm đúng, muốn làm đúng phải có kiến thức, kinh nghiệm. Do đó, cán bộ, công chức ngành Nội chính phải khiêm tốn, cầu thị, gương mẫu, tâm huyết, phải có bản lĩnh, có dũng khí bảo vệ cái đúng, kiên quyết đấu tranh không khoan nhượng với cái sai; giữ mình trong sạch, liêm chính, thường xuyên học hỏi nâng cao kiến thức, tích lũy kinh nghiệm để đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.

Nhìn lại chặng đường hơn 57 năm xây dựng và trưởng thành, nhất là 10 năm tái lập trở lại đây, mặc dù phải đối diện với nhiều khó khăn, thử thách, nhiều vấn đề mới nảy sinh, phức tạp, nhạy cảm, nhưng ngành Nội chính Đảng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, không ngừng trưởng thành và phát triển, đã góp phần rất quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, PCTN, TC, xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Trong thời gian tới, phát huy truyền thống vẻ vang của ngành Nội chính Đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, nhân viên Ban Nội chính Trung ương nói riêng và ngành Nội chính Đảng nói chung quyết tâm nỗ lực phấn đấu, đoàn kết, trung thành, liêm chính, bản lĩnh, tận tụy, sáng tạo, vượt qua khó khăn, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với niềm tin của Đảng và kỳ vọng của Nhân dân.

(Tiêu đề do VietNamNet đặt)

 

Quyết tâm đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực

 

Tròn 1 năm sau Đại hội XIII của Đảng thành công, ngày 21-1, Ban chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (BCĐ) cho biết Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã tập trung kiểm tra, xử lý kỷ luật và kiến nghị, yêu cầu xử lý kỷ luật 12 tổ chức đảng và 20 đảng viên thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý liên quan đến các vụ án, vụ việc Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo (trong đó có 3 ủy viên, nguyên ủy viên Trung ương Đảng, 2 thứ trưởng, 1 nguyên chủ tịch tỉnh, 1 nguyên phó bí thư tỉnh ủy, 13 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang)…

 

Theo đó, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố, điều tra 2.130 vụ/4.084 bị can, truy tố 2.024 vụ/4.056 bị can, xét xử sơ thẩm 1.898 vụ/3.471 bị cáo về các tội tham nhũng, lợi dụng chức vụ, kinh tế; trong đó, tội phạm tham nhũng đã khởi tố, điều tra 266 vụ/646 bị can; truy tố 250 vụ/643 bị can; xét xử sơ thẩm 214 vụ/525 bị cáo.

Riêng các vụ án, vụ việc thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã khởi tố mới 8 vụ án/38 bị can, khởi tố thêm 78 bị can trong 14 vụ án; kết thúc điều tra 13 vụ án/123 bị can, kết luận điều tra bổ sung 4 vụ/52 bị can, ban hành cáo trạng truy tố 15 vụ án/151 bị can, xét xử sơ thẩm 15 vụ án/86 bị cáo, xét xử phúc thẩm 9 vụ án/40 bị cáo...

Từ số liệu nêu trên minh chứng cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng ở nhiệm kỳ Đại hội XIII tiếp tục không dừng, không nghỉ, không có vùng cấm. Cùng với đó, là công tác đấu tranh phòng, chống tiêu cực với trọng tâm là sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".

Đánh giá công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực trong năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực tiếp tục được đẩy mạnh, đạt nhiều kết quả rõ rệt, có mặt cao hơn năm trước, khẳng định quyết tâm mạnh mẽ, "không ngừng", "không nghỉ", không vì chống dịch mà "chùng xuống, không xử lý" của Đảng, Nhà nước trong đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố thêm niềm tin của nhân dân. Công tác điều tra, truy tố, xét xử tiếp tục được đẩy mạnh; xử lý nghiêm minh, kịp thời nhiều vụ án, vụ việc tham nhũng, tiêu cực nghiêm trọng, phức tạp, dư luận xã hội quan tâm, "không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai".

Về nhiệm vụ trọng tâm công tác năm 2022, Tổng Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức Đảng, cơ quan chức năng phải kiên quyết, kiên trì đẩy mạnh hơn nữa công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Cạnh đó, phải xử lý nghiêm, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng, kỷ luật hành chính và xử lý hình sự đối với những trường hợp vi phạm, bất kể người đó là ai… Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện thể chế để "không thể tham nhũng"… 

Cùng với đó, Tổng Bí thư đề nghị trong năm 2022 tập trung chỉ đạo kết thúc điều tra 16 vụ án, kết thúc xác minh, xử lý 40 vụ việc; truy tố 20 vụ án; xét xử sơ thẩm 22 vụ án. Nhất là tập trung chỉ đạo xử lý vụ án xảy ra tại Công ty Việt Á và các vụ việc, vụ án liên quan đến lĩnh vực y tế; các vụ việc, vụ án xảy ra tại Khánh Hòa, TP HCM, Đồng Nai, An Giang…

Nguyễn Hưởng

 

Không nên quá hoang mang khi F0 liên tục tăng

(PLO)- Lãnh đạo Sở Y tế TP.HCM khuyến cáo người dân không nên quá hoang mang khi số ca nhiễm COVID-19 liên tục tăng cao nhưng cũng không mất cảnh giác.

Chiều 24-2, Ban chỉ đạo phòng chống dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế TP.HCM đã tổ chức họp báo định kỳ thông tin về tình hình dịch trên địa bàn.

BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG TIẾP THÊM NIỀM TIN VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 

Đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có sự lựa chọn kỹ lưỡng, đúng đắn, tiếp tục, kế thừa những thành tựu và khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến đã đạt được của chế độ tư bản chủ nghĩa và của nhân loại để phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng một nền kinh tế hiện đại.

Là một cán bộ sĩ quan trong ngành công an của Lào. Tôi đã từng có những năm tháng được đào tạo và học tập tại Việt Nam. Đọc bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, bản thân tôi đã cảm nhận được rất nhiều về nội dung của bài viết như sau:

Về lý luận, bài viết đã nêu rõ ràng chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà trong đó con người có quyền được bình đẳng. Không phân biệt giàu nghèo. Một chế độ xã hội mang lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Một chế độ xã hội hướng tới mục tiêu làm cho dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh có nền kinh tế phát triển cao, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Người dân các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển. Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Có quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước trên thế giới.

Như vậy, việc đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vô cùng thiết yếu và quan trọng, kiên định không thể đổi thay được. Điều đó cho thấy con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là đúng đắn, rõ ràng, chặt chẽ, kiên định. Như những lý luận đồng chí Tổng Bí thư đã nêu trong bài viết.

Về mặt thực tiễn, tôi đã nhận biết được con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là một chặng đường lâu dài, đầy khó khăn, gian khổ, đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu bền bỉ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giành độc lập cũng như công cuộc xây dựng, phát triển và đổi mới đất nước. Sự lãnh đạo sáng suốt và đường lối đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam xuyên suốt một chặng đường dài, qua các giai đoạn lịch sử là điều kiện tiên quyết để đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được xác định rõ ràng, việc hoạch định và thực hiện đường lối đổi mới trong những năm qua cơ bản là đúng đắn, đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất nước Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, trong đó có sự lựa chọn kỹ lưỡng, đúng đắn, tiếp tục, kế thừa những thành tựu và khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến đã đạt được của chế độ tư bản chủ nghĩa và của nhân loại để phát triển nhanh lực lượng sản xuất và xây dựng một nền kinh tế hiện đại.

 Trong các nghị quyết Đại hội Đảng đặt ra ở từng giai đoạn, từng thời kỳ đã có sự bổ sung, đổi mới không ngừng để phù hợp với sự phát triển của từng giai đoạn, từng thời kỳ cụ thể; phù hợp với sự phát triển đi lên của đất nước Việt Nam nói riêng và sự phát triển của thế giới nói chung.

 Đất nước và nhân dân Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công, nhiều thắng lợi vẻ vang rực rỡ trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó chính là sự phát triển tiến bộ không ngừng về mọi mặt, trong tất cả các lĩnh vực khác nhau như kinh tế, văn hóa, xã hội... Sự phát triển khả quan đó đã dần dần làm cho đất nước Việt Nam ngày càng giàu mạnh, kinh tế, văn hóa, phát triển không ngừng, nhân dân ngày càng có đời sống ấm no, hòa bình, hạnh phúc như ngày nay. Bên cạnh những thành tựu, thành công trên con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Bản thân tôi nhận thấy đồng chí Tổng Bí thư cũng đã nêu ra được những hạn chế còn phải khắc phục và những vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết. Song, theo tôi nhận thấy, quá trình xây dựng đất nước ở bất cứ một quốc gia nào trên thế giới cũng đều trải qua những hạn chế đó. Đồng thời, chúng ta cũng hiểu chính những hạn chế đó đã làm cho một số kẻ xấu, một số phần tử phá hoại và một số thế lực phản động dựa vào đó để bôi nhọ, xuyên tạc, nói xấu chế độ. Nhưng tôi tin Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn đã, đang và sẽ tiếp tục giải quyết, khắc phục những hạn chế đó một cách đúng đắn nhất. Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội đang dần dần từng bước phát triển không ngừng làm cho đất nước Việt Nam ngày càng phồn vinh, thịnh vượng.

Việt Nam luôn có mối quan hệ hữu nghị tốt đẹp với các nước bè bạn trên thế giới trong đó có nước Lào. Tình đoàn kết hữu nghị đặc biệt, sự gắn bó keo sơn lâu đời giữa Lào và Việt Nam không có gì lay chuyển nổi. Vì vậy công cuộc đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cũng ít nhiều có ảnh hưởng và đem lại nhiều bài học vô cùng quý báu đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển, đổi mới đất nước ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay.

Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại trong tôi nhiều cảm xúc tốt đẹp về đất nước, con người và dân tộc Việt Nam và tôi thấy những gì Việt Nam làm được thật vĩ đại.

Đại tá, Tiến sĩ BUN PHÊNG KHẾM MA NA - Trưởng khoa Cảnh sát Kinh tế Học viện Cảnh sát nhân dân Lào

ĐỌC TÁC PHẨM "THÉP ĐÃ TÔI THẾ ĐẤY"

 

"Thép đã tôi thế đấy" là tác phẩm tiêu biểu của nhà văn Liên Xô Nokolai Ostrovsky. "Cái quý nhất của con người là đời sống. Ðời người chỉ sống có một lần. Phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài, sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để đến khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người. Và ta phải sống gấp lên mới được vì tật bệnh vô lý hay một sự tình cờ bi đát nào đó có thể bỗng nhiên cắt đứt cuộc đời". Ðó là đoạn văn miêu tả tâm trạng của Pavel trong nghĩa địa quê hương, nơi những bạn bè bị quân thù treo cổ, khi anh vừa thoát khỏi cái chết do bệnh thương hàn ở công trường Bayarka. Ðoạn văn tiêu biểu cho nhân sinh quan cộng sản ấy đã được nhiều bạn trẻ trên khắp thế giới thuộc lòng và lấy làm châm ngôn sống.

Lý tưởng cao đẹp nhất - sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người, không chỉ bó hẹp trong một giai đoạn lịch sử đấu tranh giành chính quyền, không chỉ ở phạm vi một quốc gia nào, mà càng ngày, chúng ta càng thấy rõ sự nghiệp ấy chỉ mới bắt đầu. Nó không chỉ là một sự lựa chọn của một cá nhân, một giai cấp mà là sự nghiệp thống nhất của nhân dân toàn thế giới. Sau cuộc đấu tranh chống áp bức là cuộc đấu tranh chống đói nghèo bệnh tật, chống sự kỳ thị, khủng bố ..., cuộc đấu tranh để hoàn thiện bản thân và dân tộc. Chỉ khi đó từ "giải phóng" mới có một ý nghĩa thật sự. Vì vậy, "Thép đã tôi thế đấy" không chỉ là khúc tráng ca về thế hệ đầu tiên của thanh niên Xô-viết, những con người đã được tôi luyện trong lửa đỏ và nước lạnh như Pavel, Sergey, Valia, Rita, Pankratov, Okuniev ... mà là những vấn đề của hôm nay và của tương lai.

Sau khi Liên Xô sụp đổ, những giá trị lớn của văn học Xô-viết bị xem xét lại. Người ta không dám công khai đả kích vào "Thép đã tôi thế đấy" nhưng cũng có người cho rằng, đó là một thứ văn nghệ tuyên truyền, văn nghệ của một thời đã qua, ít có giá trị văn hóa ...

N.Ostrovsky là một chiến sĩ, có học vấn không cao, cả đời ông chỉ viết được hai cuốn sách ("Ra đời trong bão táp" cũng đã được dịch ra tiếng Việt) nhưng không phải vì thế mà giá trị văn hóa của tác phẩm lại không cao. Trước đây, nhà văn Ilia Erenbua đã từng coi "Thép đã tôi thế đấy" là Thánh kinh mới của thanh niên Xô-viết. Nó là cuốn sách gối đầu giường của nữ anh hùng Liên Xô Zoya, của Lý Tự Trọng, người thanh niên cộng sản Việt Nam đầu tiên. Ngay trong khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, cuốn sách đã được nhà báo Thép Mới (báo Nhân Dân) và Huy Vân dịch ra tiếng Việt, xuất bản năm 1954 và từ đó đến nay đã làm say mê hàng triệu trái tim tuổi trẻ, là nguồn sức mạnh to lớn cổ vũ thanh niên. Hiện nay, ở nước Nga sau cải tổ một tờ báo lớn viết: "Nokolai Ostrovsky và hình tượng của nhà văn là Pavel Corchaghin đã và đang là biểu tượng lớn của một nền văn minh vĩ đại".

Hai cuốn tiểu thuyết "Ra đời trong bão táp" và "Thép đã tôi thế đấy" lại mới được tái bản tại Việt Nam. Có một cậu bé lớp 9 đã thức suốt đêm để đọc một mạch 700 trang "Thép đã tôi thế đấy" vì không dứt được. Sức sống của tác phẩm không hề giảm sút .... Cho đến nay, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn là một trong những tác phẩm thành công nhất khắc họa chân dung người thanh niên cộng sản. Chừng nào con người còn những khát vọng cao cả, chừng đó, "Thép đã tôi thế đấy" vẫn còn là cuốn sách hấp dẫn, thôi thúc tiến lên./.

NGHĨ VỀ QUAN HỆ GIỮA MỸ VÀ VIỆT NAM

 

Nước Mỹ từng đưa ra Tuyên ngôn giải phóng nô lệ theo tinh thần chống bóc lột và chống nô dịch nhưng lại có các ông Tổng thống Mỹ tưởng tượng ra một Chủ nghĩa cộng sản như con ngáo ộp để rồi biến Việt Nam thành nạn nhân khi đưa nước Mỹ vào thế chân Pháp duy trì cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam nhân danh “ngăn chặn Chủ nghĩa cộng sản”. Cuộc chiến đã khiến Mỹ thua đau, mất hoàn toàn danh dự khi nhận ra sai lầm, và còn tốn hàng trăm tỷ USD cùng với hơn 58 ngàn lính Mỹ chết!

Ngày nay, ngược lại với thực tế cũng như những tuyên bố tốt đẹp về quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam, Mỹ vẫn dung túng những tổ chức và cá nhân chống thể chế Việt Nam. Mỹ vẫn nghĩ đủ cách dùng “mồi” đô la như với Goocbachov thời Liên Xô xưa, để câu nhử những kẻ “mang gen Goocbachov” ở Việt Nam, kích động chúng đòi Việt Nam thực hiện những chuyển đổi theo hướng tự do, dân chủ, văn minh kiểu Mỹ. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến thực trạng xã hội Việt Nam xuất hiện những điều nhố nhăng, những lời nói, việc làm chống lại hiến pháp và pháp luật, xét lại và “lật sử” trong các lĩnh vực khoa học xã hội, giáo dục, văn chương, văn hoá nghệ thuật và trong chính ngành nghiên cứu lịch sử. Những kẻ “mang gen Goocbachov ở” Việt Nam, có không ít người thuộc tầng lớp trí thức, tinh hoa, nhưng trước đồng đô-la, chúng hiện nguyên hình là những kẻ tinh ma, ranh ma và lưu manh. Vì tiền, chúng sẵn sàng thờ giặc làm cha, lộn ngược các giá trị chính, tà, thiện, ác, tốt, xấu. Chúng đã tự chọc mù mắt để không thấy những bài học nhãn tiền, như Goocbachov từng muốn chuyển hướng theo Mỹ nhưng kết quả là tan vỡ Liên Xô ….

Việt Nam đã từng đứng trên bờ vực của sự sụp đổ khi bị bao vây, cấm vận lâu dài, nên hiện tại với Trung Quốc và Mỹ, dù còn những điều không hay ta vẫn phải giữ mối quan hệ. Có điều, quan hệ với Mỹ là cần thiết nhưng chỉ nên mở rộng trong các lĩnh vực quan hệ về kinh tế, học hỏi khoa học công nghệ, … còn với các lĩnh vực như: khoa học xã hội, lịch sử, văn chương, văn hóa nghệ thuật thì cần phải hiểu có nhiều tiêu chí về giá trị của Mỹ ngược với Việt Nam. Vì vậy, chúng ta cần làm bạn với Mỹ, nhưng tuyệt đối không mắc mồi câu trở thành tay sai như Ngụy quyền Sài Gòn xưa để thực hiện chiến lược bá quyền của Mỹ./.

LỜI NGUYỀN CHÂU PHI

 

Lật quyển: “Những tù nhân của địa lý” (tác giả Tim Marshall), đọc mục: “lời nguyền Châu Phi”…, ta thấy: Diện tích của Châu Phi = 30,37 triệu km2, trong khi đó: diện tích của Trung Quốc = 9,6 triệu km2, diện tích của Mỹ = 9,8 triệu km2, diện tích của Châu Âu = 5,89 triệu km2 (không tính Nga); có nghĩa là Châu Phi lớn hơn Trung Quốc, Mỹ và Châu Âu cộng lại, nhưng trong hầu hết các bản đồ thế giới, Châu Phi được thể hiện với kích thước nhỏ hơn. Điều này đang được thực hiện với mục đích tạo ra tác động trực quan đến hình ảnh Châu Phi nhỏ bé, nhằm thao túng người Châu Phi, tẩy não họ và đánh lừa họ mọi lúc mọi nơi.

Thực tế: Châu Phi sở hữu 60% diện tích đất tốt cho nông nghiệp, sở hữu 40% trữ lượng vàng, 33% trữ lượng kim cương, 80% trữ lượng quặng Coltan (dùng trong sản xuất điện thoại và đồ điện tử), 60% lượng Cobalt (dùng để sản xuất pin xe hơi) và 90% trữ lượng nguyên liệu thô của thế giới; Châu Phi giàu mangan, sắt, gỗ, dầu mỏ và khí đốt tự nhiên, có những bãi biển đánh cá phong phú nhất trên thế giới; không gian của Châu Phi gấp ba lần không gian của Trung Quốc, sáu lần không gian của châu Âu và ba lần không gian của Hoa Kỳ; dân số Châu Phi là 1,3 tỷ người; Châu Phi là một lục địa đa dạng về văn hóa về khiêu vũ, âm nhạc, kiến ​​trúc, điêu khắc, .…

Năm 2014, Chỉ số phát triển Con người của Liên Hợp Quốc đã đặt Congo ở vị trí 186 trên tổng số 187 quốc gia được đo lường và 18 quốc gia dưới cùng trong danh sách đó đều thuộc về Châu Phi. Vấn đề là phương Tây, các công ty của họ và một số con rối Châu Phi đã phá vỡ sự ổn định của Châu Phi trong nhiều thập kỷ. Những gì diễn ra ở Châu Phi tương tự như Nam Mỹ, là những nước vô cùng giàu tài nguyên, khoáng sản. Mỹ và các nước châu Âu đã sử dụng những tay sát thủ kinh tế, biệt đội lính đánh thuê … để làm nhiễu loạn kinh tế, chính trị, khiến cho các nước này bị phụ thuộc và lâm vào cảnh nợ nần, đảo chính. Như Venezuela từng là một trong những nước giàu nhất Châu Mỹ Latin mà giờ đây bị khủng hoảng toàn diện … đều nhờ công rất lớn của các nước đầu sỏ thế giới. “Châu Phi bị nguyền rủa và bị ban phúc ngang nhau, phúc là có nguồn tài nguyên phong phú, nhưng bị nguyền rủa vì những thế lực bên ngoài đã đến cướp bóc chúng bấy lâu”./.

Nguồn: ST

EU IM LẶNG TRƯỚC VIỆC TÔN VINH CHỦ NGHĨA QUỐC XÃ Ở UKRAINE

 

Nhà hoạt động nhân quyền người Pháp Arno Klarsfeld tố cáo mong muốn rõ ràng của các quốc gia thành viên EU là giữ im lặng trước việc ca ngợi chủ nghĩa Quốc xã ở Ukraine. Được phát sóng trực tiếp trên Radio J của Journal de Dimanche, ngày 18/08/2023, ông giải thích:

"Châu Âu đã chiến đấu để giành chiến thắng trước chủ nghĩa Quốc xã. Đó là lý do tại sao sự im lặng của họ thật khó hiểu khi kể từ năm 2014, khi chính quyền Ukraine đã phá bỏ các tượng đài tôn vinh chiến thắng chủ nghĩa Quốc xã, đổi tên các sân vận động thể thao và các quảng cáo bằng tên của những người theo chủ nghĩa dân tộc Ukraine - tên của những người đã liên minh với Đức Quốc xã trong Chiến tranh thế giới thứ hai và đã xóa sổ hàng chục nghìn gia đình Do Thái. Sự thật này không thể bị bưng bít mãi mãi và vấn đề này phải được giải quyết - nếu Ukraine muốn gia nhập EU."

Nguồn: https://www.lejdd.fr/.../guerre-en-ukraine-cest-le-retour...

 

CẦN CHO LỚP TRẺ HIỂU BIẾT ĐÚNG VỀ LỊCH SỬ

 

Một ông bố khi xem sách giáo khoa lịch sử của con mình đến trang có mục liệt kê “các nhà chính trị, nhà hoạt động văn hóa, khoa học nổi tiếng” của Việt Nam thấy có nêu tên Trương Vĩnh Ký ngang hàng với các tên tuổi lớn như: Tô Hiến Thành, Chu Văn An, Hải Thượng Lãn Ông, Lê Quý Đôn, Cao Bá Quát, Đặng Văn Ngữ, Trương Định Của, Trần Đại Nghĩa, Văn Cao, Tô Ngọc Vân, …. Ông bố này đã dùng bút khoanh tên Trương Vĩnh Ký lại và ghi bên lề sách rằng: “Khi con học đến bài này thì con loại bỏ kẻ mà bố đã khoanh ô nhé, giặc đấy con. Con nên phát biểu trước lớp là: ông ta đã nhiều lần viết thư cầu viện nước Pháp xâm lược, giày xéo dân tộc Việt Nam ta. Ông ta không xứng đáng được nêu danh cùng các vị anh hùng đất nước kia. Sách họ in nhầm tên ông đấy”. Đây là một minh chứng lớn về việc rất cần sửa sai, “nhặt sạn” trong sách giáo khoa lịch sử và rất cần cho học sinh phổ thông học sử. Nhưng có lẽ số phận của môn sử vẫn chưa trải qua được các “kiếp nạn”, lúc là môn tự chọn sau thành môn tự chọn bắt buộc nhưng xin ý kiến bởi đủ thứ lo ngại, có hay không bắt buộc thi môn lịch sử, v.v.... 

Cũng như nhiều nước tiên tiến trên thế giới hiện nay, ở Mỹ, nơi vốn được cho là thiên đường của tự do, dân chủ vẫn yêu cầu phải dạy môn lịch sử ở các trường tiểu học. Và khoảng 3/4 trường trung học yêu cầu phải học môn sử mới đủ điều kiện tốt nghiệp. 46 bang có luật yêu cầu dạy lịch sử ở cấp trung học …. Lịch sử không phải chỉ là kiến thức mà đó là nguồn cội của một quốc gia, một dân tộc. Học để hiểu rõ về những giá trị của hòa bình, của tự do và của thống nhất. Thứ mà những lớp trẻ - những người nắm giữ vận mệnh của đất nước không hề chứng kiến và được cảm nhận trong dòng chảy thời gian của lịch sử. Thế nên, thay vì loay hoay bàn cãi, tại sao không dành thời gian, nguồn lực cần thiết để tạo ra một hệ thống giáo trình, sách giáo khoa lịch sử thật đúng đắn, chuẩn xác, có thể kết nối dòng chảy quá khứ vào tương lai một cách sinh động nhất. Để những đứa trẻ ngày hôm nay hiểu rằng, vì sao Trương Vĩnh Ký bị xem là giặc, chứ không phải vì bố chúng nói vậy!

Petrus Trương Vĩnh Ký (1837-1889), tên hồi nhỏ là Trương Chánh Ký, sau này đổi tên đệm thành Trương Vĩnh Ký, hiệu Sĩ Tải; là một nhà báo, nhà ngôn ngữ, một quan chức cao cấp trong chế độ cai trị thuộc địa Việt Nam của chính phủ thực dân Pháp trong thế kỷ XIX. Bên cạnh tài năng về ngôn ngữ, báo chí, ngay từ lúc còn sống, ông bị triều đình Huế khinh bỉ vì làm “tay trong” cho Pháp trong quá trình từng bước biến Việt Nam thành thuộc địa hoàn toàn. Cuối đời, ông cũng bị Chính phủ Pháp bỏ rơi vì không còn giá trị lợi dụng. Những đóng góp quan trọng giúp Trương Vĩnh Ký nhận được nhiều huân chương khen thưởng của Chính phủ Pháp chính là công trạng giúp Pháp đàn áp phong trào Cần Vương, đánh chiếm Bắc Kỳ, tích cực và ra mặt ủng hộ chính sách “đồng hóa” của thực dân Pháp. Ngay từ khi Trương Vĩnh Ký còn sống, dân gian đã xếp ông vào hàng ngũ “đại gian thần” cam tâm làm tay sai cho giặc, “chung mâm” với Hoàng Cao Khải, Lê Hoan .... Có nhiều nhân vật lịch sử, lúc đầu bị hiểu nhầm, sau này khoa học lịch sử đã tìm ra những bằng chứng xác đáng để minh rõ công - tội của họ. Nhưng Trương Vĩnh Ký, từ khi ông còn sống cho đến hôm nay, cái nhìn xuyên suốt và nhất quán, cả trong dân gian và các nhà sử học đều cho rằng ông là người có tội với đất nước, thực sự là tay sai cho thực dân Pháp. Việc một vài nhà sử học cố tình tuyên truyền ông ta “yêu nước của mình” là hành động “viết lại lịch sử”, một thứ cơ hội đã bị phê phán từ lâu. Nếu cứ lấy lý do “vì thực dân Pháp quá mạnh” nên Trương Vĩnh Ký đành “hùa theo” dù ông vẫn yêu nước, thì Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống... và rất nhiều kẻ tay sai bán nước khác cũng có quyền nhận rằng, chúng là “người yêu nước”(!) và “yêu nước theo cách riêng”(!).

Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch nhằm vào Việt Nam, có một thủ đoạn rất tinh vi là thúc đẩy phong trào “viết lại lịch sử”, “xét lại lịch sử” nhằm chạy tội cho những kẻ tay sai bán nước. Bằng cách đó, sẽ tạo ra sự hỗn loạn về các thang giá trị xã hội, dần dần gây hỗn loạn xã hội, đặc biệt là hỗn loạn giá trị tinh thần sẽ là nguyên nhân gây bất ổn xã hội một cách nhanh chóng. Vì vậy, bằng cách này hay cách khác, chúng sẽ tìm đến một số nhà sử học thiếu bản lĩnh, hám danh, hám lợi, khuyến khích họ “tự diễn biến”, tự chuyển hóa”. Và chính những nhân tố này sẽ tự giác đi làm cái việc mà kẻ thù của đất nước mong muốn: Tạo ra sự hỗn loạn về giá trị của lòng yêu nước, từng bước “giải giáp” thứ vũ khí lợi hại nhất của dân tộc, thành trì vững chắc nhất của sự nghiệp giữ nước – lòng dân./.

NHẬN DIỆN MỘT SỐ LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Những quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc nhữngthành tựu trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay tập trung trên những điểm sau: Một là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế của Việt Nam qua gần 40 năm đổi mới. Không khó để nhận ra âm mưu chống phá của các phần tử chống đối với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu”, “thay đổi thường xuyên, liên tục”, chúng luôn coi nhẹ, phủ nhận sạch trơn những thành tựu của công cuộc đổi mới; tuyên truyền những luận điệu xuyên tạc, trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước ta; kết hợp chống phá đường lối chính trị với chống phá trên lĩnh vực kinh tế với phương thức “lấy kinh tế để chuyển hóa chính trị”. Dựa vào những phương tiện truyền thông là các đài phát thanh, trang mạng phản động ở ngoài nước,các thế lực thù địch thường xuyên đăng tải các bài viết với nội dung xuyên tạc và bịa đặt trắng trợn về chính sách kinh tế của Việt Nam. Chúng vu cáo kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam là “sự lắp ghép khiên cưỡng”, “đầu Ngô mình Sở”. Chúng còn rêu rao rằng “đường lối phát triển kinh tế của Đảng ta là chủ quan, duy ý chí, thiếu khoa học” và giờ đây đang gặp rất nhiều khó khăn từ những tác động tiêu cực của KTTT như: tình trạng phân hoá giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư; năng lực quản lý kinh tế - xã hội của Nhà nước còn một số yếu kém... Hai là, xuyên tạc, chống phá những thành tựu trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lợi dụng những hạn chế trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên; "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, chúng cáo buộc Đảng ta đã thoái hóa, biến chất, không còn là Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập! Ngoài ra, các thế lực thù địch còn sử dụng chiêu bài "nội công, ngoại kích", bài xích Đảng Cộng sản Việt Nam đã chọn chủ nghĩa Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là sự lựa chọn sai lầm, là chủ thuyết “lạc đường”, "đi ngược lại với xu thế phát triển của nhân loại"! Ba là, xuyên tạc, phủ nhận những kết quả của Việt Nam trong thực hiện dân chủ, nhân quyền. Thời gian qua, các phần tử cơ hội chính trị và chống đối cho rằng “ở Việt Nam không có dân chủ vì thực hiện chế độ nhất nguyên, nhất Đảng”. Chúng lợi dụng những khó khăn về các mặt của đời sống xã hội Việt Nam trong công cuộc đổi mới, những thiếu sót trong việc thực hiện chính sách pháp luật, chính sách xã hội... để vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, đàn áp những cá nhân “bất đồng chính kiến, quan điểm”, "Việt Nam thiếu tự do, không có dân chủ, hạn chế quyền của công dân". Chúng bóp méo chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về dân tộc, tôn giáo... chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc với mưu đồ kích động mâu thuẫn, kích động biểu tình, bạo loạn “bất tuân dân sự”, gây mất trật tự an ninh chính trị và an toàn xã hội. Có thể nhận thấy, các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch tấn công vào hầu hết các lĩnh vực trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nước ta nhằm xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu to lớn của Việt Nam trong gần 40 năm đổi mới đất nước.

 XÂY DỰNG LÝ LUẬN SẮC BÉN GÓP PHẦN BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH, PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI THÙ ĐỊCH

“Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”(1) là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng của toàn Đảng và hệ thống chính trị, của các lực lượng vũ trang nhân dân. 

 Hiện nay, trước những diễn biến phức tạp, nhanh chóng và khó lường của tình hình thế giới, khu vực; những thuận lợi, thời cơ, triển vọng và cả những khó khăn, thách thức mới của tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội đất nước… đã xuất hiện và phát triển những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều cấp độ, trình độ và hình thức biểu hiện từ nhiều đối tượng khác nhau. Những quan điểm này của các thế lực thù địch; các phần tử phản động, thoái hóa, cơ hội chính trị, bất mãn và có cả những người trong nội bộ chúng ta do trình độ lý luận, trình độ nhận thức chính trị yếu kém mà nảy sinh những quan điểm sai trái, đang tấn công toàn diện, vừa trực tiếp vừa gián tiếp vào những vấn đề về tư tưởng, chính trị đến các vấn đề xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh; từ những vấn đề về đối nội đến các vấn đề đối ngoại; từ những vấn đề về chủ trương, chính sách đến các vấn đề thuộc tổ chức thực hiện; từ con người đến tổ chức, đặc biệt là tổ chức Đảng; từ quá khứ, lịch sử đến hiện tại và cả tương lai phát triển của dân tộc; từ cả những thành tựu, ưu điểm đến những hạn chế, nhược điểm, khó khăn, thách thức đối với chúng ta…Điều đó đã và đang gây nên nhiều nguy hại đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đáng chú ý là, những quan điểm sai trái, thù địch chống phá chúng ta được các thế lực thù địch và những kẻ đưa ra cố tình luận chứng và khoác cho một cái vỏ “khoa học và khách quan”, vì dân, vì nước, vì sự phát triển của quốc gia dân tộc Việt Nam. Nhiều người trong số họ còn có trình độ học vấn, trình độ lý luận khá cao. Đây thực sự là khó khăn, thách thức đối với chúng ta trong việc làm thế nào để đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, thù địch một cách có hiệu quả.

Để bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch, nhất thiết chúng ta phải xây dựng được hệ thống lý luận thật sự sắc bén. Lý luận sắc bén thực chất là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh được các chủ thể nhận thức đúng đắn, thật sự sâu sắc trên lập trường của giai cấp công nhân, nắm vững bản chất cách mạng và khoa học, làm tươi mới và vận dụng sáng tạo, phát triển trong đời sống xã hội, trong thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Lý luận sắc bén để đấu tranh có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch còn là đường lối đúng đắn của Đảng trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và phù hợp với thực tế Việt Nam.

Nội hàm cơ bản và tính thực tiễn của lý luận sắc bén biểu hiện ở chỗ, nó phải có đủ sức, đủ khả năng vạch rõ được âm mưu, thủ đoạn, tính chất sai trái, phản khoa học, phi lịch sử, tính chất nguy hại... của các quan điểm sai trái, thù địch, phải đấu tranh, phản bác thật sự thuyết phục. Thực tế, lý luận đấu tranh, phản bác của chúng ta đôi lúc còn thiếu độ sắc bén, tính thuyết phục chưa cao. Không ít bài viết đấu tranh mới chủ yếu nhấn mạnh tính chất phản động, chống Đảng, chống chế độ, mà chưa vạch rõ được tính chất sai trái, phản khoa học của các quan điểm sai trái, thù địch. 

Một số công trình khoa học, tác phẩm, bài đấu tranh còn thoát ly, xa rời thực tiễn xã hội và thực tế đấu tranh, đưa ra quan điểm ở dạng mô phỏng, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, thậm chí mô phỏng còn hời hợt, nông cạn và chưa cắt nghĩa được đủ độ sâu các vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Không ít công trình nghiên cứu sử dụng các luận điểm kinh điển chỉ để minh họa, không phân tích sâu sắc bản chất của các sự vật, hiện tượng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh bị xơ cứng, thiếu tính sáng tạo, sống động, nên đấu tranh, phản bác kém hiệu quả.

Xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một vấn đề tất yếu, rất cấp thiết và đặc biệt quan trọng hiện nay. Đó không phải là hoạt động tức thì, mà là một quá trình luôn gắn chặt với thực tiễn đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh phản bác, cũng đồng thời là quá trình vận dụng, đưa lý luận vào thực tiễn đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, tiếp tục bổ sung, hoàn thiện lý luận gắn bó chặt chẽ, đảm bảo cho nhiệm vụ đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả.

Trong quá trình xây dựng lý luận sắc bén để đấu tranh, phản bác cần quán triệt sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Lý luận là đem thực tế trong lịch sử, trong kinh nghiệm, trong các cuộc tranh đấu xem xét, so sánh thật kỹ lưỡng rõ ràng, làm thành kết luận. Rồi lại đem nó chứng minh với thực tế. Đó là lý luận chân chính”(2). NVT st

 

 SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI MỘT CÁCH ĐÚNG ĐẮN

Mạng xã hội có nhiều lợi ích không thể phủ nhận nhưng cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy, đòi hỏi chúng ta phải là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong."

Trong thời đại hiện nay, mạng xã hội đang là xu thế và ngày càng được nhiều người sử dụng, nhất là lớp trẻ. Nhiều mạng xã hội đang hoạt động song đặc tính chung của chúng là người dùng tự cung cấp nội dung, ý tưởng và chia sẻ rộng rãi trên internet.

 

Mạng xã hội có nhiều lợi ích, trong đó có việc giúp chúng ta nhanh chóng cập nhật tin tức đời sống xã hội; kết nối một cách thuận tiện và không tốn kém các mối quan hệ khi chúng ta không thể gặp gỡ trực tiếp người thân, bạn bè, đồng nghiệp, đối tác…; nâng cao kỹ năng sống và sự hiểu biết về mọi lĩnh vực; cảnh báo mọi người để tránh được nhiều hiểm họa trong cuộc sống, nâng cao tinh thần cảnh giác.

Song mạng xã hội cũng gây ra nhiều tác hại và hệ lụy mà nguy hiểm nhất là làm trì trệ các hoạt động sống của con người (ăn, ngủ, nghỉ, làm việc); gây tâm trạng tiêu cực khi chúng ta tiếp nhận nhiều thông tin xấu; lấy mất quá nhiều thời gian khi chúng ta lướt web, chơi game, "chém gió" thiếu kiểm soát; tạo ra nguy cơ tiếp xúc với các nguồn tin lá cải không chính xác, không được kiểm chứng, nhằm mục đích câu "view" câu "like."

 

Ngoài ra, mạng xã hội là nơi hoàn hảo để những người "ngáo" quyền lực thể hiện bản thân. Việc thể hiện bản thân quá đà lại nhận được sự cổ vũ của "cư dân mạng" trong thời gian dài sẽ dẫn đến con người ta lẫn lộn giữa đời thực và thế giới ảo, hoang tưởng về quyền lực, vượt ra khỏi ranh giới đạo đức, có thể phải đối mặt với bản án hình sự.

 

Có những vấn đề phức tạp, khiến người dùng mạng xã hội thiếu tỉnh táo không biết đâu là được phép, đâu là điều cấm kỵ. Do đó, người sử dụng mạng xã hội phải thực sự chú ý và được trang bị những kiến thức cần thiết để bảo đảm rằng mình sử dụng không gian mạng có trách nhiệm, không vi phạm quy định của pháp luật có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật An ninh mạng và vi phạm Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội.

 

Theo Nghị định 15, mức phạt tiền tối đa trong các lĩnh vực viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin đối với cá nhân là 100 triệu đồng. Hành vi lưu trữ, truyền đưa thông tin giả mạo, sai sự thật, vu khống, xuyên tạc, xúc phạm uy tín của tổ chức và danh dự, nhân phẩm của cá nhân bị phạt 50-70 triệu đồng.

 

Mức phạt 50-70 triệu đồng cũng được áp dụng đối với hành vi cung cấp thông tin cổ súy các hủ tục, mê tín, dị đoan, dâm ô, đồi trụy, không phù hợp với thuần phong, mỹ tục của dân tộc.

 

Luật pháp, các quy định, quy tắc ứng xử về mạng xã hội chỉ phát huy tác dụng khi chúng ta là những người sử dụng thông thái, biết "gạn đục, khơi trong"./.