Một
là, vốn là một nước
thuộc địa nửa phong kiến, những thành quả mà cuộc cách mạng dân tộc dân chủ
nhân dân đem lại là một bước ngoặt lớn lao trong việc hỉnh thành và phát triển
nền dan chủ ở nước ta. Song một đất nước vừa thoát khỏi chế độ thuộc địa nửa
phong kiến, giai cấp công nhân đang lãnh đạo chính quyền phần lớn đều xuất thân
từ nông dân, vì thế không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi những tàn tích tư tưởng
tiểu nông, sản xuất nhỏ.
Hai
là, đi lên chủ nghĩa
xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, bên cạnh những thuận lợi nêu trên, cũng
có nghĩa là xã hội Việt Nam chưa trải qua nền dân chủ tư sản có lịch sử từ nhiều
thế kỷ xây dựng và phát triển, với pháp quyền tư sản, nhà nước pháp quyền và xã
hội công dân. Nền dân chủ tư sản dù mang bản chất tư sản, dù phục vụ chủ yếu
cho giai cấp tư sản thống trị, nhưng nó cũng tạo ra môi trường đào luyện con
ngưòi ngày càng ý thức được vai trò của cá nhân, tầm quan trọng của học vấn, học
thức và văn hóa đối với sự phát triển. Môi trường xã hội đó cũng rèn luyện cho
con người những thói quen, những năng lực cần thiết thích ứng với những đòi hỏi
pháp lý và nhân văn của dân chủ.
Bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa và nền dân
chủ tư sản, việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam gặp phải
không ít những khó khăn trở ngại. Ý thức hệ phong kiến còn ăn sâu vào xã hội, một
xã hội mà nông dân còn chiếm đa số trong dân cư; một xã hội nông nghiệp cổ truyền
lạc hậu, lực lượng sản xuất chưa phát triển, phân công lao động trong xã hội
còn giản đơn và hạn chế. Tàn tích của
ý thức hệ phong kiến của người nông dân với những hạn chê như: tâm lý cục bộ địa phương; tư tưởng
cào bằng, đẳng cấp; dân chủ tự phát... dễ làm triệt tiêu tính tích cực cá nhân,
triệt tiêu động lực phát triển. Không qua chế độ tư bản chủ nghĩa, Việt Nam
thiêu tri thức khoa học và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Nguồn nhân lực
của chúng ta bị hạn chế về sự am hiểu, tinh thông nghiệp vụ, chuyeD
môn do chưa có chuyên môn hóa sâu. Cùng với hạn chế đỏ, ^ bằng dân trí của xã hội
còn thấp, kết cấu hạ tầng vật chất - kỹ thuật còn rất lạc hậu và chậm phát
triển, thông tin đến với người dân còn chậm và không đầy đủ, nhất là ở khu vực
nông thôn, vùng đồng bào dân tộc miền núi, vùng hẻo lánh xa xôi.
Ba là, cùng với những hạn chế do Việt Nam đang trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, sự tác động của cơ chế thị trường, sự đan xen giữa cái mới và cái cũ làm nảy sinh nhiều vật cản trên con đường tiến tới nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Những vật cản trở đó là: Trình độ phát triển dân chủ còn thấp và chưa đầy đủ, hệ thống pháp luật thiếu và không đồng bộ, chưa tạo ra được khung pháp lý và cơ chế đủ mạnh để thực hiện dân chủ. Sự suy thoái, biến chất của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên kể cả những người có chức quyền; tệ tham nhũng, buôn lậu đã ứở thành quốc nạn. Bệnh quan liêu diễn ra khá phổ biến ở các cấp, các ngành đã gây nỗi bất bình trong các tầng lớp nhân dân. Nhiều luật được ban hành nhưng việc chấp hành luật không nghiêm từ một bộ phận công dân, việc thi hành luật không công minh của một bộ phận cán bộ trong các CJ quan hành pháp và tư pháp đã làm cho hoạt động của bộ máy nhà nước kém hiệu lực và hiệu quả. Tệ ô dù bao che cho kẻ xấu, khiếu kiện cửa người dân chưa được xem xét đầy đủ và kịp thời đã làm giảm lòng tin của nhân dân vào bộ máy nhà nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ, tình trạng ấy sẽ làm cho dân chủ biến thành “quan chủ”, quyền được ủy thác đã biến thành quyền bị chiếm đoạt, quyền làm chủ của nhân dân đã biến thành quyền của những ai nắm được chức quyền. Tất cả những khó khăn đó gây ảnh hưởng không nhỏ tới việc xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét