Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

Cải thiện điều kiện lao động cho công nhân hiện nay

 

Lãnh đạo hoàn thiện chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiện nghiêm chính sách chăm lo, cải thiện điều kiện lao động cho công nhân, có biện pháp phòng, chống có hiệu quả tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, nhất là đối với nữ công nhân, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra an toàn lao động, bảo vệ môi trường sinh thái trong lao động công nghiệp. Giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hộ lao động. Chăm lo cải thiện điều kiện làm việc, chăm sóc sức khỏe công nhân, nhất là đối với những công nhân làm việc nặng nhọc, trong môi trường độc hại. Thực hiện nghiêm chỉnh quy định về sử dụng nữ công nhân. Phát triển và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh ở các cơ sở y tế, ngành, nghề, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp... Hoàn thiện chính sách và cơ chế quản lý bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế áp dụng đối với tất cả công nhân trong các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp. Tiếp tục hoàn thiện chính sách cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện để số đông công nhân có cổ phần ở doanh nghiệp và có điều kiện, cơ hội phát huy dân chủ thực sự ở cơ quan, doanh nghiệp, bảo đảm quyền làm chủ trên thực tế của công nhân.

Giải quyết vấn đề việc làm, tiền lương hiện nay

 

Tập trung giải quyết một cách cơ bản, có hiệu quả vấn đề việc làm, nâng cao đời sống, quyền dân chủ, làm chủ của công nhân và thực hiện công bằng xã hội, thực hiện tốt các chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, bảo hộ lao động, cải thiện điều kiện làm việc, ăn, ở, vui chơi, giải trí và tăng cường chăm sóc sức khoẻ cho công nhân.

Bảo đảm việc làm đầy đủ cho công nhân là một trong những mục tiêu hàng đầu của các giải pháp kinh tế cả trước mắt và lâu dài. Nó vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề nhân văn - xã hội, đồng thời còn là vấn đề chính trị.

Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, cải cách, hoàn thiện chính sách tiền lương, nâng lương tối thiểu, xây dựng thang bảng lương và công tác tổ chức tiền lương trong các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế bảo đảm lương thực tế của công nhân đủ trang trải những nhu cầu thiết yếu, cơ bản của người công nhân và gia đình họ để tái sản xuất sức lao động, thực hiện nguyên tắc phân phối theo lao động và phân phối theo sự đóng góp của mỗi người, để nâng cao đời sống cho công nhân và gia đình họ.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật trong xây dựng giai cấp công nhân hiện nay

 Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân; khẩn trương giải quyết có hiệu quả vấn đề việc làm, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần - văn hoá, nhà ở và phúc lợi xã hội cho công nhân, NLĐ; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân.

Đảng, Nhà nước cần tập trung từng bước giải quyết những vấn đề bức xúc đang đặt ra đối với giai cấp công nhân thông qua việc hoàn thiện các chính sách xã hội, quan tâm đúng mức, giải quyết thỏa đáng các lợi ích chính đáng, hợp pháp của công nhân, bảo đảm hài hoà lợi ích vật chất và lợi ích tinh thần - văn hoá, lợi ích cá nhân, lợi ích tập thể, lợi ích doanh nghiệp và lợi ích toàn xã hội.

Chú trọng kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa việc xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện các chính sách bảo đảm an sinh xã hội với các chính sách khuyến khích xã hội để hai chính sách này tác động, bổ sung cho nhau tạo động lực mạnh mẽ khuyến khích mọi người, mọi tập thể công nhân trong các thành phần kinh tế phát triển, từng bước phục hồi truyền thống gia đình công nhân nhiều đời và đào tạo thế hệ công nhân hiện đại.

Xây dựng chiến lược quốc gia về xây dựng, phát triển giai cấp công nhân gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; giải quyết hài hoà và có hiệu quả các mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá và chăm lo đời sống, nâng cao thể chất người Việt Nam nói chung, công nhân nói riêng.

Ưu tiên con em công nhân trong xây dựng giai cấp công nhân hiện nay

 

Công nhân và con em công nhân cần được xem là đối tượng ưu tiên để tiến hành phổ cập giáo dục. Có thể và cần phổ cập giáo dục phổ thông trung học cho công nhân trẻ và con em công nhân. Khuyến khích và tạo điều kiện cho công nhân tham gia học ở cấp học giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Có chính sách hợp lý để tuyển chọn được một bộ phận thanh niên ưu tú, nhất là con em công nhân nhiều đời vào các trường dạy nghề. Chỉ có như vậy, trong tương lai chúng ta mới có một đội ngũ công nhân giỏi. Và, từ trong số ấy mới tuyển chọn và đào tạo được những cán bộ quản lý, lãnh đạo giỏi xuất thân từ công nhân.

 

KIÊN QUYẾT ĐẬP TAN ÂM MƯU BÔI NHỌ ĐƯỜNG LỐI ĐỐI NGOẠI CỦA VIỆT NAM

 


Trong những ngày qua, một sự kiện chính trị quan trọng được dư luận cả trong nước và quốc tế rất quan tâm là chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden từ ngày 10 - 11/9, theo lời mời của Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Phát triển cơ sở xã hội trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

 


Hiện nay, trong các văn kiện, Đảng ta đã xác định cơ sở kinh tế, cơ sở chính trị của dân chủ xã hội chủ nghĩa. Để nền dân chủ xã hội chủ nghĩa vận hành đồng bộ, cần thống nhất nhận thức cơ sở xã hội - đó là các tổ chức xã hội tự nguyện, hợp pháp của nhân dân. Hình thức tồn tại của tổ chức này là các hội, hiệp hộì, câu lạc bộ, nhóm xã hội. Yêu cầu các tổ chức này không trái với các quy định pháp luật, thuần phong mỹ tục, đạo đức xã hội. Chức năng các tổ chức này vừa đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, vừa tham gia các hoạt động cộng đồng. Trước hết, cần có lộ trình cụ thể thể chế hóa các quyền tự do dân chủ trong Hiến pháp năm 2013 thành các quy định pháp luật cụ thể. Tiếp theo, để rút kinh nghiệm với các bản hiến pháp trước đây, cần có quy định về các quyền tự do, dân chủ của công dân, nhưng các cơ quan nhà nước không thể chế hóa các quyền đó thành các luật cụ thể; từ đó, người dân không được hưởng các quyền làm chủ trên thực tế.

Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Tăng cường của vai trò nòng cốt chính trị, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị- xã hội trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hành dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội...Thực hiện tốt vai trò giám sát, phản biện xã hội, đại diện bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên, tích cực tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước...”

Phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước trong phát huy dân chủ ở Việt Nam

 


Nghiên cửu phân định quyền lực chính trị của Đảng với quyền lực công của Nhà nước và quyền lực tối cao của nhân dân. Hiện nay, ngoài quyền lực công của Nhà nước đã được quy định khá cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực chính trị của Đảng, quyền lực tối cao của nhân dân chỉ được quy đinh khá chung chung. Yêu cầu đặt ra phải xác định cụ thể, luật hóa nội dung, phạm vi, phương thức lãnh đạo của Đảng, vai trò làm chủ của nhân dân để mỗi chủ thể thực hiện đúng vai trò của mình theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tổng kết thực tiễn thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn để có thể nhân rộng những yếu tố hợp lý, điều chỉnh những quy định không phù hợp. Hiện nay, cần tổng kết kinh nghiệm thực hiện dân chủ ở cơ sở để mở rộng phạm vi, mức độ ở cấp cao hơn, rộng hơn, nhất là trong thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân. Ban hành quy định, thí điểm tổ chức thực hiện bầu cử trực tiếp chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, phường tại một số địa phương nhiệm kỳ 2016-2020, sau đó tổng két rút kinh nghiệm. Hoàn thiện thể chế chính trị đáp ứng yêu cầu của xây dựng, thực hiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong tình hình mới. Trước hết, phải xây dựng một bộ máy nhà nước đủ mạnh để vận hành có hiệu quả các chuẩn mực dân chủ đã được thể chế hóa; có một đội ngũ cán bộ ngang tầm đòi hỏi của một thể chế dân chủ, họ thực sự là những người gần dân, thân dân, vì dân.

NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC ĐỐI NGOẠI GẮN VỚI BẢO VỆ CHÍNH TRỊ NỘI BỘ TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 


 

Trong những năm gần đây, công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế của nước ta đã đạt được những thành tựu phát triển vượt bậc, góp phần củng cố lòng tin, xây dựng mối quan hệ hữu nghị, tốt đẹp với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng của nước ta hiện nay, các thế lực thù địch tăng cường lợi dụng các hoạt động đối ngoại, khuyến khích đầu tư để phá hoại nội bộ. Một mặt, chúng thông qua các quan hệ kinh tế, giáo dục… để chi phối, chuyển hóa về chính trị, đặt điều kiện trong các thỏa thuận về kinh tế để vi phạm chủ quyền của Việt Nam, đồng thời dùng kinh tế làm biến chất, sa đọa đội ngũ cán bộ; mặt khác, chúng ra sức cổ vũ cho các phần tử thù địch khác thâm nhập về nước để hoạt động chống phá từ bên trong.

Hoàn thiện thể chế phát huy dân chủ hiện nay

 


Hoàn thiện thể chế bầu cử theo nguyên tắc dân chủ. Bầu cử là phương thức để quyền lực nhà nước được thiết lập bởi nhân dân và nhân dân tự thực hiện sự ủy quyền của mình. Bầu cử có liên hệ mật thiết với dân chủ, bầu cử tự do và công bằng là phương thức bảo đảm cho việc tôn trọng các quyền tự do, dân chủ. Trong một nền dân chủ, quyền lực nhà nước chỉ được thực thi khi có sự nhất trí của người dân. Cơ chế căn bản để chuyển sự nhất trí đó thành quyền lực nhà nước là tổ chức bầu cử tự do, công bằng.

Trong giai đoạn hiện nay ở Việt Nam, quyền bầu cử phải gắn chặt với quyền bãi miễn đại biểu khi không còn xứng đáng - đó là phương thức hữu hiệu để kiểm soát quyền lực nhà nước.

Phát huy dân chủ, thực hiện cạnh tranh trong bầu, bồ nhiệm cán bộ. Về nguyên tắc, ở Việt Nam không có sự cạnh tranh đảng phái, nhưng cần thiết có sự cạnh tranh giữa các đảng viên trong việc tranh cử vào các vị trí lãnh đạo của Đảng ở các cấp; cạnh tranh giữa đảng viên với người không phải đảng viên vào vị trí lãnh đạo một số cơ quan nhà nước các cấp. Cạnh tranh lả một hỉnh thức biểu hiện cụ thể, sinh động của dân chủ. Có quy định cạnh tranh công khai, minh bạch sẽ hạn chế tình trạng cạnh tranh không công khai, cạnh tranh ngầm trong lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ. Cạnh tranh là hỉnh thức phát hiện và phát huy nãng lực cán bộ tối ưu hơn sự phát hiện và giới thiệu của tổ chức. Bởi, khi tổ chức giới thiệu nhân sự, cá nhân được giới thiệu không hoàn thành nhiệm vụ nhưng cả cá nhân và tố chức không ai chịu trách nhiệm về sự giới thiệu. Còn khi có sự cạnh tranh, tự ứng cử, cá nhân ứng cử chịu trách nhiệm trước tố chức và cử tri về năng lực, hiệu quả hoạt động của mình. Mặt khác, nhờ thực hiện cạnh tranh, tổ chức đảng và nhân dân có cơ hội để kiểm tra, giám sát tính hiệu quả trong hoạt động của các vị trí trên. Đây có thể coi là hình thức mới của thực hiện dân chủ xã hội chù nghĩa ở Việt Nam.

Bởi vậy, không nên cho rằng, cạnh tranh sẽ dẫn đến mất đoàn két, thống nhất trong Đảng. Bởi để cạnh tranh, Đảng cũng phải ban hành các quy chế, điều kiện cạnh tranh. Cá nhân tham gia cạnh tranh phải tuân theo quy chế như điều lệ Đảng.

Phát huy tính xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội trong tham gia xây dựng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng qua bài phát biểu của Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng

 

Xung kích, sáng tạo là một trong những đặc tính nổi bật của thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên quân đội nói riêng. Lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã chứng minh tính xung kích, sáng tạo của thanh niên quân đội, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của Đảng, thanh niên đã nô nức lên đường nhập ngũ, với tinh thần “đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”; thanh niên quân đội cùng với thanh niên cả nước viết nên bản hùng ca về bản lĩnh, ý chí và sức mạnh con người Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Ngày nay, họ tiếp tục phát huy tính xung kích, sáng tạo của mình trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; kế thừa truyền thống cách mạng vẻ vang của thế hệ thanh niên đi trước, thanh niên quân đội dám dấn thân vào những việc mới, việc khó, quyết tâm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị, trong đó có nhiệm vụ đặc biệt quan trọng là tham gia xây dựng Đảng. Yêu cầu, nhiệm vụ đó đã được Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đặt ra cho thanh niên quân đội qua bài phát biểu tại chương trình tuyên dương Gương mặt trẻ tiêu biểu, Gương mặt trẻ triển vọng toàn quân năm 2023 do Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng tổ chức ngày 16/3/2023 tại thủ đô Hà Nội.

Bản chất của nhất nguyên chính trị


Hiện nay không ít ý kiến cho rằng, ở Việt Nam phải đa đảng mới dân chủ. Họ viện đẫn rằng, do kinh tế có nhiều thành phần thì chính trị phải có đa đảng. Việc xem xét mối quan hệ giữa kinh tế nhiều thành phần với kết cấu kiến trúc thượng tầng chính trị, có thể khẳng định rằng, nền kinh tế nhiều thành phần không nhất thiết (không tất yếu) dẫn đến kiến trúc thượng tầng chính trị đa đảng, có đảng đối lập, bởi vì, trong thực tế lịch sử đã có những thời kỳ nền kinh tế nhiều thành phần không làm nảy sinh chế độ chính trị đa đảng.

Vấn đề đa đảng hay một đảng là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi nước trong từng giai đoạn, vai trò của từng thành phần kinh tế trong đời sống xã hội, tương quan lực lượng giai cấp, quy định của Hiến pháp và pháp luật của mỗi nước, uy tín và sức mạnh của đảng cầm quyền, quan niệm về dân chủ và ảnh hưởng của các nhân tố bên ngoài, v.v.. Tính nhất nguyên chính trị được thể hiện trong việc khẳng định vai trò lãnh đạo của một đảng duy nhất cầm quyền ở Việt Nam. Bản chất của một nền dân chủ không lệ thuộc vào chế độ đa đảng hay một đảng mà thể hiện ở việc đảng cầm quyền đại diện cho lợi ích của ai, sử dụng quyền lực nhà nước vào những mục đích gì trên thực tế. Không nên chỉ xem xét chế độ đa đảng hay một đảng làm căn cứ duy nhất để đánh giá tính chất và trình độ của dân chủ.

Vấn đề một đảng duy nhất cầm quyền hay các đảng khác nhau cầm quyền không ảnh hưởng quyết định tới dân chủ, mà quan trọng là đảng đó là đảng như thế nào khi cầm quyền. Vì vậy một đảng khi đã độc quyền lãnh đạo thì phải tổ chức xây dựng thể chế chính trị và lãnh đạo sự vận hành của tổ chức như thế nào để không hạn chế, vi phạm dân chủ. Nếu Đảng cầm quyền vi phạm dân chủ thì sẽ làm mất lòng tin của nhân dân, và sớm muộn, Đảng sẽ mất quyền lãnh đạo, mất khả năng cầm quyền. 

Những yếu tố cản trở trong xây dựng nền dân chủ ở Việt Nam hiện nay


Một là, vốn là một nước thuộc địa nửa phong kiến, những thành quả mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đem lại là một bước ngoặt lớn lao trong việc hỉnh thành và phát triển nền dan chủ ở nước ta. Song một đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân đang lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân từ nông dân, vì thế không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những tàn tích tư tưởng tiểu nông, sản xuất nhỏ.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng có nghĩa là xã hội Việt Nam chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều thế kỷ xây dựng và phát triển, với pháp quyền tư sản, nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Nền dân chủ tư sản dù mang bản chất tư sản, dù phục vụ chủ yếu cho giai cấp tư sản thống trị, nhưng nó cũng tạo ra môi trường đào luyện con ngưòi ngày càng ý thức được vai trò của cá nhân, tầm quan trọng của học vấn, học thức và văn hóa đối với sự phát triển. Môi trường xã hội đó cũng rèn luyện cho con người những thói quen, những năng lực cần thiết thích ứng với những đòi hỏi pháp lý và nhân văn của dân chủ.

Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và nền dân chủ tư sản, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gặp phải không ít những khó khăn trở ngại. Ý thức hệ phong kiến còn ăn sâu vào xã hội, một xã hội mà nông dân còn chiếm đa số trong dân cư; một xã hội nông nghiệp cổ truyền lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động trong xã hội còn giản đơn và hạn chế. Tàn tích của ý thức hệ phong kiến của người nông dân với những hạn chê như: tâm lý cục bộ địa phương; tư tưởng cào bằng, đẳng cấp; dân chủ tự phát... dễ làm triệt tiêu tính tích cực cá nhân, triệt tiêu động lực phát triển. Không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Việt Nam thiêu tri thức khoa học và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nguồn nhân lực của chúng ta bị hạn chế về sự am hiểu, tinh thông nghiệp vụ, chuyeD môn do chưa có chuyên môn hóa sâu. Cùng với hạn chế đỏ, ^ bằng dân trí của xã hội còn thấp, kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật còn rất lạc hậu và chậm phát triển, thông tin đến với người dân còn chậm và không đầy đủ, nhất là ở khu vực nông thôn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi.

Ba là, cùng với những hạn chế do Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ làm nảy sinh nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những vật cản trở đó là: Trình độ phát triển dân chủ còn thấp và chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ, chưa tạo ra được khung pháp lý và cơ chế đủ mạnh để thực hiện dân chủ. Sự suy thoái, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức quyền; tệ tham nhũng, buôn lậu đã ứở thành quốc nạn. Bệnh quan liêu diễn ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành đã gây nỗi bất bình trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều luật được ban hành nhưng việc chấp hành luật không nghiêm từ một bộ phận công dân, việc thi hành luật không công minh của một bộ phận cán bộ trong các CJ quan hành pháp và tư pháp đã làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả. Tệ ô dù bao che cho kẻ xấu, khiếu kiện cửa người dân chưa được xem xét đầy đủ và kịp thời đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, tình trạng ấy sẽ làm cho dân chủ biến thành “quan chủ”, quyền được ủy thác đã biến thành quyền bị chiếm đoạt, quyền làm chủ của nhân dân đã biến thành quyền của những ai nắm được chức quyền. Tất cả những khó khăn đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

VẬN DỤNG CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG XÂY DỰNG, CHỈNH ĐỐN ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH


Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam trong sạch vững mạnh chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với Người, xây Đảng là nhiệm vụ tất yếu, thường xuyên để Đảng hoàn thành vai trò là chiến sĩ tiên phong trước giai cấp, dân tộc và nhân dân. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của thời đại, dự báo trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước sẽ có nhiều khó khăn, thử thách, tác động trực tiếp, nhiều chiều đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Trong bài viết, tác giả đã đề xuất 07 giải pháp góp phần tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự trong sạch, vững mạnh hơn nữa trong thời gian tới.

Quan niệm của Đại hội X, XI về dân chủ

 


Đại hội X của Đảng (2006) đã có bước phát triển mới nhận thức về dân chủ: 1) bổ sing “dân chủ” vào đặc trưng thức nhất của xã hội XHCN Việt Nam – đó là: dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; 2) Điều chỉnh trong diễn đạt về đặc trưng thú hai- đó là: “ do nhân dân làm chủ”. Đây là bước tiến về mặt nhận thức khi khẳng định: “xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là do tất cả nhân dân làm chủ; 3) Đại hội X đã chỉ rõ: “ Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân”; 4) Khẳng định: “dân chủ XHCN vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Đảng. Mọi đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhan dân.

Đại hội XI của Đảng (2011) đã thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong TKQĐ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011), Cương lĩnh đã xác định:  “xã hội XHCN mà nhân dân ta xay dựng là một xã hội: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ...”. Đổi mới của đại hội XI so với đại hội X là chuyển cụm từ “dân chủ” lên trước cụm từ “công bằng”. Đây không đơn thuần là chuyển vị trí, mà thực chất là nhận thức rõ hơn, đầy đủ hơn, chính sxác hơn vị trí, vai trò của dân chủ. Cương lĩnh (bổ sung phát triẻn năm 2011) khẳng định rõ: “Dân chủ XHCN là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vùa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện neèn dân chủ XHCN, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm...Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của nhà nước của cả heẹ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện”

 TRUY TẶNG HUY HIỆU "TUỔI TRẺ DŨNG CẢM" CHO TRUNG ÚY CÔNG AN Ở THÁI BÌNH HY SINH TRONG LÚC LÀM NHIỆM VỤ

Trung úy Đỗ Văn Tú, ở Thái Bình, hy sinh tối hôm 22-9 trong lúc làm nhiệm vụ, đã được BCH Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh truy tặng huy hiệu Tuổi trẻ dũng cảm.

Tối 23-9, thừa ủy quyền Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, tỉnh đoàn Thái Bình đã về quê nhà trung úy Đỗ Văn Tú tại xã Quỳnh Hải, huyện Quỳnh Phụ để truy tặng huy hiệu Tuổi trẻ dũng cảm.

Bí thư tỉnh đoàn Thái Bình Thiệu Minh Quỳnh đã bày tỏ lòng biết ơn của thế hệ trẻ trước sự hy sinh của trung úy Tú cũng như chia sẻ nỗi đau, sự mất mát với gia đình đồng chí. 

Trước đó, như PLO đã đưa tin, khoảng 21 giờ 30 tối 22-9, người dân báo tin đến lực lượng chức năng về việc có một nam thanh niên (không phải người địa phương) đã nhiều lần đứng tại vị trí thuộc tổ 5, thị trấn An Bài (huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình) với nhiều dấu hiệu nghi vấn.

Nhận tin báo, trung úy Đỗ Văn Tú, 25 tuổi, công an thị trấn An Bài có mặt để xác minh. Khi đến gần nam thanh niên để thực hiện kiểm tra, bất ngờ, trung úy Tú bị người này dùng dao tấn công nhiều nhát. Ngay sau gây án, hung thủ nhanh chóng bỏ trốn khỏi hiện trường.

Trung úy Tú được đưa đi cấp cứu ngay sau đó nhưng do vết thương quá nặng, nên đã hy sinh vào khoảng 23 giờ 45 cùng ngày.

Nghi phạm sau đó được xác định là Võ Tiến Mạnh, 21 tuổi, trú tại xã Quang Bình, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình. Công an tỉnh Thái Bình và Công an tỉnh Ninh Bình đã phối hợp bắt giữ nghi phạm này khi đang lẩn trốn tại Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình vào 13 giờ ngày 23-9.

Hiện, nghi phạm đã bị di lý về phòng cảnh sát hình sự Công an tỉnh Thái Bình để phục vụ điều tra.

 TRANG BỊ KIẾN THỨC CHO GIỚI TRẺ ĐẤU TRANH TRÊN MẠNG XÃ HỘI 

Không chỉ nước ta mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới muốn phát triển bền vững trong tương lai cũng đều phải quan tâm đến giới trẻ. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đã làm thay đổi phương thức giao tiếp của con người. Mạng xã hội không chỉ trở thành phương tiện phổ biến để kết nối mọi người trên toàn cầu mà còn là công cụ để các thế lực thù địch, phản động đăng tải những thông tin xấu độc. Vấn đề cấp bách hiện nay là phải trang bị kiến thức, định hướng cho giới trẻ “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu”…

Mạng xã hội bắt đầu xuất hiện ở Việt Nam từ đầu những năm 2000 và phát triển với tốc độ nhanh chóng, dần trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Lượng người dùng mạng xã hội Việt Nam chủ yếu ở độ tuổi 18-35. Đây có thể coi là “độ tuổi vàng” của dân số nói chung và là độ tuổi mà truyền thông chính trị cần hướng đến. 

Ngoài việc được xem là một trong những kênh thông tin hữu hiệu tích cực, mạng xã hội còn là “môi trường” thuận lợi cho một số cá nhân, tổ chức “lợi dụng” quyền tự do ngôn luận, cung cấp những thông tin sai trái, thậm chí, có những thông tin xuyên tạc, gây hại đến trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia. Điều đáng báo động là những thông tin xấu độc đang tấn công giới trẻ. 

 Các thế lực thù địch đã “đánh đúng” vào sự hiếu kỳ, thích khám phá của giới trẻ để đưa lên mạng xã hội các thông tin “giật gân”, bôi nhọ danh dự cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước, Quân đội; khoét sâu vào những vụ việc tham nhũng, tiêu cực trong xã hội để hướng luồng dư luận và kích động lớp trẻ tỏ thái độ bất mãn với cái mà chúng gọi là “thảm họa của đất nước”. Chúng kêu gọi thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự, đi theo cái gọi là “xã hội dân sự”, “tự do ngôn luận”,... mà thực chất là phải bội lại Tổ quốc. Một số ít thanh niên đã sa vào cái bẫy này.

Để giúp cho thế hệ trẻ nhận diện được bản chất âm mưu của các thế lực thù địch, tỉnh táo, bản lĩnh, không để chúng lôi kéo, kích động, các cấp ủy Đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị xã hội cần thực hiện đồng bộ giải pháp, trang bị “vũ khí” để thanh niên tự bảo vệ mình và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái thù địch . Trong đó, cần nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí của thanh niên và công tác thanh niên. Phải coi công tác chăm lo, phát triển thanh niên vừa là mục tiêu, vừa là động lực đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước; là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, lâu dài của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Quan tâm đến quyền lợi thanh niên, nhất là quyền được học tập, lao động, sáng tạo... 

Đặc biệt, cần kiên trì quan điểm “lấy cái đẹp, dẹp cái xấu” trong giới trẻ. Để làm được điều này, cần phát huy vai trò của nhà trường, gia đình và các cơ quan báo chí trong công tác tuyên truyền, giáo dục, định hướng tư tưởng cho thế hệ trẻ. Trong đó, nhà trường phải không ngừng cải tiến nội dung và biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, nhận diện rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Các tổ chức đoàn thể cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động, hướng các hoạt động thanh niên vào thực hiện các nhiệm vụ chính trị, xã hội. Gia đình phải tích cực chủ động phối hợp chặt chẽ với nhà trường để quản lý giáo dục con em mình chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương, của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các cơ quan báo chí cần tăng cường các chuyên trang, chuyên mục “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”, vạch trần bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, làm cho thanh niên thấy được chống “diễn biến hòa bình” là một việc làm thường xuyên, toàn diện trên mọi lĩnh vực.

 Các cấp ủy, tổ chức đảng cần đa dạng hóa hình thức, phương pháp tuyên truyền, giáo dục; nội dung linh hoạt, gần gũi, dễ hiểu, phù hợp với tâm lý thanh niên và điều kiện thực tiễn. Tăng cường giáo dục cho thanh niên hiểu rõ, nắm chắc về lịch sử, truyền thống văn hóa dân tộc. Từ đó, xây dựng, bồi đắp lòng yêu nước, ý thức tự hào, tự tôn dân tộc, gia tăng sức mạnh chính trị - tinh thần, làm động lực giúp thanh niên thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tổ chức đoàn các cấp cần chủ động, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng cho thanh niên trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Kịp thời nắm bắt tình hình tư tưởng của thanh niên để uốn nắn những biểu hiện tư tưởng lệch lạc; tránh để cho các thế lực thù địch, phản động có cơ hội lôi kéo, mua chuộc thanh niên. Xây dựng những đội thông tin viên phản ứng nhanh, xung kích; viết tin, bài, chia sẻ, lan tỏa rộng rãi những thông tin tốt; đấu tranh phản bác những thông tin xấu, độc trên các kênh truyền thông, mạng xã hội.

Khi cả xã hội đều đồng sức, đồng lòng đấu tranh với những quan điểm sai trái, thói hư, tật xấu thì các cuộc tấn công của các thế lực thù địch vào giới trẻ chắc chắn sẽ thất bại.

 VIỆT NAM TRƯỚC SAU NHƯ MỘT, ỦNG HỘ SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CUBA

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, trong những chặng đường phát triển của Việt Nam thời gian qua luôn có sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Cuba và khẳng định, Việt Nam trước sau như một, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của Cuba.

Nhận lời mời của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội chính quyền nhân dân Cuba Esteban Lazo Hernandez thăm Việt Nam từ ngày 24 đến 28/9. Sáng 25/9, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng tiếp ông Esteban Lazo Hernandez.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhiệt liệt chào mừng ông Esteban Lazo Hernández dẫn đầu Đoàn Đại biểu Cấp cao Đảng, Nhà nước Cuba trở lại thăm Việt Nam và dự sự kiện kỷ niệm 50 năm chuyến thăm đầu tiên của Lãnh tụ Cuba Fidel Castro tới Việt Nam và kỷ niệm 60 năm thành lập Ủy ban Cuba đoàn kết với miền Nam Việt Nam (25/9/1963 – 25/9/2023).

Chủ tịch nước khẳng định, Việt Nam ghi nhớ và biết ơn sự ủng hộ chí tình, chí nghĩa của Cuba trong cuộc đấu tranh giành độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất đất nước, cũng như tình cảm đặc biệt của Lãnh tụ Cuba Fidel Castro dành cho Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Chính quyền Nhân dân và Hội đồng Nhà nước Cuba cảm ơn Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam dành sự đón tiếp nồng hậu, trọng thị cũng như chuẩn bị chu đáo cho Lễ kỷ niệm 50 năm chuyến thăm tới vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam của Lãnh tụ Cuba Fidel Castro vào ngày 25-26/9/2023 tại tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị.

Chúc mừng Việt Nam về thành tựu phát triển kinh tế xã hội, Chủ tịch Esteban Hernandez khẳng định, Cuba luôn coi trọng và mong muốn làm sâu sắc hơn nữa mối quan hệ truyền thống đặc biệt và hợp tác toàn diện với Việt Nam, một mối quan hệ mẫu mực trên thế giới; cảm ơn Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, ủng hộ chân thành, hỗ trợ vô tư, trong sáng đối với sự nghiệp Cách mạng Cuba, trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước từ trước tới nay, nhất là trong thời điểm khó khăn hiện nay. Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Cuba trân trọng gửi lời chào của Đại tướng Raul Castro với Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng. 

Trân trọng gửi lời cảm ơn tới Đại tướng Raul Castro, qua Chủ tịch Quốc hội Cuba, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng chuyển lời thăm hỏi đến Đại tướng; Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Miguel Diaz-Canel; Thủ tướng Manuel Marrero Cruz và các vị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước Cuba; gửi lời mời Bí thư thứ nhất, Chủ tịch Miguel Diaz-Canel sớm trở lại thăm Việt Nam. 

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và Chủ tịch Esteban Hernandez nhất trí cho rằng, việc hai nước kỷ niệm 50 năm sự kiện lịch sử Lãnh tụ Cuba Fidel Castro thăm vùng Giải phóng miền Nam Việt Nam thể hiện sự trân trọng những di sản do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Lãnh tụ Fidel và nhiều thế hệ lãnh đạo, nhân dân hai nước đã để lại cho quan hệ hai nước. Đảng, Nhà nước Việt Nam và Đảng, Nhà nước Cuba sẽ tiếp tục giáo dục các thế hệ trẻ hai nước để gìn giữ, vun đắp mối quan hệ này.

Bày tỏ vui mừng về sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai Đảng, hai Nhà nước trong những năm qua, Chủ tịch nước khẳng định mối quan hệ “không có tiền lệ và là hình mẫu trên thế giới” như Lãnh tụ Fidel Castro đã từng đánh giá là tài sản vô giá và là nguồn cổ vũ to lớn cho hai dân tộc.  

Trên cơ sở quan hệ anh em đặc biệt, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đề nghị Lãnh đạo Đảng, Nhà nước hai nước cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ để tăng cường quan hệ hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Cuba thông qua việc tiếp tục phối hợp chặt chẽ, triển khai hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, các cơ chế hợp tác sẵn có, phát huy hiệu quả các cơ chế đối thoại và hợp tác giữa hai bên; thúc đẩy quan hệ ngoại giao nghị viện thông qua Cơ chế hợp tác liên nghị viện vừa thiết lập tháng 4/2023 nhân dịp chuyến thăm Cuba vừa qua của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ, các hoạt động giao lưu nhân dân; triển khai hiệu quả các chương trình hợp tác phát triển nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản; phát triển ổn định, bền vững quan hệ kinh tế-thương mại-đầu tư song phương, tận dụng cơ hội Hiệp định Thương mại mới đem lại được ký vào tháng 4/2018 dịp Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Cuba; tăng cường phối hợp, hợp tác chặt chẽ tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương.

Tại buổi tiếp, Chủ tịch Quốc hội Cuba Esteban Lazo Hernandez đã thông báo khái quát về tình hình Cuba gần đây và những khó khăn đang gặp phải; các chính sách, giải pháp mà Đảng, Nhà nước Cuba đang triển khai để phát triển kinh tế xã hội; mong muốn Việt Nam tiếp tục đồng hành, chia sẻ các kinh nghiệm từ quá trình Đổi mới; mong muốn doanh nghiệp Việt Nam đầu tư mạnh mẽ vào Cuba.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng nhấn mạnh, trong những chặng đường phát triển của Việt Nam thời gian qua luôn có sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của Cuba và khẳng định, Việt Nam trước sau như một, ủng hộ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước của Cuba. Việt Nam chia sẻ với Cuba về những khó khăn do các lệnh cấm vận, thiên tai, hỏa hoạn, đại dịch Covid-19. Trong nhiều diễn đàn khu vực và quốc tế, Việt Nam luôn có thông điệp rõ ràng kêu gọi chấm dứt cấm vận Cuba.

Chủ tịch nước đánh giá cao Cuba triển khai các Nghị quyết của Đại hội Đảng lần thứ VIII và quá trình cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội hiệu quả thời gian qua; chúc mừng Cuba tổ chức rất thành công Hội nghị Thượng đỉnh G77 và Trung Quốc với Tuyên bố chung Havana đề cao vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới trong sự phát triển của các nước phương Nam, trong đó có nhiều sáng kiến do Cuba đóng góp, góp phần tiếp tục nâng cao vị thế của Cuba trên trường quốc tế. Chủ tịch nước tán thành với Chủ tịch Quốc hội Cuba thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào Cuba, tạo thuận lợi cho hàng hóa hai nước vào thị trường của nhau. Việt Nam cũng sẵn sàng hỗ trợ gạo giúp đỡ Cuba.

Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng bày tỏ tin tưởng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Cuba, sự ủng hộ to lớn của nhân dân Cuba, các lực lượng tiến bộ và bạn bè Quốc tế, Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuba sẽ tiếp tục gặt hái được những thành công to lớn hơn nữa trên con đường xây dựng và phát triển đất nước./.


 TÌNH ANH EM SON SẮT, THỦY CHUNG GIỮA VIỆT NAM VÀ CU BA

Mối quan hệ hữu nghị, thủy chung, trong sáng giữa Việt Nam và Cuba được Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ Fidel Castro và các thế hệ lãnh đạo, nhân dân hai nước kế tục và vun đắp đã trở thành tài sản quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước.

Biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết anh em gắn bó.

Trong trái tim nhân dân Việt Nam, câu nói của lãnh tụ Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình!” đã trở thành bất hủ và là biểu tượng cao đẹp của tình đoàn kết anh em gắn bó, thủy chung giữa hai dân tộc và nhân dân hai nước. Câu nói trong cuộc mít-tinh tại quảng trường cách mạng Jose Marti ở La Habana ngày 2/1/1966 đã thể hiện tình cảm ruột thịt, sự sẵn sàng hy sinh, sẻ chia của Cuba đối với người đồng chí, anh em Việt Nam.

Trong những thời khắc vô cùng cam go trong cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam, lãnh tụ Fidel Castro đã biến những chuyến công du nước ngoài thành cơ hội vận động chính phủ và nhân dân các nước đoàn kết, ủng hộ Việt Nam. Những cuộc tuần hành quần chúng ở Cuba thể hiện đoàn kết với Việt Nam luôn có sự xuất hiện, đồng hành của nhà lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước Cuba.

Vượt qua khoảng cách xa xôi về địa lý, hoàn cảnh còn nhiều khó khăn, Cuba luôn sát cánh, hỗ trợ Việt Nam với tinh thần một người bạn chân thành, một người đồng chí tin cậy. Tháng 9/1973, sau khi Hiệp định Paris về Việt Nam được ký kết, Fidel Castro là vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên và duy nhất trên thế giới tới thăm tỉnh Quảng Trị - vùng giải phóng miền Nam Việt Nam.

Chuyến thăm lịch sử của Lãnh tụ Cuba Fidel Castro lúc đó không chỉ thể hiện sự ủng hộ, động viên rất lớn về chính trị đối với cách mạng Việt Nam, là một dấu mốc lịch sử đặc biệt trong quan hệ hai nước, đồng thời là một biểu tượng của phong trào quốc tế đoàn kết và ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam.

Sau chuyến thăm này, Fidel Castro và nhân dân Cuba đã tặng Việt Nam nhiều công trình kinh tế - xã hội với tổng trị giá khoảng 80 triệu USD, gồm: Khách sạn Thắng Lợi (tại Hồ Tây, Hà Nội), Bệnh viện Việt Nam - Cuba (tại Đồng Hới, Quảng Bình), Đường cao tốc Xuân Mai, Trại bò giống Ba Vì, Xí nghiệp gà Lương Mỹ. Đặc biệt, Cuba còn cử chuyên gia về cầu đường sang Việt Nam cùng với bộ đội Trường Sơn mở rộng đường Hồ Chí Minh…; tặng bò giống, gà giống, chi hơn 6 triệu USD để Việt Nam mua nhiều thiết bị hiện đại. Tình cảm sâu sắc của Chủ tịch Cuba Fidel Castro đối với Việt Nam và sự giúp đỡ hết lòng của Cuba đã trở thành nguồn động viên to lớn tiếp thêm ý chí sức mạnh cho quân, dân Việt Nam, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Đáp lại chân tình của người đồng chí, anh em, Việt Nam luôn dành tình cảm hữu nghị đặc biệt, đoàn kết và hợp tác chân thành với Cuba. Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh, các thế hệ lãnh đạo và nhân dân Việt Nam luôn khẳng định, đoàn kết và ủng hộ Cuba là lương tâm và trách nhiệm của những người cộng sản và toàn thể nhân dân Việt Nam; là đạo lý, truyền thống uống nước nhớ nguồn của dân tộc Việt Nam thủy chung với đồng chí, bạn bè.

Việt Nam hết lòng chia sẻ với Cuba kinh nghiệm phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Tình cảm đoàn kết và ủng hộ Cuba cũng luôn được Việt Nam thể hiện nhất quán và mạnh mẽ trong lập trường tại các diễn đàn quốc tế.

Chặng đường viết tiếp tương lai.

Ngay sau ngày cách mạng Cuba thành công (1/1/1959), Cộng hòa Cuba là quốc gia Mỹ Latinh đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Việt Nam (2/12/1960). Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, mối quan hệ giữa Việt Nam và Cuba không ngừng được củng cố và phát triển trên mọi lĩnh vực.

Mối quan hệ tốt đẹp ấy được khẳng định bằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước. Trong đó, nổi bật là chuyến thăm Cuba của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng năm 2018 và chuyến thăm của Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc năm 2021. Lãnh đạo cấp cao Cuba cũng thường xuyên thực hiện các chuyến thăm đến Việt Nam mà gần đây nhất là của Chủ tịch Miguel Diaz Canel năm 2018.

Nhân dịp kỷ niệm sự kiện lãnh tụ Fidel Castro, khi đó là Thủ tướng nước Cộng hòa Cuba, tới vùng đất vừa được giải phóng ở Quảng Trị cách đây 50 năm (9/1973), ngày 24/9, Chủ tịch Quốc hội Cuba Esteban Lazo Hernandez đến Hà Nội, bắt đầu chuyến thăm Việt Nam kéo dài 5 ngày, theo lời mời của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Mối quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư giữa hai nước đạt nhiều thành tựu. Trong đó, nhiều dự án đầu tư 100% vốn nước ngoài và liên doanh giữa hai nước đã được thiết lập và đi vào hoạt động. Các doanh nghiệp quan trọng của Việt Nam quan tâm đến thị trường Cuba và đã đến Cuba để tìm cơ hội hợp tác, đầu tư. Ngày 1/4/2020, Hiệp định thương mại Việt Nam - Cuba (ký ngày 9/11/2018) chính thức có hiệu lực, với nhiều cam kết ưu đãi thương mại mới, đem lại lợi ích cho doanh nghiệp hai nước và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa song phương.

Hai nước cũng ghi nhiều dấu ấn trong các dự án hợp tác về nông nghiệp, hợp tác về vaccine, hợp tác về dầu khí, hợp tác về giáo dục, hay hợp tác về viễn thông, xây dựng hạ tầng du lịch,…Trong lĩnh vực ngoại giao đa phương, Việt Nam và Cuba duy trì quan hệ hợp tác và ủng hộ lẫn nhau tại các tổ chức quốc tế và diễn đàn đa phương, nhất là tại Liên hợp quốc. Gần đây, Việt Nam ủng hộ Cuba ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2021 - 2023; tích cực thúc đẩy, hỗ trợ Cuba ký kết Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác ở Đông Nam Á (11/2020). Cuba đã ủng hộ Việt Nam ứng cử vào vị trí ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021. Việt Nam nhất quán ủng hộ việc chấm dứt bao vây, cấm vận kinh tế - tài chính chống Cuba.

Cùng nhau bước đi trên chặng đường từ gian khó đến thắng lợi vinh quang, quan hệ đặc biệt giữa hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Việt Nam và Cuba luôn được khẳng định là mối quan hệ anh em mẫu mực, thủy chung. Mối quan hệ ấy được hai nước kế tục và vun đắp đã trở thành tài sản quý báu đối với sự nghiệp bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước trong quá khứ, hiện tại và cả tương lai./. 


Quan niệm của Đại hội VIII, IX về dân chủ ở Việt Nam

 


Đại hôi VIII của Đảng (1996) nhấn mạnh việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của nhân dân và chỉ rõ cần phải thực hiện tốt các cơ chế làm chủ của nhân dân: Làm chủ thông qua đại diện là các cơ quan dân cử và các đoàn thể; làm chủ trực tiếp bằng các hình thức nhân dân tự quản, bằng các quy ước, hương ước tại cơ sở phù hợp với luật pháp của nhà nước. Đảng và Nhfa nước tiếp tục đổi mới phong cách, bảo đảm dân chủ trong quá trình chuẩn bị ra quyết định và thực hiện các quyếtd định. Đại hội VIII đề ra mục tiêu của cách mạng là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”. Có nghĩa là, Đại hội VIII cũngchưa nhận thức đẩy đủ về vị trí, vai trò của dân chủ

Đại IX của Đảng (2001) đã tổng kết 15 năm đổi mới, rút ra bốn bài học chủ yếu, trong đó có bài học: đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo”. Đặc biệt Đại hội IX đã bổ sung nội dung “dân chủ” vào mục tiêu chung của cách mạng nước ta. Đây là một bước tiến về nhận thức “dân chủ”

Đổi mới mạnh mẽ giáo dục phổ thông để nâng cao chất lượng đào tạo nghề

 

Để trí thức hoá đội ngũ công nhân thì phải bắt đầu từ sự thay đổi mạnh mẽ trong hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo nghề để từ đó làm cơ sở cho việc đào tạo bậc đại học chuyên ngành và lao động chất lượng cao theo yêu cầu hiện đại phù hợp với những đòi hỏi của nền kinh tế tri thức. Nền kinh tế tri thức không chỉ đòi hỏi người công nhân phải làm chủ công nghệ mới, không chỉ biết nắm vững công nghệ đã có hay đã chín muồi, mà còn đòi hỏi người công nhân phải biết sáng tạo ra công nghệ mới, đề xuất cái mới. Vai trò của giai cấp công nhân trí thức hoá không những không suy giảm mà trái lại còn tăng lên cùng với sự phát triển của kinh tế tri thức. Với trình độ tri thức ngày càng cao thì sự giác ngộ giai cấp, ý thức về vị trí, vai trò, khả năng và sức mạnh của giai cấp công nhân cũng như tính tổ chức, kỷ luật của công nhân trí thức sẽ được nâng lên tương xứng.