Thứ Tư, 20 tháng 9, 2023

NHẬN THỨC ĐẶC ĐIỂM Ý THỨC XÃ HỘI NƯỚC TA TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA, HỘI NHẬP THEO QUAN ĐIỂM ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Đặc điểm của ý thức xã hội theo quan điểm Văn kiện Đại hội XIII được thể hiện trên những nội dung cơ bản sau:

Một là, ý thức xã hội ở nước ta hiện nay được hình thành củng cố, phát triển trên nền tảng kinh tế - vật chất, tinh thần phản ánh sự ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Thực tiễn sự vận động của nền kinh tế đã kiểm nghiệm nhờ kinh tế thị trường, đất nước thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, phát triển đạt được “những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử”. Những thành tựu đó là cơ sở quan trọng để Đảng, Nhà n­ước ta đề ra và thực hiện chính sách xã hội, bảo đảm, nâng cao đ­ược lợi ích vật chất và tinh thần, lợi ích chung và lợi ích riêng, lợi ích tr­ước mắt và lợi ích lâu dài đối với nhân dân. Đồng thời, tạo cơ sở cho xã hội có nhiều thay đổi trong đời sống văn hoá, tinh thần, những giá trị truyền thống văn hoá, đạo đức tốt đẹp của dân tộc tiếp tục đ­ược phát huy.

Chế độ chính trị nhất nguyên một Đảng lãnh đạo là nhân tố có vị trí, vai trò quyết đnh đối với bản chất, nội dung và khuynh hướng vận động, phát triển đời sống tinh thần xã hội, trong đó có ý thức xã hội. Sự lãnh đạo tài tình của Đảng, sự quản lý hiệu quả của Nhà nước đã và đang tiếp tục chứng minh tính ưu việt, đúng đắn và củng cố niềm tin chính trị trong nhân dân. Tạo cơ sở khơi dậy tình cảm cao đẹp, niềm tin vững chắc, ý chí quyết tâm và nỗ lực hiện thực hóa “khát vọng phát triển đất nước” ở con người Việt Nam.

Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần vững chắc để định hướng cho sự phát triển của các hình thái ý thức xã hội. “Bảo vệ và phát huy các giá trị tốt đẹp, bền vững trong truyền thống văn hóa Việt Nam...; xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại” có ý nghĩa quan trọng để giữ gìn, phát triển văn hóa và con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước.

Ý thức xã hội ở nước ta phản ánh tính hai mặt, sự biến động và những diễn biến phức tạp của của công cuộc đổi mới toàn diện, mở của, hội nhập, toàn cầu hóa trong bối cảnh tình hình thế giới trong thế đối đầu, cạnh tranh giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền biển đảo cũng như những tác động an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp. Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và các vấn đề an ninh phi truyền thống khác, nhất là an ninh mạng, ngày càng tác động mạnh mẽ, nhiều mặt, đe dọa nghiêm trọng đến sự phát triển ổn định, bền vững của thế giới, khu vực và đất nước ta”. Do đó, ý thức xã hội ở nước ta chịu sự tác động và phản ánh mâu thuẫn cơ bản của thời đại. Tuy nhiên, xu hướng vận động, phát triển chung, cơ bản, chủ yếu theo định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn là cơ bản, phản ánh và biểu hiện tính tiến bộ, ưu việt và những thành tựu to lớn của công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Hai là, yếu tố tiến bộ, cách mạng của ý thức xã hội vẫn là chủ yếu, động lực tinh thần quan trọng đối với sự phát triển xã hội.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng được củng cố, phát triển trong xã hội, là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động cách mạng. Định hướng cho sự phát triển đúng đắn và lành mạnh của đời sống tinh thần, ý thức xã hội. Là nền tảng tư tưởng chủ yếu, cơ bản, chính thống chi phối đến bản chất và khuynh hướng phát triển của các hình thái của ý thức xã hội khác trong đời sống tinh thần xã hội. Đảng ta đánh giá “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh” chính là “kinh nghiệm quý báu” để Đảng ta lãnh đạo dân tộc ta giành được những thắng lợi vừa qua.

Đảng không phủ nhận sạch trơn, gạt bỏ hết những tư tưởng, hình thái ý thức xã hội khác ra khỏi đời sống tinh thần xã hội. Khẳng định trong đời sống tinh thần xã hội nước ta đã, đang và sẽ con tiếp tục tồn tại nhiều ý thức hệ khác, cả trong quan điểm chính trị, pháp quyền, văn học, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị... đang ảnh hưởng nhất định đến đời sống tinh thần, ý thức xã hội trong một bộ phận nhân dân. Mỗi chúng ta không được có thái độ phiến diện, phủ nhận sạch trơn, bên cạnh những tư tưởng, tập quán, quan niệm, lối sống lạc hậu, phải kế thừa, tiếp thu những tinh hoa giá trị nhân loại đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa để phát triển lành mạnh đời sống ý thức xã hội.

Chủ trương, đường lối lãnh đạo của Đảng là một nội dung quan trọng của ý thức xã hội nói chung, ý thức chính trị nói riêng. Các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng tiếp tục được bổ sung, phát triển sáng tạo không ngừng, phản ánh ngày càng đầy đủ, đúng đắn những quy luật và đặc thù phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta chỉ rõ: “Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển”. Tư duy lý luận của Đảng về tiếp tục nhận thức và giải quyết những mối quan hệ cơ bản phản ánh quy luật phát triển đất nước, đây là bước phát triển lý luận rất quan trọng của Đảng ta. Tư duy đó được cụ thể hóa trong quan điểm, chủ trương trương phát triển các mặt, các lĩnh vực của đời sống xã hội. Sự phát triển tư duy lý luận là cơ sở để cán bộ, đảng viên nhân dân ngày càng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, vào tính ưu việt của chế độ và sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Nền tảng văn hóa ngày càng được củng cố, phát triển vững chắc tạo sức mạnh nội sinh, sự đồng thuận xã hội. Trong đó, “Nhiều giá trị văn hóa truyền thống và di sản văn hóa được kế thừa, bảo tồn và phát huy”. Tri thức khoa học công nghệ, các giá trị đạo đức tốt đẹp, đời sống tín ngưỡng, tâm linh, tôn giáo, môi trường văn hóa trong các cộng đồng xã hội được khơi dậy. Truyền thống đạo đức dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại được tiếp thu, trở thành mạch nguồn tinh thần cho sự phát triển lành mạnh hóa các lĩnh vực đời sống xã hội.

Đặc biệt, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh công tác xây dựng Đảng về đạo đức, chú trọng vấn đề đẩy lùi suy thoái đạo đức xã hội cho thấy tầm quan trọng của ý thức đạo đức trong đời sống xã hội. Xây dựng con người, tổ chức về văn hóa, đạo đức được nâng lên tầm cao mới phản ánh và thể hiện vị thế, vai trò của các nhân tố tinh thần, đặc biệt là văn hóa và đạo đức trong xây dựng con người, phát triển xã hội. Đảng tiếp tục quan tâm vấn đề ý thức pháp quyền; chú trọng xây dựng, hoàn thiện luật pháp, đẩy mạnh phòng chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, kiểm soát chặt chẽ quyền lực, tài sản, công tác cán bộ...; đã củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, vào cán bộ, đảng viên; tạo bầu không khí tin tưởng, khơi dậy trách nhiệm và quyết tâm chính trị cao của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới.

Ba là, vẫn còn tồn tại những khuynh hướng tinh thần, tư tưởng đi ngược lại với xu hướng phát triển tiến bộ của ý thức xã hội.

Do tính lạc hậu của ý thức xã hội, do tác động mặt trái của kinh tế thị trường, sự chống phá của các thế lực thù địch và những yếu kém, hạn chế trong nhận thức, vận dụng, chỉ đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, cho nên không thể phủ nhận những mặt trái trong đời ống ý thức xã hội ở nước ta hiện nay.

Được biểu hiện ở tình trạng lai căng, xuống cấp về bản sắc văn hóa; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; người dân thiếu niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của dân tộc vẫn còn. Đảng ta đánh giá: “Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ cũng như những mâu thuẫn xã hội còn diễn biến phức tạp”. Đây là những biểu hiện lạc hậu điển hình về ý thức xã hội cần phải ngăn chặn, đẩy lùi trong xã hội ta hiện nay.

Tính chất đối lập, mâu thuẫn trong đời sống ý thức xã hội được biểu hiện tập trung ở đấu tranh tư tưởng, lý luận chống lại các âm mưu “diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng của các thế lực thù địch. Đảng ta chỉ rõ: “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Bảo vệ  độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định và thích ứng với biến đổi khí hậu là yêu cầu cấp thiết, đồng thời là những thách thức rất lớn đối với nước ta trong thời gian tới”. Cho thấy tính đặc thù, quyết liệt, phức tạp, diễn ra thường xuyên, liên tục, lâu dài của đấu tranh tư tưởng, lý luận nhằm làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; đồng thời khắc phục những tư tưởng, lý luận sai lầm, lạc hậu trong xã hội; bảo vệ, củng cố và phát triển nền tảng tư tưởng của xã hội; chính sách và pháp luật của Nhà nước; góp phần nâng cao nhận thức tư tưởng, lý luận cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Như vậy, ý thức xã hội ở nước ta hiện nay biểu thị sự không thuần nhất tồn tại đan xen, pha tạp nhiều bộ phận đối lập nhau ở tất cả các mặt kinh tế, xã hội và tư tưởng giữa ý thức xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa và ý thức xã hội phi xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, tiếp tục có sự biến động mạnh với nhiều xu hướng tiềm ẩn và sự chuyển hoá phức tạp của mỗi tư tưởng, của cả hệ thống và ở những khuynh hướng khác nhau trong lựa chọn giá trị, hệ giá trị xã hội và cá nhân do tác động từ các nhân tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là từ tác động mặt trái đời sống kinh tế - xã hội, cách mạng công nghiệp 4.0 và sự chống phá của các thế lực thù địch. Do đó, vấn đề nhận thức, tác động để tạo ra sự đồng thuận về tư tưởng theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thúc đẩy nhanh quá trình cải tạo tư tưởng lạc hậu, phát triển tư tưởng tiến bộ luôn đặt ra những nhiệm vụ hết sức nặng nề cho toàn Đảng và toàn dân ta.

NHẬN DẠNG THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC QUỐC PHÒNG AN NINH

 

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt được kết quả, Mỹ và các thế lực thù địch đã thay đổi giải pháp chiến lược, thực hiện bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, song mục tiêu nhất quán của chúng là không thay đổi nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, “vô hiệu hóa Quân đội”, tiến tới xóa bỏ chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phá hoại sức mạnh quốc phòng, an ninh nước ta; tạo cớ cho các hành động can thiệp bằng vũ lực khí có thời cơ là những nội dung cơ bản trong âm mưu “diễn biến hoà bình” chống phá ta trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh.

Các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động gây mất ổn định chính trị và an ninh quốc gia. Bằng các thủ đoạn và các biện pháp vừa ngấm ngầm vừa công khai, chúng sẽ ráo riết hoạt động nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội. Một mặt, chúng tăng cường nuôi đưỡng, tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các tổ chức phản động, các phần tử cơ hội chính trị bất mãn chế độ ở trong nước, đưa lực lượng phản động, chống đối trong số người Việt lưu vong ở nước ngoài thâm nhập vào nội địa; mặt khác, tăng cường các hoạt động vi phạm chủ quyền vùng biển, biên giới, uy hiếp an ninh của nước ta. Nếu chúng ta xử lý vấn đề không tốt thì các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, tạo cớ đề có thể biển thành xung đột vũ trang, thậm chí thành chiến tranh cục bộ chống nước ta. Đậy chính là âm mưu của các thế lực thù địch mà chúng chỉ cần có “thời cơ”, có “cớ” là thực hiện.

Phá hoại sức mạnh quốc phòng - an ninh, tập trung chống phá lực lượng vũ trang luôn luôn là một trọng điểm ưu tiên của chúng. Chúng âm mưu “phi chính trị hoá”, “vô hiệu hoá” quân đội và công an là âm mưu cơ bản, nội dung chính yếu trong chiến lược chống phá lực lượng vũ trang của các thế lực thù địch nhằm làm suy yếu sức mạnh mà trước hết và trực tiếp là sức mạnh chính trị - tinh thần quân đội và công an, gây nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân đội và công an không hoàn thành được các nhiệm vụ chính trị của mình. Những luận điệu: “quân đội và công an chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh đạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào”, “Cần phải “chuyên nghiệp” hoá quân đội và công an càng sớm càng tốt”, “cần phải học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của quân đội tư sản”... sẽ được chúng sử dụng với nhiều thủ đoạn vừa công khai vừa ngấm ngầm tác động vào quân đội và công an, vào Đảng, Nhà nước và trong xã hội ta.

Chúng tăng cường tiếp xúc, gặp gỡ với một số cán bộ quân đội và công an của ta thông qua việc trao đổi các đoàn quân sự, quân đội và công an thăm viếng lẫn nhau, đề nghị ta phải tham gia tập trận chung, giúp nhau huấn luyện “chống khủng bố”, tham gia tổ chức quân sự, an ninh chung nào đó. Thông qua đó, chúng tác động tư tưởng đòi xây dựng lực lượng theo hướng “chuyên nghiệp”, “quân đội nhà nghề”, tìm mọi cách móc nối, đe doạ, mua chuộc cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp trong quân đội và công an để cài cắm lực lượng, tạo thời cơ hành động. Các hoạt động tình báo quân sự, thu thập thông tin tình báo, bí mật quân sự, bí mật quốc gia của ta, tác động vào vấn đề nhân sự Đại hội Đảng cũng được chúng thực hiện ráo riết bằng các thủ đoạn rất thâm độc như: mua chuộc, chia rẽ, xuyên tạc, công kích, vừa trắng trợn công khai, vừa ngấm ngầm khó thấy.

“Diễn biến hoà bình” là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa để quốc, đứng đầu là Mỹ nhằm thủ tiêu phong trào cộng sản quốc tế, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Những dạng chống phá của địch được rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam phải được coi là con đường mà Mỹ và các thế lực thù địch thân Mỹ triệt để lợi dụng để chống phá nước ta. /.

 

VẬN DỤNG SÁNG TẠO QUY LUẬT VỀ SỰ PHÙ HỢP QHSX VỚI TRÌNH ĐỘ PHÁT TRIỂN LLSX CỦA ĐẢNG

 

Đại hội XIII của Đảng đã tổng kết để nhận thức rõ hơn và giải quyết những yêu cầu bức thiết do thực tiễn đặt ra, nhất là vấn đề xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất. Mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường, sớm trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Kết thúc thời kỳ quá độ, xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp. Đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII chỉ rõ: “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam” và “Thể chế kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập theo định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được xác lập.”. Về phương hướng giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, Đại hội XIII nhấn mạnh “Tập trung hoàn thiện nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giải quyết tốt hơn quan hệ giữa nhà nước, thị trường và xã hội”.

Văn kiện Đại hội XIII khẳng định, kinh tế thị trường là giá trị chung của nhân loại, được phát triển trong chủ nghĩa tư bản. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác không ngừng được củng cố, phát triển; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng; kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng được khuyến khích phát triển phù hợp với chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Đồng thời, chỉ rõ vị trí, vai trò của các thành phần kinh tế. Trong đó, kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, các hợp tác xã, tổ hợp tác có vai trò cung cấp dịch vụ cho các thành viên... Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm... Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là một bộ phận quan trọng của kinh tế quốc dân, có vai trò lớn trong huy động nguồn vốn đầu tư, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giữa Nhà nước, thị trường và xã hội có quan hệ chặt chẽ. Nhà nước xây dựng và hoàn thiện thể chế, bảo vệ quyền tài sản, quyền kinh doanh, giữ ổn định kinh tế vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế; tạo môi trường thuận lợi, công khai, minh bạch cho các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và thị trường hoạt động; điều tiết, định hướng, thúc đẩy kinh tế phát triển, gắn kết phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, các tiêu chuẩn, định mức và lực lượng kinh tế nhà nước phù hợp với các yêu cầu và quy luật của kinh tế thị trường. Thị trường đóng vai trò quyết định trong xác định giá cả hàng hoá, dịch vụ; tạo động lực huy động, phân bổ các nguồn lực; điều tiết sản xuất và lưu thông; điều tiết hoạt động của doanh nghiệp, thanh lọc những doanh nghiệp yếu kém. Các tổ chức xã hội có vai trò tạo sự liên kết, phối hợp hoạt động, giải quyết những vấn đề phát sinh giữa các thành viên; đại diện và bảo vệ lợi ích của các thành viên trong quan hệ với các chủ thể, đối tác khác; cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các thành viên; phản ánh nguyện vọng, lợi ích của các tầng lớp nhân dân với Nhà nước và tham gia phản biện luật pháp, cơ chế, chính sách của Nhà nước, giám sát các cơ quan và đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước trong việc thực thi pháp luật.

Như vậy, trên cơ sở kế thừa, phát triển Đảng ta đã có những bước tiến mới trong tư duy lý luận và vận dụng sáng tạo quy luật về sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Do đó, trong quán triệt và vận dụng Nghị quyết Đại hội XIII cần tập trung quán triệt các luận điểm cơ bản:

Một là, coi trọng phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, phát triển lực lượng sản xuất gắn với “đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá” và phát triển kinh tế số. Trong đó, xác định “Tiếp tục phát triển nhanh và bền vững đất nước; gắn kết chặt chẽ và triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, trong đó phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm quốc phòng, an ninh là trọng yếu, thường xuyên”.

Hai là, nhất quán lâu dài với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế nhà nước là công cụ, lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, định hướng, điều tiết, dẫn dắt thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, khắc phục các khuyết tật của cơ chế thị trường. Kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển ở tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm. Đây là định hướng lớn trong xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đại hội XIII của Đảng có nhiều điểm mới trên các nội dung khác nhau; đặc biệt những điểm mới trong văn kiện Đại hội XIII về lý luận hình thái kinh tế - xã hội thể hiện bước tiến mới của Đảng ta trong nhận thức và vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtgóp phần ngày càng làm sáng rõ con đường đi lên CNXH ở nước ta.

NHẬN DẠNG THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ

 

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt được kết quả, Mỹ và các thế lực thù địch đã thay đổi giải pháp chiến lược, thực hiện bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, song mục tiêu nhất quán của chúng là không thay đổi nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, “vô hiệu hóa Quân đội”, tiến tới xóa bỏ chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Hiện nay, tiến công trên lĩnh vực kinh tế vẫn là một ưu tiên của Mỹ và các thế lực thù địch. Các nhà hoạch định chiến lược của Mỹ đều thấy rằng: “Đối đầu quân sự không có lợi bằng đối đầu kinh tế”. Trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế mạnh mẽ như hiện nay, chắc chắn Mỹ và các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện mưu đồ “dân chủ hoá kinh tế” để thúc đẩy “dân chủ hoá chính trị” ở Việt Nam, “thông qua kinh tế để làm chuyển hoá chế độ chính trị”. Mục tiêu phá hoại về kinh tế là làm cho nền kinh tế Việt Nam đi chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Sau khi ký kết hiệp định thương mại Việt - Mỹ, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO, cũng như các hiệp định tổ chức thương mại, kinh tế khu vực, Mỹ sẽ trở lại Việt Nam mạnh mẽ hơn với chiến lược kinh tế đa quốc gia, với những tập đoàn kinh tế lớn nhằm áp đặt, khống chế, thao túng nền kinh tế Việt Nam và theo chúng, “khi đã áp đặt hệ thống kinh tế vào Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản cũng phải xoay quanh lề lối kinh tế Mỹ”.

          Trong thời gian trước mắt chúng sẽ tập trung phá hoại đường lối phát triển kinh tế Đại hội XIII của Đảng. Với những luận điểm “tự do hoá”, “tư nhân hoá”, “chống độc quyền”... để lái dần đường lối cũng như hệ thống luật pháp về kinh tế của ta ngã dần theo hướng kinh tế thị trường tự do tư sản. Đây là âm mưu, thủ đoạn gây cho ta nhiều khó khăn và khó nhận diện, đấu tranh. Các nước tư bản nhất là Mỹ trong thời gian tới sẽ tìm mọi cách làm cho nền kinh tế nước ta ngày càng mất đi tính độc lập, tự chủ, từng bước lệ thuộc vào nước ngoài. Đặc biệt là hai lĩnh vực tài chính tiền tệ và đầu tư, coi đó vừa là “mồi nhữ” vừa là “con bài”, thậm chí là vũ khí khi cần thiết, để ép và phá nền kinh tế Việt Nam nếu không khuất phục Mỹ. Việc khuyến khích hỗ trợ cho kinh tế tư nhân phát triển, cùng với nó là tìm cách hạn chế sức cạnh tranh của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác, kinh tế nhà nước, để làm cho kinh tế nhà nước mất vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân, sẽ tiếp tục được Mỹ và các thể lực thù địch áp dụng mạnh mẽ hơn.

NHẬN DẠNG THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC XÃ HỘI

 

Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt được kết quả, Mỹ và các thế lực thù địch đã thay đổi giải pháp chiến lược, thực hiện bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, song mục tiêu nhất quán của chúng là không thay đổi nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, “vô hiệu hóa Quân đội”, tiến tới xóa bỏ chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Một nội dung trọng điểm trong chiến lược chống phá cách mạng nước ta là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ, bất ổn và rối loạn về xã hội. Chúng tiếp tục lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, “chống tham nhũng”, “tôn giáo”, “dân tộc” để chống phá ta một cách quyết liệt hơn.

Trên lĩnh vực xã hội, chúng tạo ra các “điểm nóng” về xã hội cũng như “điểm nóng” về chính trị xã hội, tạo sự bất ổn xã hội từ nhỏ đến lớn, lan rộng, kéo dài, từ mâu thuẫn nội bộ nhân dân đẩy lên thành chống đối chính quyền; tiếp tục kích động về vấn đề “dân tộc” tạo ra mâu thuẫn giữa các dân tộc nhất là dân tộc thiểu số, chúng kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên vượt biên trái phép sang Campuchia, tạo ra làn sóng “người tị nạn”, hình thành các trại tị nạn ở giáp biên giới Việt Nam, đồng thời khuyến khích việc di dân tự do, nhất là người H'Mông ở phía Bắc, làm bất ổn về chính trị - xã hội không chỉ trong nước mà cả khu vực để tạo cớ can thiệp; tăng cường truyền đạo trái phép, kết hợp hoạt động nhân đạo của các tổ chức NGO... nhất là trong vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để nắm quần chúng, kích động tư tưởng ly khai dân tộc. Thúc đẩy việc liên kết hoạt động giữa các tôn giáo, phối hợp với các lực lượng phản động, cơ hội trong nước, tạo dựng ngọn cờ hình thành lực lượng đối lập công khai chống chính quyền, tạo ra bất ổn, rối loạn xã hội. Các thế lực thù địch dùng mọi biện pháp để cản trở, hạn chế, thậm chí vô hiệu hoá các chính sách xã hội, và những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta giải quyết các vấn đề xã hội. Khoét sâu vào các vấn đề như: phân hóa giàu nghèo, chênh lệch thu nhập, mức sống của các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền núi, những têu cực, tệ nạn xã hội, vấn đề việc làm, giáo dục, chữa bệnh, phân bổ nguồn vắc xin ... tạo ra những bức xúc xã hội để tuyên truyền kích động trong nhân dân, làm giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, phá hoại sự đồng thuận trong xã hội.

TÍNH CHẤT NGUY HIỂM CỦA CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

 

 “Diễn biến hoà bình” là chiến lược tiến công toàn diện của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động vào bên trong các nước xã hội chủ nghĩa và các Đảng Cộng sản trên mọi lĩnh vực: chính trị - tư tưởng, kinh tế, văn hoá - xã hội, quốc phòng - an ninh, đối ngoại... với tất cả các phương tiện, thủ đoạn, nhằm từng bước chuyển hoá, đẩy lùi, đi đến xoá bỏ chủ nghĩa xã hội mà không cần dùng đến lực lượng vũ trang. Do đó, người ta thường gọi “Diễn biến hoà bình” là cuộc “chiến tranh không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có khói súng”, một cuộc “cách mạng nhung lụa”.

Trong giai đoạn hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch luôn xác định: “Diễn biến hoà bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng là then chốt, mũi đột phá, là “cái cầu để dẫn vào trận địa”, rằng “một đô la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đôla chi cho quốc phòng”. Níchxơn trong cuốn sách: Chiến thắng không cần chiến tranh (1999) đã viết: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”.

Trong lĩnh vực chính trị, tư tưởng, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch quan tâm nhất là kích động “dân chủ”, “nhân quyền”, “vấn đề dân tộc”, “vấn đề tôn giáo”, và đặc biệt là làm cho chúng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Chúng coi đó là những đòn đột phá khẩu, là những mũi xung kích để chọc thủng mặt trận chính trị, tư tưởng của chúng ta. Tính chất nguy hiểm của âm mưu “Diễn biến hoà bình” biểu hiện ở chỗ:

Một là, với ý đồ làm tan rã niềm tin, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch xem việc đánh phá nền tảng tư tưởng, xuyên tạc quá khứ, bôi đen lãnh đạo, làm cho xã hội hỗn loạn về chính trị, tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo ra thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng đòi thay đổi chế độ xã hội chủ nghĩa. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ.

Hai là, với chiến thuật “viên đạn bọc đường”, “mưa dầm thấm lâu”, “ngoại giao thân thiện”, “chi phối đầu tư”, “khoét sâu nội bộ”, cùng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với những luận điệu mị dân, lừa bịp dễ làm cho đối phương mất cảnh giác, dễ bị cám dỗ, mất phương hướng chính trị, không phân biệt đúng, sai, thật, giả nhằm tạo ra “khoảng trống” về chính trị, tinh thần để dễ dàng truyền bá các quan điểm tư sản và đánh thẳng vào nội bộ ta, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động lật đổ và bạo loạn chính trị.

Ba là, với nhiều thủ đoạn khác nhau, các lực lượng thù địch làm mê muội con người bằng các loại văn hoá phẩm độc hại, thúc đẩy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng, tạo ra một tầng lớp đông đảo quần chúng, đặc biệt là lớp trẻ được “phi chính trị hoá” để khi có điều kiện thì tập hợp lực lượng xấu, gây áp lực chính trị và cướp chính quyền.

Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua giao lưu, hợp tác trên các lĩnh vực: văn hoá, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, báo chí để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hoá tư tưởng, cài cắm lực lượng vào các tổ chức của chúng ta, móc nối các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá ta.

Năm là, với hình thức tung tin đồn nhảm, tạo dư luận và áp lực xã hội, dưới chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, đưa ra những lời hứa mị dân, để gây tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác, cả tin của một số người, từ đó cô lập các lực lượng trung kiên cách mạng; phân hoá những người còn lừng chừng, thiếu chính kiến, thiếu thông tin; lôi kéo, kích động những người có tâm trạng bất mãn, những lực lượng xấu trong xã hội để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.

Có thể nói, sự nguy hiểm của âm mưu chiến lược “Diễn biến bòa bình” trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng của các thế lực thù địch nhằm phá vỡ niềm tin, đánh từ trong đánh ra, làm cho “cộng sản tự diệt cộng sản”, chúng dùng chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”, để tạo cớ can thiệp vào nội bộ ta. Một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ chế độ chủ nghĩa xã hội, là do chủ nghĩa đế quốc đã lợi dụng những sai lầm về chính trị trong đường lối cải tổ, cải cách, đổi mới để đẩy mạnh “Diễn biến hòa bình” trên mặt trận chính trị, tư tưởng. Tổn thất nặng nề đó của chủ nghĩa xã hội là bài học cảnh giác cách mạng sâu sắc của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam chúng ta. Càng bộc lộ rõ tính chất nguy hiểm của chiến lược “Diễn biến hòa bình” - bạo loạn lật đổ mà các thế lực thù địch đang tìm mọi cách chống phá đối với cách mạng nước ta.

KHẲNG ĐỊNH VÀ CỤ THỂ HÓA VỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TOÀN DIỆN TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI XIII CỦA ĐẢNG

 

Ngay trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), Đảng ta đã khẳng định, một trong những đặc trưng của chế độ xã hội chủ nghĩa là: “Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân”. Đến Đại hội VIII, tinh thần đó tiếp tục được Đảng ta khẳng định: Tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”. Tại Đại hội X, Đảng ta một lần nữa khẳng định, một trong những đặc trưng quan trọng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là “con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện”. Đến Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), tinh thần đó tiếp tục được khẳng định vững chắc khi chỉ ra một trong những đặc trưng quan trọng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là “con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện”. Đại hội XI cũng xác định, xây dựng con người Việt Nam “phát triển toàn diện về trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, ý thức công dân, tuân thủ pháp luật”. Đến Đại hội XII, vấn đề “phát triển con người toàn diện” được Đảng ta xác định là một trong những nhiệm vụ tổng quát phát triển đất nước 5 năm 2016 - 2020, đó là xây dựng “con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” Có thể khẳng định, “phát triển con người toàn diện” là một bước tiến quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng ta khi không chỉ coi trọng vấn đề phát triển con người về mặt nhận thức, mà còn biến đó thành nhiệm vụ, hành động thực tiễn cần phải được thực hiện đồng thời với các nhiệm vụ quan trọng khác trong công cuộc phát triển đất nước.

Kế thừa quan điểm “phát triển con người toàn diện” của các kỳ Đại hội trước,  Nghị quyết lần này lại nhấn mạnh đến nhiệm vụ trọng tâm trong “xây dựng con người Việt Nam thời đại mới, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại”. Để xây dựng, hình thành những con người mới có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, Nghị quyết Đại hội XIII đã đề ra nhiều nhiệm vụ, đó là: Phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, ưu tiên nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt;  quan tâm chăm lo công tác giáo dục, bồi dưỡng và bảo vệ trẻ em, thiếu niên, nhi đồng, tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên; “Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường, giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc của người Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ”...

 

QUAN ĐIỂM PHÁT HUY “SỨC MẠNH CON NGƯỜI VIỆT NAM” TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

 

Trong các kỳ Đại hội trước, mục tiêu phát huy sức mạnh con người Việt Nam luôn được Đảng ta đặc biệt nhấn mạnh, bởi nguồn lực con người được đánh giá là nguồn lực quan trọng nhất trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, ở mỗi kỳ Đại hội đều có sự nhận thức và thể hiện khác nhau. Nếu như trong Báo cáo chính trị Đại hội X, XI mới tập trung nhấn mạnh đến nhiệm vụ “Phát triển văn hóa, nền tảng tinh thần của xã hội” (mục VII, Đại hội X), “Chăm lo phát triển văn hóa” (mục VI, Đại hội XI) thì đến Văn kiện Đại hội lần thứ XII, Đảng ta đã nhấn mạnh đến nhiệm vụ xây dựng, phát triển con người bên cạnh nhiệm vụ xây dựng, phát triển văn hóa ở mục VII: “Xây dựng, phát triển văn hóa, con người”. Tinh thần này tiếp tục được khẳng định trong Văn kiện Đại hội XIII khi Đảng ta xác định đường lối về xây dựng và phát triển đất nước, đề ra mục tiêu đến năm 2045 nước ta trở thành nước phát triển thu nhập cao. Để có thể đạt được mục tiêu đó, yếu tố quyết định chính là xây dựng và phát huy được nguồn lực con người Việt Nam, làm cho con người Việt Nam được phát triển tự do, toàn diện, có đạo đức trong sáng, có lòng yêu nước, tự hào dân tộc. Chính vì vậy, ngay trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, Đảng ta xác định: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hoá, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững”.

Hơn nữa, trên cơ sở định hướng và yêu cầu đặt ra cho công cuộc xây dựng, phát triển đất nước trong thời kỳ mới, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cũng chỉ ra một trong ba đột phá chiến lược là “phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài”. Vấn đề then chốt của việc xây dựng và phát huy nguồn lực con người trong thời kỳ mới chính là việc nhận thức rõ hơn vấn đề con người và con người của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Yêu cầu đặt ra là nhanh chóng hoàn thiện thể chế phát triển chung, trong đó có thể chế cho sự phát triển toàn diện “quyền con người”. Trong bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng”, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh: “Động lực và nguồn lực cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới là khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại”. Bởi vậy, xây dựng và phát huy nguồn lực con người được Đảng ta khẳng định trong Nghị quyết Đại hội là động lực quan trọng, là yếu tố quyết định với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Đó cũng là công việc phức tạp đòi hỏi cách tiếp cận vừa khoa học, vừa thực tế, vừa thận trọng nhưng phải sáng tạo, quyết liệt. Chỉ có xây dựng, tạo ra môi trường, điều kiện phát triển tốt nhất cho con người mới có điều kiện để khơi dậy những sức mạnh to lớn, thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của sự nghiệp cách mạng trong thời kỳ mới.

 

QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI TRONG NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG

 

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn coi con người là vốn quý nhất, là mục tiêu, động lực của cách mạng, là yếu tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Chính vì vậy, con người luôn được đặt vào vị trí trung tâm của quá trình phát triển, là đối tượng, mục tiêu và động lực của mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Trải qua các kỳ Đại hội, nhận thức của Đảng về vị trí, vai trò của con người ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn, có sự bổ sung, phát triển phù hợp với những yêu cầu, đòi hỏi mới của thực tiễn đặt ra. Trên cơ sở tiếp tục khẳng định, kế thừa, tiếp thu tinh thần từ các kỳ Đại hội trước, Đại hội XIII của Đảng đã có sự bổ sung, phát triển mới về vấn đề con người và phát triển con người Việt Nam với quan điểm “nguồn lực con người là quan trọng nhất”.

Phát triển so với các kỳ Đại hội trước, ngay trong chủ đề Đại hội XIII đã xác định là: “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy ý chí, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại; tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới; xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phấn đấu đến năm 2045 nước ta “trở thành nước phát triển, thu nhập cao” thì một trong những nội dung hết sức quan trọng đó là huy động sức mạnh, sức sáng tạo của mọi nguồn lực, trong đó nguồn lực con người có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đây là một trong những điểm nhấn hết sức quan trọng mà trong Nghị quyết Đại hội lần này đã tiếp tục có sự nhận thức và bổ sung, phát triển so với các kỳ Đại hội trước đó. Như vậy, Nghị quyết Đại hội XIII đã bổ sung, phát triển nhiều nội dung mới, cụ thể hơn nhiệm vụ phát triển con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay; phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước và hội nhập quốc tế; thể hiện sự sáng tạo của Đảng trong quá trình vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng con người Việt Nam thời kỳ đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế trước tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0)

THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” CỦA KẺ ĐỊCH, ĐỀ PHÒNG MỌI SỰ TỰ DIỄN BIẾN

 

“Diễn biến hoà bình” của chủ nghĩa đế quốc và bọn phản động là nguy cơ và thách thức lớn đối với cách mạng nước ta trong tiến trình đi lên chủ nghĩa xã hội ; phòng chống “Diễn biến hoà bình” của địch là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của cả hệ thống chính trị.

Các đơn vị cơ sở trong Quân đội trong quá trình thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, phải thường xuyên làm tốt công tác xây dựng địa bàn, trực tiếp tiếp xúc với các thành phần xã hội và tiến hành công tác vận động quần chúng, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của địch, đồng thời cán bộ, chiến sĩ cũng là những đối tượng mà địch chú ý tác động phá hoại; kẻ địch thường lợi dụng những kẽ hở, khâu yếu, điểm yếu của ta, những địa bàn, đơn vị có những vấn đề phức tạp, bộc lộ những yếu kém để chọn làm điểm đột phá từ đó phát triển chống phá ta phạm vi rộng hơn. Làm tốt công tác tư tưởng và tổ chức, xây dựng các tổ chức trong đơn vị vững mạnh, quản lý chặt chẽ đơn vị về mọi mặt là trực tiếp xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, là biện pháp phòng ngừa chủ động, tích cực, tạo tiền đề cho quá trình đấu tranh với địch, kịp thời phát hiện và có biện pháp giải quyết, xử lý đúng đắn làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “Diễn biến hoà bình” của địch. Muốn vậy, cần thực hiện tốt các nội dụng:

Thường xuyên kiện toàn cấp uỷ, chi bộ, tổ đảng, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, tăng cường công tác kiểm tra, bảo đảm cho mọi nghị quyết của tổ chức đảng được thực hiện thắng lợi. Tích cực đổi mới phong cách hoạt động lãnh đạo của tổ chức đảng, đảng uỷ, chi bộ, chi uỷ, đảng viên sát với nhiệm vụ và tình hình thực tiễn, đối tượng cán bộ, chiến sĩ ở đơn vị. Chăm lo xây dựng và phát huy vai trò tiền phong của đội ngũ đảng viên, thực sự trở thành lực lượng nòng cốt trong thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hoà bình” của địch. Đổi mới và tăng cường sinh hoạt dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, phát huy ưu điểm, ngăn ngừa và khắc phục thiếu sót, khuyết điểm, làm cho tổ chức đảng thực sự là hạt nhân lãnh đạo nhiệm vụ phòng, chống chiến lược “diễn biến hoà bình” của địch.

Thường xuyên xây dựng đội ngũ cán bộ, chỉ huy các cấp ở đơn vị cơ sở cả về số lượng và chất lượng, thể hiện ở các khâu: lựa chọn, bồi dưỡng, sắp xếp, bố trí đúng người, đúng việc, phát huy vai trò tổ chức thực hiện nhiệm vụ. Đặc biệt cần hết sức coi trọng bồi dưỡng nâng cao giác ngộ chính trị, lập trường tư tưởng kiên định, kinh nghiệm tổ chức chỉ huy, nhất là trong lúc khó khăn, gian khổ, phức tạp để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong mọi tình huống. Cần chú ý đề phòng khắc phục khuynh hướng xuề xoa, hạ thấp tiêu chuẩn nhất là về phẩm chất chính trị, lòng trung thành của cán bộ đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, nhất là cán bộ chủ chốt.

Chăm lo củng cố, phát huy vai trò của tổ chức đoàn thanh niên và hội đồng quân nhân trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hoà bình” của địch. Các đơn vị cơ sở tuyệt đại đa số cán bộ, chiến sĩ là thanh niên, họ là lực lượng đông đảo giữ vai trò nòng cốt trong thực hiện các nhiệm vụ nói chung và nhiệm vụ phòng chống “Diễn biến hoà bình” nói riêng; đồng thời cũng là đối tượng kẻ địch tập trung phá hoại trong chiến lược của chúng.

Tổ chức đoàn thanh niên và hội đồng quân nhân là nơi tập hợp mọi cán bộ, chiến sĩ trong các phong trào hành động cách mạng, thực hiện nhiệm vụ, do đó cần xây dựng các tổ chức này luôn vững mạnh toàn diện, thực sự trở thành lực lượng xung kích, phát huy dân chủ, tinh thần đoàn kết, tính chủ động  trong việc ngăn ngừa và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại của địch. Cần chăm lo bồi dưỡng cho thanh niên và mọi quân nhân trong đơn vị về lý tưởng cách mạng, về nghĩa vụ, trách nhiệm trong cuộc đấu tranh phòng chống “Diễn biến hoà bình”. Thường xuyên chỉ đạo đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp hoạt động xung kích của thanh niên, phát huy dân chủ của hội đồng quân nhân trong thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Thường xuyên kiện toàn tổ chức đoàn, hội đồng quân nhân, duy trì và thực hiện tốt chế độ, nguyên tắc sinh hoạt và hoạt động thành nề nếp, thiết thực góp phần xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện; kết hợp xây dựng các tổ chức trong đơn vị vững mạnh  với quản lý chặt chẽ đơn vị về chính trị, tư tưởng và tổ chức, về con người và vũ khí trang bị kỹ thuật, về hoạt động thực tiễn và các mối quan hệ của quân nhân... kịp thời phát hiện và làm thất bại mọi âm mưu, hành động phá hoại của địch. Cần chú ý quản lý những vấn đề, những đối tượng, điều kiện hoàn cảnh công tác mà địch có thể lợi dụng hoạt động chống phá, đặc biệt là quân đội hoạt động trên các địa bàn phức tạp, các bộ phận đi công tác lẻ...

TĂNG CƯỜNG GIÁO DỤC BẢN CHẤT GIAI CẤP CÔNG NHÂN ĐỂ CHỐNG “PHI CHÍNH TRỊ HÓA” QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 

Đây là nội dung rất quan trọng, nhằm xây dựng bản lĩnh chính trị, lập trường giai cấp, củng cố niềm tin cho bộ đội vào sự lãnh đạo của Đảng, thắng lợi của sự nghiệp đổi mới xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

Sự giác ngộ sâu sắc bản chất giai cấp công nhân của cán bộ, chiến sĩ có tác dụng trực tiếp ngăn chặn sự xâm nhập, lây lan của tư tưởng thù địch, phản động tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội” của kẻ thù.

Để thực hiện tốt việc giáo dục giác ngộ bản chất giai cấp công nhân cho mọi cán bộ, chiến sĩ, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân phải tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng theo quy định của Tổng cục Chính trị và bổ sung những nội dung giáo dục cho phù hợp với nhiệm vụ của từng đơn vị và tình hình nơi đóng quân.

Trong đó, các đơn vị phải chú trọng giáo dục cho mọi cán bộ, chiến sĩ nhận thức sâu sắc rằng, quân đội bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có quân đội “phi giai cấp”, “siêu giai cấp”. QĐNDVN do Đảng, Bác Hồ tổ chức, lãnh đạo và giáo dục, là quân đội kiểu mới mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, chiến đấu vì mục tiêu lí tưởng của Đảng, đó là tất yếu khách quan không thể phủ nhận.

Công tác giáo dục là phải làm cho bản chất cách mạng ấy của quân đội thấm sâu, tồn tại và phát triển trong tư tưởng, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ.

Cùng với việc tăng cường giáo dục bản chất giai cấp công nhân, các đơn vị phải tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cho bộ đội để khơi dậy lòng tự hào dân tộc, truyền thống của cha ông, mà thế hệ trẻ hiện nay phải có nhiệm vụ giữ gìn, phát triển.

Hình thức, phương pháp giáo dục phải hết sức đa dạng, phong phú và thường xuyên được đổi mới. Các đơn vị phải biết kết hợp giữa giáo dục chung với giáo dục riêng; phối, kết hợp chặt chẽ giữa công tác giáo dục với công tác cán bộ, tổ chức, chính sách; đồng thời giữ tốt mối quan hệ với gia đình, các đoàn thể địa phương nơi đóng quân để phát huy sức mạnh tổng hợp trong công tác giáo dục…

Mỗi đơn vị làm tốt những nội dung, phương pháp, hình thức như trên sẽ bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ trong quân đội nâng cao khả năng “tự vệ” trước những thủ đoạn, luận điệu nhằm tuyên truyền “phi chính trị hóa quân đội”, “quân đội trung lập” của kẻ thù.

Hết sức tránh việc coi nhẹ công tác giáo dục giác ngộ bản chất giai cấp công nhân cho bộ đội; hoặc cho công tác giáo dục là thứ yếu, không quan trọng bằng công tác huấn luyện quân sự; hay lại quá chú trọng công tác giáo dục, bỏ quên nhiệm vụ chính trị của đơn vị. Đó là những nhận thức hết sức không đúng, dẫn đến mắc mưu kẻ thù.

 

THỰC HIỆN TỐT CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN, GIÁO DỤC TƯ TƯỞNG, LÝ LUẬN TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY

 

Phát huy sức mạnh tổng hợp của các phương tiện thông tin đại chúng, các loại hình hoạt động văn hoá nghệ thuật để tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối quan điểm của Đảng, pháp luật Nhà nước, nhiệm vụ quân đội, đơn vị.. đây là nhiệm vụ thường xuyên của công tác tư tưởng trong quân đội, nhưng hiện nay phải nổ lực phấn đấu nâng cao chất lượng đáp ứng các yêu cầu mới, trong xu thế toàn cầu hoá với sự phát triển mạnh mẽ của hoa học công nghệ hiện đại, thông tin thực sự đóng vai trò quan trọng trong quan hệ giữa các quốc gia dân tộc, trong phổ biến các giá trị văn hoá của nhân loại và thúc đẩy sự tiến bộ về dân trí. Nếu những người làm công tác tư tưởng, lý luận trong quân đội không phát huy tốt vai trò từng loại phương tiện thông tin và kết hợp chặt chẽ các phương tiện đó, sẽ làm cho chất lượng công tác tuyên truyền lý luận, giáo dục, định hướng tư tưởng, tâm lý xã hội cho cán bộ, chiến sĩ thiếu toàn diện, rộng rãi và sinh động. Trong cuộc đấu tranh tư tưởng hiện nay, để giành được con tim, khối óc con người, đòi hỏi phải phát triển và sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng để đánh bại kẽ thù, ngay cả khi chúng sử dụng tối đa các phương tiện thông tin hiện đại để tuyên truyền xuyên tạc, nhằm lôi kéo quần chúng.

Thực tế hiện nay đòi hỏi chúng ta phải kết hợp chặt chẽ hoạt động tư tưởng, lý luận với các loại hình văn hoá, văn nghệ và chuyển tải tối đa các nội dung đó trên các báo ngày, tuần, tháng, trên các tạp chí lý luận khoa học xã hội và nhân văn; trên đài phát thanh, truyền hình và đưa các nội dung đó lên mạng, thâm nhập ngày càng sâu hơn vào các lĩnh vực hoạt động hợp tác kinh tế, quan hệ đối ngoại…sự phối hợp trên sẽ làm cho công tác tư tưởng, lý luận mang hơi thở của cuộc sống, có tính quần chúng rộng rãi, phong phú về nội dung, hình thức thể hiện và có tính phê phán trực diện cao.

BIỆN PHÁP ĐẤU TRANH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TA

 

Nền tảng tư tưởng của Đảng là một bộ phận quan trọng, đồng thời cũng là nhân tố căn bản, cốt lõi, tạo cơ sở, tiền đề quyết định mọi hoạt động xây dựng, sinh hoạt và lãnh đạo của một Đảng. Với Đảng Cộng sản Việt Nam, nền tảng tư tưởng của Đảng là hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa, là chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Nếu nền tảng tư tưởng thay đổi, tất yếu sẽ dẫn tới sự thay đổi về mục tiêu, lý tưởng, nguyên tắc tổ chức, phương hướng hoạt động chính trị của Đảng. Cũng chính vì vậy mà các thế lực thù địch luôn tìm cách và đang ra sức phá hoại, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, công kích nền tảng tư tưởng của Đảng ta hòng làm giảm niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Trước tình hình đó, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch là yêu cầu tất yếu để xây dựng và phát triển Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch, vững mạnh, là nhiệm vụ quan trọng, có ý nghĩa sống còn trong bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Đấu tranh, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, trước hết phải bảo vệ nội bộ. Nội bộ đoàn kết, không dao động, không “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thì thế lực thù địch dù có nhiều âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt đến mấy cũng khó bề làm lung lạc ý chí, niềm tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Hai là, để bảo vệ hiệu quả nền tảng tư tưởng của Đảng, thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần kiên trì tiến hành cuộc đấu tranh phê phán một cách toàn diện, không để hệ tư tưởng tư sản, tư tưởng xã hội dân chủ, chủ nghĩa thực dụng tồn tại trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Cùng với đấu tranh, chúng ta cần tiếp tục khẳng định chế độ và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn là con đường duy nhất đúng, bởi nó vừa thể hiện tính cách mạng triệt để, vừa phù hợp với quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội.

Ba là, cần thực hiện nhiều biện pháp để không ngừng củng cố và phát triển mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức trong hệ thống chính trị, hệ thống chính trị xã hội và nhân dân. Đồng thời, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện, thông tin, tài liệu... và xây dựng, thực hiện chính sách động viên, khen thưởng kịp thời đối với những tập thể, cá nhân tích cực tham gia trực tiếp đấu tranh và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trên tinh thần: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng không phải là việc riêng của Đảng mà còn là việc chung, là trách nhiệm chung của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân.

CẢNH GIÁC TRƯỚC NHỮNG KẺ LỢI DỤNG TỰ DO NGÔN LUẬN, TỰ DO BÁO CHÍ

 

Tự do ngôn luận, báo chí là những quyền cơ bản của chế độ ta đã được luật định. Tuy nhiên, thời gian qua xuất hiện nhiều bài báo trên các trang mạng xã hội có những đánh giá đi ngược lại với quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Đáng chú ý là luận điệu của đối tượng có tên là Song Chi, bà cho rằng: Ở Việt Nam, số lượng báo chí nhiều và một đội ngũ nhà báo đông đảo, nhưng hoàn toàn không có tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Như chúng ta đều biết, Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”. Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Ngay từ ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Trong các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân;

Có thể khẳng định, từ khi ra đời đến nay, Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm và thực hiện tốt quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, tự do ngôn luận, tự do báo chí đều có những giới hạn nhất định, không phải là tự do quá trớn.

Những luận điệu xuyên tạc, vu khống của Song Chi thực chất là những âm mưu, chiêu trò cũ rích của bọn phản động, mang dòng máu Việt nhưng thay lòng, đổi dạ, đi ngược lại với lợi ích của Quốc gia, dân tộc. Chúng ta hãy cảnh giác và kiên quyết đấu tranh với những luận điệu trên.

RÈN LUYỆN ĐẠO ĐỨC, NHÂN CÁCH NGƯỜI CÁN BỘ QUÂN ĐỘI THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH HỒ CHÍ MINH

 Trong việc giải quyết mối quan hệ giữa con người và vũ khí, Chủ tịch Hồ Chí Minh bao giờ cũng nhấn mạnh nhân tố con người giữ vai trò quyết định. Trong đó, Người rất quan tâm đến đội ngũ cán bộ, vì theo Người, cán bộ là gốc của mọi công việc. “Công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”. Tốt hoặc kém ở đây bao gồm cả 2 mặt đức và tài của người cán bộ, trong đó Người xem đức là gốc, là nhân tố quyết định sự khác biệt về bản chất của quân đội cách mạng so với quân đội của giai cấp bóc lột. Vấn đề đạo đức, nhân cách của người cán bộ quân đội nói chung, cán bộ quân sự nói riêng, cũng chính là một nội dung quan trọng gắn liền với xây dựng quân đội luôn vững mạnh về chính trị. Do đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành nhiều công sức bồi dưỡng đạo đức và nhân cách cho đội ngũ cán bộ quân đội và chính đạo đức, nhân cách của Người là một tấm gương ngời sáng cho toàn Đảng, toàn quân và dân ta noi theo.

Đã có nhiều cách tiếp cận về đạo đức, nhân cách người cán bộ quân đội theo tư tưởng Hồ Chí Minh. Bài viết này tiếp cận vấn đề ở bốn mối quan hệ cơ bản:

- Trước hết là quan hệ đối với Đảng, với nước, với dân - nhân tố quyết định bản chất cách mạng của người cán bộ quân sự. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu hàng đầu đối với người cán bộ quân sự là phải tuyệt đối trung thành với Đảng, với nước và hiếu với dân. Trong lời phát biểu tại lễ tốt nghiệp khoá học thứ tư trường Quân chính Việt Nam (l0.1945) Người yêu cầu: đã là cán bộ thì phải “Trung thành với mục đích cách mạng: giữ cho nước nhà được độc lập nòi giống được tự do”. Đó chính là cái định hướng chính trị, là mục tiêu chiến đấu mà mọi cán bộ quân đội phải nắm vững, vì nếu không sẽ mất phương hướng hành động. Tháng 5.1946, khi đến thăm Trường võ bị Trần Quốc Tuấn, Người tặng nhà trường lá cờ thêu 6 chữ vàng “Trung với nước, hiếu với dân” và căn dặn “Mong rằng anh em ở đây bao giờ cũng phải làm theo hai khẩu hiệu mà nó là cái mục đích của anh em: "Trung với nước, hiếu với dân”. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: trung với nước là trung thành với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập tự do cho dân tộc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta, vì rằng: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới đem lại độc lập tự do thật sự cho dân tộc; đồng thời, “trung” với nước không tách rời “trung” với Đảng, bởi sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng đất nước và xây dựng quân đội ta đều được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong buổi nói chuyện tại Hội nghị quân sự lần thứ năm (8.1948), khi nói về nhiệm vụ của người tướng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải thích “Trung là trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với nhân dân, với cách mạng, với Đảng”. Đây chính là sự gắn kết hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong việc giáo dục, rèn luyện cán bộ quân đội của Người, là sự khái quát chính xác về sự thống nhất bản chất giai cấp công nhân với tính dân tộc và tính nhân dân sâu sắc của quân đội ta. Nhận thức đúng vấn đề này trong giai đoạn hiện nay có một ý nghĩa rất quan trọng, khi mà chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang đẩy mạnh chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy mưu đồ “phi chính trị hóa” quân đội ta. Nói đến sự trung thành, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu phải thể hiện ra ở việc phấn đấu thực hiện thắng lợi chức trách, nhiệm vụ của mỗi người, mà trước hết là phải hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ chiến đấu, dám đánh và biết đánh thắng quân thù. Hơn nữa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi sự trung với nước, trung với Đảng của người cán bộ quân sự nói riêng, toàn thể quân đội nói chung phải gắn liền với sự tận “hiếu với dân”, vì theo Người: “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”. Do đó, Người đòi hỏi “Cán bộ phải dạy cho đội viên biết kính trọng dân, thương yêu dân, giúp đỡ dân”. Trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, những phẩm chất đạo đức hàng đầu đó của người cán bộ phải được tiếp tục gìn giữ, phát huy trong công tác đào tạo và tự đào tạo, rèn luyện của mỗi người cán bộ quân sự hôm nay.

Thứ hai là đối với đồng chí, đồng đội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến giữ gìn sự đoàn kết.

Người căn dặn: “Đoàn kết là sức mạnh nhất của ta. Phải đoàn kết nội bộ, giữa cán bộ và chiến sỹ”. Sự đoàn kết đó bắt nguồn từ sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu và lợi ích căn bản của cán bộ, chiến sỹ là “tranh lại độc lập tự do cho Tổ quốc”. Để có được sự đoàn kết thực sự, Người đòi hỏi cán bộ phải thương yêu cấp dưới, phải đồng cam cộng khổ với họ. Đó chính là cơ sở để trên, dưới đồng lòng vượt qua mọi trở ngại, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ. Người căn dặn: “Cán bộ có thân đội viên như chân tay, thì đội viên mới thân cán bộ như ruột thịt. Có như thế thì chỉ thị, mệnh lệnh và kế hoạch cấp trên đưa xuống, đội viên sẽ tích cực và triệt để thi hành”. Muốn thế, “Từ tiểu đội trưởng trở lên, từ Tổng tư lệnh trở xuống, phải săn sóc đời sống vật chất và tinh thần của đội viên”. Trong mối quan hệ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh không quên nhắc nhở đội ngũ cán bộ quân sự nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, vì quân đội ta mang bản chất của giai cấp công nhân. Người căn dặn: giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình, do đó phải “Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân nước bạn”. Có thể nói, những lời căn dặn chí tình ấy của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là bí quyết để người cán bộ chỉ huy đơn vị mình hoàn thành nhiệm vụ; là cẩm nang để mọi cán bộ soi chiếu, rèn luyện và hành động cho xứng đáng là người cán bộ của một đội quân cách mạng.

- Thứ ba là đối với bản thân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ phải chăm chỉ rèn luyện để thực sự là tấm gương sáng về mọi mặt cho cấp dưới noi theo; bởi nêu gương là một hoạt động đặc biệt của người cán bộ trong quân đội cách mạng, là mệnh lệnh không lời có sức cảm hoá to lớn để cấp dưới mang hết tinh thần và trách nhiệm, khắc phục khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Người căn dặn: “Giữ gìn kỷ luật học tập kỹ thuật, luyện quân lập công, xung phong hãm trận, thân ái đoàn kết, nói tóm lại, mỗi việc trong bộ đội , cán bộ đều phải làm gương” . Để là tấm gương sáng cho cấp dưới noi theo, Người yêu cầu người cán bộ quân sự phải có chữ tín, tức là “phải làm cho người ta tin mình”, nhưng không tự kiêu, không có cái bệnh “Làm quan cách mạng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng sớm thấy căn bệnh của những người có chức có quyền, nên đặc biệt quan tâm đến 4 đức tính phải có của người cán bộ cách mạng là “cần, kiệm, liêm, chính”. Người đòi hỏi cán bộ phải làm việc cho hết chức trách, không ỷ lại, dựa dẫm; mọi người phải chăm chỉ luyện tập trên thao trường để bớt đổ máu trên chiến trường; đồng thời phải làm việc có kế hoạch, không tuỳ tiện theo lối “nước sông công lính” lãng phí tiền bạc, thì giờ của nhân dân, công sức của bộ đội; cán bộ phải sống ngay thắng, trong sạch, thanh cao, không lấy của công làm của tư, “Chớ tham của, chớ tham sắc... chớ tham danh vọng, tham sống”. Những lời chỉ bảo đó đặc biệt quan trọng trong điều kiện hiện nay, khi mà sự nghiệp xây dựng quân đội trong hoà bình, đất nước phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều tác động tích cực, song cũng lắm tác động tiêu cực đến việc giữ vững phẩm chất của người quân nhân cách mạng. Nó đòi hỏi mỗi cán bộ quân đội phải thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị, vượt qua những cám dỗ vật chất, tiền tài, danh vọng, giữ vững những phẩm chất cao quý của “Bộ đội Cụ Hồ”.

- Thứ tư đối với công việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi người cán bộ quân sự “Phải siêng năng: siêng nghe, siêng thấy, siêng đi, siêng nghĩ, siêng nói, siêng làm”, tức là phải chăm chỉ, tận tuỵ với công việc. Đó công việc của người cán bộ quân đội có tính đặc thù so với các loại cán bộ khác, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh đến hai phẩm chất mà người cán bộ quân sự phải có để xử lý các tình huống chiến đấu một cách chính xác và kịp thời, đó là trí và dũng. Người nói: “Trí là phải có óc sáng suốt để nhìn mọi việc, để suy xét địch cho đúng . . . Dũng là không được nhút nhát, phải can đảm, dám làm những việc đáng làm, dám đánh những trận đáng đánh Theo đó, người có “Trí là người biết địch, biết ta, biết dùng người đúng chỗ, đúng việc, luôn cầu tiến bộ, ham học hỏi, nắm vững những kiến thức cần thiết cho việc thực hiện chức trách của mình. Người có “Dũng” phải có gan chịu trách nhiệm trước công việc gặp việc khó phải có gan làm, thấy khuyết điểm có gan sửa chữa; cực khổ, hiểm nguy có gan chịu đựng, có gan chống lại những cám dỗ của đời thường; dám hy sính vì vận mệnh của Đảng, của Tổ quốc “Trí, Dũng” song toàn là hai phẩm chất đặc biệt cần thiết của người chỉ huy quân sự và đó cũng là mục tiêu của công tác đào tạo cán bộ quân sự hiện nay.

Để có được những phẩm chất đạo đức nhân cách nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu: một mặt, tổ chức phải bồi dưỡng, tạo điều kiện cho cán bộ được rèn luyện, mặt khác bản thân mỗi cán bộ phải bền bỉ, thường xuyên tự tu dưỡng, rèn luyện, bởi theo Người: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống, nó đã đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hàng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”.

 Hơn 76 năm qua, dưới sự dìu dắt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tư tưởng của Người về đạo đức và nhân cách của người cán bộ quân sự, lớp lớp cán bộ quân đội ta đã là những tấm gương ngời sáng về đạo đức cách mạng, thực sự là hạt nhân đoàn kết trong lãnh đạo, chỉ huy đơn vị, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng quân đội ta thành đội quân cách mạng, bách chiến, bách thắng - lực lượng chính trị tin cậy của Đảng và Nhà nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tuyệt đại đa số cán bộ quân đội vẫn giữ vững được phẩm chất đạo đức và nhân cách người cán bộ cách mạng. Tuy nhiên, trước tác động của những biến đổi kinh tế-xã hội đang diễn ra, đã có một bộ phận cán bộ quân đội không còn giữ nguyên được phẩm chất cao quý đó, họ chưa thực sự là tấm gương cho chiến sỹ noi theo. Trong quản lý đơn vị họ còn nặng về mệnh lệnh hành chính mà chưa quan tâm đến giáo dục, thuyết phục; còn không ít cán bộ có tính gia trưởng, quan liêu làm cho tình cảm cán-binh nơi đó có phần xa cách, ảnh hưởng đến sự đoàn kết va kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị. Một số cán bộ do thiếu tu dưỡng, rèn luyện đã có biểu hiện dao động, suy giảm niềm tin vào con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, sao nhãng nhiệm vụ, chạy theo lợi ích vật chất và lối sống tầm thường, dẫn đến nhiều vụ vi phạm kỷ luật trong quan hệ với nhân dân, với đồng chí, đồng đội phải xử lý . . . Những hạn chế đó có phần do công tác giáo dục, bồi dưỡng, quản lý của một số tổ chức đảng và tổ chức chỉ huy còn yếu kém; phần quan trọng hơn là chính những cán bộ đó không chịu thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện. Chính vì vậy, việc tiếp tục quán triệt và học tập tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nhân cách của người cán bộ quân sự và hành động theo tư tưởng của Người vẫn là hết sức bức thiết. Cần phải coi tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức và nhân cách người cán bộ quân sự là hành trang trong suất cuộc đời của mỗi người cán bộ quân đội. Chỉ có thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, nhân cách của mình theo tư tưởng Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ quân đội chúng ta mới thật sự xứng đáng là người quân nhân cách mạng của một quân đội Anh hùng.

GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO THANH NIÊN THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn cho rằng: tương lai của dân tộc, tiền đồ của Tổ quốc và sự thành công của cách mạng phần lớn phụ thuộc vào lực lượng thanh niên. Người chỉ rõ: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà. Thật vậy nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên.”. Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục, đào tạo thanh niên, trong đó giáo dục đạo đức cách mạng cho họ có vị trí quan trọng đặc biệt. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên là cơ sở, điểm xuất phát cho giáo dục các lĩnh vực khác. Đạo đức cách mạng là gốc, là nền tảng vững chắc của thanh niên. Nhờ có đạo đức cách mạng mà mỗi thanh niên có thể tự phấn đấu hoàn thiện mình, hình thành năng lực thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng vẻ vang. Người cho rằng: “Cũng như sông có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”. Với việc đánh giá vai trò của đạo đức cách mạng như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chỉ đạo sát thực, để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên. Trước lúc đi xa Người còn căn dặn: “Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người kế thừa xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

Để giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên theo tư tưởng Hồ Chí Minh cần phải thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:

Thứ nhất, giáo dục lòng trung thành với Đảng với Tổ quốc, và nhân dân.

Tư tưởng nhất quán của Hồ Chí Minh là Tổ quốc luôn gắn liền với nhân dân. Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên phải giáo dục phẩm chất “trung với nước, hiếu với dân”. Yêu nước hay trung thành với Tổ quốc là phải “làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Trung thành với Đảng, theo Người là phải giáo dục cho thanh niên có được những đức tính trung thực, ngay thẳng, không làm gì hại cho Tổ quốc và nhân dân. Lúc được giao việc thì bất kể to hay nhỏ đều ra sức làm cẩn thận, có hiệu quả và phải biết làm việc có lợi, tránh việc có hại cho Đảng. Hiếu với nhân dân, là phải giáo dục thanh niên biết yêu mến nhân dân, quý trọng nhân dân, học tập, chiến đấu vì nhân dân. Phải chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, tích cực giúp đỡ nhân dân vượt qua mọi khó khăn trong cuộc sống, để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống. Đồng thời, dám đấu tranh chống lại mọi biểu hiện sách nhiễu nhân dân, và luôn dựa vào nhân dân để phát động phong trào thi đua lao động sản xuất, làm cho nhân dân phấn khởi, tin tưởng vào chế độ xã hội chủ nghĩa.

          Thứ hai, Giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên phải giáo dục những phẩm chất cao quý như: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Thông qua giáo dục cho họ những phẩm chất những tác phong đẹp đẽ như khiêm tốn, giản dị; tích cực, siêng năng, làm hết sức mình, gan dạ, táo bạo và sáng tạo; giáo dục đức tính trung thực, thật thà, dũng cảm trong việc công cũng như việc tư. Trong buổi lễ khai giảng Trường đại học Nhân dân Việt Nam, ngày 19 tháng giêng năm 1955, Người nói: “Thanh niên cần phải chống tâm lý tự tư, tự lợi, chỉ lo lợi ích riêng và sinh hoạt riêng của mình. Chống tâm lý ham sung sướng và tránh khó nhọc. Chống thói xem khinh lao động, nhất là lao động chân tay. Chống lười biếng, xa sỉ. Chống cách sinh hoạt uỷ mị. Chống kiêu ngạo, giả dối, khoe khoang”, vì đó là những thói xấu kìm hãm chí tiến thủ của thanh niên. Người còn căn dặn thanh niên phải: “Luôn luôn trau dồi đạo đức cách mạng, khiêm tốn và giản dị. Chống kiêu căng tự mãn. Chống lãng phí, xa hoa. Thực hành phê bình và phê bình nghiêm chỉnh để giúp nhau cùng tiến bộ”.

          Thứ  ba, phải giáo dục thanh niên có nhận thức đúng và tin tưởng sâu sắc vào sự lãnh đạo của Đảng, lực lượng và trí tuệ của tập thể của nhân dân.

Nếu không có sự lãnh đạo của Đảng, sự chăm lo của tập thể và của nhân dân thì thanh niên không thể trưởng thành được. Từ đó, phải làm cho thanh niên tìm ra được sức mạnh trong tập thể nhỏ bé của mình cũng như trong nhân dân, có sự đồng cảm và chia sẻ những công việc nặng nhọc với nhân dân, gắn bó máu thịt với nhân dân. Hồ Chí Minh nói: “Đạo đức cách mạng là hoà mình với quần chúng thành một khối, tin quần chúng, hiểu quần chúng, lắng nghe ý kiến của quần chúng”. Phải giáo dục thanh niên có tình thương và trách nhiệm với mọi người, chống chủ nghĩa cá nhân. Tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III, Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam, Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Chủ nghĩa cá nhân là việc gì cũng chỉ lo cho lợi ích riêng của mình, không quan tâm đến lợi ích chung của tập thể, miễn là mình béo, mặc thiên hạ gầy. Nó là mẹ đẻ ra mọi tính hư tật xấu như: lười biếng, suy bì, kiêu căng, kèn cựa, nhút nhát, lãng phí, tham ô. Nó là kẻ thù hung ác của đạo đức cách mạng, của chủ nghĩa xã hội”.

Thứ tư, cùng với việc chỉ ra nội dung giáo dục, Hồ Chí Minh còn chỉ ra phương pháp giáo dục.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, phải nói những điều dễ hiểu, không nên nói những điều cao xa, chung chung về đạo đức và cũng không đồng ý cách giáo dục đóng khung trong sự tu tâm, dưỡng tính để tìm thấy sự yên ổn, thanh khiết của cá nhân. Người nói: “Nếu các cháu tốt nghiệp rồi việc trước tiên lại chỉ lo sao cho mình có quần áo đẹp, có căn nhà riêng sang trọng làm tổ ấm, thì công tác giáo dục của các chú không thể coi là có kết quả tốt được”. Đạo đức cách mạng phải được thể hiện bằng hành động cách mạng, chỉ có hành động cách mạng cho dân, cho nước, thanh niên mới thể hiện giá trị đạo đức của mình. Người nói: “Người có đạo đức là người biết rèn luyện tài năng và không được phép ngồi yên bên cạnh dòng thác lịch sử đang cuồn cuộn chảy xiết, như ẩn sĩ ngồi trong tháp ngà”. Trong quá trình giáo dục Người còn chỉ rõ: “ Nhà trường, đoàn thể và gia đình hàng ngày phải biết phòng ngừa và đẩy lùi những cái không tốt đó cho các cháu. Phải thấy phần đông các cháu là tốt, cần lấy ngay gương tốt đó của các cháu và những gương người tốt việc tốt trong nhân dân để giáo dục các cháu, không nên nói lý luận suông”. Người phê phán phương pháp giáo dục nhồi sọ của đế quốc và phong kiến. Người yêu cầu “ Trong trường, cần có dân chủ. Đối với mọi vấn đề, thầy và trò cùng nhau thảo luận dân chủ nhưng phải kính thầy, thầy phải quí trò, chứ không phải “cá đối bằng đầu”.

          Tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục đạo đức cách mạng cho thanh niên còn nguyên giá trị trong thời đại ngày nay. Những lời dạy của Người, là cơ sở lý luận và thực tiễn để Đảng ta vạch ra chiến lược giáo dục- đào tạo thanh niên trong thời gian tới. Vận dụng những lời dạy thiết thực của Người, chắc chắn chúng ta sẽ bổ xung những điểm thích hợp vào mô hình người thanh niên mới xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt, chúng ta sẽ khắc phục được những điểm bất cập trong giáo dục thanh niên hiện nay, nhằm xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát huy cao nhất năng lực nội sinh của mình, để phục vụ có hiệu qủa trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.